1. Trang chủ
  2. » Tất cả

KIEM TRA DANH GIA THEO DINH HUONG PHAT TRIEN NANG LUC

56 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 777 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách đánh giá thứ nhất thiên về đánh giá mức độ tiếp nhận nội dung chương trình môn học ; cách đánh giá thứ hai thiên về xác định các mức độ năng lực của cá nhân người học so với mục tiê

Trang 2

1 Giới thiệu những vấn đề chung

về đánh giá theo định hướng năng lực

2 Hướng dẫn biên soạn câu hỏi, bài tập gắn với đời sống thực tiễn

Trang 3

I/ GIỚI THIỆU NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

Theo quan điểm phát triển năng lực, đánh giá theo năng lực là việc đánh giá không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá mà chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Hay nói cách khác: đánh giá năng lực

là đánh giá KT,KN và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2011)

1.KHÁI NIỆM ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC:

Trang 4

I/ GIỚI THIỆU NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

1 KHÁI NIỆM ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC:

Hiện nay có hai hướng tiếp cận chính về đánh giá kết quả học tập:

- Đánh giá dựa theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông.

- Đánh giá dựa vào năng lực.

Cách đánh giá thứ nhất thiên về đánh giá mức độ tiếp nhận nội dung chương trình môn học ; cách đánh giá thứ hai thiên về xác định các mức độ năng lực của cá nhân người học so với mục tiêu đặt ra của môn học.

Có thể so sánh hai hướng tiếp cận này trên một số phương diện sau: mục tiêu đánh giá, nội dung đánh giá, phương pháp đánh giá, phân tích và sử dụng kết quả đánh giá.

Trang 5

Đánh giá theo chuẩn KT-KN

Đánh giá theo hướng hình thành năng lực

Mục tiêu đánh giá Mức độ đạt chuẩn KT, KN

đã được xác định trong chương trình giáo dục

-Các mức độ năng lực của người học.

- Hướng tới mục tiêu học tập phát triển theo cách tiếp cận “vùng phát triển gần”

Nội dung đánh giá -Xác định và lựa chọn các

chuẩn cần đạt của mỗi giai đoạn học tập (chủ đề,

chương, các phân môn của môn học)

-Các bước tiến hành:

+ Phân loại các mục tiêu học tập thành các lĩnh vực.

- Xác định các phương diện năng lực mà học sinh cần hình thành và phát triển qua môn học, chú ý tích hợp các nội dung học tập theo các phương diện hình thành năng lực

Trang 6

Đánh giá theo chuẩn KT-KN Đánh giá theo

hướng hình thành năng lực

+ Phân chia các mục tiêu học tập thành các lĩnh vực

+ Phân chia mục tiêu thuộc mỗi lĩnh vực thành các mức độ khác nhau

+ Nêu các tiêu chí xác định từng mức độ của kết quả học tập

- Lựa chọn các nội dung cụ thể của môn học phù hợp với các phương diện, mức độ năng lực của người học.

Phương pháp

đánh giá

-Các PP cần vận dụng:

trắc nghiệm, hồ sơ, quan sát, tự đánh giá.

- Chú trọng cả đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết

-Các PP cần vận dụng: trắc nghiệm, hồ sơ,

quan sát, tự đánh giá

- Chú trọng cả đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết

Trang 7

Đánh giá theo chuẩn KT-KN Đánh giá theo

hướng hình thành năng lực

Phương pháp

giá kết quả đầu

ra mà còn đánh giá quá trình đi đến kết quả đó.

Kết quả

đánh giá Tỷ lệ đạt chuẩn KT-KN của môn

học

Các mức độ phân hóa về năng lực của người học trong việc thực hiện mục tiêu môn học

Trang 8

Như vậy so với cách tiếp cận đánh giá theo chuẩn KT, KN của môn học thì cách tiếp cận đánh giá theo hướng hình thành năng lực có một số nét khác biệt sau:

- Nếu đánh giá theo chuẩn KT, KN quan tâm đến thành tích chung của người học theo mức độ đạt được mục tiêu môn học thì đánh giá theo năng lực quan tâm nhiều hơn đến sự tiến bộ và khả năng của mỗi cá nhân được bộc lộ trong qúa trình học tập.

- Nếu đánh giá theo chuẩn KT, KN lấy căn cứ

từ nội dung chương trình môn học thì đánh giá theo NL lấy kết quả đầu ra và các yêu cầu

về năng lực của người học làm căn cứ đánh giá

Trang 9

Do vậy nếu đánh giá theo chuẩn chú ý tới việc lựa chọn nội dung đánh giá phù hợp với các chuẩn KT-

KN đã được quy định trong chương trình môn học thì

đánh giá dựa theo năng lực chú ý đến các nội dung đánh giá mang tính tổng hợp, gắn với việc giải quyết các tình huống thực tiễn.

- Nếu đánh giá theo chuẩn nhằm đo được những yêu cầu cơ bản, tối thiểu về KT, KN trong nội dung môn học thì đánh giá dựa theo năng lực cần xác định các mức độ đo năng lực trên một dải tần rộng để có sự phân hóa chính xác và cụ thể năng lực của người học.

Nhìn từ sự so sánh này thì thấy hai hướng tiếp cận thực ra không phải là hai hướng riêng tách bạch mà thực chất có mối quan hệ qua lại với nhau bởi chúng đều gắn với nội dung chương trình môn học Khi đánh giá theo hướng năng lực cũng vẫn phải căn cứ vào chuẩn KT-KN của môn học Tuy nhiên do năng

Trang 10

lực mang tính tổng hợp và tích hợp nên các chuẩn KT,KN cần được tổ hợp lại trong các mối quan hệ nhất quán để thể hiện được các năng lực của người học Mặc khác , do chuẩn KT, KN của môn học là yêu cầu, mức độ tối thiểu, nên khi đánh giá theo năng lực cần căn cứ vào nội dung môn học để xác định được những mức năng lực theo chuẩn và cao hơn chuẩn để tạo được sự phân hóa, nhằm đo được khả năng và sự tiến bộ của tất cả các đối tượng người học.

Trang 11

BẢNG TÓM TẮT SO SÁNH CÁCH ĐÁNH GIÁ

THEO KT-KN VÀ ĐÁNH GIÁ THEO NĂNG LỰC

Đánh giá theo chuẩn KT -KN Đánh giá năng lực

ĐG mức độ đạt chuẩn ĐG mức độ năng lực của HS

Xác định nội dung KT, KN cần đạt

(theo chủ đề, phân môn,…)

Xác định các phương diện NL cần phát triển – cụ thể hoá thành các tiêu chí, chỉ số

Chú ý đến tỷ lệ đạt chuẩn của môn

học

Chú ý đến mức độ phân hoá trong việc thực hiện mục tiêu môn học

Trang 12

BẢNG TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP NGỮ VĂN THEO NĂNG LỰC

1.Không có mâu thuẫn giữa ĐGNL và ĐG theo chuẩn KT-KN

2.Không lấy việc kiểm tra KT-KN đã học làm trung tâm mà chú trọng khả năng vận dụng KT-KN trong những tình huống khác nhau.

3.Việc KTĐG hướng tới khả năng làm phong phú và mở rộng cuộc sống cá nhân của HS

4.Kết nối những vấn đề được học với thực tiễn cuộc sống (ngoài trường học)

5.Giúp HS có cơ hội bộc lộ quan điểm và cách cảm nhận cá nhân, phát triển tư duy sáng tạo

Trang 13

2/ PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC KIỂM TRA,

ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC:

2.1 Các phương pháp và hình thức đánh giá chung:

a) Đánh giá quá trình (thường xuyên):

- Đánh giá thường xuyên có thể thực hiện qua hình thức kiểm tra vấn đáp hoặc kiểm tra viết (thường gọi là kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút) Việc kiểm tra được tiến hành trong tất cả các thời điểm của tiết học (kiểm tra đầu giờ, giữa giờ hoặc cuối giờ)trong tất cả các hoạt động của tiến trình học tập (kiểm tra bài cũ, tìm hiểu bài mới, vận dụng kiến thức, củng cố bài học).

- KTTX cho phép đánh giá khả năng tiếp thu bài học đang diễn ra và những nội dung học tập có liên

Trang 14

quan đến bài học, giúp GV nhanh chóng nắm bắt tình hình học tập, trình độ nhận thức của HS mà có những điều chỉnh cần thiết cho việc giảng dạy tiếp theo Việc kiểm tra miệng, 15 phút còn rèn cho HS năng lực giải quyết các vấn đề đặt ra một cách nhạy bén và nhanh gọn, đây cũng là một trong những đòi hỏi của xã hội hiện đại đối với mỗi con người.

Trang 15

- Khi biên soạn đề kiểm tra, GV cần lưu ý phân tích kĩ nội dung chương trình và SGK, xác định những kiến thức và KN trọng tâm của CT, của mạch nội dung vừa học để xây dựng ma trận

và phân bố số điểm hợp lý

- Bài đánh giá TK nhằm đánh giá năng lực học tập tổng hợp, khả năng khái quát, hệ thống hóa kiến thức, năng lực trình bày diễn đạt một cách bài bản, rõ ràng, trong sáng Để đạt được mục đích ĐG thì đòi hỏi đề KT phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đặt ra như: đánh giá năng lực của HS một cách toàn diện, khách quan, khoa học, phản ánh được đầy đủ bản chất và tính chất của môn học và phân hóa được trình độ của HS

- Bên cạnh việc phối hợp các loại hình kiểm tra để việc đánh giá được tiến hành liên tục, cũng cần tăng cường tính hiệu lực của các kết quả đánh giá khác nhau trong quá trình học tập môn Ngữ văn của HS như: làm bài tập nghiên cứu nhỏ, các bài luyện nói trước tập thể, tham gia vào các hoạt động ngữ văn…, đánh giá qua quan sát của GV cũng như sự tự nhận xét , tự đánh giá của chính HS, và cả những dự cảm,

Trang 16

dự đoán của GV để có thể phát hiện và bồi dưỡng những HS có năng khiếu Hiện nay đã có những quy định về số điểm kiểm tra tối thiểu cho mỗi HS trong một HK, tuy nhiên nếu GV biết chú ý đúng mức đến tầm quan trọng của việc kiểm tra trong dạy

và học thì hoàn toàn có thể chủ động trong việc xây dựng những câu hỏi kiểm tra để có thể đánh giá NL học tập của HS một cách cụ thể qua từng giờ học, bài học.

Trang 17

Khi thực hiện đánh giá trên lớp học cần phối hợp các

PP đánh giá khác nhau, giúp cho việc thu nhập các thông tin được phong phú Chẳng hạn đánh giá bằng quan sát, trắc nghiệm, bài luận, hồ sơ học tập, đánh giá bằng nhận xét….Đặc biệt cần chú ý đến việc HS

tự đánh giá trong quá trình học tập.

d) Đánh giá trên diện rộng:

Đánh giá trên diện rộng là đánh giá kết quả học tập của HS theo quy mô lớn, từ cấp quận/huyện, tỉnh/thành phố, vùng lãnh thổ, quốc gia, quốc tế(các

kì thi quốc gia, quốc tế)

-Đánh giá trên diện rộng nhằm cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho các cơ quan quản lí nhà nước trong việc đưa ra những quyết định trong GD

Trang 18

2.2 Một số hình thức biên soạn câu hỏi và đề kiểm tra trong môn Ngữ văn:

a) Kiểm tra miệng:

Theo cách hiểu trước đây, KTM chỉ là kiểm tra bài cũ đầu tiết học, với quan niệm đánh giá mới thì KTM được áp dụng rộng rãi trong đánh giá thường xuyên, được sử dụng ở mọi thời điểm của tiết học, từ kiểm tra bài cũ, tìm hiểu bài mới, luyện nghe, nói, đọc, viết trong giờ học.

-Câu hỏi KTM cần phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, phù hợp với nhận thức của HS, có sự phân hóa cho những đối tượng trong lớp.

- Câu hỏi cần đặt ra được những “tình huống có vấn đề” để kích thích óc tư duy và sự phản xạ nhanh của HS.Đồng thời qua những câu hỏi khuyến khích HS

Trang 19

bộc lộ những suy nghĩ của mình trong việc trả lời và trình bày ý kiến cá nhân ngay cả khi ý kiến đó là sai hoặc chưa hoàn toàn chính xác.

- Việc đánh giá kết quả trả lời của HS không đơn thuần chỉ là cho điểm Trước khi cho điểm GV cần lưu ý sửa cho HS những lỗi cần tránh trong nói tiếng Việt

- Lưu ý: cần hướng tới sử dụng hình thức này trong các cấp độ đánh giá cao hơn (ví dụ thi vấn đáp trong đánh giá tổng kết) để có thể đo được các năng lực của HS một cách toàn diện, đặc biệt là KN nói.

b) Kiểm tra viết:

Kiểm tra viết không chỉ nhằm đánh giá kết quả học tập chung của lớp học mà còn đánh giá chất lượng học tập của mỗi HS, vì vậy trong đề KT nên có những câu

Trang 20

hỏi phân hóa trình độ HS Thời gian để thực hiện một đề KT viết có thể là 15 phút, 45 phút, 90 phút hoặc hơn 90 phút(các

đề thi có quy mô tương đối lớn)

Hiện nay trong hình thức KT viết có hai dạng thiết kế câu hỏi:

Là những câu hỏi yêu cầu HS phải trả lời bằng cách suy nghĩ

và diễn đạt qua ngôn ngữ (nói và viết) Với hình thức KT này, không nên cho HS viết dài mà viết có giới hạn dung lượng, có cân nhắc suy nghĩ trong việc ra đề để GV có thể chấm cả ý lẫn lời văn Cần chú ý ra các câu hỏi nhằm khai thác văn bản ở nhiều phương diện (cả về văn, TV, TLV) để thể hiện được yêu cầu tích hợp của CT Trong câu hỏi / bài tập và đề tự luận, ngoài hình thức câu hỏi luận đề, GV có thể đa dạng hóa các cách ra đề khác như: tìm ý, đề xuất ý, viết đoạn văn (MB, kết luận, triển khai một ý của thân bài), tóm tắt văn bản, chữa câu, đoan,viết theo mẫu, theo gợi ý…

- Trong một bài kiểm tra tổng hợp thì việc phân bố thời lượng cũng như điểm số đối với các câu hỏi tự luận không thể dưới 50% tổng điểm toàn bài

* Câu hỏi trắc nghiệm tự luận (cách nói thông thường

hiện nay là tự luận):

Trang 21

* Câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ)

Có nhiều dạng thức TNKQ, song hiện nay thường sử dụng 4 dạng thức sau:

- Câu nhiều lựa chon:

Đưa ra một nhận định hoặc một câu hỏi với các phương án trả lời ( thường là 4 lựa chọn) HS phải chọn, đánh dấu vào một phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất, hoặc lựa chọn các phương án trả lời đúng trong nhiều phương án được

đưa ra

- Câu điền khuyết:

Đưa ra một mệnh đề có khuyết một bộ phận, yêu cầu HS

phải chọn một hoặc một số trong những từ ngữ cho trước để điền vào chỗ trống hoặc tự tìm từ ngữ để điền vào chỗ trống

Trang 22

Theo định hướng về KT-ĐG của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn , cần có sự kết hợp một cách hợp lí cả hai dạng TNKQ và TNTL Đối với môn Ngữ văn THCS thì một

trong những nội dung rất quan trọng mà việc đánh giá cần hướng tới là năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học nghệ thuật một

cách chủ động, tích cực của mỗi HS cũng như năng lực tư duy và giao tiếp bằng tiếng Việt Những năng lực này chỉ có thể được bộc lộ

qua việc tạo lập các văn bản (nói và viết).

Trang 23

MỘT SỐ YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ KĨ THUẬT BIÊN SOẠN CÂU HỎI KIỂM TRA

1.Câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn:

-Chỉ có một phương án đúng.

-Các phương án sai phải có vẻ hợp lí

-Nên dùng 4 hoặc 5 phương án để lựa chọn.

-Đảm bảo cho các câu dẫn nối liền với mọi phương

-Tránh việc tạo phương án đúng khác biệt so với các phương

án khác ( dài hơn hoặc ngắn hơn, mô tả tỉ mỉ hơn…)

-Phải sắp xếp phương án đúng theo thứ tự ngẫu nhiên

Trang 24

MỘT SỐ YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ KĨ THUẬT

BIÊN SOẠN CÂU HỎI KIỂM TRA

2 Loại câu hỏi TNKQ đúng – sai:

-Câu phát biểu phải hoàn toàn đúng hoặc sai, không có ngoại lệ

-Soạn câu trả lời thật đơn giản

-Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là câu phủ định hai lần

3 Loại câu hỏi TNKQ ghép đôi:

-Hướng dẫn rõ về yêu cầu của việc ghép đôi cho phù hợp

Trang 25

MỘT SỐ YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ KĨ THUẬT

BIÊN SOẠN CÂU HỎI KIỂM TRA

4 ) Loại câu hỏi TNKQ điền khuyết:

-Chỉ để một chỗ trống

-Thiết kế sao cho có thể trả lời bằng một từ đơn nhất mang tính đặc trưng (người, vật, địa điểm, thời gian, khái niệm…)

-Cung cấp đủ thông tin để chọn từ trả lời

chính xác

-Chỉ có một lựa chọn là đúng

Trang 26

MỘT SỐ LƯU Ý KHI RA CÂU HỎI

- Có thể cho giới hạn độ dài ( số từ hoặc số trang, dòng)

- Đảm bảo đủ thời gian để HS làm bài khi ở lớp hoặc thời gian nộp bài khi làm ở nhà.

- Khi ra đề tự luận có cấu trúc gồm nhiều câu, nên qui định tỷ lệ điểm cho mỗi phần, và khi chấm bài nên chấm điểm từng phần cho mọi HS

Trang 27

2.3 Đánh giá kĩ năng đọc và viết trong môn Ngữ văn:

- Hiện nay, việc kiểm tra đánh giá năng lực đọc của HS thường diễn

ra dưới hai hình thức: KTM (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào

đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn

đề nào đó của Vb đã học) Hình thức này chưa đánh giá được năng lực đọc hiểu các loại Vb khác nhau của người học.

- Đổi mới KTĐG kĩ năng đọc hiểu (ĐH) của HS bằng việc đưa ra những VB mới (bao gồm cả VBVH và VBND, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này.

- Các câu hỏi KTĐG kĩ năng ĐH và cảm thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA (chương trình đánh giá HS quốc tế), bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn; câu hỏi có-không; đúng – sai phức hợp.

a) Đánh giá kĩ năng đọc hiểu của học sinh:

Trang 28

Thông tin Đúng Sai

1 Được viết trong cuộc kháng chiến chống Pháp

2 Anh thanh niên sống một mình trên đỉnh núi cao

3 Nhân vật anh thanh niên, ông kĩ sư vườn rau là những

nhân vật xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm

4 Anh thanh niên được điều động lên làm việc ở đỉnh

núi cao

5.Anh thanh niên đã từng phát hiện ra đám mây khô

giúp quân ta bắn được nhiều máy bay địch

Ví dụ: Câu hỏi kiểm tra kĩ năng đọc hiểu Vb của HS lớp 9 (dạng câu hỏi đúng – sai phức hợp)

Những thông tin sau đây về văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” đúng hay sai?

Ngày đăng: 22/05/2017, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Câu 9: Hình ảnh con thuyền tựa hồ một tay - KIEM TRA DANH GIA THEO DINH HUONG PHAT TRIEN NANG LUC
u 9: Hình ảnh con thuyền tựa hồ một tay (Trang 36)
Hình  thức  này  có  thể  sử  dụng  rộng  rãi  khi  dạy phần tiếng Việt ở các khối lớp 8 và 9 - KIEM TRA DANH GIA THEO DINH HUONG PHAT TRIEN NANG LUC
nh thức này có thể sử dụng rộng rãi khi dạy phần tiếng Việt ở các khối lớp 8 và 9 (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w