Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh ngày một phát triển cả về số lượng và trình độ chuyên môn; đến năm 2010, toàn tỉnh có 668 cán bộ có trình độ trên đại học bao gồm cả cán bộ
Trang 1NGHỊ QUYẾT
về phát triển nhân lực giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020
( Số : 06 - NQ/TU, ngày 17/11/2011)
Trang 2Nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế là một trong ba khâu đột phá được Đảng ta xác định trong giai đoạn hiện nay
Trang 3Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XV, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Tỉnh uỷ Đắk Lắk ban hành Nghị quyết về phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 như sau:
Trang 4I- TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CỦA TỈNH THỜI GIAN QUA
1- Những kết quả đạt được:
Trong 10 năm qua, quy mô lực lượng lao động của tỉnh tăng khá nhanh, bình quân mỗi năm tăng khoảng 3,12%
Trang 5Năm 2010, lực lượng lao động của tỉnh có gần 1,15 triệu người, chiếm trên 67% dân số; phần lớn lao động đang ở trong độ tuổi trẻ, lao động dưới 45 tuổi chiếm 75% tổng số lao động
Trang 6Trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lao động và ý thức kỷ luật của lực lượng lao động đang từng bước được nâng lên So với năm 2001, năm 2010, số lao động không biết chữ còn 45 ngàn người, giảm 5,5%; →
Trang 7chưa tốt nghiệp tiểu học còn 196 ngàn người, giảm 6,4%; tốt nghiệp tiểu học còn 316,5 ngàn người, giảm 2,4%; tốt nghiệp trung học cơ sở có 285,1 ngàn người, tăng 9,6% và tốt nghiệp trung học phổ thông có 99,7 ngàn người, tăng 4,7%
Trang 8Bình quân trong 10 năm qua, lao động tốt nghiệp trung học cơ sở tăng 7,1%/năm; tốt nghiệp trung học phổ thông tăng 9,4%/năm Giai đoạn
2006 - 2010, có trên 142,7 ngàn lao động được đào tạo từ bồi dưỡng ngắn hạn đến đại học và sau đại học, bình quân mỗi năm khoảng 28,5 ngàn người
Trang 9So với năm 2001, số lao động qua đào tạo năm 2010 chiếm 39%, tăng 16,9%; trong
đó, ngành công nghiệp - xây dựng có tỷ
lệ lao động qua đào tạo 56,7%, tăng 18,6%; ngành dịch vụ có 73,3% lao động qua đào tạo, tăng 14,1%; ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản có tỷ lệ lao động qua đào tạo 29,2%, tăng 14,2%
Trang 10Cơ cấu lao động tiếp tục có sự chuyển dịch khá mạnh mẽ từ khu vực nông - lâm nghiệp, thuỷ sản sang khu vực công nghiệp, dịch vụ So với năm 2001, cơ cấu lao động khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2010 giảm 6,54%; cơ cấu lao động khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 2,37%; cơ cấu lao động khu vực dịch vụ tăng 4,18%.
Trang 11Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh ngày một phát triển cả về số lượng và trình độ chuyên môn; đến năm
2010, toàn tỉnh có 668 cán bộ có trình độ trên đại học (bao gồm cả cán bộ làm việc ở các cơ quan Trung ương đứng chân trên địa bàn tỉnh), trong đó cán bộ dân tộc thiểu số có 45 người, chiếm 6,73%, →
Trang 12có 45 tiến sĩ, 13 chuyên khoa II tương đương tiến sỹ, 610 thạc sỹ
và tương đương thạc sỹ; trình độ đại học có 13.275 người, cao đẳng có 9.461 người, trung cấp có 13.937 người, sơ cấp có 1.057 người
Trang 13Năm học 2010 - 2011 có 912 trường, 15.290 lớp, 461.520 học sinh từ bậc mầm non đến trung học phổ thông Mạng lưới
cơ sở trường lớp được quan tâm đầu tư, chất lượng giáo dục phổ thông được cải thiện đáng kể; giáo dục chuyên nghiệp được tăng cường cả về cơ sở vật chất, tăng ngành nghề đào tạo và nâng dần chất
Trang 14Tỉnh hiện có 1 trường Đại học với 37 ngành đào tạo, trên 16 ngàn sinh viên; 4 trường cao đẳng với 7.200 sinh viên; 8 trường trung cấp chuyên nghiệp với 4.600 sinh viên; 1 trung tâm GDTX tỉnh mỗi năm liên kết đào tạo khoảng 1.500 sinh viên, 14 trung tâm GDTX cấp huyện có liên kết đào tạo chuyên nghiệp và các trung tâm học tập cộng đồng; →
Trang 1540 cơ sở dạy nghề công lập và xã hội hóa, trong đó có các trung tâm dạy nghề cấp huyện và 14 cơ sở dạy nghề ngoài công lập từng bước đa dạng hơn về ngành nghề và hình thức đào tạo
Trang 16Hệ thống tổ chức quản lý phát triển nhân lực, hệ thống môi giới, giới thiệu việc làm ngày một hoạt động có hiệu quả, góp phần điều tiết, giải quyết kịp thời nhu cầu lao động và sử dụng lao động.
Trang 17Sự phát triển của nhân lực đã góp phần cho nền kinh tế phát triển nhanh
và khá ổn định Quy mô nền kinh tế năm 2010 gấp 2,4 lần so với năm
2001, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2001- 2010 đạt 10,1%/năm; →
Trang 18cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản giảm từ 77,55% năm 2000 xuống còn 49,69% năm 2010; công nghiệp - xây dựng tăng từ 7,27% lên 17,58%; dịch vụ tăng từ 15,18% lên 32,72%; →
Trang 19tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm dần
từ 3,46% năm 2005 xuống còn 2,98% năm 2010; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn năm 2010 đạt khoảng 85%, tăng 2,5% so với năm 2005 Năng suất lao động được cải thiện, năm 2010, theo giá so sánh năm 1994, →
Trang 20thu nhập bình quân ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 9,08 triệu đồng/lao động/năm; công nghiệp - xây dựng 32,99 triệu đồng/lao động/năm; dịch vụ 24,23 triệu đồng/lao động/năm Các lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng có chuyển biến tích cực, quốc phòng, an ninh được giữ vững.
Trang 212- Những khuyết điểm, hạn chế:
Tỷ lệ lao động có trình độ học vấn và kỹ năng lao động còn thấp, lao động chưa qua đào tạo còn khá cao; →
Trang 22tỷ lệ công nhân kỹ thuật - kỹ sư chưa phù hợp (1 đại học trở lên - 1,3 trung cấp, cao đẳng chuyên nghiệp - 5,7 công nhân kỹ thuật - 20,4 lao động chỉ qua bồi dưỡng ngắn hạn hoặc lao động phổ thông, chưa qua đào tạo); năng suất lao động nhìn chung còn thấp và không đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực.
Trang 23Nhân lực quản lý nhà nước có trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ tương đối cao so với các lĩnh vực khác, nhưng vẫn thấp so với mặt bằng chung của
cả nước, đời sống còn nhiều khó khăn
Trang 24Trình độ của một số nhóm nhân lực đặc thù, nhất là doanh nhân, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp và một số ngành, lĩnh vực quan trọng còn hạn chế, thiếu những chuyên gia đầu ngành; kỹ năng và kỷ luật lao động công nghiệp còn thấp, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế chưa đáp ứng tốt yêu cầu trong hợp tác đầu tư với nước ngoài
Trang 25Công tác thu hút nhân tài, nhân lực chất lượng cao về tỉnh còn kém; tình trạng chuyển dịch nhân lực có chất lượng từ khu vực công ra bên ngoài bắt đầu xuất hiện ở một số lĩnh vực, nhất là lĩnh vực y tế Một số lượng lớn lao động trẻ, →
Trang 26có trình độ đang có xu hướng ra khu vực thành thị hoặc về các trung tâm kinh tế lớn ngoài tỉnh, trong khi đó, dân di cư tự
do vào tỉnh vẫn tiếp tục tăng, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trình độ học vấn thấp Lao động là đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh cũng còn khá hạn chế về trình độ đào tạo và các kỹ năng mềm.
Trang 27( Ngày nay trình độ học vấn và các bằng cấp chưa đủ để quyết định trong việc tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động Họ còn căn cứ vào yếu tố cá nhân như kỹ năng, sự nhạy bén trong xử lý công việc và giao tiếp của mỗi người lao động, các yếu tố này được người ta gọi là “Kỹ năng mềm ” hay Soft skills →
Trang 28Soft skills là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người
việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo
được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người )
Trang 29Đội ngũ giáo viên các bậc học phổ thông tăng về số lượng và chất lượng, nhưng không đều giữa các vùng, các trường và giữa một số môn; giáo viên các trường cao đẳng và đại học đa số
có trình độ đại học, số giáo viên có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm giáo
sư, phó giáo sư rất ít
Trang 30Hệ thống cơ sở trường lớp, chất lượng và ngành nghề đào tạo còn bất cập so với yêu cầu của thị trường lao động, phân bố cơ sở đào tạo không đều, chủ yếu tập trung ở thành phố Buôn Ma Thuột
Trang 31Sự phối hợp giữa các ngành quản lý, giữa các cơ sở đào tạo nhân lực với các doanh nghiệp và người sử dụng lao động thiếu chặt chẽ và đồng bộ Đội ngũ cán bộ quản
lý đào tạo nghề ở các cơ sở dạy nghề ngoài công lập không ổn định; giáo viên dạy nghề thiếu về số lượng, trình độ không đồng đều, thiếu cơ sở thí nghiệm, thực hành
Trang 323- Nguyên nhân khuyết điểm, hạn chế:
kinh tế - xã hội của tỉnh còn thấp so với nhiều địa phương khác trong cả nước, trình độ dân trí không đồng đều; nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn
là sản xuất nông nghiệp, →
Trang 33nặng về quy mô, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn thấp nên sử dụng nhiều lao động với yêu cầu về trình độ lao động chưa cao; công nghiệp phát triển chậm, quy mô còn nhỏ bé, nhu cầu sử dụng lao động chưa nhiều
Trang 34Các ngành dịch vụ đang phát triển khá nhanh, song chưa nhiều dịch vụ chất lượng cao nên nhu cầu sử dụng lao động có chất lượng còn hạn chế Những điều này đã tạo ra sự phân bổ lớn lao động trong nông nghiệp, làm chậm quá trình phát triển nhân lực theo hướng tích cực hơn
Trang 35- Về chủ quan : Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nhân lực đã được đề ra nhưng việc thực hiện còn hạn chế, chủ yếu do nguồn lực đầu tư chưa đảm bảo Thị trường lao động bước đầu đã hình thành nhưng chưa có sự điều chỉnh tích cực từ phía các cơ quan quản
lý nhà nước
Trang 36Sự tham gia đào tạo nhân lực của các đơn
vị, doanh nghiệp sử dụng lao động còn hạn chế, nên việc hình thành nhân lực có chất lượng còn chậm so với yêu cầu phát triển Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực chưa quan tâm đúng mức đến việc gắn kết với quy hoạch phát triển nhân lực, →
Trang 37quy hoạch đào tạo nâng cao trình độ, nhất
là trình độ sau đại học đối với cán bộ, công chức khu vực nhà nước còn hạn chế… Mạng lưới đào tạo chuyên nghiệp
và đào tạo nghề chưa hợp lý Chế độ tiền lương của người lao động trực tiếp còn bất cập, cùng với việc định hướng nghề trong trường phổ thông và nhận thức về học nghề của nhiều gia đình còn bất cập.
