Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách Bất bình đẳng giới trong lao động hiện nay có tác động xấu đối với sự phát triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên gây ra tình trạng nghèo đói; mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển. Những xã hội có sự bất bình đẳng lao động lớn và kéo dài thường tạo ra những hệ lụy không nhỏ đó là: nghèo đói, bệnh tật và những nỗi cực khổ khác và đặc biệt gây ra sự không hiểu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội. Tại những nước phát triển, có mức độ bất bình đẳng lao động thấp hơn đồng nghĩa với việc nó tác động tốt hơn đối với sự phát triển xã hội, giúp kinh tế phát triển, mang lại hiểu quả hơn trong việc sử dụng các nguồn lực của xã hội, giảm mức độ nghèo đói và phát huy tốt hơn các giá trị tiềm năng con người trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm của Việt nam hiện nay cũng không nằm ngoài những nguyên nhân trên. Tuy nhiên sự bất bình đẳng giới trong lao động của Việt nam khá đặc thù, chủ yếu xuất phát từ các quan niệm và định kiến tồn tại trong xã hội và các quan điểm truyền thống. Đó là những quan niệm và định kiến xã hội phong kiến tồn tại từ hàng ngàn năm trước về địa vị, giá trị của giới nữ trong gia đình và ngoài xã hội mà không dễ dàng thay đổi. Theo đó, nam giới có quyền tham gia các công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, ghánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà con cái. Nam giới có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành phục vụ chồng con. Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định định đoạt gì kể cả đối với bản thân. Điều đó thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giá trị của nữ giới. Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách Sự phát triển của xã hội sẽ làm vai trò, vị trí của người phụ nữ được nâng lên đáng kể. Phụ nữ có quyền bình đẳng so với nam giới họ được học hành, được tham gia vào các hoạt động xã hội theo khả năng của mình có. Tuy nhiên ở nước ta các yếu tố truyền thống đặc biệt là tư tưởng nho giáo vẫn còn là một nhân tố đáng kể tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong xã hội. Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị rằng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong “tam tòng tứ đức” và có thân phận thấp hèn, không được bình đẳng với nam giới. Nhiều nơi phụ nữ bị đối xử bất công, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm không có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào công việc xã hội. Quan niệm “ trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn đang tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ, khiến họ không thể tách rời cuộc sống gia đình, khỏi vai trò nội trợ của mình để tham gia hoạt động xã hội. Bác Hồ đã từng nói: “ Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có một nửa”. Quyền bình đẳng thực sự của người phụ nữ theo bác là “ người phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với người đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”. Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách Bình đẳng trong lao động cho phụ nữ là một đòi hỏi cần thiết và thiết thực nhằm đem lại sự giải phóng cho phụ nữ, tạo cho phụ nữ có nhiều cơ hội cùng nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội, có được vị trí và chỗ đứng cả trong gia đình và ngoài xã hội. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào, được bạn bè quốc tế đánh giá cao, tuy nhiên, bình đẳng giới và nhiều vấn đề khác liên quan đến lao động nữ (LĐN) ở Việt Nam vẫn đang bộc lộ nhiều bất cập. Trên thực tế, một bộ phận LĐN nói chung vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi về tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến. Do những hạn chế về trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp nên phụ nữ thường gặp khó khăn trong lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội thăng tiến. Mức thu nhập bình quân thấp hơn nhiều so với nam giới cùng làm một công việc với trình độ như nhau. Ngoài ra, phụ nữ còn ghánh nặng công việc gia đình, sinh đẻ và chăm sóc con cái nên ít cơ hội cạnh tranh trên thị trường lao động, không có thời gian trau dồi kiến thức, kỹ năng nâng cao trình đôn học vấn, chuyên môn. Để có cơ hội thăng tiến chị em phải cố gắng gấp 3-4 lần nam giới. Nhiều nhà tuyển dụng có tâm lý coi thường phụ nữ, ngại tuyển dụng phụ nữ, bởi họ cho rằng phụ nữ năng lực có hạn, hơn nữa phải mang thai, sinh đẻ, nuôi con… mất nhiều thời gian. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của phụ nữ nói riêng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội về kinh tế - văn hóa - chính trị. Công tác xã hội trong lĩnh vực giới và phát triển là một lĩnh vực mới và có tầm ảnh hưởng lớn. Hiện nay, CTXH mới bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp CTXH nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của người phụ nữ là rất quan trọng và cần thiết. Nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực này đòi hỏi nắm vững những cơ sở lý luận về giới và phát triển để từ đó xây dụng biện pháp can thiệp, trợ giúp nhằm giải quyết vấn đề. Qua quá trình thực tế tại huyện Mỹ Đức, được tiếp xúc với người dân, nghiên cứu một số biện pháp mà địa phương đã thực hiện để thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của phụ nữ thì vẫn chưa có mô hình trợ giúp nào mang tính đặc thù của CTXH. Do vậy, tôi lựa chọn đề tài: “ Vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động cho phụ nữ tại Huyện Mỹ Đức- Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này tại địa phương, do hạn chế về nguồn tài liệu, thời gian và năng lực bản thân nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bản khóa luận được hoàn thiện hơn. 2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu Hiện nay, cùng với quá trình phát triển của xã hội, vấn đề bình đẳng giới ngày cũng được quan tâm nhiều hơn. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, báo cáo của các ngành văn hóa, chính trị…đề cập tới vấn đề này như: Bất bình đẳng giới trong thu nhập – Đề tài cấp bộ Viện NC quản lý kinh tế TW 2006 Đề tài: “ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” của THS Nguyễn Thị Nguyện, Bộ Kế hoạch đầu tư – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương. Nghiên cứu này chủ yếu đi sâu tìm hiểu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam và gợi ý một số giải pháp về chính sách. Báo cáo “ Bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Việt Nam” của Ngân hàng phát triển Châu Á ( ADB). Nghiên cứu này xác định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới. Tiểu luận BBĐG ở Việt Nam hiện nay người viết muốn làm rõ khái niệm Bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới. Từ đó đi sâu làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình hình BBĐG ở nước ta hiện nay nhằm đưa ra những giải pháp góp phần làm giảm tình trạng này ở Việt Nam. Hội thảo về “ vai trò của công đoàn thúc đẩy BĐG” do Ban nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam thực hiện vừa được tổ chức tại TP.HCM. Mục đích hội thảo nhận diện đầy đủ BBĐG trong doanh nghiệp để tham gia xây dựng chính sách pháp luật đối với lao động nữ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức về BĐG Luận văn: Thực trạng thi hành luật BBĐG ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Mục đích của luận văn là xây dựng pháp luật vê BĐG góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về BĐG ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân công thực hiện công việc nội trợ giữa vợ - chồng của Th.s Trương Thu Trang đi sâu nghiên cứu thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ Nhìn chung các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nghiên cứu yếu tố thu nhập, hoặc phân công lao động chỉ trong phạm vi gia đình mà chưa đề cập đến phân công lao động trong các lĩnh vực sản xuất, nghề nghiệp…không đánh giá được hết các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giới trong lao động nói chung trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại. Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể đầy đủ về vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động tại Huyện Mỹ Đức. Hơn nữa, cũng chưa có tài liệu nào đề cập tới việc vận dụng phương pháp nhóm của Công tác xã hội vào hỗ trợ, giải quyết vấn đề này. Vì vậy mà đề tài của tôi lựa chọn hoàn toàn dựa trên cách tiếp cận mới – cách tiếp cận của Công tác xã hội để giải quyết vấn đề. 3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Thực trạng BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức và cách thức vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng này. 2.2 Khách thể nghiên cứu - Thành lập một nhóm gồm 12 người. Số lượng 8 lao động nữ tại địa phương cùng với 4 lao động nam để đối chiếu, so sánh - Các cấp lãnh đạo, nhà tuyển dụng lao động và một số doanh nghiệp tại địa phương. Ngoài ra còn có các ban nghành đoàn thể có liên quan như: Hội phụ nữ, Uỷ ban nhân dân, phòng văn hóa huyện… 3.3 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu vấn đề BBĐG trong lao động Không gian nghiên cứu: huyện Mỹ Đức Thời gian nghiên cứu: 19/12/2011 – 23/4/2011 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1 Mục đích nghiên cứu Qua việc tìm hiểu nghiên cứu về thực trạng BBĐG trong lao động tại Huyện Mỹ Đức, khóa luận mong muốn phân tích được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, đồng thời tìm ra được các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này dưới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội bằng phương pháp Công tác xã hội nhóm. 4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Thực hiện nghiên cứu đề tài với nhiệm vụ chủ yếu như sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề BBĐ trong lao động. - Tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp can thiệp trước vấn đề BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức. - Vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong việc cải thiện tình trang BBĐG trong lao động cho phụ nữ tại Huyện và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này dưới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội. 5. Giả thuyết nghiên cứu Thực trạng bất BĐG trong lao động ở huyện Mỹ Đức còn nhiều bất cập và ngày càng gia tăng. Nếu có những biện pháp hỗ trợ của nhân viên Công tác xã hội sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng này để xây dựng một xã hội công bằng – dân chủ - văn minh. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp thu thập thông tin Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập những số liệu liên quan đến việc nam giới và nữ giới tham gia các lĩnh vực, ngành nghề lao động theo từng năm, phân công lao động theo giới, mức độ hưởng thụ thành quả lao động. Dựa vào những số liệu điều tra đã thu thập được, nhân viên Công tác xã hội sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích một cách khoa học để từ đó xác định đúng tình trạng BBĐG hiện nay tại địa phương. 6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Sử dụng bảng hỏi cấu trúc được thiết kế sẵn, phát cho những người trong độ tuổi lao động nhằm đưa ra những số liệu về nguyên nhân vấn đề BBĐG trong lao động, qua đó thống kê được đâu là nguyên nhân chính trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến vấn đề BBĐG trong lao động. Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục hậu quả. 6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu Tiến hành phỏng vấn sâu 04 cán bộ quản lý gồm: những người làm công tác tuyển dụng, quản lý, chính sách… và chính những người lao động để từ đó có thể nắm bắt được rõ hơn điều kiện, hoàn cảnh, văn hóa truyền thống để từ đó đưa ra những kết luận xác thực về tình trạng BBĐG trong lao động tại địa phương 6.4 Phương pháp quan sát Quan sát các hoạt động của phụ nữ và nam giới trong các công việc khác nhau, ghi chép giờ giấc, thời gian thực hiện công việc đó như thế nào. Ngoài ra quan sát xem cách phân chia lao động giữa vợ và chồng trong gia đình và ngoài xã hội như thế nào. 6.5 Phương pháp làm việc nhóm Phương pháp làm việc nhóm là phương pháp làm việc hay hoạt động dựa trên sự kết hợp/hợp tác/tương tác và phân công đảm nhiệm công việc giữa các thành viên nhằm thực hiện nhiệm vụ với mục đích xác định và mục tiêu cụ thể. 7. Đóng góp khoa học của đề tài 7.1 Về mặt lý luận - Làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về giới và phát triển. - ứng dụng, kiểm chứng và củng cố các phương pháp trong nghiên cứu khoa học xã hội vào đề tài để làm rõ được vấn đề nghiên cứu. - Hoàn thiện lý luận về phương pháp Công tác xã hội nhóm với vấn đề BBĐG trong lao động. - Tạo cơ sở thực hành Công tác xã hội nhóm với vấn đề BBĐG trong lao động. 7.2 Về mặt thực tiễn - Giúp nhân viên Công tác xã hội có cái nhìn đầy đủ về thực trạng BBĐG trong lao động và có thái độ đúng đắn với vấn đề này, để từ đó có những trợ giúp đầy đủ và đạt hiểu quả. - Giúp cho mọi người hiểu và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có cơ hội phát triển cũng như đạt được sự bình đẳng giới trong lao động. - Tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hôi phát
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bất bình đẳng giới trong lao động hiện nay có tác động xấu đối với
sự phát triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên gây ra tình trạng nghèo đói; mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển Những xã hội có sự bất bình đẳng lao động lớn và kéo dài thường tạo ra những hệ lụy không nhỏ đó là: nghèo đói, bệnh tật và những nỗi cực khổ khác và đặc biệt gây ra sự không hiểu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội Tại những nước phát triển, có mức độ bất bình đẳng lao động thấp hơn đồng nghĩa với việc nó tác động tốt hơn đối với sự phát triển xã hội, giúp kinh tế phát triển, mang lại hiểu quả hơn trong việc
sử dụng các nguồn lực của xã hội, giảm mức độ nghèo đói và phát huy tốt hơn các giá trị tiềm năng con người trong việc phát triển kinh tế - xã hội
Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm của Việt nam hiện nay cũng không nằm ngoài những nguyên nhân trên Tuy nhiên sự bất bình đẳng giới trong lao động của Việt nam khá đặc thù, chủ yếu xuất phát
từ các quan niệm và định kiến tồn tại trong xã hội và các quan điểm truyền thống Đó là những quan niệm và định kiến xã hội phong kiến tồn tại từ hàng ngàn năm trước về địa vị, giá trị của giới nữ trong gia đình và ngoài
xã hội mà không dễ dàng thay đổi Theo đó, nam giới có quyền tham gia các công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, ghánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà con cái Nam giới
có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành phục vụ chồng con Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định định đoạt gì kể cả đối với bản thân Điều đó
Trang 2thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giá trị của nữ giới
Sự phát triển của xã hội sẽ làm vai trò, vị trí của người phụ nữ được nâng lên đáng kể Phụ nữ có quyền bình đẳng so với nam giới họ được học hành, được tham gia vào các hoạt động xã hội theo khả năng của mình có Tuy nhiên ở nước ta các yếu tố truyền thống đặc biệt là tư tưởng nho giáo vẫn còn là một nhân tố đáng kể tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong xã hội Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị rằng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong “tam tòng tứ đức” và có thân phận thấp hèn, không được bình đẳng với nam giới Nhiều nơi phụ nữ bị đối xử bất công, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm không có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào công việc xã hội Quan niệm “ trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn đang tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ, khiến
họ không thể tách rời cuộc sống gia đình, khỏi vai trò nội trợ của mình để tham
gia hoạt động xã hội Bác Hồ đã từng nói: “ Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có một nửa” Quyền bình đẳng thực sự của người phụ nữ theo bác là “ người phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với người đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”
Bình đẳng trong lao động cho phụ nữ là một đòi hỏi cần thiết và thiết thực nhằm đem lại sự giải phóng cho phụ nữ, tạo cho phụ nữ có nhiều cơ hội cùng nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội, có được vị trí và chỗ đứng cả trong gia đình và ngoài xã hội
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào, được bạn bè quốc
tế đánh giá cao, tuy nhiên, bình đẳng giới và nhiều vấn đề khác liên quan
Trang 3thực tế, một bộ phận LĐN nói chung vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi về tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến Do những hạn chế về trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp nên phụ nữ thường gặp khó khăn trong lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội thăng tiến Mức thu nhập bình quân thấp hơn nhiều so với nam giới cùng làm một công việc với trình
độ như nhau Ngoài ra, phụ nữ còn ghánh nặng công việc gia đình, sinh đẻ
và chăm sóc con cái nên ít cơ hội cạnh tranh trên thị trường lao động, không có thời gian trau dồi kiến thức, kỹ năng nâng cao trình đôn học vấn, chuyên môn Để có cơ hội thăng tiến chị em phải cố gắng gấp 3-4 lần nam giới Nhiều nhà tuyển dụng có tâm lý coi thường phụ nữ, ngại tuyển dụng phụ nữ, bởi họ cho rằng phụ nữ năng lực có hạn, hơn nữa phải mang thai, sinh đẻ, nuôi con… mất nhiều thời gian Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của phụ nữ nói riêng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội về kinh tế - văn hóa - chính trị
Công tác xã hội trong lĩnh vực giới và phát triển là một lĩnh vực mới
và có tầm ảnh hưởng lớn Hiện nay, CTXH mới bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp CTXH nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của người phụ nữ là rất quan trọng và cần thiết Nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực này đòi hỏi nắm vững những cơ sở lý luận về giới và phát triển để từ
đó xây dụng biện pháp can thiệp, trợ giúp nhằm giải quyết vấn đề
Qua quá trình thực tế tại huyện Mỹ Đức, được tiếp xúc với người dân, nghiên cứu một số biện pháp mà địa phương đã thực hiện để thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của phụ nữ thì vẫn chưa
có mô hình trợ giúp nào mang tính đặc thù của CTXH Do vậy, tôi lựa chọn
đề tài: “ Vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động cho phụ nữ tại Huyện Mỹ Đức- Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Trang 4Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này tại địa phương, do hạn chế
về nguồn tài liệu, thời gian và năng lực bản thân nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiện nay, cùng với quá trình phát triển của xã hội, vấn đề bình đẳng giới ngày cũng được quan tâm nhiều hơn Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, báo cáo của các ngành văn hóa, chính trị…đề cập tới vấn đề này như:
Bất bình đẳng giới trong thu nhập – Đề tài cấp bộ Viện NC quản lý kinh tế TW 2006
Đề tài: “ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” của THS Nguyễn Thị Nguyện,
Bộ Kế hoạch đầu tư – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương Nghiên cứu này chủ yếu đi sâu tìm hiểu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam và gợi ý một số giải pháp về chính sách
Báo cáo “ Bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Việt Nam” của Ngân
hàng phát triển Châu Á ( ADB) Nghiên cứu này xác định mức chênh lệch
về lương giữa các khu vực và giới
Tiểu luận BBĐG ở Việt Nam hiện nay người viết muốn làm rõ khái niệm Bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới Từ đó đi sâu làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình hình BBĐG ở nước ta hiện nay nhằm đưa ra những giải pháp góp phần làm giảm tình trạng này ở Việt Nam
Hội thảo về “ vai trò của công đoàn thúc đẩy BĐG” do Ban nữ công
Tổng LĐLĐ Việt Nam thực hiện vừa được tổ chức tại TP.HCM Mục đích hội thảo nhận diện đầy đủ BBĐG trong doanh nghiệp để tham gia xây dựng chính sách pháp luật đối với lao động nữ và kiểm tra, giám sát việc thực
Trang 5hiện Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức về BĐG
Luận văn: Thực trạng thi hành luật BBĐG ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay Mục đích của luận văn là xây dựng pháp luật vê BĐG góp
phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về BĐG ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân
công thực hiện công việc nội trợ giữa vợ - chồng của Th.s Trương Thu
Trang đi sâu nghiên cứu thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ
Nhìn chung các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nghiên cứu yếu tố thu nhập, hoặc phân công lao động chỉ trong phạm vi gia đình mà chưa đề cập đến phân công lao động trong các lĩnh vực sản xuất, nghề nghiệp…không đánh giá được hết các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giới trong lao động nói chung trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể đầy đủ
về vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động tại Huyện Mỹ Đức Hơn nữa, cũng chưa có tài liệu nào đề cập tới việc vận dụng phương pháp nhóm của Công tác xã hội vào hỗ trợ, giải quyết vấn đề này Vì vậy mà đề tài của tôi lựa chọn hoàn toàn dựa trên cách tiếp cận mới – cách tiếp cận của Công tác
xã hội để giải quyết vấn đề
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức và cách thức vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng này
2.2 Khách thể nghiên cứu
- Thành lập một nhóm gồm 12 người Số lượng 8 lao động nữ tại địa phương cùng với 4 lao động nam để đối chiếu, so sánh
Trang 6- Các cấp lãnh đạo, nhà tuyển dụng lao động và một số doanh nghiệp tại địa phương Ngoài ra còn có các ban nghành đoàn thể có liên quan như: Hội phụ nữ, Uỷ ban nhân dân, phòng văn hóa huyện…
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề BBĐG trong lao động
Không gian nghiên cứu: huyện Mỹ Đức
Thời gian nghiên cứu: 19/12/2011 – 23/4/2011
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu nghiên cứu về thực trạng BBĐG trong lao động tại Huyện Mỹ Đức, khóa luận mong muốn phân tích được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, đồng thời tìm ra được các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này dưới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội bằng phương pháp Công tác xã hội nhóm
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài với nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề BBĐ trong lao động
- Tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp can thiệp trước vấn đề BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức
- Vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong việc cải thiện tình trang BBĐG trong lao động cho phụ nữ tại Huyện và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này dưới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội
5 Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng bất BĐG trong lao động ở huyện Mỹ Đức còn nhiều bất cập và ngày càng gia tăng Nếu có những biện pháp hỗ trợ của nhân viên Công tác xã hội sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng này để xây dựng một xã
Trang 76 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập những số liệu liên quan đến việc nam giới và nữ giới tham gia các lĩnh vực, ngành nghề lao động theo từng năm, phân công lao động theo giới, mức độ hưởng thụ thành quả lao động Dựa vào những số liệu điều tra đã thu thập được, nhân viên Công tác xã hội sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích một cách khoa học để
từ đó xác định đúng tình trạng BBĐG hiện nay tại địa phương
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bảng hỏi cấu trúc được thiết kế sẵn, phát cho những người trong độ tuổi lao động nhằm đưa ra những số liệu về nguyên nhân vấn đề BBĐG trong lao động, qua đó thống kê được đâu là nguyên nhân chính trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến vấn đề BBĐG trong lao động Từ đó đưa ra
những giải pháp khắc phục hậu quả
6.4 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động của phụ nữ và nam giới trong các công việc khác nhau, ghi chép giờ giấc, thời gian thực hiện công việc đó như thế nào Ngoài ra quan sát xem cách phân chia lao động giữa vợ và chồng trong gia đình và ngoài xã hội như thế nào
6.5 Phương pháp làm việc nhóm
Phương pháp làm việc nhóm là phương pháp làm việc hay hoạt động dựa trên sự kết hợp/hợp tác/tương tác và phân công đảm nhiệm công việc
Trang 8giữa các thành viên nhằm thực hiện nhiệm vụ với mục đích xác định và mục tiêu cụ thể
7 Đóng góp khoa học của đề tài
7.1 Về mặt lý luận
- Làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về giới và phát triển
- ứng dụng, kiểm chứng và củng cố các phương pháp trong nghiên cứu khoa học xã hội vào đề tài để làm rõ được vấn đề nghiên cứu
- Hoàn thiện lý luận về phương pháp Công tác xã hội nhóm với vấn
- Giúp cho mọi người hiểu và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có
cơ hội phát triển cũng như đạt được sự bình đẳng giới trong lao động
- Tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hôi phát triển và khẳng định bản thân và nhận được thành quả lao động xứng đáng
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng bất bình đẳng giới trong lao động qua nghiên cứu tại huyện Mỹ Đức
Chương 3: Tiến trình, nội dung và những đề xuất giải pháp, khuyến nghị về vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm
Trang 9giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động cho phụ nữ tại huyện Mỹ Đức- Hà Nội
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Giới, Giới tính
- Giới: Có những quan niệm khác nhau về giới, như một số định nghĩa sau đây:
“ Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ xã hội” [ 13; 30 ]
“ Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội
và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ” [21; 10 ]
Luật bình đẳng giới định nghĩa: “ Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [ 20; 2 ]
Vậy nói đến giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho người nam và người nữ Bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguồn lợi và tương quan về địa vị xã hội của nam giới và nữ giới trong một bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể Thuật ngữ giới đề cập đến những đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lý gắn với việc là phụ nữ hay nam giới
- Giới tính: Trong luật bình đẳng giới ( số 73/2006/QH11 ngày
29/11/2006 ) có ghi: Giới tính là môt khái niệm ra đời từ môn sinh vật học chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu
liên quan đến quá trình tái sản xuất con người, di truyền nòi giống
1.1.2 Khái niệm định kiến giới
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực
Trang 11Định kiến giới là suy nghĩ mà mọi người có về những gì mà phụ nữ
và nam giới có khả năng và loại hoạt động mà họ có thể làm [ 29; 46 ]
Định kiến giới là tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, cộng đồng cụ thể coi là thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giớ
Ví dụ: Công việc nội trợ là của phụ nữ chứ không phải của đàn ông Thông thường các định kiến giới thường không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng giới mà thường giới hạn những gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện
1.1.3 Phân biệt đối xử về giới
Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí và năng lực của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
1.1.4 Khái niệm Bình đẳng giới
Khái niệm Bình đẳng giới: Có những khái niệm khác nhau về bình đẳng giới
Điều 5, Luật bình đẳng giới có ghi: Bình đẳng giới là việc nam, nữ
có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
Bình đẳng giới xem xét theo nghĩa bình đẳng vê pháp luật bao gồm
sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong trả lương, thù lao công việc và tiếng nói [33;37]
1.1.5 Khái niệm Bất bình đẳng giới và Bất bình đẳng giới trong lao động
- Bất bình đẳng giới
Sự bất bình đẳng giới đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức trong cuộc sống Theo ILO thì bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn
Trang 12gốc xã hội… mà có làm ảnh hưởng và tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng
Như vậy bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước [ 11; 52 ]
Hay nói cách khác, Bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Các dạng tồn tại Bất bình đẳng giới: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến dập khuôn
và bạo lực trên cơ sở giới tính như cho rằng phụ nữ không có quyền tự quyết hoặc ít có quyền tự quyết hơn so với nam giới do đó nó đặt người phụ nữ vào vị trí phụ thuộc, phục tùng…
- Bất bình đẳng giới trong lao động
Bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính mà
sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con người Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ [ 11; 55 ]
1.2 Phương pháp Công tác xã hội nhóm
1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về Công tác xã hội nhóm, nhưng
Trang 13một phương pháp của Công tác xã hội nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng
cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm Thông qua sinh hoạt nhóm mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực [12; 15 ]
1.2.2 Mục đích của Công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm nhằm tạo ra bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho cá nhân và nhóm có khả năng ảnh hưởng và thay đổi tích cực, giải quyết các vấn đề của cá nhân, của nhóm, của tổ chức và của cộng đồng Công tác xã hội nhóm hướng tới mục đích chung là giúp cá nhân thuộc nhóm thỏa mãn nhu cầu, cảm nhận được an toàn, được chia sẻ, được cảm thông, được yêu thương gắn bó, được khẳng định, thực hiện hỗ trợ, tương tác trong giải quyết vấn đề, tiến tới sự tự trợ giúp và đóng trọn vẹn vai trò xã hội của cá nhân đối với nhóm và với cộng đồng, xã hội Môi trường hoạt động của Công tác xã hội nhóm tạo ra những điều kiện, những
cơ hội cho các cá nhân được chia sẻ, học hỏi và giải quyết vấn đề gặp phải
Vì vây, mục đích cơ bản của Công tác xã hội nhóm là dựa trên sự nhận diện, đánh giá, đề xuất biện pháp, tiến hành các hoạt động hướng tới sự khôi phục các chức năng, hỗ trợ nhóm viên tái tạo và phát huy năng lực giải quyết vấn đề, điều chỉnh tích cực hóa những hành vi lệch chuẩn tiến tới
xã hội hóa hay hòa nhập xã hội Từ mục đích chung, Công tác xã hội nhóm nhằm đặt các mục tiêu cụ thể sau:
+ Khảo sát đánh giá về các đặc điểm, giá trị và nhu cầu của cá nhân trong nhóm
Thông qua các sinh hoạt nhóm và việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ của nhóm, nhân viên xã hội cùng các nhóm viên có thể phát hiện,
Trang 14đánh giá nhu cầu, khả năng, giá trị, hành vi của mỗi cá nhân trong nhóm được thể hiện qua sự bộc lộ và tự đánh giá của họ Từ những khám phá này, nhân viên xã hội cùng nhóm xây dựng chiến lược, kế hoạch để đáp ứng nhu cầu, giúp thay đổi hành vi để giải quyết vấn đề
+ Hỗ trợ cá nhân
Mỗi cá nhân khi tham gia vào nhóm, sau một thời gian hoặc thông qua những hoạt động cụ thể sẽ cảm thấy an toàn, tự tin hơn vào khả năng đương đầu với vấn đề của cuộc sống Nhóm hỗ trợ cá nhân sức mạnh để có khả năng ứng phó, giải quyết những khó khăn trước hoàn cảnh xã hội Chẳng hạn, một nhóm người khuyết tật sản xuất sản phẩm nhưng không tìm được đầu ra tiêu thụ; một người không dám nghĩ đến việc sản xuất kinh doanh vì sợ không đủ vốn hoặc phải đối đầu với sự cạnh tranh, sự chèn ép của người khác… Đặt ra vấn đề cùng nhau giải quyết, khắc phục hay tháo
gỡ khó khăn, dựa trên sự tham gia và tương tác nhóm sẽ giúp các thành viên tìm ra những giải pháp thích hợp Mỗi cá nhân cộng hưởng sức mạnh,
do đó được tăng cường sức mạnh đối phó với nan đề
+ Tác động làm thay đổi hành vi và hoàn cảnh của cá nhân
Nhóm có tác động giúp cá nhân thay đổi những hành vi cá biệt và phát triển nhân cách thông qua các yếu tố kiểm soát xã hội ( Ví dụ: tác động thay đổi thái độ, hành vi của các nhóm vi phạm chuẩn mực đạo đức
xã hội, nhóm đối tượng vi phạm pháp luật… ) xã hội hóa ( nhóm trẻ trong
cơ sở tập trung học tập, rèn luyện kỹ năng sống để tái hòa nhập cộng đồng… ) hành vi tương tác ( nhóm huấn luyện để tự khẳng định)… Trong quá trình sinh hoạt nhóm, sự trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm hoặc thông qua
sự tự bộc bạch bản thân sẽ giúp cho những người tham gia nhận ra vấn đề của chính mình Sự khích lệ giúp đỡ lẫn nhau là nguồn nội lực quan trọng của nhóm, nhờ việc đóng vai trò giúp đỡ người khác mà có thể tháo gỡ hay thoát ra được khó khăn của chính mình
Trang 15Môi trường và không gian sinh hoạt nhóm với sự tương tác và chia
sẻ hoặc những hoạt động mang tính tập thể ( mặc dù bản thân nó không phải là biện pháp trị liệu, nhưng có vai trò trị liệu, giải quyết vấn đề đối với thành viên của nhóm rất cao ) là một yếu tố quan trọng của sự trợ giúp mỗi thành viên Vui chơi, giải trí chính là việc bù đắp sự mất mát, thiếu hụt
hoặc giải phóng sự căng thẳng trong cuộc sống
1.2.3 Giá trị của Công tác xã hội nhóm
Cũng như các phương pháp Công tác xã hội khác, mục đích chính và cao cả của Công tác xã hội nhóm là hướng đến việc tạo ra môi trường, bối cảnh tác động mang lại sự tự tác động, điều chỉnh, cải thiện hoàn cảnh, giải quyết vấn đề cho đối tượng là nhóm xã hội có vấn đề xã hội hay gặp phải những nan
đề cuộc sống Trên nền tảng triết lý hành động chung của Công tác xã hội, các giá trị của công tác xã hội nhóm có những đặc trưng cơ bản là:
+ Công tác xã hội nhóm tạo môi trường, phương thức nâng cao năng lực giúp đỡ lẫn nhau
Sự tham gia vào nhóm và tạo lập mối quan hệ tích cực giữa những cá nhân khác nhau, có những đặc điểm riêng thuộc về “ cái tôi” nhưng có cùng vấn đề, mục đích chủ yếu khi tham gia nhóm không phân biệt lứa tuổi, giới tính, chủng tộc, địa vị hay tầng lớp xã hội
+ Sự hợp tác và cùng ra quyết định vừa là một nguyên tắc hành động vừa là một điều kiện quan trọng đảm bảo cho thành công của Công tác xã hội nhóm
Giá trị này giúp cho các nhóm viên được thừa nhận, được tiếp thêm
sức mạnh và tăng cường năng lực trong quá trình tham gia nhóm, thực hiện các nhiệm vụ, hành động theo mục đích, mục tiêu xác định
+ Khuyến khích những sáng kiến của cá nhân trong nhóm
Giá trị này được xây dựng và khẳng định bởi Công tác xã hội nhóm lấy tiến trình nhóm và phương pháp làm việc theo nhóm làm phương pháp
Trang 16tồn tại, phát triển của nhóm Sự tham gia ý kiến, sáng kiến được khích lệ sẽ
là động lực để cho nhóm viên thêm tự tin thể hiện năng lực bản thân Giá trị này tạo sự tôn trọng đánh giá đúng đóng góp của các thành viên nhóm sẽ
làm gắn kết hơn các thành viên
+ Quyền tự do tham gia
Đây là một giá trị bảo đảm sự tham gia nhóm một cách bền vững của nhóm viên Bởi lẽ, với những nhóm khác trong đời sống xã hội, rất có thể
có sự phân cấp quyền lực và tồn tại sự cao thấp trong quan hệ Với nhóm trong Công tác xã hội nhóm, những ranh giới này trở nên gần gũi và không phải là điều quan trọng, mọi người tham gia nhóm cảm thấy được tự do, bình đẳng, bao gồm cả về vị trí trong nhóm cũng như về việc bày tỏ suy nghĩ, thực hiện hành động
1.2.4 Tiến trình Công tác xã hội nhóm
Tiến trình Công tác xã hội nhóm là quá trình bao gồm các bước hoạt động thể hiên sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau và với nhân viên xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Thực chất tiến trình Công tác xã hội nhóm là trình tự các bước, các nội dung hoạt động được xác lập trong kế hoạch hỗ trợ đối với một nhóm xã hội cụ thể của nhân viên
xã hội dựa trên các yêu cầu về chuyên môn Công tác xã hội
+ Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
Giai đoạn chuẩn bị và xúc tiến thành lập nhóm bao gồm các công việc chủ yếu:
Chọn nhóm viên và chuẩn bị môi trường hoạt động của nhóm Xác định mục đích hỗ trợ và mục tiêu hoạt động của nhóm
Đánh giá các nguồn lực – tiềm năng và sự hỗ trợ bên ngoài – phân tích lực trường tác động
Xây dựng kế hoạch – cụ thể hóa hoạt động cho các giai đoạn sau
Trang 17Giai đoạn này các thành viên trong nhóm còn có thái độ thăm dò lẫn nhau và có những kỳ vọng rất lớn vào nhóm cũng như với những thành viên khác, đặc biệt là đối với nhân viên xã hội hay người lãnh đạo nhóm ( trưởng nhóm ) Trong giai đoạn này, các công việc thực hiện là: giới thiệu các thành viên trong nhóm ( tương đối chi tiết về đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh cá nhân và những nhu cầu khi tham gia nhóm ); làm rõ mục đích hỗ trợ nhóm của nhân viên xã hội; xác định lại và khẳng định mục tiêu của nhóm; thiết lập nguyên tắc hoạt động của nhóm ( đặc biệt là nguyên tắc bảo mật thông tin, hợp tác nhóm, quan hệ giữa các thành viên, bảo vệ lợi ích nhóm trong mối quan hệ nội bộ và với môi trường xã hội, với các nhóm khác ); xác định và khẳng định vị trí, vai trò và nhiệm vụ của từng nhóm viên; định hướng sự phát triển của nhóm; thảo luận thực hiện các công việc
cụ thể; quy định về sự khích lệ phát huy năng lực của từng nhóm viên vì mục tiêu chung của cả nhóm; dự báo những kết quả có thể đạt được và những khó khăn, cản trở trong suốt tiến trình thực hiện tiếp theo
+ Giai đoạn tập trung hoạt động – giai đoạn trọng tâm
Đây là giai đoạn thực thi công việc theo kế hoạch hoạt động của nhóm Giai đoạn này được xác định là giai đoạn trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của nhóm, nhóm tập trung vào các hoạt động
hỗ trợ, trị liệu, giải quyết vấn đề, thực hiện nhiệm vụ hướng tới hoàn thành các mục đích, mục tiêu đã được nhóm xác lập ở các giai đoạn trước Trong giai đoạn này, các nhóm viên thể hiện vai trò của mình một cách tối đa Tuy nhiên, có thể xuất hiện những bất đồng giữa các nhóm viên, thậm chí
có những khuynh hướng suy nghĩ, hành động trái ngược nhau Nhiệm vụ chính của nhân viên xã hội ở giai đoạn này là tạo môi trường và định hướng hoạt động, giúp nhóm viên giải quyết các xung đột, vượt qua rào cản, khó khăn và thực hiện điều phối, tăng cường năng động nhóm, thúc đẩy các tổ chức, cộng đồng đáp ứng những nhu cầu cho sự nỗ lực thực hiện
đề ra mục tiêu của nhóm
Trang 18Trong giai đoạn trọng tâm, ở những nhóm khác nhau với mục đích, mục tiêu, vấn đề, nhu cầu và các thành viên khác nhau có thể có những khác biệt nhất định về nội dung, phương thức hoạt động
- Giai đoạn lượng giá kết thúc hoạt động
Nội dung lượng giá bao gồm: đánh giá hiệu quả của toàn bộ tiến trình hoạt động nhóm so với kế hoạch, mục tiêu, nguồn lực thực hiện ( chi phí, đầu tư tham gia ); sự tiến bộ, trưởng thành và phát triển của các thành viên nhóm về nhận thức, thái độ, hành vi, khả năng nhận diện, xác định vấn đề, nguyên nhân tình trạng, khó khăn, thuận lợi, sự tương tắc trong hành động, đương đầu với hoàn cảnh, ra quyết định, thực hiện nhiệm vụ, phát huy vai trò cá nhân và những kỹ năng có được từ quá trình tham gia nhóm…
Phương pháp lượng giá được thực hiện thông qua các hình thức, các kênh, các phương tiện khác nhau như: Lượng giá qua phiếu ghi tự đánh giá ( bằng bảng hỏi hoặc trắc nghiệm về hiểu biết kiến thức, khả năng thực hành kỹ năng ) của các thành viên; Lượng giá qua các thông số đã được đánh giá nhanh đối với từng hoạt động trong các giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn trọng tâm; Lượng giá qua quan sát thự tế về sự tham gia, sự thể hiện thái độ, hành vi, kỹ năng…
- Kết thúc hoạt động nhóm: chia tay nhóm và khả năng về sự xuất hiện mô hình hoạt động mới với quy mô, thành phần, mục tiêu mới
Để quá trình kết thúc diễn ra một cách bình thường, tự nhiên cần có vai trò quan trọng của nhân viên xã hội Những vấn đề nhân viên xã hội hỗ trợ, cùng nhóm thực hiện là giải quyết, vượt qua những cảm xúc của thành viên nhóm khi kết thúc; giảm sự phụ thuộc vào nhóm; duy trì và phát huy
sự nỗ lực thay đổi
Kết thúc nhóm không có nghĩa là chấm hết hoạt động và mối quan
Trang 19tồn tại, còn thực tế nhóm vẫn duy trì theo những mục tiêu mới, hình thành những nhóm mới với nội dung, quy mô, phương thức hoạt động mới
1.3 Một số quan điểm, lý thuyết về giới và phát triển
1.3.1 Quan điểm giới của C.MAC – Ăngghen, V.I.Lênin
- Quan điểm giới của C.MAC - Ăngghen
Trong tác phẩm “ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ( 1948 ), Mác và Ăngghen đã chỉ rõ: “ Dựa vào địa vị quyền lực, giai cấp tư sản đã làm
băng hoại đạo đức xã hội, làm tan nát gia đình Các nhà tư sản chưa thỏa mãn là có sẵn vợ và con gái của giai cấp vô sản để dùng, đó là chưa kể chế
độ mại dâm công khai”, các ngài còn lấy việc “ cắm sừng lẫn nhau làm thú vui đặc biệt” Tình trạng này đã làm bại hoại đạo đức xã hội, làm trụy lạc
những người phụ nữ không may mắn rơi vào cảnh đó và làm băng hoại nhân cách toàn thế giới nam giới ( Mác, Ăngghen, 1980 )
Dưới chế độ TBCN, phụ nữ bị bứt ra khỏi nền sản xuất xã hội, vì vậy
họ không có thu nhập Nếu họ muốn tham gia vào lao động xã hội, kiếm sống một cách độc lập thì họ không có điều kiện làm tròn nhiệm vụ đối với gia đình Vì vậy, khi đã kết hôn, công việc duy nhất của họ là thực hiện chức năng sinh đẻ, lo công việc gia đình, còn nam giới kiếm tiền nuôi sống gia đình
Sự bất bình đẳng nam nữ trong gia đình dưới chế độ TBCN do chính nền sản xuất tư bản và các quan hệ tài sản do xã hội ấy tạo ra Vì vậy, muốn xóa bỏ gia đình tư sản, muốn giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kết hôn dựa trên tình yêu, theo Ăngghen phải “
xóa bỏ nền sản xuất TBCN và các quan hệ tài sản do nền sản xuất ấy tạo
ra, gạt bỏ tất cả những lý do kinh tế” ra khỏi quan hệ hôn nhân và phải xây
dựng xã hội mới – xã hội XHCN – một xã hội không còn áp bức bóc lột
- Quan điểm giới của V.I.Lênin
Trang 20Theo Lênin, dưới sự thống trị của chế độ tư bản, trong các gia đình
vô sản phụ nữ là người chịu đau khổ nhất “ họ sẵn sàng làm việc, nhận số
tiền công hết sức rẻ mạt để kiếm thêm một mẩu bánh mỳ cho gia đình, nhưng họ bị trói buộc áp bức từ mọi phía, bị cột trặt vào gia đình Phụ nữ
vô sản không thể ngồi yên mà phải đứng lên cầm vũ khí cùng chồng con thủ tiêu ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, tiến hành công cuộc xây dựng CNXH” ( C.Mac, Ăngghen, Lênin, 1959 )
Cách mạng tháng mười Nga thành công là tiền đề cho một chế độ hôn nhân mới, bình đẳng Chính quyền Xô Viết không những thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ ngoài xã hội, mà ngay cả trong gia đình, những đặc quyền nam giới, sự nô dịch của nam giới đối với vợ và con gái đều bị chính quyền Xô Viết thủ tiêu Những đạo luật về quyền tự do kết hôn, tự do ly hôn, về quyền lợi con ngoài giã thú và quyền đòi người cha phải chịu tiền nuôi nấng con đã được từng bước thực hiện
Song, Lênin còn cho rằng, dù đã có luật giải phóng phụ nữ và thực
hiện bình đẳng nam nữ nhưng phụ nữ vẫn chưa thoát khỏi tình trạng “ nô lệ
trong gia đình Công việc nội trợ, việc gia đình còn đè nặng lên lưng họ làm cho họ nghẹt thở, mụ mẫn, nhọc nhằn, rằng buộc họ vào bếp núc, vào con cái, lãng phí sức lực của họ vào công việc cực kỳ kém năng suất, tủn mủn” ( Lênin, 1977 )
Muốn xây dựng XHCN, khẳng định vai trò trong gia đình, theo Lênin phụ nữ phải tích cực học tập, tham gia hoạt động chính trị, phải nâng cao trình độ về mọi mặt để nhanh chóng đuổi kịp nam giới, để làm tốt hơn vai trò người vợ, người mẹ, người công dân Phụ nữ có quyền li hôn khi gia đình không còn hạnh phúc Gia đình dưới XHCN là nơi đảm bảo hạnh phúc
và sự tiến bộ cho mỗi cá nhân Trong gia đình, các thành viên có quan hệ bình đẳng dân chủ thực sự, phụ nữ cũng như nam giới được coi trọng như
Trang 211.3.2 Quan điểm giới của Hồ Chí Minh
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ( 1946 ) đã có điều khoản là mọi công dân Việt Nam không phận biệt gái trai, giài nghèo, người Kinh với người dân tộc thiểu số được bình đẳng trước pháp luật và trong đời sống thực tế Hiến pháp còn tuyên bố xóa bỏ hủ tục khắt khe với phụ nữ Điều này đã phản ánh quan điểm về bình đẳng giới của Hồ Chí Minh Người thấu hiểu nỗi khổ của phụ nữ dưới chế độ cũ bị rằng buộc khắt khe với bao tập tục lạc hậu đã làm cho phụ nữ dốt nát, cực khổ, tối tăm Tâm lý trọng nam khinh nữ của Nho giáo đã cột chặt người phụ nữ vào gia đình Hiểu và
thông cảm sâu sắc đối với phụ nữ, Hồ Chí Minh đã viết: “ Dưới chế độ
phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ Ngoài xã hội, phụ nữ bị xem khinh như nô lệ Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích tam tòng”.Vì vậy, cần phải giải phóng phụ nữ thoát khỏi những xiềng xích trói
buộc họ, đó chính là nội dung của cách mạng XHCN “ Nếu không giải
phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng CNXH chỉ là một nửa” Hồ Chí Minh đã chỉ
đạo các cấp ngành nghiêm túc kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải làm tốt công tác vận động phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền
1.3.3 Thuyết nữ quyền phương Tây và quan điểm giới
Thuyết nữ quyền phương Tây ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIX Đây là một cách tiếp cận lý thuyết được dùng ở nhiều nghành khoa học xã hội và lấy phụ nữ làm trung tâm, nhằm mô tả mục tiêu, phân tích đời sống gia đình cũng như xã hội theo quan điểm phụ nữ Nó nêu lên tính chất nam trị trong gia đình và ngoài xã hội và nhận diện những trợ ngại chính đối với bình đẳng cho phụ nữ
Trang 221.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới
1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới
Ngay từ khi mới thành lập trong Luận cương chính trị của Đảng đã quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ Quan điểm bình đẳng nam nữ được thể hiện xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng của dân tộc Kể từ
Hiến pháp đầu tiên ( 1946 ) với tuyên ngôn: “ Đàn bà ngang quyền với đàn
ông trên mọi phương diện” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về chính
sách, luật pháp của Đảng về bình đẳng nam nữ và chống phân biệt đối xử với phụ nữ Các văn bản hiến pháp tiếp theo ( 1959, 1980, 1992 ) đều kế thừa quan điểm về bình đẳng của phụ nữ so với nam giới từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong xã hội Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội Đảng, các Nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ chính trị, Ban bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ phụ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ
nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “ Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới” Việc xây dựng ban hành Luật bình đẳng giới có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 Nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ một cách tập trung, hệ thống và đầy đủ trong giai đoạn mới là một biểu hiện của bước tiến mới trong việc thực thi quan điểm bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước
1.4.2 Một số chính sách xã hội đối với lao động nữ
Trang 23Nhà nước Việt Nam đã ban hành luật và các văn bản luật nhằm tạo
cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong lĩnh vực lao động việc làm, có thể đưa
ra một số ví dụ sau đây:
*Trong một số văn bản luật
Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2002 tiếp tục khẳng định những nguyên tắc về bình đẳng giới trong lao động được đề cập trong Hiến pháp Những nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến chính sách đối với lao động nữ bao gồm một số vấn đề bảo hiểm xã hội, tiền lương, bảo hộ lao động Trong đó, điều 111 chương X – Những
quy định riêng đối với lao động nữ có bổ sung: “ người sử dụng lao động
không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với phụ nữ vì
lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động”
Luật bình đẳng giới, điều 13 ( bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động ) cũng quy định những điều cụ thể về bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới khi tham gia lực lượng lao động
* Một số văn bản liên quan đến lao động nữ:
Những năm qua, bên cạnh các văn bản luật, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến lao động nói chung và lao động nữ nói riêng, thể hiện quan điểm về bình đẳng giới trong lao động Như một số văn bản sau đây:
- Nghị quyết 51/2001/QH 10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 đã quy định luật bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động như sau:
+ Nam, nữ được bình quyền về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác
+ Nam, nữ được bình đẳng về tiêu chuẩn độ tuổi khi đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề
Trang 24- Quyết định số 143/2001/QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm đến năm 2005
- Nghị định 114/2002/NĐ – CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ về tiền lương tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng trong trả lương: lao động
nữ nếu cùng làm công việc như lao động nam, thì được trả lương như nhau
- Nghị định 01/2003/NĐ – CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội quy định đối tượng tham gia được mở rộng cho người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế tập thể và cá nhân, trong các thành phần kinh tế này, lao động
nữ chiếm tỷ lệ khá cao
- Nghị định 02/2001/NĐ – CP ngày 09/01/2001 của Chính phủ về dạy nghề quy định: học viên nữ không phải bồi thường phí dạy nghề khi chấm dứt hợp đồng dạy nghề trong trường hợp có giấy chứng nhận của y tế cấp huyện trở lên về việc thực hiện hợp đồng học nghề sẽ bị ảnh hưởng xấu tới thai nhi; sau thời gian nghỉ thai sản nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện thì được tiếp tục theo học
- Nghị định 32/2003/NĐ – CP ngày 2/4/2003 của Chính phủ quy định không được xử lý luật lao động đối với lao động nữ có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi và lao động nam đang phải nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi
- Nghị định 39/2003/NĐ/CP ngày 18/4 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm, trong đó giao cho Bộ Lao động về việc làm, trong đó giao cho Bộ Lao động – Thương binh và xã hội nghiên cứu trình chính phủ chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho các đối tượng: lao động nữ
Trang 25- Điều 8 Các hành vi vi phạm chính sách hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động trong Nghị định quy định xử lý vi phạm hành chính về Bình đẳng giới của Chính phủ ngày 10/06/2009
+ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính
+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a ) áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam
và lao động nữ với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật
b ) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động nữ vì lý do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ
1.5 Những biểu hiện của Bất bình đẳng giới trong lao động tại Việt Nam hiện nay
Vai trò của lao động trong xã hội
Lao động một mặt là bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong quá trình phát triển sản xuất Đứng trước những biến động không có lợi của nền kinh tế thế giới hiện nay, Việt Nam là một trong những nước Chấu Á có nền kinh tế ít biến động nhất Tuy nhiên sự phát triển kinh tế suy cho cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao vật chất, tinh thần cho con người Lao động là một trong những yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết định, bởi vì
Trang 26tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó
1.5.1 Phụ nữ làm việc nhiều hơn so với nam giới
Việt Nam tự hào là một trong những quốc gia có tỷ lệ nữ tham gia kinh tế cao nhất thế giới: 85% nam giới và 83% nữ giới trong độ tuổi từ 15 đến 60 tham gia vào lực lượng lao động năm 2002 Tuy số lượng nữ ít hơn nam giới nhưng theo số liệu thì nữ giới lại phải làm việc nhiều hơn nam giới Số liệu điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2002 cho biết phụ nữ chiếm đa số trong số những người làm việc từ 51 – 60 giờ mỗi tuần Những nghiên cứu sâu hơn cho thấy phụ nữ nông thôn thường làm việc từ 16 – 18 giờ mỗi ngày, nhiều hơn nam giới từ 6 – 8 giờ mỗi ngày Theo số liệu của
Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ ( NCFAW 2005 ) cho biết khi phụ nữ và nam giới làm việc với số giờ tương đương trong sản xuất và kinh doanh, thì phụ nữ sử dụng thời gian dành cho việc nhà nhiều hơn 2,5 lần so với nam giới ở vùng thành thị và 2,3 lần ở vùng nông thôn
Số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 cho thấy thời gian trung bình mỗi ngày làm việc nhà của nam giới là 1,6 giờ so với phụ nữ làm 2,2 giờ Tuy vậy, đóng góp về thu nhập tiền mặt của phụ nữ lại ít hơn,
và họ cũng có ít quyền pháp lý đối với tài sản là những thứ có được nhờ nỗ lực của phụ nữ
Cũng cần nhận thấy rằng, với phụ nữ thì nghĩa vụ và trách nhiệm gia đình cũng là một nhân tố trở ngại đối với việc tham gia thị trường lao động Nghiên cứu cho thấy, khi có gia đình, mức độ tham gia vào thị trường của phụ
nữ gặp khó khăn, nhất là khi người phụ nữ có con nhỏ dưới 6 tháng tuổi
Việc tham gia vào thị trường lao động của phụ nữ đã kết hôn giảm so với nữ chưa kết hôn cho thấy phụ nữ phải ghánh vác nhiều công việc nội trợ của gia đình, do vậy thời gian dành cho việc tham gia thị trường lao động
Trang 27hơn nữ đã kết hôn rất nhiều bởi nam giới là người trụ cột gia đình để kiếm tiền, đây có thể xem là sức ép đối với vai trò nam giới trong gia đình
1.5.2 Khác biệt trong thu nhập
Sự khác biệt trong thu nhập giữa phụ nữ và nam giới về lương là một hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới chứ không chỉ diễn ra nguyên ở Việt Nam Theo thống kê thì Thụy Điển là nước đạt tỷ lệ bình đẳng cao nhất thế giới nhưng tỷ lệ lương của phụ nữ chỉ bằng 80% của nam giới; Canada: 65 -70% Còn ở Mỹ, sự thu hẹp khoảng cách về lương giữa lao động nam và
nữ diễn ra hết sức chậm chạp, năm 1986 thu nhập của nữ chỉ bằng 69,2%
so với nam giới, con số này vào năm 2001 là 76%
Ở Việt Nam nghiên cứu cho thấy phụ nữ thu nhập thấp hơn nam giới trong mọi nghành nghề Trung bình năm 2004, một phụ nữ Việt Nam kiếm được 83% so với lương của nam giới ở thành thị là 85% so với lương của nam giới ở nông thôn ( WB và các tổ chức khác )
Sự bất bình đẳng giới về thu nhập trong lao động có thể phản ánh sự kết hợp bởi các yếu tố trong đó có sự khác biệt về trình độ văn hóa, chuyên môn kinh nghiệm và những nguyên nhân khác cộng với sự phân biệt đối xử
Có thể giải thích bất bình đẳng giới trong thu nhập xuất phát từ trình
độ bằng cấp, chức vụ, năng lực và số giờ làm thêm Những phụ nữ độc thân, chưa có gia đình thì khả năng thăng tiến, có thu nhập cao hơn những phụ nữ đã có gia đình Bên cạnh đó thu nhập khu vực đầu tư nước ngoài có thu nhập cao hơn nhưng đòi hỏi bằng cấp và trình độ thì đa số phụ nữ không đáp ứng được
Phụ nữ có thu nhập ít hơn nam giới trong mọi nghành nghề Theo số liệu điều tra VHLSS ( điều tra mức sống hộ gia đình toàn quốc ) năm 2002 cho thấy, thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ chiếm 85% thu nhập của nam, tỷ lệ này ở khu vực nông nghiệp chỉ là 78% Trong khi sự bất bình đẳng về thu nhập trong lao động có thể phản ánh sự kết hợp của các
Trang 28yếu tố trong đó có sự khác nhau về trình độ văn hóa, chuyên môn, kinh nghiệm công tác và những nguyên nhân khác cộng với sự sự phân biệt đối
xử, cần phải giải quyết trên từng phương diện
1.5.3 Phân biệt đối xử theo giới
Các yếu tố tác động đến việc phân công lao động theo giới có thể nói
là do quan niệm sai trái mang tính truyền thống của người Việt Nam, cho rằng con trai phải làm công việc to lớn, còn việc vặt vãnh là dành cho phụ nữ
Phụ nữ tham gia trong lực lượng lao động với tỷ lệ cao Song sự phân chia lao động theo giới khiến cho phụ nữ không thể có được những việc làm mang lại thu nhập cao hơn cũng như để xóa bỏ khoảng cách về thu nhập giữa nam giới và phụ nữ
Nam giới được kiểm soát nhiều hơn đối với những tài sản có giá trị như đất đai, vốn hay thậm chí tri thức, giáo dục và vì vậy có nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống Người phụ nữ nông thôn không chỉ bị giới hạn trong
xã hội mà ngay cả trong gia đình, nhiều gia đình người chồng đi học kiến thức sản xuất nhưng người làm là phụ nữ Công việc chăn nuôi hay trồng trọt đều qua tay người phụ nữ
Đối tượng chịu sự phân biệt lớn nhất về kinh tế đó là phụ nữ Điều gì đứng sau sự khác biệt về tiền lương giữa nam giới và nữ giới? Nguyên nhân rất phức tạp, xuất phát từ những tập quán và cách nhìn của xã hội cũng như các yếu tố phi kinh tế khác nhau như giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm công tác Nhìn chung phụ nữ không bị trả lương thấp hơn nam giới trong cùng một công việc Nhưng tiền lương của phụ nữ thấp hơn là do họ
bị gạt ra khỏi ngành nghề có thu nhập cao hơn như: kỹ sư, xây dựng và khai thác, thêm vào đó là phụ nữ thường nghỉ việc để thực hiện thiên chức làm mẹ của mình đồng thời phải làm công việc trong gia đình Chính vì vậy
Trang 291.5.4 Phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động
Mặc dù hiến pháp và một số luật khác của Việt Nam đều khẳng định quyền bình đẳng của nam và nữ, tuy nhiên trên thực tế vẫn có những biểu hiện phân biệt đối xử với phụ nữ trong tuyển dụng lao động
Nghiên cứu chỉ ra: Một số vấn đề trong luật lao động phân biệt giữa nam và nữ dựa trên những tiêu chí có thể nói là phân biệt đối xử Luật lao động nước ta đặt ra hàng loạt chính sách “ Bảo hộ” lao động nữ, chế độ về hưu sớm, chế độ thai sản, nữ không phải làm việc trong một số ngành nghề được coi là độc hại hoặc nguy hiểm Ví dụ, trong khi chính sách bảo vệ lao động nữ khi mang thai chắc chắn được thực hiện là vì quyền lợi của phụ nữ cũng như của xã hội, chi phí cho những chính sách bảo hộ toàn diện này không nên cao tới mức làm cho người tuyển dụng không muốn tuyển, đào tạo hoặc đề bạt lao động nữ Phụ nữ cũng bị pháp luật hạn chế làm việc ở những lĩnh vực
được coi là nguy hiểm cho sức khỏe” Từ đó, NCFAW đề xuất “ pháp luật
không nên hạn chế quyền lựa chọn nghề nghiệp của phụ nữ”
1.5.5 Khả năng di động xã hội
Trong thị trường lao động, di động xã hội của phụ nữ nhìn chung kém hơn nam giới Phụ nữ chủ yếu di động ngang trên thi trường lao động Chính lao động nữ có nhu cầu thay đổi phù hợp với điều kiện của mình để hoàn thành vai trò người vợ, người mẹ
Thực tế cho thấy phụ nữ ít di động dọc so với nam giới, để có sự thành đạt trong cuộc đời phải có yếu tố năng lực, đào tạo… nhưng khả năng đào tạo của phụ nữ hạn chế, lại thêm ý chí tiến thủ của phụ nữ thường không bằng nam giới Với phụ nữ làm vợ và làm mẹ, thì di động xã hội lại càng hiếm Do thời gian sinh đẻ phụ nữ làm gián đoạn công việc, và điều này khiến cho người sử dụng lao động có những đánh giá bất lợi đối với lao động nữ hay nghỉ vì lý do con ốm, mẹ nghỉ; thêm nữa là việc gián đoạn
Trang 30thời gian làm việc như vậy cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với công việc trong môi trường công nghiệp hóa
Những vị trí hàng đầu trong nghề nghiệp dường như vẫn “ tránh né” phụ nữ, những người nhận thấy rằng họ đụng vào cái được gán cho là “ trần kính”, một tập hợp các trở ngại không thể nhìn thấy ngăn cản phụ nữ đi lên Khi các trần kính không ngăn được phụ nữ, các bức tường kính sẽ làm điều
đó, những vật cản này sẽ ngăn cản sự di chuyển của phụ nữ Nhưng ngay
cả khi những người phụ nữ vượt qua được các bức tường kính đó cũng thường xuyên gặp phải các hàng rào vô hình của truyền thống, định kiến và thiên kiến ngăn trở họ tham gia vào vị trí của giới quản lý cấp cao và ngăn không cho họ tham gia vào việc đưa ra quyết định Mặt khác, quy định khác biệt tuổi giữa nam và nữ trong tuyển dụng và đào tạo cũng là cản trở hạn chế sự phát triển của nữ giới
Hộp 1.1: Cơ hội thăng tiến nghề nghiệp của tôi kết thúc trước cả khi bắt đầu
Tôi 30 tuổi và mới hoàn thành bằng thạc sỹ Có chương trình đào tạo chính trị cao cấp dành cho công chức nhà nước cấp cao và đâu là một tiêu chí quan trọng để được cân nhắc lên vị trí lãnh đạo Tiêu chuẩn để tham gia chương trình đào tạo này là nam giới 41 tuổi và nữ giới dưới 36 tuổi ở một mức lương nhất định ( 3,6 ) Tôi cần thêm 8 năm nữa mới đạt được mức lương như thế này Đến lúc đó tôi đã 38 tuổi và không đủ điều kiện để tham gia đào tạo nữa Nếu tôi là nam giới, tôi vẫn đủ điều kiện cho đến khi tôi 40 tuổi Tôi đã làm việc rất chăm chỉ nhưng cơ hội của tôi thì
đã qua trước cả khi tôi đã bắt đầu ( Một nữ cán Bộ KH&ĐT tại hội thảo giới của WB tại Hà Nội, tháng 6/2006)
Như vậy, lao động nữ chịu nhiều thiệt thòi không chỉ về lương, tiền công mà còn không được hưởng các chính sách về phúc lợi xã hội cũng
Trang 31Tiểu kết chương 1:
Chương 1 của khóa luận đã hệ thống và phân tích cơ sở lý luận, cơ
sở thực tiễn của đề tài, bao gồm: Các khái niệm cơ bản, một số quan điểm
lý thuyết về giới và phát triển, một số quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới và những biểu hiện của bất bình đẳng giới tại Việt Nam hiện nay Cơ sở lý luận này giúp chúng ta có cái nhìn nhận tổng quát về vấn đề giới và phát triển Đây chính là cơ sở, căn cứ để chúng ta đưa ra những nhận định, đánh giá chính xác về thực trạng bất bình đẳng giới nói chung và bất bình đẳng giới trong lao động nói riêng
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG QUA NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN MỸ ĐỨC – HÀ NỘI
2.1Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Mỹ Đức là một huyện nằm phía Tây Nam của thành phố Hà Nội, trung tâm huyện lỵ cách thị xã Hà Đông 40km Phía Bắc giáp huyện Chương mỹ, Phía Đông giáp huyện Ứng Hòa, Phía Tây giáp huyện Lương Sơn và Kim Bôi ( Hòa Bình ), Phía Nam Giáp huyện Kim Bảng Hà Nam
Mỹ Đức nằm ở vị trí bản lề chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, lại có dãy núi đá vôi chạy dọc về Phía Tây nên có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng và coi đây như tuyến phòng thủ phía Tây Nam đối với thủ
đô Hà Nội Vì thế vị trí của Mỹ Đức có ý nghĩa chiến luợc trong chiến tranh cũng như trong phát triển kinh tế thị trường Các tuyến quốc lộ 21B, quốc lộ 6 đã giúp cho huyện giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa với các huyện trong tỉnh cũng như với các tỉnh khác Ngoài tuyến đường bộ chạy qua huyện còn có hệ thống đường thủy với hai sông Đáy và Mỹ Hà có giá trị giao thông lớn
Cho đến nay, huyện Mỹ Đức có 1 thị trấn và 22 xã với 118 thôn xóm Diện tích toàn huyện là 230km2, dân số là 170,7 nghìn người
Trang 33- Tài nguyên khí hậu
Khí hậu Mỹ Đức mang đặc tính của kiểu khí hậu miền Bắc nước ta, với đặc điểm là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Mặt khác
do Mỹ Đức nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, lại có dãy núi đá vôi chạy dọc phía Tây nên khí hậu phân hóa thành hai mùa nóng lạnh Mùa nóng trùng với mùa mưa, còn mùa lạnh trùng với mùa khô
- Tài nguyên sinh vật
Trang 34Do có dãy núi đá vôi ở phía Tây nên diện tích rừng tự nhiên hiện
có là 2314ha, tập trung chủ yếu ở vùng Hương Sơn Rừng của huyện
Mỹ Đức thuộc kiểu rừng kín Do đó thế giới động, thực vật ở đây khá phong phú và đa dạng
Rừng được coi là một trong những tiềm năng kinh tế của huyện vì rừng không chỉ có giá trị về kinh tế là cung cấp lâm thổ sản, mà còn cung cấp dược liệu cho các ngành kinh tế Rừng còn có tác dụng giữ cân bằng sinh thái, bảo vệ đất, hạn chế lũ lụt, chắn gió và phát triển du lịch
- Tài nguyên khoáng sản
Theo đánh giá sơ bộ của tỉnh, ở Mỹ Đức có một số loại tài nguyên khoáng sản như:
- Than bùn: phân bố rải rác ở 10 xã ven núi, trong đó tập trung lớn ở các xã Đồng Tâm, Thượng Lâm, Hương Sơn với trữ lượng hành trăm triệu tấn, các lớp than bùn có bề dày thay đổi từ 0,1 – 0,3m, có thể khai thác dễ dàng, đó chính là nguồn nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất phân vi sinh Hiện nay than bùn đã được nghiên cứu chế biến thành phân vi sinh ở Thượng Lâm để bón cho một số loại cây trồng có tác dụng cải tạo đất và cho năng suất cao hơn, nhưng hiện nay mới khai thác với số lượng quá ít ( 1000 tấn/ năm )
- Đá vôi: Được phân bố thành dải ở phía Tây, kéo dài từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn trên 40km, với chiều rộng từ 1 -2km, chiều cao trung bình từ 50 – 100m, trữ lượng khoảng 600 triệu m3 Đáng chú ý là nhiều dãy núi có đá đỏ, đá xanh, đen, đá đen Granit Đây chính là nguồn tài nguyên lớn cho công nghiệp sản xuất xi măng phát triển, ngoài ra đá vôi còn được sử dụng làm vôi, xây nhà cửa, rải đường, làm hóa chất Đá vôi ở
Mỹ Đức không chỉ có chất lượng tốt mà còn phân bố gần trục giao thông
dễ khai thác, gần nơi tiêu thụ đó chính là điều kiện thuận lợi để phát triển
Trang 35Bên cạnh đó có nguồn đất sét để sản xuất xi măng, gạch, ngói với trữ lượng lớn, tập trung hầu hết ở các xã ven núi từ Đồng Tâm tới An Phú Đây
là những loại khoáng sản có giá trị kinh tế, hiện nay được khai thác để phục
vụ cho việc phát triển công nghiệp của huyện Đặc biệt sự có mặt của nhà máy C5 ( của huyện đội ) đang hoạt động có hiệu quả, dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có này
Ngoài ra, Mỹ Đức còn có nguồn cát, cuội, sỏi ở nhiều nơi, trong đó cát ở Sông Đáy đang được nhiều hợp tác xã và tư nhân đầu thầu khai thác, nhằm cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, vật liệu xây dựng, làm đường bê tông, xây dựng cơ sở hạ tầng… của huyện và cung ứng cho các vùng lân cận
Có thể nói rằng vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên của Mỹ Đức tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền sản xuất đa dạng – nông – lâm – công nghiệp kết hợp với du lịch, dịch vụ
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Cơ cấu dân số
Mặc dù tỷ lệ sinh và gia tăng tự nhiên đã giảm dần song nhìn chung dân số Mỹ Đức thuộc loại trẻ
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu dân số theo độ tuổi Mỹ Đức năm 2000- 2010 ( % )
Năm 2000 Năm 2010
Trang 36Dân số dưới tuổi lao động
Dân số trong độ tuổi lao động
Dân số ngoài tuổi lao động
Căn cứ vào biểu đồ trên ta thấy dân số dưới tuổi lao động của Mỹ Đức tuy đã giảm song vẫn chiếm trên 30% và số người trong độ tuổi lao động đã tăng lên tương ứng chiếm gần 55% tổng số dân Như vậy hàng năm lực lượng lao động bổ xung khá lớn với số người lao động dưới 40 tuổi luôn chiếm ưu thế Đây thực sự là một tiềm năng lớn về nguồn nhân lực tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội huyện đồng thời đây cũng chính là thị trường lớn luôn đòi hỏi sản xuất phải đáp ứng nhu cầu cao
về số lượng, chất lượng của giới trẻ Song đây cũng chính là một thách thức lớn đòi hỏi Mỹ Đức phải có biện pháp khai thác và sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý
Bảng 2.1: Nguồn lao động của Mỹ Đức thời kỳ 2000 – 2010
Tổng số lao động ( người )
% so với tổng số dân
80.630 49,4
86.501 51,8
88.475 54,5
Nguồn: Phòng thống kê Mỹ Đức
- Cơ sở hạ tầng
+ Giao thông
Là huyện bán sơn địa, so với các huyện khác trong tỉnh thì Mỹ Đức
có mạng lưới giao thông kém phát triển hơn Song những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã có khởi sắc, do đó hệ thống giao thông đang được xây dựng đề khắp các lãng, xã
Trang 37với trang thiết bị khá hiện đại
Tính đến năm 2010 toàn huyện có 4 bưu cục trong đó:
- 1 bưu cục cấp II ( Bưu điện Tế Tiêu )
- 3 bưu cục cấp III ( Cầu Dậm, Kênh đào và Hương Sơn )
Với 19 điểm bưu điện văn hóa xã ( đạt 100% ) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho ngành bưu chính viễn thông khá tốt
+ Các dịch vụ xã hội
Nhìn chung, các hoạt động, dịch vụ xã hội đã và đang phát triển mạnh tại huyện đảm bảo bước đầu cho nhu cầu của người dân như: thông tin liên lạc, hoạt động vui chơi giải trí, phương tiện thông tin đại chúng…
- Những lợi thế và thách thức
Những lợi thế: So với các huyện khác trong tỉnh, Mỹ Đức có lợi thế
về vị trí địa lý Cách trung tâm Hà Nội 50km về phía Tây Nam, giao thông đảm bảo là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và thông tin kinh tế Trong xu thế hòa nhập nền kinh tế, việc mở cửa nước ta đã, đang và sẽ tạo cơ hội thuận lợi để Mỹ Đức có thể khai thác tốt các nguồn lực sẵn có, tranh thủ và thu hút được các nguồn lực trong ngoài tỉnh và quốc tế
Những hạn chế và thách thức: Với xuất phát điểm dưới mức trung bình so với cả nước, thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không khai thác được những tài nguyên và lợi thế đồng thời không đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế thì có nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh và cả nước
2.2 Thực trạng bất bình đẳng giới trong lao động hiện nay tại huyện Mỹ Đức
2.2.1 Bất bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình
Theo kết quả điều tra tại địa phương, người chủ yếu làm các công việc nội trợ như: nấu ăn, mua thực phẩm, giặt quần áo, chăm sóc con… chủ yếu là do người vợ làm chiếm 80,2% so với chồng 4,5% Đây chính là những công việc tiêu tốn thời gian, sức lực của người phụ nữ, chúng ta thửi
Trang 38làm một phép tính đơn giản, nếu mỗi ngày người phụ nữ bỏ ra từ 3 đến
10 tiếng cho công việc gia đình thì trong suốt cuộc đời họ sẽ mất 2/3 cuộc đời vào những công việc đó đây chính là những công việc tiêu tốn nhiều thời gian, sức lực của người phụ nữ Việc chăm lo đến các thành viên trong gia đình từ trẻ em đến người lớn khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau được coi là chức năng, bổn phận của phụ nữ Số liệu điều tra tại địa phương cho thấy:
Bảng 2.2: Chăm sóc người phụ thuộc trong gia đình (% )
( Nguồn: kết quả điều tra bảng hỏi tại Huyện Mỹ Đức)
Phụ nữ tại địa phương phải làm tất cả các việc không tên trong nhà một cách nhẫn lại không được trả công Khi được hỏi, trong gia đình ai là người làm nhiều những công việc nội trợ? Đại đa số các ý kiến khẳng định vợ/ con gái
Bảng 2.3: Người làm nhiều công việc gia đình (%)
Hoạt động Vợ/ con gái
làm nhiều
Chồng/ con trai làm nhiều
Hai vợ chồng làm như nhau
Trang 39Quét dọn 65,6 2,25 25,7
( Nguồn: Kết quả từ việc điều tra bảng hỏi tại huyện Mỹ Đức )
Các số liệu trên cho thấy, phụ nữ ( vợ, con gái ) trong các gia đình làm nhiều hơn nam giới ( chồng, con trai ) ở ba hoạt động: nấu ăn Giặt giũ, quét dọn Người chồng, người con trai đã có sự chia sẻ công việc với người vợ Xu hướng nam giới tham gia vào các công việc nội trợ tăng lên nhưng nữ giới vẫn
là người đảm nhận chính các công việc bếp núc, quét dọn, giặt giũ
Bằng tất cả những số liệu trên đây, chúng ta có thể thấy rõ bất bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình giữa nam giới và nữ giới, giữa người vợ và người chồng vẫn đang tồn tại đậm nét trong các gia đình Sự bất bình đẳng giới này không phải lúc nào cũng dễ nhận thấy bởi lẽ hàng ngàn đời nay mọi người đều nhìn nhận việc tề gia nội trợ được gắn liền với người phụ nữ, đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của người phụ nữ đối với gia đình Chính sự nhìn nhận này đã làm cho nỗi vất vả, cơ cực của phụ nữ ngày càng bị nhân đôi
Việc phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ tại địa phương nói riêng phải mất nhiều thời gian cho công việc nội trợ là một trở ngại lớn trên con đường giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng nam, nữ trong gia đình và xã hội
2.2.2 Bất bình đẳng giới trong tuyển dụng lao động
Khoản 1 Điều 13, Luật bình đẳng giới quy định: Nam, nữ bình đẳng
về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng lao động, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc, tiền công, tiền thưởng, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác Bên cạnh đó, bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động – việc làm được quy định: Bình đẳng về cơ hội việc làm và quyền tự do lựa chọn việc làm; bảo đảm việc làm, chống phân biệt đối xử Đặc biệt, đối với lao động nữ là quyền được bảo vệ sức khỏe, an toàn lao động, trong đó có chức năng sinh sản và nuôi con,… Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều biểu hiện phân biệt đối xử với phụ nữ trong tuyển dụng lao động
Trang 40Ở huyện Mỹ Đức hiện nay cũng có một số nhà máy xí nghiệp và các doanh nghiệp tư nhân nhỏ, có cơ quan chuyên chạy cho người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài Hàng năm các doanh nghiệp này thường xuyên tuyển dụng lao động để đáp ứng công việc Đại đa số trong các thông báo tuyển dụng đều đem lại lợi thế cho nam giới Ví dụ các công việc đòi hỏi
kỹ thuật cao thì có đến hơn 50% yêu cầu ứng viên phải là nam giới, chỉ có 15% yêu cầu ứng viên là nữ, những công việc dành cho nữ thường là những công việc như: lao động phổ thông, tiếp thị, thư ký
Sự phân biệt đối xử về giới trực tiếp không nhiều, nhưng sự bất bình đẳng giới được ẩn đi, thông qua các yêu cầu về đào tạo, trình độ học vấn, lứa tuổi, học thức…
Ví dụ trong một thông báo tuyển nhân viên như sau:
Điều kiện tuyển dụng và vị trí cần tuyển:
Ba kế toán tốt nghiệp đại học loại giỏi đối với nữ, trung bình hoặc cao hơn đối với nam
Yêu cầu nữ: tuổi đời từ 22 – 25, ngoại hình ưa nhìn, chưa lập gia đình Yêu cầu đối với nam: Tuổi đời không quá 30 tuổi
Một số doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động nữ có đề ra quy định phải làm việc trong thời gian 1 – 2 năm mới được xây dựng gia đình, 2 năm sau mới được sinh con, quy định này hoàn toàn trái với quy định của pháp luật
2.2.3 Bất bình đẳng giới về lao động trong thu nhập
Tại huyện Mỹ Đức phụ nữ chiếm gần 50% lực lượng lao động nhưng mức thu nhập của họ chỉ bằng 80% thu nhập bình quân của nam giới
Luật lao động nói rõ là nam nữ phải được hưởng mức lương bằng nhau khi cùng làm một công việc như nhau, tuy nhiên trên thực tế thu nhập của nữ giới hiện vẫn còn kém xa nam giới Tại địa phương, phân