Các nghiên cứu sơ khởi trong phòng thí nghiệm về một phân tử hay tác nhân cụ thể.. Mục đích thường là ước tính tỉ lệ hiện hành của bệnh prevelance và các yếu tố liên quan đến bệnh trong
Trang 1Y học thực chứng và nghiên cứu bệnh chứng
Tuan V NguyenGarvan Institute of Medical Research
Sydney
Trang 2Nội dung
• Y học thực chứng là gì?
• Phân biệt các mô hình nghiên cứu
• Giá trị khoa học của các mô hình nghiên cứu
Trang 3Vấn đề
• Mỗi năm các tập san y sinh học công bố:
– 3 triệu bài báo
– 30,000 tập san
– Tương đương với 750 m giấy!
• “Knowing less than has been proved”
Mulrow CD BMJ 1994;309:599
Trang 4Vấn đề
• Cập nhật hóa thông tin: chỉ riêng lĩnh vực nội khoa, để cập nhật hóa thông tin, một bác sĩ trung bình phải đọc
17 bài báo mỗi ngày, 365 ngày một năm!
• Báo cáo “grand round”: thời lượng (phút) hàng tuần dành ra để đọc về bệnh nhân mình chăm sóc:
– Sinh viên y khoa: 90 phút
– Bác sĩ thường trú: 45 phút (45% chẳng đọc)
– Registrars: 30 phút (15% chẳng đọc)
– Consultants: 30-45 phút (30-40% không đọc)
Trang 5“Slippery slope” của kiến thức
r = -0.54 p<0.001
Trang 6Yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định điều
trị bệnh nhân cao huyết áp ?
• Huyết áp
• Tuổi của bệnh nhân
• Thời gian kinh nghiệm (tính từ lúc tốt nghiệp) của bác sĩ
• Bệnh chứng khác
Trang 8Y học thực chứng là gì?
• Y học thực chứng là một phương pháp thực hành y khoa dựa vào các dữ kiện y học một cách sáng suốt
và có ý thức, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân
– Kinh nghiệm cá nhân
– Bằng chứng từ các nghiên cứu
– Kì vọng và ý muốn của bệnh nhân
Trang 9Bằng chứng từ các nghiên cứu
1 Ý kiến của các chuyên gia, bài
điểm báo, xã luận, bình luận.
Thường là các bài báo được các tập san mời viết.
2 Nghiên cứu cơ bản trên chuột và
động vật cấp thấp. Các nghiên cứu sơ khởi trong phòng thí nghiệm về một phân tử hay tác nhân cụ thể.
3 Báo cáo lâm sàng (case reports) Kinh nghiệm điều trị về một hay vài trường hợp lâm
sàng đặc biệt và hiếm thấy.
4 Nghiên cứu đối chứng
(case-control study). Mục đích là tìm hiểu mối liên hệ giữa một yếu tố nguy cơ và bệnh tật.
5 Nghiên cứu tiêu biểu tại một thời
điểm (cross-sectional study). Mục đích thường là ước tính tỉ lệ hiện hành của bệnh (prevelance) và các yếu tố liên quan đến
bệnh trong một quần thể.
6 Nghiên cứu theo thời gian
(prospective / longitudinal study). Mục đích thường là ước tính tỉ lệ phát sinh của bệnh (incidence) và các yếu tố liên quan đến bệnh
trong một quần thể.
7 Thử nghiệm lâm sàng đối chứng
ngẫu nhiên (randomized controlled clinical trial - RCT).
Sử dụng trong việc thẩm định mức độ hiệu nghiệm của một thuật điều trị lâm sàng trong một nhóm đối tượng cụ thể
8 Phân tích tổng hợp
(meta-analysis). Tổng hợp các kết quả nghiên cứu RCT, cross-section, longitudinal và case-control
Trang 10Phân biệt mô hình nghiên cứu – thể loại
Trang 11Phân biệt mô hình nghiên cứu – thời gian
Trang 12Nghiên cứu một thời điểm (Cross-sectional study)
• Còn gọi là “nghiên cứu cắt ngang”
• Chọn một quần thể
• Chọn đối tượng (một cách ngẫu nhiên) từ quần thể
• Thu thập số liệu
• Mục tiêu thường là:
– Ước tính tỉ lệ hiện hành của bệnh
– Tìm hiểu mối tương quan giữa yếu tố nguy cơ và bệnh
– Tìm hiểu kiến thức, thái độ của bệnh nhân
– Tìm hiểu các đặc điểm quần thể
• Phương pháp phân tích: rất đa dạng!
Trang 13Ví dụ về nghiên cứu một thời điểm
• Có bao nhiêu người (tuổi 30+ với ít nhất là 2 yếu tố
nguy cơ) mắc bệnh đái tháo đường (DM)?