Trang 38II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ
CÁC GIẢI PHÁP 1- Dự báo tình hình
Trong giai đoạn 2011 - 2020, lực lượng lao động, nhất là lao động trẻ tiếp tục tăng trong cơ cấu dân số sẽ tạo ra nguồn cung nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế - xã hội
Trang 39Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo thêm nhiều cơ hội, kích thích mạnh hơn cho phát triển nhân lực Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ sẽ giúp cho công tác đào tạo nhân lực hiệu quả, chất lượng hơn
Trang 40Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh
tế, phát triển xã hội thời gian qua của tỉnh, cùng với định hướng của Trung ương Đảng và Chính phủ đầu tư phát triển Đắk Lắk và thành phố Buôn Ma Thuột thành trung tâm vùng Tây Nguyên là những yếu tố thuận lợi cho phát triển nhân lực của tỉnh
Trang 41Bên cạnh những thuận lợi nói trên, quá trình phát triển nhân lực của tỉnh
sẽ gặp một số khó khăn, thách thức lớn đó là: Lực lượng lao động của
tỉnh chủ yếu là lao động nông nghiệp
và lao động trình độ giản đơn, ít lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật cao; →
Trang 42số lượng lao động chưa qua đào tạo, chưa qua đào tạo nghề còn cao khó đáp ứng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, yêu cầu đào tạo mới, đào tạo lại rất lớn Chất lượng nhân lực một số ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn còn thấp, khó khăn trong việc tiếp cận khoa học công nghệ cao
Trang 43Quá trình mở rộng hợp tác đầu tư và quan hệ kinh tế đối ngoại đòi hỏi phải
có những ngành đào tạo mới, yêu cầu
số lượng và chất lượng nhân lực đào tạo ngày càng cao trong khi hệ thống
cơ sở đào tạo và trình độ cán bộ giảng dạy tại địa phương còn hạn chế
Trang 44Sự cạnh tranh, thu hút nhân lực trong tỉnh về các trung tâm kinh tế ngoài tỉnh và thu hút nhân lực trong khu vực nhà nước ra khu vực ngoài nhà nước sẽ ngày càng gay gắt, làm biến dạng cung - cầu lao động của tỉnh.
Trang 452- Quan điểm:
Toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội phải có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về phát triển nhân lực, thực sự coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá để phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Trang 46Phát triển nhân lực đảm bảo số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng giai đoạn và phù hợp với chiến lược phát triển nhân lực của Quốc gia Gắn kết chặt chẽ việc đào tạo nhân lực thông qua mạng lưới giáo dục - đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh →
Trang 47với tranh thủ hệ thống đào tạo trong và ngoài nước, đồng thời với việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia đầu ngành cho các ngành, lĩnh vực quan trọng, mũi nhọn
Trang 48Phát triển năng lực chuyên môn của nhân lực đi đôi với cải thiện các kỹ năng mềm và phát triển thể chất, tinh thần, đạo đức con người Việt Nam, đồng thời gắn chặt với công tác xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong thời kỳ mới
Trang 49Đầu tư từ ngân sách nhà nước, kết hợp với đẩy mạnh xã hội hoá trong đào tạo nhân lực; thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực cho xã hội Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức.
Trang 503- Mục tiêu:
3.1- Đến năm 2015:
3% trong tổng số cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh; chú trọng đào tạo chuyên gia đầu ngành cho các lĩnh vực giáo dục,
y tế, kinh tế, khoa học - công nghệ - môi trường
Trang 51Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, qua đào tạo nghề 40% trong tổng số khoảng 1.260 ngàn người trong độ tuổi lao động;
cơ cấu trình độ lao động qua đào tạo đạt
tỉ lệ 1 đại học chuyên nghiệp trở lên, 1,5 trung cấp, cao đẳng chuyên nghiệp, 8-10 công nhân kỹ thuật, 17-20 lao động phổ thông hoặc qua huấn luyện ngắn hạn.
Trang 52Tỷ trọng lao động trong ngành nông
- lâm nghiệp, thuỷ sản là 65%; công nghiệp - xây dựng 14,5%, dịch vụ 20,5% Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản đạt khoảng 37%; công nghiệp - xây dựng khoảng 63%; dịch vụ khoảng 82%;→
Trang 53Giai đoạn 2011-2015, phấn đấu tạo việc làm mới cho ít nhất 130 ngàn lao động (trung bình mỗi năm khoảng 26 ngàn lao động); giảm tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị xuống dưới 3%; giảm
tỷ lệ thời gian thiếu việc làm của lao động nông thôn xuống còn 5%