• 1061 nam và 2275 nữ từ các phòng khám bệnh chung quanh TPHCM
Trang 14Ví dụ về nghiên cứu một thời điểm
Sex and
characteristics thường Bình Impaired fasting
glucose
Đái tháo đường Tổng số
Trang 15Ưu điểm và khuyết điểm của nghiên cứu
• Không thể phát biểu về nguyên nhân và hệ
quả (vì chỉ 1 thời điểm)
• Không thực tế đối với các bệnh hiếm
Trang 16Nghiên cứu xuôi thời gian (longitudinal study)
• Chọn một quần thể tiêu biểu gồm N người một cách
ngẫu nhiên tại một địa phương (hay nhiều địa
phương)
• Thu thập dữ liệu (như BMI chẳng hạn) ban đầu tại thời
điểm t0;
• Theo dõi quần thể trong một thời gian T và trong thời
gian này, thu thập thêm dữ kiện và ghi nhận bao nhiêu người chết
• Phân tích mối liên hệ giữa BMI tại thời điểm t0 và tỉ lệ
tử vong trong thời gian T
Trang 17Nghiên cứu xuôi thời gian
• Mục tiêu:
– Ước tính tỉ lệ phát sinh (incidence)
– Tìm hiểu mối tương quan giữa bệnh và yếu tố nguy cơ
• Ưu điểm
– Có thể phát biểu về nguyên nhân và hệ quả (vì thông tin về yếu
tố nguy cơ được thu thập trước khi bệnh phát sinh)
– Có thể nghiên cứu các bệnh hiếm hay với tần số thấp
• Khuyết điểm
– Tốn kém thời gian và tiền
– Đối tượng “bỏ cuộc” hay “lost to follow-up”
Trang 18Tỉ lệ hiện hành (prevalence)
12
3 45
Thời gian T
Đối tượng
Tỉ lệ hiện hành Ngay tại thời điểm T, 2 trong số 5 đối tượng mắc bệnh
Trang 19Tỉ lệ phát sinh (incidence)
12
3 45
Thời gianĐối tượng
Incidence – trong hai năm theo dõi, có 3 trong số 5 người mắc bệnh,
1
Trang 20Tỉ lệ phát sinh với thời gian theo dõi
Incidence proportion (IR) Tổng số năm-người (person-years) theo dõi là: 2 + 4 + 4 + 8 + 2 = 20 Có hai đối tượng mắc bệnh Do đó tỉ lệ phát
Trang 21Ví dụ về một nghiên cứu xuôi thời gian
• Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study (Nguyen et
al Journal of Bone and Mineral Research, 2006)
• Năm 1989:
– Chọn ngẫu nhiên 1287 phụ nữ tuổi 60+ trong thị trấn Dubbo – Đo mật độ xương (bone mineral density – BMD)
– Dựa vào BMD, ước tính tỉ lệ loãng xương
– Thu thập dữ liệu về yếu tố nguy cơ
• Từ 1989 – 2006
– Theo dõi ai trong số 1287 phụ nữ bị gãy xương
– Phân tích mối tương quan giữa nguy cơ gãy xương và số người loãng xương lúc ban đầu (1989)
Trang 22Loãng xương và gãy xương: minh hoạ
cho nghiên cứu xuôi thời gian
1287 phụ nữ
Loãng xương
345 (27%)
Không loãng xương 942 (73%)
Gãy xương:
137 (40%)
Không gãy xương: 208 (60%)
Không gãy xương: 751 (80%)
Gãy xương:
191 (20%)
Trang 23Loãng xương và gãy xương: minh họa
cho nghiên cứu xuôi thời gian
Gãy xương Không gãy
xương
Tỉ lệ gãy xương
Tỉ số nguy cơ (relative risk) gãy xương liên quan đến loãng xương:
38/18 = 1.94
Tỉ số nguy cơ không thể ước tính qua nghiên cứu một thời điểm (nghiên cứu
cắt ngang)
Trang 24Nghiên cứu bệnh chứng (case-control study)
• Chọn một nhóm đối tượng đã mắc bệnh (còn gọi là
cases) mà nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu.
• Chọn một nhóm không mắc bệnh (đối chứng hay
controls) Nhóm chứng phải tương đương với nhóm
bệnh
• Ước tính odds ratio
Trang 25Nghiên cứu bệnh chứng (case-control study)
– Dễ bị sai lầm trong việc phân bệnh
– Không thể phát biểu về nguyên nhân và hệ quả
Trang 26Lịch sử nghiên cứu bệnh chứng (NCBC)
1 Thuật ngữ tiếng Anh: case-control study,
retrospective study
2 Hệ quả nguyên nhân
3 Bệnh yếu tố nguy cơ
4 Lane-Claypon (1926), nghiên cứu yếu tố tái sản sinh
và ung thư vú, sử dụng kỹ thuật kết xứng (matching)
Trang 28Ví dụ về nghiên cứu bệnh chứng: agent
orange và prostate cancer
• Giri et al (2004) thực hiện một nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa AO và PC
– Chọn 47 cựu chiến binh từng tham chiến ở VN và được chẩn đoán PC
– Chọn 142 cựu chiến binh từ bệnh viện nhưng không mắc PC – Xem xét hồ sơ ai từng phơi nhiễm AO
Trang 29Ví dụ về nghiên cứu bệnh chứng: agent
orange và prostate cancer
Odds ratio = 0.31 / 0.133 = 2.29
Trang 30Tóm lược
• Thực hành y học thực chứng dựa vào bằng chứng nghiên cứu y học
• Nghiên cứu y học rất đa dạng
• Giá trị khoa học của các nghiên cứu không tương đồng với nhau: