Mặt khác, nước ta nằm trong vùng có thời tiết, khí hậu nóng ẩm, đây là điều kiện rất thuận lợi cho nhiều loại vật chủ trung gian của các loài giun, sán phát triển mạnh, dẫn tới khu hệ ký
Trang 1Chuyên ngành: Thú Y
Mã số: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 TS NGÔ NHẬT THẮNG
2 TS ĐỖ TRUNG CỨ
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Văn Trọng
Trang 3- Lãnh đạo, cán bộ Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương và cán bộ Trạm thú y các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đại Từtỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
- Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
TS Ngô Nhật Thắng, TS Đỗ Trung Cứ, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Văn Trọng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.1 Những hiểu biết về sán lá ký sinh ở ruột vịt 4
1.1.2 Những hiểu biết về bệnh sán lá ruột ở vịt 17
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 25
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 32
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 32
2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 32
2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 33
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 33
2.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở vịt 33
2.3.2 Nghiên bệnh sán lá ruột ở vịt 33
2.3.3 Biện pháp phòng và trị bệnh sán lá ruột cho vịt 33
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 33
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 35
2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu 35
2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của vịt bị nhiễm sán lá ruột 36
2.4.5 Phương pháp mổ khám và thu thập mẫu 36
2.4.6 Phương pháp làm tiêu bản để xác định tên khoa học 39
2.4.7 Phương pháp định danh các loài sán lá ruột 40
Trang 52.4.8 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể
ở cơ quan tiêu hoá (ruột, manh tràng) do sán lá ruột gây ra 40
2.4.9 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột ở vịt 42
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 44
2.5.1 Một số tham số thống kê 44
2.5.2 Một số công thức tính tỷ lệ (%) 45
2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa 2 số trung bình 45
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH SÁN LÁ RUỘT Ở VỊT TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN 47
3.1.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở vịt tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 47
3.1.2 Phân bố các loài sán lá ruột ở vịt tại các địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 50
3.1.3 Đặc điểm phân loại các loài sán lá ruột ở vịt xác định được tại Thái Nguyên 52
3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 56
3.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo tuổi 62
3.1.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ 67
3.2 NGHIÊN CỨU BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG CỦA BỆNH SÁN LÁ RUỘT Ở VỊT 73
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của vịt bị bệnh sán lá ruột 73
3.2.2 Bệnh tích đại thể và vi thể ở ruột của vịt do sán lá ruột gây ra 75
3.3 BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH SÁN LÁ RUỘT CHO VỊT 85
3.3.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy sán lá ruột ở vịt 86
3.3.2 Đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh sán lá ruột cho vịt 87
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Đề nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở vịt 47
Bảng 3.2 Phân bố các loài sán lá ruột ở vịt tại các địa phương 51
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại các địa phương (qua xét nghiệm phân) 56
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại các địa phương 57
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo tuổi (qua xét nghiệm phân) 62
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo tuổi (qua mổ khám) 63
Bảng 3.7 Biến động nhiễm các loài sán lá ruột ở vịt theo tuổi 66
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ (qua xét nghiệm phận) 68
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ (qua mổ khám) 68
Bảng 3.10 Biến động nhiễm các loài sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ 71
Bảng 3.11 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng chủ yếu của vịt bị bệnh sán lá ruột 74
Bảng 3.12 Bệnh tích đại thể ở ruột vịt do sán lá ruột gây ra 76
Bảng 3.13 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 79
Bảng 3.14 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá ruột ở vịt 86
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vòng đời loài Echinostoma revolutum 15
Hình 2.1 Ảnh mẫu sán lá ruột ở vịt thu thập qua mổ khám vịt 37
Hình 2.2 Ảnh mẫu sán lá ruột ở vịt 38
Hình 2.3 Ảnh mẫu sán lá ruột sơ bộ phân loại và để chết tự nhiên trong nước 38
Hình 2.4 Ảnh mẫu sán lá ruột được ép mỏng và bảo quản trong cồn 700 39
Hình 2.5 Ảnh thuốc sử dụng để tẩy sán lá ruột cho vịt 43
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm từng loài sán lá ruột ở vịt tại tỉnh Thái Nguyên 50
Hình 3.2 Ảnh sán Echinostoma revolutum trưởng thành 53
Hình 3.3 Ảnh sán Echinostoma miyagawai trưởng thành 54
Hình 3.4 Ảnh sán Echinoparyphium revuvatum trưởng thành 55
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt tại một số địa phương 59
Hình 3.6 Ảnh trứng sán lá ruột trên 1 vi trường qua xét nghiệm phân 60
Hình 3.7 Ảnh trứng sán lá ruột ở độ phóng đại 600 dưới kính hiển vi 60
Hình 3.8 Ảnh sán lá ký sinh ở ruột non của vịt 61
Hình 3.9 Ảnh sán lá ký sinh ở ruột già của vịt 61
Hình 3.10 Ảnh sán lá ký sinh ở manh tràng của vịt 61
Hình 3.11 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo tuổi 64
Hình 3.12 Biểu đồ biến động nhiễm từng loài sán lá ruột theo tuổi vịt 67
Hình 3.13 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ 70
Hình 3.14 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở vịt theo mùa vụ 71
Hình 3.15 Biểu đồ biến động nhiễm từng loài sán lá ruột ở vịt theo mùa 72
Hình 3.16 Ảnh sán lá ruột và bệnh tích đại thể ở ruột non do sán lá gây ra 77
Hình 3.17 Ảnh sán lá ruột và bệnh tích đại thể ở ruột già do sán lá gây ra 78
Hình 3.18 Ảnh sán lá ruột gây xuất huyết lấm tấm ở 2 bên manh tràng 78
Hình 3.19 Ảnh niêm mạc ruột non bị thoái hoá (1), lông nhung bị đứt nát (2) (Độ phóng đại 100 lần) 81
Trang 9Hình 3.20 Ảnh niêm mạc ruột non bị thoái hoá (1), lông nhung ruột bị đứt nát
(2) (Độ phóng đại 200 lần) 81 Hình 3.21 Ảnh các tế bào viêm xuất hiện ở lớp niêm mạc ruột non (1) (Độ
phóng đại 400 lần) 82 Hình 3.22 Ảnh niêm mạc ruột già thoái hoá (1), bong tróc (2) (Độ phóng đại
100 lần) 82
Hình 3.23 Ảnh niêm mạc ruột già bị bong tróc, thoái hoá (1); Xuất huyết ở niêm
mạc (2) (Độ phóng đại 200 lần) 83 Hình 3.24 Ảnh xuất hiện các tế bào viêm ở lớp niêm mạc ruột già (1) (Độ
phóng đại 400 lần) 83 Hình 3.25 Ảnh niêm mạc manh tràng tổn thương (1), xuất huyết (2) (Độ phóng
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ở nước ta, chăn nuôi là một nghề sản xuất truyền thống, luôn giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung, trong đó, chăn nuôi gia cầm luôn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Với nhiều phương thức chăn nuôi phong phú, đa dạng nghề chăn nuôi gia cầm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã và đang phát triển rất mạnh, tốc độ tăng hàng năm tương đối cao Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2009) và Cục Thống
kê Thái Nguyên (2009), trong gần 5 năm trở lại đây, biến động đàn gia cầm của cả nước và tỉnh Thái Nguyên như sau:
Trang 11Vịt là loài vật dễ nuôi, dễ thích nghi với điều kiện khí hậu khác nhau, đặc biệt chúng thích nghi cao với đời sống ở các vùng có nhiều nước như ao,
hồ, sông, ngòi Mặt khác vịt là loài ham kiếm mồi, nên chăn nuôi vịt có thể tận dụng được nguồn thức ăn từ động vật thuỷ sinh (ốc, cá ) và lương thực rơi vãi sau thu hoạch lúa Chính vì những lý do trên mà nghề nuôi vịt phát triển rộng rãi ở nhiều nơi, được coi là một nghề xoá đói giảm nghèo
Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008) đã định hướng phát triển đàn gia cầm, thuỷ cầm đến năm 2015 như sau: “Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn gia cầm nước ta đạt từ 560 - 580 triệu con, trong đó đàn thuỷ cầm phấn đấu đạt
80 triệu con’’
Hiện nay, ở nước ta nghề chăn nuôi vịt đã và đang tồn tại 3 phương thức chăn nuôi chính, đó là chăn thả tự do, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên, chăn thả tự do vẫn là phương thức chăn nuôi phổ biến Hình thức chăn nuôi này thường mang tính tự phát, nhỏ lẻ và lạc hậu, nên vấn
đề phòng chống dịch bệnh nói chung và bệnh do ký sinh trùng nói riêng thường
ít được quan tâm, do vậy tỷ lệ nhiễm giun sán ở vịt khá cao
Mặt khác, nước ta nằm trong vùng có thời tiết, khí hậu nóng ẩm, đây là điều kiện rất thuận lợi cho nhiều loại vật chủ trung gian của các loài giun, sán phát triển mạnh, dẫn tới khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng do vậy bệnh ký sinh trùng ở vịt thường xuyên xảy ra, gây nhiều thiệt hại cho nghề nuôi vịt
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [40] cho biết: Bệnh ký sinh trùng làm giảm khả năng sinh trưởng của vịt tới 30% so với bình thường và làm giảm sản lượng trứng từ 25 - 40% Khi nhiễm giun sán, vịt thường dễ bị
kế phát các bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại lớn về kinh tế
Trong những bệnh ký sinh trùng ở vịt, bệnh sán lá ruột là bệnh phổ biến
và gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi vịt Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19] bệnh sán lá ruột thường diễn ra quanh năm, ở mọi lứa tuổi vịt; bệnh xảy
Trang 12ra ở khắp các vùng miền trong cả nước, làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển và giảm sức đề kháng với các tác nhân gây bệnh
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trong việc khống chế dịch bệnh nói chung và bệnh ký sinh trùng nói riêng, nhằm bảo vệ sức khoẻ của đàn vịt và nâng cao khả năng cho sản phẩm của chúng, đồng thời có cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột một cách có hiệu quả, phù hợp
với điều kiện chăn nuôi hiện nay, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
bệnh sán lá ruột ở vịt tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở vịt
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về bệnh sán lá ruột ở vịt tại tỉnh Thái Nguyên, từ đó có cơ
sở để xây dựng quy trình phòng, trị bệnh sán lá ruột cho vịt
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin
khoa học về đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng
trị bệnh sán lá ruột cho vịt tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên,
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở
vịt có hiệu quả, nhằm hạn chế sự nhiễm sán lá ruột cho vịt, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Sán lá ký sinh ở ruột vịt
1.1.1.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở vịt
Sán lá ký sinh ruột gia cầm nói chung và ở vịt nói riêng gồm nhiều loài
thuộc lớp Trematoda Rudolphi 1808 Ở Việt Nam, thành phần loài sán lá ruột
của rất phong phú, phân bố rộng ở khắp các vùng miền trong cả nước và gây tác hại lớn đối với ngành chăn nuôi Số lượng, thành phần các loài sán lá ruột
ký sinh ở vịt đã được một số tác giả nghiên cứu và tổng hợp
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [44], Nguyễn Thị Lê (1995) [26], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], Nguyễn Thị Lê (2000) [29] ghi nhận có 18 loài sán lá ruột ký sinh, gây bệnh cho vịt ở Việt Nam, chúng phân bố rộng ở khắp các tỉnh nước ta, danh sách các loài gồm có:
- Echinostoma revolutum Frolich, 1802 Nơi phát hiện: Hà Đông (1940);
Lạng Sơn (1962); Lại Châu, Sơn La (1963); Yên Bái, Cao Bằng (1965), Nam Định (1969); Bắc Thái (1969-1971); Hà Nội (1971) và Nam Định (1973)
- Echinostoma miyagawai Ishu, 1932 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962),
Thanh Hoá (1964), Hải Phòng (1960), Bắc Thái (1969-1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1973-1974), Hà Tĩnh (1974)
- Echinostoma paraulum Dietz, 1909 Nơi phát hiện: Lạng Sơn, Hải
Phòng, Bắc Thái, Hà Nội, Nam Hà, Hà Bắc, Hà Tĩnh
- Echinostoma robustum Yamaguti, 1935 Nơi phát hiện: Hải Phòng,
Tuyên Quang, Sơn La, Thanh Hoá, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Nam Hà,
Hà Bắc, Hà Tĩnh
- Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941 Nơi phát hiện: Hà Bắc
Trang 14- Echinoparyphium recurvatum Linstaw, 1873 Nơi phát hiện: Hải
Phòng (1960), Lạng Sơn (1962), Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Yên Bái (1964), Bắc Thái (1969-1971), Hà Bắc (1973-1974), Hà Tĩnh (1974)
- Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja - Pawlowskaja, 1953
Nơi phát hiện : Hà Nội, Nam Hà
- Hypoderaeum conoideum Bloch, 1872 Nơi phát hiện: Lạng Sơn
(1962), Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Cao Bằng (1965), Hà Nội (1971),
- Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905 Nơi phát hiện: Hải Phòng
- Notocotylus indicus Lal, 1935 Nơi phát hiện: Hải Phòng, Nam Hà
- Notocotylus intestinalis Tubangui, 1932 Nơi phát hiện: cả nước
- Catatropis verrucosa Frohlich, 1978 Nơi phát hiện: Toàn quốc
- Procerovum cheni Hsii, 1950 Nơi phát hiện: Hà Nội, Nam Hà
- Microphallus pseudogonocotyla Chen, 1944 Nơi phát hiện: Hải Phòng
- Levinseniella cryptacetabula Oschmarin, 1970 Nơi phát hiện: Hà Bắc,
Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà
- Maritrema subdolum Jagerakiold, 1909 Nơi phát hiện: Hà Tây, Hà
Nội, Nghệ An, Thừa Thiên Huế
Vị trí của các loài sán lá ruột trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành: Plathelminthes Schneider, 1873
Lớp: Trematoda Rudolphi,1808
Phân lớp: Digenea Van Beneden, 1858
Bộ: Echinostomida Skrjabin et Schulz, 1937
Trang 15Phân bộ: Echinostomata Skrjabin et Schulz, 1937 Họ: Echinostomatidae Poche, 1926
Phân họ Echinostomatinae Odhner, 1911 Giống: Echinostoma Rudolphi, 1809 Loài: Echinostoma revolutum Frolich, 1802 Loài: Echinostoma miyagawai Ishu, 1932 Loài: Echinostoma robustum Yamaguti, 1935 Loài: Echinostoma paraulum Dietz, 1909 Giống Echinoparyphium Dietz, 1909
Loài: Echinoparyphium recurvatum Linstaw, 1873 Loài: Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja-
Pawlowskaja, 1953 Loài: Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941 Phân họ: Hypoderaeinae Skrjabin et Baschkirova, 1956 Giống: Hypoderaeum Dietz, 1909
Loài: Hypoderaeum conoideum Bloch, 1872 Họ: Echinochasmidae Odher, 1910
Giống: Echinochasmus Dietz, 1909
Loài: Echinochasmus beleocephalus Linstow, 1873 Loài: Echinochasmus japonicus Tanabe, 1926 Bộ: Notocotylida Skrjabin et Schuslz, 1937
Phân bộ: Notocotylada Skrjabin et Schuslz, 1937
Họ: Notocotylidae Luhe, 1909 Giống: Notocotylus Diesing, 1839
Loài: Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905 Loài: Notocotylus indicus Lal, 1935
Loài: Notocotylus intestinalis Tubangui, 1932
Trang 16Giống: Catatropis Odhner, 1905
Loài: Catatropis verrucosa Frohlich, 1978 Bộ: Opisthorchida La Rue, 1957
Phân bộ: Opisthorchiada La Rue, 1957
Họ: Haplorchidae Looss, 1899 Giống: Procerovum Onji et Nishio, 1916
Loài: Procerovum cheni Hsii, 1950 Bộ: Plagiorchiida La Rue, 1957
Phân bộ: Plagiorchiata La Rue, 1957
Họ: Microphallidae Travassos, 1920 Giống: Microphallus Ward, 1901
Loài: Microphallus pseudogonocotyla Chen, 1944 Giống: Levinseniella Stile et Hassall, 1901
Loài: Levinseniella cryptacetabula Oschmarin, 1970 Giống: Maritrema Nicoll, 1907
Loài: Maritrema subdolum Jagerakiold, 1909
Ký sinh và gây bệnh cho vịt gồm có những loài phổ biến: Echinostoma revolutum Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum, Echinostoma robustum, Echinopararyphium recurvalum, Hypoderaeum conoideum (Trịnh Văn
Thịnh và cs (1982) [41], Phạm Sỹ Lăng, và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37])
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo của một số loài sán lá ruột ký sinh phổ biến ở vịt
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], hình thái chung của sán lá ruột
là cơ thể dẹt, có dạng hình lá, có 2 giác bám: giác miệng và giác bụng Kích thước có thể rất biến đổi, bé nhất khoảng vài mm và lớn nhất không vượt quá 2
cm Cơ thể phủ lớp tiểu bì (gai cutin), xung quanh giác miệng có móc kitin lớn
Trang 17Các giác bám, móc bám, gai, vẩy giúp sán bán chắc vào ruột của vật chủ Sán
lá không có hệ tuần hoàn và hô hấp Nội quan gồm có hệ tiêu hoá, bài tiết, thần kinh và sinh dục
* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinostoma revolutum, (Frohlich,
1802) Dietz, 1908
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [25], Nguyễn Thị Lê và cs (2000)
[29], loài Echinostoma revolutum được mô tả như sau:
Chiều dài trung bình cơ thể dao động từ 5,72 - 6,98 mm, chiều rộng từ 1,12 - 1,42 mm Tuy nhiên, có nhiều cá thể đạt kích thước 10,32 - 13,32 x 2,40 - 2,50mm Viền cổ rộng 0,73 - 1,03 mm Có 37 móc gồm 15 móc lưng xếp thành 2 hàng, kích thước 0,101- 0,109 x 0,025 mm Mỗi thùy bên có 6 móc (0,093 - 0,126 x 0,029 mm) và 5 móc thùy bụng (0,093 – 0,122 x 0,025 mm) Kích thước giác miệng 0,23 - 0,44 x 0,27 - 0,45 mm Trước hầu dài 0,13- 0,16 mm Hầu 0,15-0,37 x 0,15 – 0,27mm Thực quản dài 0,86 - 1,14
mm Giác bụng phát triển, kích thước 0,69 - 1,22 x 0,69 - 1,18 mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể
Tinh hoàn hình ovan hoặc hơi phân thùy theo chiều dọc Kích thước tinh hoàn trước 0,34 - 1,41 x 0,43 - 1,06 mm, tinh hoàn sau 0,36 - 1,41 x 0,34 - 1,04
mm Túi sinh dục nằm ở mặt lưng ở nửa trước giác bụng, bên trong chứa túi chứa tinh hình ống Kích thước túi sinh dục 0,234 - 0,453 x 0,069 - 0,314 mm
Buồng trứng tròn hoặc ô van, nằm trước tinh hoàn, kích thước 0,18 - 0,43 x 0,25 - 0,645 mm Thể Mêlit nằm ngay sau buồng trứng và có kích thước lớn hơn buồng trứng
Tuyến noãn hoàng nằm 2 bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể, không che lấp hai mút nhánh ruột và khoảng trống phía sau tinh hoàn
Tử cung tương đối dài, chứa nhiều trứng Trứng hình ôvan, màu vàng sáng, kích thước 0,076 - 0,105 x 0,051 - 0,084 mm Ống bài tiết chính ở phần
Trang 18sau cơ thể, gấp khúc 1- 2 vòng trước lỗ thoát Ở những sán già, tử cung không còn trứng, các cơ quan sinh dục như buồng trứng, tinh hoàn, tuyến noãn hoàng có xu hướng teo đi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006)
[37] loài Echinostoma revolutum dài 3-13mm, rộng 0,88 - 2mm, vành khăn có
35-37 móc nhỏ Tử cung xếp có thứ tự, ngay sau giác bụng và chứa nhiều trứng Trứng hình bầu dục, dài 0,009 - 0,132mm, rộng 0,05 - 0,073mm, màu vàng, một đầu trứng có nắp
Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [40] cho biết: sán dài 10 - 22 mm, rộng 2 - 2,5 mm Thân có màu hồng hay đỏ nhạt, dẹt, đoạn trước có chỗ thu hẹp lại thành cái cổ
* Đặc điểm loài Echinostoma miyagawai Ishu, 1932
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [25], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], Nguyễn Thị Lê (2000) [29], loài này có hình thái cấu tạo như sau:
Cơ thể sán dài 6,9 - 12,0 mm, rộng nhất ở vùng tử cung và tinh hoàn 0,77 - 2,32 mm Bề mặt phía trước cơ thể đến ngang buồng trứng phủ gai bé Viền cổ rộng 0,54 - 0,67 mm, có 37 móc gồm 13 móc lưng xếp thành 2 hàng,
7 móc bên và 5 móc thùy bụng mỗi bên Kích thước móc bên 0,89 - 0,093 x 0,23 mm, móc thùy bụng 0,089 - 0,096 x 0,023 mm
Giác miệng 0,19 - 0,23 x 0,21 - 0,29 mm Giác bụng 0,57 - 0,91 x 0,57 - 0,63 mm, nằm gần ở 1/4 chiều dài cơ thể Trước hầu dài 0,075 - 0,084 mm Hầu 0,230 - 0,320 x 0,251 - 0,258 mm Thực quản dài 0,77 - 0,93 mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể, thường bị tuyến noãn hoàng che lấp
Túi sinh dục nằm chính giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,32 - 0,49 x 0,21 - 0,32 mm
Tinh hoàn phân thùy, hình dạng rất biến đổi, thường từ 3 đến 7 thùy sâu Kích thước tinh hoàn trước 0,39 - 0,62 x 0,36 - 0,49 mm
Trang 19Buồng trứng hình ôvan, kích thước 0,27 - 0,36 x 0,27 - 0,38 mm Thể mêlit nằm ngay sau buồng trứng, kích thước 0,19 - 0,39 x 0,23 - 0,25 mm
Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể và lấp đầy khoảng trống phía sau tinh hoàn, che lấp cả 2 mút ruột Ống bài tiết thẳng, không gấp khúc ở phần cuối cơ thể Tử cung phát triển, chứa nhiều trứng, kích thước 0,089 - 0,093 x 0,053 - 0,056 mm
* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinostoma paraulum Dietz, 1909
Kích thước từ 6 - 10 mm x 0,8 - 1,4 mm, vòng gai miệng gồm 37 gai,
27 gai nằm ở vòng phía lưng và hai cạnh bên mỗi bên 5 gai Giác miệng đường kính 0,25 - 0,3 mm, giác bụng 0,72 - 0,88 mm ở khoảng cuối 1/4 thân trước Thực quản dài 0,4 - 0,6 mm
Hai tinh hoàn xếp trên dưới nhau, cái trên thường có 3 thuỳ, cái dưới bốn thuỳ Buồng trứng ở ngay sát trước tinh hoàn Kích thước trứng 0,100 x 0,070 mm (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [40])
* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinoparyphium recurvatum Linstow, 1873
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], Nguyễn Thị Lê (2000) [29], loài này có đặc điểm: kích thước cơ thể bé, dài 2,48 mm, rộng 0,45 mm (ở vùng giác bụng) Bề mặt cơ thể ở phía trước đến ngang giác bụng phủ gai cutin lớn Viền cổ có 45 móc, mỗi thùy bụng có 4 móc, kích thước 0,044 - 0,065 x 0,009 - 0,012 mm Còn lại 37 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,042 - 0,049 x 0,009 mm
Giác miệng 0,008 x 0,105 mm Hầu 0,088 x 0,084 mm Giác bụng tròn hoặc kéo dọc, nằm ở 1/3 chiều dài của cơ thể, kích thước 0,297 x 0,258 mm Thực quản dài 0,28 m, hai nhánh ruột kéo dài đến mút sau cơ thể
Túi sinh dục hình bầu dục, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, kích thước 0,252 x 0,105 mm
Tinh hoàn hình ôvan, cái này nằm sau cái kia ở nửa sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,297 x 0,193 mm, tinh hoàn sau 0,320 x 0,172 mm
Trang 20Buồng trứng tròn hoặc hình ôvan, nằm trước tinh hoàn, đường kính 0,127mm Thể mêlit lớn, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn lớn kéo dài từ sau giác bụng đến gần mút cơ thể Tử cung ngắn, chứa ít trứng, kích thước trứng 0,077 - 0,084 x 0,051 mm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37],
loài Echinoparyphium recurvatum: Dài 2 - 5 mm, rộng 0,4 - 0,85 mm Phần
trước thân có những gai cuticun nằm thứ tự xen kẽ nhau Đầu sán có cấu tạo vành khăn hình quả thận, đường kính 0,220 - 0,385 mm Trứng có màu vàng nâu, hình bầu dục, vỏ nhẵn, một đầu trứng có nắp, đầu còn lại có chồi nhỏ Kích thước trứng từ 0,082 - 0,098 mm x 0,053 - 0,061mm
Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [40] đã mô tả: Sán dài 4,5 mm, rộng 0,5- 0,8 mm Vòng gai đầu có 45 móc, trong đó ở hai góc mỗi bên có bốn cái, hai cạnh bên có ba cái Tinh hoàn không chia thuỳ, hình bầu dục và xếp sát nhau
* Đặc điểm loài Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja-
Pawlowskaja, 1953
Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [29] đã mô tả: cơ thể sán dài 6,0 mm, rộng 1,0 mm Bề mặt cơ thể ở phía trước đến mép sau giác bụng phủ gai bé Viền
cổ rộng 0,37 - 0,48 mm, có 43 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,064 x 0,012 mm Mỗi thùy bụng có 5 móc Giác miệng nhỏ hơn giác bụng 5 - 5,5 lần Giác bụng 0,26 - 0,39 x 0,26 - 0,36 mm
Túi sinh dục kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,213 - 0,267 x 0,100 - 0,120 mm
Tinh hoàn hình bầu dục, kích thước 0,26 - 0,406 x 0,13 - 0,21 mm Buồng trứng hình ôvan, kích thước 0,23 x 0,13 mm Tử cung chứa 7 - 19 trứng, kích thước trứng 0,096 - 0,106 x 0,053 mm
* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [29], kích thước cơ thể trung bình của loài này là 4,88 - 5,93 x 1,04 - 1,11 mm Viền cổ rộng 0,418 mm, có 37
Trang 21móc, mỗi bên có 5 móc thùy bụng, kích thước 0,070 - 0,075 x 0,013 - 0,016
mm Móc lưng xếp 2 hàng, kích thước 0,069 x 0,015 mm Móc bên xếp một hàng, kích thước 0,070 x 0,013 mm Bề mặt của cơ thể từ mút trước đến giác bụng hoặc mép sau buồng trứng phủ gai nhỏ Giác miệng 0,124 - 0,138 x 0,165 - 0,179 mm Trước hầu dài 0,041- 0,055 mm Hầu 0,124 - 0,165 x 0,151 - 0,165 mm Thực quản dài 0,207 - 0,276 mm Hai nhánh ruột kéo dài
về mút sau cơ thể Giác bụng tròn, đường kính 0,621 - 0,662 mm
Túi sinh dục lớn, hình ôvan, kích thước 0,368 - 0,414 x 0,234 mm, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng
Tinh hoàn hình ôvan hoặc gần tròn, cái nọ trước cái kia ở phần sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,455 - 0,469 x 0,621- 0,662 mm, tinh hoàn sau 0,441 - 0,469 x 0,386 - 0,414 mm
Buồng trứng hình tròn hoặc ôvan, nằm ngang phía trước tinh hoàn, kích thước 0,124 - 0,165 x 0,234 - 0,276 mm Thể Mêlit lớn hơn buồng trứng, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước
Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn có kích thước không đều nhau, nằm cách mép sau giác bụng 0,096 - 0,234 mm kéo dài về phía sau cơ thể và không che lấp 2 mút ruột Phía sau tinh hoàn, tuyến noãn hoàng không nối liền lại với nhau
Tử cung ngắn chứa ít trứng (40 -50 trứng) Trứng hình ôvan, kích thước 0,096 x 0,060 - 0,069 mm
* Đặc điểm loài sán Hypoderaeum conoideum (Bloch, 1782) Dietz, 1909
Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [29] đã mô tả như sau: Cơ thể sán dài 8,02- 13,26 mm, rộng 1,39 - 2,02 mm, phần trước cơ thể phủ gai Đầu ngắn, đĩa bám kém phát triển, rộng 0,414 - 0,621 mm Có 47 - 53 móc, xếp thành 2 hàng, móc lưng 0,015 - 0,027 x 0,007 - 0,013 mm, móc bên 0,027 - 0,030 x 0,010 mm, móc bụng 0,033 x 0,013 - 0,015 mm Giác miệng 0,165 - 0,276 x
Trang 220,193 - 0,331 mm Trước hầu dài 0,027 mm Hầu 0,151 - 0,234 x 0,138 - 0,234mm Thực quản dài 0,096 - 0,207 mm Giác bụng lớn nằm gần giác miệng, kích thước 0,828 - 1,131 x 0,876 - 1,150 mm Hai nhánh ruột chẻ đôi trước giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể
Tinh hoàn hình ôvan, cái này nằm sau cái kia, ở chính giữa nửa sau cơ thể, kích thước tinh hoàn trước 0,690 - 1,352 x 0,345 - 0,579 mm và tinh hoàn sau 0,828 - 1,352 x 0,303 - 0,552 mm
Túi sinh dục hình ôvan hoặc hình quả lê, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng chứa túi chứa tinh và gai sinh dục dài, kích thước 0,690 - 0,828 x 0,276
mm Lỗ sinh dục nằm ngay sau nhánh ruột chẻ đôi
Buồng trứng hình ôvan, nằm ngang phía trước tinh hoàn, kích thước 0,248 - 0,414 x 0,372 - 0,455 mm Thể Mêlit nằm ngay sau buồng trứng tuyến noãn hoàng bắt đầu ở phía sau giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể nhưng không che lấp hai mút ruột Tử cung dài chứa nhiều trứng, kích thước trứng 0,082 - 0,090 x 0,055 - 0,060 mm
1.1.1.3 Vòng đời của sán lá ruột vịt
Mỗi loài sán lá có vòng đời riêng, nhưng nhìn chung vòng đời của các loài sán lá như sau: Sán trưởng thành ký sinh, thụ tinh và đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài Ở môi trường ngoài, gặp điều kiện thích hợp phôi trong trứng phát triển thành mao ấu (Miracidium), mao ấu thoát vỏ ra ngoài bơi trong nước, mao ấu chỉ tồn tại một vài ngày Trong thời gian này nó tích cực tìm ký chủ trung gian (KCTG), vào ký chủ trung gian, mao ấu rụng lông và biến thành bào ấu (Sporocyst) Sau một thời gian, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia) Redia tiếp tục sinh sản vô tính cho ra nhiều vĩ ấu (Cercaria) Vĩ ấu chui ra khỏi KCTG Với những sán lá cần 2 KCTG thì vĩ
ấu tiếp tục chui vào KCTG thứ 2 và biến thành Metacercaria Vào cơ thể vật chủ chúng phát triển thành sán trưởng thành (Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [15])
Trang 23Chu kỳ sinh học của sán lá ruột đã được một số tác giả nghiên cứu và nêu chi tiết như sau:
Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37] cho biết: Sán trưởng thành ký sinh ở ruột, thường xuyên thải trứng ra ngoài theo phân Ở môi trường ngoài, gặp điều kiện thích hợp, sau
12 đến 17 ngày mao ấu (Miracidium) hình thành trong trứng, sau đó thoát vỏ
và bơi tự do trong nước Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp, mao ấu chui vào ký chủ trung gian, tiếp tục phát triển thành bào ấu (Asporocyst)
Bằng phương pháp sinh sản vô tính, bào ấu sinh ra nhiều lôi ấu (redia) Lôi ấu lại sinh sản vô tính ra nhiều vĩ ấu (Cercaria) Chúng chui ra khỏi ký chủ trung gian bơi tự do trong nước khoảng 10-12 giờ Trong thời gian này, nếu vĩ ấu xâm nhập được vào ký chủ bổ sung là những ốc nước ngọt và nòng nọc, vĩ ấu rụng đuôi, tạo vỏ bọc xung quanh và biến thành nang kén (Metacercaria) Những vĩ ấu không gặp ký chủ bổ sung sẽ bị chết
Vịt nhiễm sán do ăn phải ký chủ bổ sung có chứa Metacercaria hoặc nuốt phải Metacercaria do nhuyễn thể thải ra Sau khi xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, Metacercaria tiếp tục phát triển thành sán trưởng thành và đẻ trứng sau 10 - 12 ngày
Dương Công Thuận (2005) [43] cho rằng: Vòng đời của các loài sán
lá ruột phát triển qua 2 ký chủ trung gian Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi (ấm và có nước) sau 10-30 ngày nở thành mao ấu, mao
ấu xâm nhập vào ký chủ trung gian thứ nhất rồi qua các giai đoạn phát triển khác và cuối cùng là hậu vĩ ấu (Metacercaria) đóng kén trong ốc hoặc chuyển sang ký chủ trung gian thứ 2 (ốc nước ngọt, ếch, nòng nọc) Thời gian từ khi vào cơ thể ốc đến khi hình thành hậu vĩ ấu là 50 ngày Ký chủ
ăn phải sẽ bị nhiễm bệnh Thời gian từ ấu trùng sán trở thành sán trưởng thành trong ruột là 15-20 ngày
Trang 24Hình 1.1 Vòng đời loài Echinostoma revolutum
(Nguồn: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân 2004 [19])
Về chu kỳ sinh học của loài sán lá ruột Soulsby E.J.L (1982) [55] cho
biết: Trứng loài Echinostoma revolutum sau khi thải ra ngoài môi trường gặp
điều kiện thuận lợi, trong vòng 3 tuần trứng nở thành Miracidium và nó xâm nhập vào một trong những vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt và phát triển thành Cercaria Cercaria phát triển trong vòng 2 - 3 tuần và thoát ra khỏi
cơ thể ốc ra ngoài môi trường Nó có thể xâm nhập lại ký chủ trung gian cũ hoặc các ký chủ trung gian khác Khi ký chủ cuối cùng ăn phải ốc có chứa ấu trùng, trong có thể ký chủ chúng phát triển thành sán trưởng thành trong 15 -
19 ngày
Harvey Tohnston và cs (1941) [50] nghiên cứu về vòng đời của
Echinostoma revolutum ở Nam Australia, tác giả cho biết: Cercaria của loài
này thoát ra khỏi ký chủ trung gian trước giữa trưa và có thể sống hơn 24
Trang 25giờ Kích thước redia hầu hết thường khoảng 200-900µm Gan của ốc bị nhiễm nang sán có màu cam sáng là bởi các Redia
1.1.1.4 Ký chủ trung gian của sán lá ruột
Ký chủ trung gian đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bệnh sán lá ruột ở vịt và các loài vật nuôi khác
Ký chủ trung gian thứ nhất của sán lá ruột ký sinh ở vịt là những loài ốc nước ngọt: Radix ovata, Radix cularia, Galba palustris, Planorbis limnaea Ký chủ trung gian bổ sung cũng là những ốc nước ngọt thuộc các giống Radix, Planorbis
và nòng nọc (Rana temporaria) (Phan Thế Việt và cs (1977) [44])
Soulsby E.J.L (1982) [55] cho biết: Loài Echinostoma revolutum có ký
chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước ngọt: Lymneae stagnalis, L.attenuate, (Radix) pereger hay L.swnhoei Ký chủ trung gian thứ 2 là các loài ốc trên hoặc nòng nọc Rana temporaria
Echinoparyphium recuvatum: Ký chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước
ngọt: Lymnaea ovata, L.auricularia, L.palustris, L.stagnalis, Planorbis P.corneus ,
Ký chủ trung gian thứ 2 là ếch, nòng nọc và một số ốc nước ngọt khác
Ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu về ký chủ trung gian của các loài sán lá ruột ký sinh ở vịt
Gần đây Bùi Thị Dung và cs (2007) [4] nghiên cứu về tình hình nhiễm ấu trùng sán lá ở ốc nước ngọt và vai trò của ốc trong sự truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi tại huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), các tác giả cho biết: qua thu thập 10879 mẫu ốc nước ngọt thuộc 16 loài, có 639 ốc bị nhiễm ấu trùng sán
lá, chiếm tỷ lệ 5,78% Trong 16 loài ốc, có 8 loài ốc nhiễm ấu trùng sán lá, đây là những loài đóng vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi Tác giả tìm thấy ấu trùng của 10 loài sán lá ký sinh ở các loài ốc thu được, thuộc 6 nhóm Cercaria, trong đó có nhóm Cercaria của các loài thuộc giống
Trang 26Echinostoma, nhóm này chiếm tỷ lệ 24,56% và là 1 trong 3 nhóm gây bệnh sán
lá cho người và vật nuôi
1.1.2 Bệnh sán lá ruột ở vịt
Bệnh sán lá ruột ở vịt do nhiều loài sán gây ra, sán lá ruột không những gây bệnh cho vịt, gà, ngỗng, bồ câu, một số loài chim hoang mà còn gây bệnh cho một số động vật có vú khác và kể cả con người Các loài sán lá ruột gây
bệnh phổ biến là các loài thuộc họ Echinostomatidae
1.1.2.1 Dịch tễ học bệnh sán lá ruột vịt
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37] cho biết: Bệnh sán lá ruột gia cầm gặp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, ở nước ta bệnh thấy ở khắp các vùng Bệnh phân bố ở hầu hết các tỉnh miền Bắc nước ta, loài phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho gia cầm là
Echinostoma revolutum Gia cầm bị nhiễm nhiều, bệnh phát nặng ở vùng
đồng bằng, nhất là những nơi gần ao, hồ, ruộng, vũng nước có nhiều ký chủ
bổ sung
Bệnh phát quanh năm, nhưng gia cầm mắc bệnh tăng vào mùa hè, khi nhuyễn thể và nòng nọc phát triển nhiều Cuối thu và đông, nhiệt độ giảm xuống, số lượng nhuyễn thể, nòng nọc giảm đi; gia cầm ít tiếp xúc với ký chủ trung gian thì mức độ nhiễm cũng giảm
Những gia cầm thường xuyên tiếp xúc với nước như vịt, ngỗng mức
độ nhiễm sán nặng hơn những gia cầm ở cạn như gà, gà tây
Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1976) [13] cũng cho rằng, bệnh phổ biến ở khắp các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng nhiễm nhiều hơn so với vùng núi
và trung du; Vịt, ngan ngỗng là những loài thường xuyên tiếp xúc với nước nên mức độ nhiễm nặng hơn gia cầm cạn
Nguồn gieo rắc mầm bệnh ra ngoài môi trường, không những là vịt, gà, ngan, ngỗng, bồ câu mà còn gặp ở các động vật khác như chuột, các loài chim hoang
Trang 27Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [16]cho biết,yếu tố đầu tiên và quan trọng chi phối thành phần loài của khu hệ ký sinh trùng ở động vật là tuổi của vật chủ
Nghiên cứu khu hệ sán lá ở chim và thú vùng Hà Bắc nước ta Nguyễn Thị Lê (1980) [21] cho rằng: ở vịt non tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán thấp hơn 55,3%), so với vịt trưởng thành (100%); vịt nhiễm giun sán quanh năm, nhưng cao nhất vào tháng 4, tháng 9 (100%) và thấp nhất vào tháng 2, tháng 3 (28,5%), tháng 10 và tháng 11(44,4%)
1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá ruột vịt
Sán lá ruột gây bệnh thông qua những tác động gây hại như: chiếm đoạt chất dinh dưỡng, đầu độc và tác động cơ giới nhưng chủ yếu gây bệnh bằng tác động cơ giới, sán trưởng thành dùng giác bám bám chặt vào niêm mạc ruột non làm tổn thương niêm mạc ruột gây viêm ruột
Theo Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) [40], Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [18] sán ký sinh trong đường tiêu hoá gây viêm niêm mạc đường tiêu hoá và các tuyến tiêu hoá (ruột, gan) Sán ký sinh ở các vi trí khác nhau nhưng tác động gây bệnh cho ký chủ tập trung vào các tác động cơ giới, chiếm đoạt chất dinh dưỡng và đầu độc
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [14]cho biết: các móc bám, giác bám của sán ký sinh bám vào các cơ quan gây ra những tổn thương cơ học dẫn tới viêm loét, xuất huyết và hoại tử các nội quan, đặc biệt là cơ quan tiêu hoá
Nguyễn Thị Lê (1998) [28] cho rằng: đôi khi vật ký sinh không sử dụng trực tiếp thức ăn của vật chủ mà lấy các Vitamin của vật chủ làm thức
ăn, hoặc tiết ra các chất ức chế các men làm giảm khả năng trao đổi chất bình thường của cơ thể vật chủ
Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) [40] cho biết: tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng diễn ra liên tục trong thời gian dài với số lượng lớn các
Trang 28loài giun sán ký sinh sẽ làm cho con vật còi cọc, thiếu máu, gầy còm và có thể gây chết Những tác động bắt buộc để giun sán tự nuôi sống đó là ăn các mô, cướp một phần thức ăn của ký chủ, hút máu của ký chủ
Trong quá trình sống ký sinh, một số giun sán phân tiết, bài xuất những chất độc, ký chủ hấp thu và bị trúng độc với những biểu hiện rối loạn thần kinh (co giật, run rẩy, đi đứng siêu vẹo ), gây dung huyết, thiếu máu (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái, 1978 [40]) Trong trường hợp độc tố làm biến đổi thành phần máu thường làm tăng số lượng bạch cầu ái toan và dẫn tới những biến đổi bệnh lý của vỏ não (Nguyễn Thị Lê, 1998 [28])
1.1.2.3 Triệu trứng và bệnh tích bệnh sán lá ruột v t
Vịt mắc bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào số lượng sán nhiều hay ít, triệu chứng chủ yếu thường gặp là: ăn kém, gầy yếu, ỉa chảy
Nghiên cứu về triệu chứng của vịt bị nhiễm sán lá ruột Phạm Sỹ Lăng
và cs (2001) [18], (2004) [19] cho biết: khi nhiễm sán ở cường độ cao vịt có biểu hiện yếu toàn thân, ỉa chảy đôi khi có lẫn máu, kiệt sức nhanh, suy nhược, lông xơ xác, mất khả năng sinh sản, ngừng sinh trưởng, phát triển, thường bị chết do kiệt sức Mổ khám vịt mắc bệnh thấy bệnh tích chủ yếu: niêm mạc ruột viêm, chảy máu, viêm cata ở từng vùng
Theo Nguyễn Đình Bảo và cs (2003) [1] quan sát vịt nhiễm sán lá thấy biểu hiện rõ nhất là vịt gầy yếu, còi cọc, ở vịt đẻ còn có dấu hiệu giảm đẻ Mổ khám vịt có nhiễm sán lá thấy hiện tượng xung huyết, xuất huyết và bong, tróc niêm mạc ruột
Trần Văn Bình (2006) [2] mô tả vịt bị nhiễm sán lá đường tiêu hóa có biểu hiện: bỏ ăn, khát nước, ngại bơi lội Trường hợp bị nặng vịt đi bằng đầu gối, co rúm các ngón chân, ỉa chảy ra máu Mổ khám thấy ruột non xuất huyết
Nguyễn Thát (1975) [36] cho rằng: triệu chứng bệnh sán lá ruột phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán lá Ở vịt non thường thấy bỏ ăn, ỉa chảy và gầy
Trang 29yếu; ở con trưởng thành thường gầy yếu, chậm lớn, giảm đẻ, giảm tăng trọng Khi mổ khám thường thấy ruột non viêm chảy máu, quá trình viêm lây lan đến manh tràng, trong manh tràng có chất vữa hoá, thành ruột mỏng
tự nhau Do vậy, để chẩn đoán chính xác vịt bị bệnh sán lá ruột phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng sán bằng phương pháp gạn rửa sa lắng (Benedek)
- Đối với vịt đã chết hoặc nghi mắc bệnh: dùng phương pháp mổ khám kiểm tra bệnh tích và tìm sán ký sinh
Theo Trần Văn Bình (2006) [2], chẩn đoán bệnh ở thuỷ cầm nói chung
có thể dựa trên nguyên tắc chẩn đoán lâm sàng sau: sử dụng tổng hợp các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh một cách hệ thống nhằm phát hiện kịp thời một số triệu chứng lâm sàng của bệnh Căn cứ vào kết quả chẩn đoán lâm sàng chúng ta thu được những thông tin về tình trạng sức khoẻ của từng cá thể cũng như tổng thể của đàn Việc chẩn đoán lâm sàng có ý nghĩa lớn trong công tác phòng bệnh
Hồ Văn Nam (1982) [31] và Cao Xuân Ngọc (1997) [33] cũng đưa ra phương pháp chẩn đoán trên động vật sống để theo dõi triệu chứng lâm sàng
và phương pháp giải phẫu bệnh để xác định bệnh
Hà Duy Ngọ (1990) [32] nhận xét: phương pháp kiểm tra tìm trứng, ấu trùng là phương pháp kinh điển chủ yếu để xác định giun sán ký sinh ở vật chủ
Trang 30Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) [40]cho biết: chẩn đoán bệnh giun sán không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng vì triệu chứng của bệnh giun sán không điển hình, nên cần phải tìm thấy căn bệnh bằng cách phát hiện trứng và giun sán trưởng thành
Theo Bowman D.D (1995) [46], Bowman D.D và Lynn R.C (1999) [47] có thể sử dụng các phương pháp miễn dịch để chẩn đoán bệnh ký sinh trùng như phương pháp ngưng kết (SAT), phương pháp ELISA và phương pháp huỳnh quang gián tiếp IFAT
Như vậy, những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy: để chẩn đoán bệnh giun sán nói chung, bệnh sán lá ruột ở vịt nói riêng
có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng đơn giản và được sử dụng nhiều nhất là các phương pháp: quan sát những biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân tìm trứng, phương pháp mổ khám, nhưng phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là mổ khám
1.1.2.5 Phòng trị bệnh sán lá ruột ở vịt
* Phòng bệnh:
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [19], sán lá ruột gây tác hại rất lớn đối với chăn nuôi gia cầm, cho nên việc phòng bệnh sán lá ruột là rất cần thiết, người chăn nuôi cần phải thực hiện nghiêm túc các biện pháp tổng hợp sau:
- Vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi, khu vực chăn nuôi
- Định kỳ diệt sạch sán trong cơ thể gia cầm bằng các thuốc tẩy trừ
- Thu gom phân hàng ngày và tiêu diệt trứng sán thải ra ngoài bằng cách ủ phân
- Diệt ký chủ trung gian (ốc, nòng nọc ), ký chủ bổ sung ở khu vực chăn thả bằng vôi bột
- Nuôi nhốt riêng vịt non với vịt trưởng thành
- Ở những nơi ao hồ có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải được nuôi đến 2 - 3 tháng tuổi trên những sân khô ráo
Trang 31- Không làm chuồng ở gần ao hồ, ruộng nước
Vận dụng học thuyết Skrjabin để đề ra biện pháp phòng chống bệnh giun sán, Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27] cho biết: biện pháp hữu hiệu để phòng bệnh sán lá là biện pháp phòng chống tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất
cả các giai đoạn phát triển của trứng ở môi trường ngoại cảnh
Tuy nhiên, theo quan điểm của Skrjabin K.I (1963) [45] muốn thanh toán bệnh giun sán phải dự phòng có tính chủ động: Dùng tất cả các phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học (thuốc), cơ giới, sinh học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh và ở tất cả giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)
* Điều trị:
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2004) [19], gia cầm bị sán lá ruột có thể dùng những loại thuốc sau:
- CCl4: liều 2 - 4ml/con, tiêm qua diều hoặc cho uống qua ống cao su
- Filixan: liều 0,3-0,4 g/kg thể trọng, cho cùng với thức ăn
Chu Thị Thơm và cs (2006) [37] cho biết, một số thuốc và liều lượng thuốc dùng để tẩy sán lá ruột cho vịt như sau: Arecolin: liều 0,002 g/kg thể trọng, pha dưới dạng dung dịch, nồng độ 1:1000 Devermin: 60mg/1gia cầm Fenbendazol: 40mg/kg TT Praziquantel: 20 - 25 mg/kgTT
Nguyễn Hữu Hưng (2005) [10] nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá ruột ký sinh trên vịt tại tỉnh Vĩnh Long và thí nghiệm thử hiệu lực 2 loại thuốc Albendazol và Mebendazol, tác giả cho biết: thuốc Albendazol liều 50mg/kg và 75mg/kg thể trọng dùng trong 7 ngày liên tục hoặc Mebendazol liều 20mg/kg và 30mg/kg thể trọng dùng trong 7 ngày đều cho hiệu quả tẩy sạch sán lá ruột (100%) Thuốc không gây ra phản ứng phụ trong thời gian thí nghiệm
Trang 32Mebendazol là thuốc trị giun sán thuộc nhóm Benzimidazol Đây là loại thuốc sử dụng trong nhân y và thú y Thuốc có phổ chống giun sán rộng, liều cao có tác dụng trên cả nang sán lá, sán dây ký sinh ở gia súc, gia cầm
(Nguồn:http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b3/Mebendazol.s
vg/421px-Mebendazol.svg.png&imgrefurl [56])
Mebendazol có công thức phân tử là C16H13N3O3 Tính chất: thuốc dạng bột màu trắng hoặc vàng nhạt Có tên thương mại như Menben, Vermox, Mebenvet
Cơ chế tác dụng: Mebendazol và các thuốc thuộc nhóm Benzimidazol tác dụng chủ yếu bằng cách gắn vào các ống dẫn, ngăn cản sự trùng ngưng các ống dẫn trong quá trình lắp ráp các vi ống và gây ra các thay đổi thoái hoá cấu trúc ở ruột Tác động trước hết là ức chế hoạt tính của men fumarate reductase, sau đó làm rối loạn các vi ống thiết yếu đối với việc tiết nhiều enzyme của giun sán (Phạm Đức Chương và cs, 2003 [3])
Nguyễn Hữu Hưng (2007) [12] nghiên cứu về giun sán ký sinh ở vịt tại đồng bằng Sông Cửu Long và thí nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán chủ yếu, tác giả sử dụng một số loại thuốc cho thấy hiệu lực tẩy cao đối với sán
lá ruột ở vịt Các loại thuốc đều an toàn, không gây phản ứng Trong đó:
- Albendazol với liều 50mg/kg thể trọng, trộn vào thức ăn liên tục 7 ngày cho hiệu quả tẩy sạch sán lá ruột 100%
- Fenbendazol 8 mg/kg thể trọng và mebendazol 20mg/kg thể trọng cho
ăn liên tục 7 ngày, đạt hiệu quả cao trong việc tẩy trừ sán lá ruột và sán dây
Trang 33Fenbendazol: Là thuốc được sử dụng rộng rãi cho nhiều loài động vật để
tẩy giun sán đường ruột, là dẫn xuất của imidazol, thuộc nhóm benzimidazol Tên thương mại: Bio-Fenbendazol
Phổ tác dụng: Fenbendazol có phổ tác dụng rộng với nhiều loài giun sán
ký sinh ở động vật nuôi và con người
Trần Văn Bình (2006) [2], Nguyễn Huy Hoàng (1999) [7] cho rằng, có một
số loại thuốc có hiệu lực tốt trong điều trị bệnh sán lá đường tiêu hoá cho vịt:
- Fasciolid, liều 1 ml/25kgTT, cho uống trực tiếp hoặc pha vào 2 lít nước, dùng một liều duy nhất
- Dimetridazol, trộn thức ăn theo tỷ lệ 0,5 -1%, cho ăn liên tục từ tuần thứ 3 đến trước lúc đẻ
- Mebendazol, dạng gói, liều 2g/4kgTT
- Bột hạt cau: 1-2g/vịt trưởng thành
Trang 34Theo Phan Lục và cs (2006) [30], có thể dùng các loại thuốc sau để tẩy sán lá ruột: Devermin cho ăn liều 60 mg/kg thể trọng; Fenbendazol liều 40 mg/kg thể trọng, cho ăn; Praziquantel liều 20-25 mg/kg thể trọng; Fubendazole cho ăn liều 10-50mg/kg thể trọng và Arecolin liều 0,002 g/kg thể trọng Tất cả các loại thuốc này đều có hiệu quả tẩy sán lá ruột cho vịt
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là điều kiện rất thuận lợi cho bệnh giun sán ở vịt phát triển Mặt khác, do tập quán chăn nuôi vịt ở nhiều vùng còn lạc hậu nên đàn vịt nuôi luôn tồn tại và lưu hành nhiều loài giun sán ký sinh, trong đó có loài sán lá ruột
Từ trước năm 1954 cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài nghiên cứu về đặc điểm sinh học, thành phần, sự phân bố của các loài giun sán ký sinh và gây hại cho vịt, trong
đó đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới các loài sán lá ruột gây hại cho vịt và các loại gia cầm khác
Từ năm 1954 trở về trước:
Trong thời gian này, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về ký sinh trùng ở vịt, nhưng nghiên cứu về sán lá ruột còn hạn chế, công trình nghiên cứu còn ít, chưa toàn diện
Thời kỳ từ 1954 đến 1975:
Ở nước ta bắt đầu giai đoạn phát triển lĩnh vực nghiên cứu về ký sinh trùng học, đặc biệt là lĩnh vực giun sán học, nhằm xác định thành phần loài và xây dựng quy trình phòng chống các bệnh giun sán nguy hiểm đối với con người và vật nuôi Trong giai đoạn này, nghiên cứu về sán lá ruột ở vịt đã được một số nhà khoa học trong nước chú ý và đã đưa ra kết quả về thành phần loài,
tỷ lệ nhiễm một số loài sán lá ruột tại một số địa phương trong cả nước
Trang 35Từ năm 1962, ở nước ta nhiều đoàn điều tra do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước chủ trì, gồm nhiều cơ quan và các trường đạo học đã tiến hành điều tra ở tất cả các tỉnh phía Bắc, mổ khám 942 chim (161 loài) và 651con thú (61 loài) Những kết quả đã được Trịnh Văn Thịnh (1963) [39] công bố: trong
28 loài giun sán ký sinh ở vịt có 16 loài thuộc lớp sán lá
Nghiên cứu về thành phần giun sán ký sinh ở vịt tại huyện Thanh Trì -
Hà Nội, Nguyễn Thị Lê (1971) [20] cho biết: Qua mổ khảo sát trên 55 vịt tác giả thấy vịt nhiễm 33 loài giun sán Trong đó nhiễm sán lá cao nhất (18 loài) với tỷ lệ 88,90%, cường độ nhiễm từ 1 - 265 con/cá thể vịt Trong 8 loài sán
lá mới tìm thấy ở vịt miền Bắc nước ta có 4 loài ký sinh ở ruột: Echinostoma paraulum, Echinostoma robustum, Echinostoma nordiana và Echinochasmus beleocephalus
Trong nghiên cứu này, Nguyễn Thị Lê (1971) [20] cũng ghi nhận, ở vịt con cường độ nhiễm cao nhưng thành phần loài giun sán thấp, ở vịt già thì ngược lại, cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần loài giun sán phòng phú
hơn Các loài sán lá ruột phân bố phổ biến rộng khắp là Nototylus intestinalis (40%), Hypoderaeun conodeum (32%), Echinostoma revolutum (29,10%), Echinostoma miyagawai (21,80%)
Từ năm 1975 đến nay: nghiên cứu về khu hệ giun sán ở vịt được các
nhà khoa học tiếp tục thực hiện ở một số tỉnh trong cả nước, thành phần, tỷ lệ
nhiễm loài sán lá ruột ký sinh ở vịt được một số tác giả công bố
Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1975) [17] cho biết kết quả điều tra về tình hình nhiễm giun sán ở vịt tại vùng Lục Bình (Nam Hà) từ năm 1971 -
1974 đã phát hiện 9 loài giun sán ký sinh ở vịt, có 2 loài sán lá ruột ký sinh:
Echinostoma revolutum, Echinoparyphium recuvatum
Trên cơ sở kết quả của các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở nước ta, các tác giả Phan Thế Việt và cs (1977) [44] đã tổng hợp và xuất bản
Trang 36cuốn sách “Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam” Các tác giả đã sắp xếp, giới thiệu đầy đủ và chi tiết những thông tin về thành phần loài, vịt trí và hệ thống phân loại 769 loài giun sán ở Việt Nam, trong đó có 251 loài sán lá Theo các tác giả, sán lá ký sinh ở vịt gồm 34 loài, có 8 loài ký sinh ở ruột:
Echinostoma revolutum, Echinostoma paraulum, Echinostoma robustum Echinoparyphium recurvatum, Hypoderaeum conoideum, Echinochasmmus beleocephalus, Notocotylus indicus, Echinostoma miyagawai
Nguyễn Thị Lê và cs (1987) [22] đã công bố thành phần sán lá ở vịt vùng chiêm trũng thuộc các tỉnh Hà Nội, Hà Sơn Bình và Hà Nam Ninh
Hồ Thị Thuận (1988) [42] khảo sát giun sán ký sinh ở vịt Anh Đào nuôi chạy đồng thuộc quận Thủ Đức, Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết vịt nhiễm 21 loài giun sán, trong đó có 6 loài sán lá Cường độ nhiễm cao
ở vịt non nhưng thành phần loài ít, ngược lại vịt già cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần loài phong phú hơn
Nguyễn Thị Lê (1989) [23] cho biết: mổ khám 275 vịt tại 4 địa điểm thuộc hai tỉnh Hà Sơn Bình và Hà Nam Ninh cho thấy vịt bị nhiễm vịt nhiễm giun sán ở tất cả các lứa tuổi và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở vịt từ 97 - 100% Vịt nhiễm nặng nhất là sán lá (94,97%) Thành phần loài khá đa dạng và phòng phú với 25 loài sán lá
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], Nguyễn Thị Lê (2000) [29] đã xuất bản những cuốn sách “Giun sán ký sinh ở gia cầm Việt Nam” và cuốn
“Động vật chí Việt Nam” dựa trên những nghiên cứu về thành phần, đặc điểm hình thái, vị trí ký sinh của nhiều loài giun sán ký sinh ở gia súc, gia cầm ở Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước Các tác giả cho biết: Ở Việt Nam đã phát hiện được hàng trăm loài giun sán ký sinh, trong đó có trên 30 loài sán lá Danh mục các loài sán lá ký sinh ruột ở vịt nước ta gồm có:
Trang 37Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinoparyphium nordiana, Echinoparyphium paracinctum, Echinoparyphium recuvatum, Hypoderaum conoideum, Echinochasmus beleocephalus, Echinochasmus japonicus, Notocotylus indicus, Notocotylus intestinalis, Notocotylus aegyptiacus, Catatropis verrucosa
Huỳnh Tấn Phúc (2001) [34] cho biết, mổ khám 120 vịt tại huyện Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh) phát hiện 18 loài giun sán, có 9 loài sán lá
Tỷ lệ nhiễm giun sán trung bình là 61,7%
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2002) [9] nghiên cứu về tình hình giun sán trên vịt thả đồng tại tỉnh Cần Thơ và Trà Vinh, tác giả mổ khám 671 vịt, tìm thấy 10 loài sán lá, với tỷ lệ nhiễm chiếm tới 62,74%, vịt nhiễm ở tất cả các lứa tuổi, cao nhất ở vịt trên 4 tháng tuổi Trong đó, các loài sán lá ruột tìm thấy là
Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum và Hypoderaum conodeum Cả hai tỉnh Cần Thơ và Trà Vinh đều tìm thấy các loài
này nhưng tỷ lệ nhiễm từng loài sán lá ruột ở có sự khác nhau rõ rệt Loài
Echinostoma revolutum ở Cần Thơ là 8,13% và ở Trà Vinh là 26,20%; loài Echinostoma myiagawai ở Cần Thơ là 30,05%, ở Trà Vinh chỉ là 11,35%
Theo Nguyễn Hữu Phước và cs (2002) [35] cho thấy, vịt tại huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) nhiễm giun sán ở cả 3 lớp: sán lá, sán dây và giun tròn, tỉ lệ nhiễm là 74,43%, trong đó nhiễm sán lá là 60,02% Vịt ở các lứa tuổi đều bị nhiễm cao, cao nhất là vịt từ 1- 2 tháng tuổi, thấp nhất là trên 4 tháng tuổi; nuôi thả đồng tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn nuôi thả vườn
Mổ khám 120 vịt của 4 huyện thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Đình Bảo và cs (2003) [1] tìm thấy 287 mẫu sán lá ký sinh Trong 7 loài phát
hiện có 4 loài sán lá đường ruột: Hypoderaum conoideum, Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinoparyphium recuvatum Tác giả nhận
xét: phổ biến phân bố rộng gồm 4 loài, trong đó có 3 loài sán lá ruột: loài
Echinostoma miyagawai tìm thấy ở 8/8 điểm điều tra, 2 loài Hypoderaum conoideum, Echinostoma revolutum tìm thấy ở 7/8 điểm điều tra Về tỷ lệ và
Trang 38cường độ nhiễm tác giả cho biết: Tỷ lệ nhiễm chung các loài sán lá là 32,5%, trong đó nhiễm sán lá ruột là 19,16% với cường độ nhiễm từ 3 - 18 sán/vịt Nguyễn Hữu Hưng (2005) [10] mổ khám 177 vịt tại 3 huyện Măng Thít, Tam Bình, Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long để tìm hiểu về tình hình nhiễm sán lá ruột ký sinh ở vịt, tác giả phát hiện: có 4 loài phổ biến nhất là
Echinoparyphium recuvatum, Echinostoma robustum, Echinostoma revolutum
và Hypodraum conoideum
Mổ khám 3776 vịt nuôi chạy đồng theo hai vụ chăn thả ở 4 lứa tuổi vịt tại 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Hữu Hưng và cs (2006) [11], Nguyễn Hữu Hưng (2007) [12] cho biết: phát hiện vịt nhiễm giun sán rất cao (82,55%) và định danh được 27 loài Trong đó có 13 loài sán lá (8 loài sán lá đường tiêu hoá), tỷ nhiễm sán lá 73,45% Tác giả cho biết: tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi, vùng sinh thái, mùa vụ và lứa tuổi của vịt
Tỷ lệ nhiễm cao thấy ở các loài: Echinostoma revolutum (23,89%), Hypoderaum conoideum (23,04%), Echinostoma miyagawai (22,75%), Echinoparyphium recuvatum (16,53%) Đặc biệt, phổ biến và phân bố rộng ở khắp các điểm khảo sát là 3 loài sán lá đường tiêu hoá: Echinoparyphium recuvatum, Hypoderaum conoideum, Echinostoma revolutum có khả năng lây
nhiễm từ vịt sang người
Nguyễn Xuân Dương (2008) [6] công bố công trình nghiên cứu về thành phần loài giun sán ký sinh ở vịt vùng Đồng bằng Sông Hồng, tác giả cho biết: Thành phần loài sán giun sán ký sinh ở vịt tại đồng bằng Sông Hồng rất phong phú và đa dạng Vịt nhiễm 18 loài sán lá, những loài sán lá ký sinh ở ruột vịt gồm
có: Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Hypoderaum conoideum, Echinochasmidae beleocephalus, Echinochasmus japonicus, Notocotylus indicus, Microphallus pseudogonocotyla Tác giả nhận xét: thành phần loài giun sán của
vịt có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng (Trong 18 loài sán lá tìm thấy ở đồng bằng Sông Hồng, có 9 loài không tìm thấy ở đồng bằng Sông Cửu Long)
Trang 391.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [39], sán lá ruột ký sinh ở vịt gồm nhiều loài, được tìm thấy ở nhiều nơi thế giới Sự phân bố của chúng ở mỗi vùng, mỗi quốc gia phụ thuộc vào những yếu tố: khu hệ động thực vật, điều kiện địa
lý, khí hậu, sinh thái và phương thức chăn nuôi khác nhau
Trong những thập kỷ qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về khu hệ ký sinh trùng ở vịt, các tác giả cho biết
sự đa dạng và phong phú về thành phần các loài giun, sán ở vịt Trong số hàng trăm loài giun, sán được phát hiện, có nhiều loài sán lá ruột ký sinh và gây hại cho vịt
Ở Hàn Quốc, Kee-Seo EOM và Han - Jong RIM (1984) [52], đã mổ khám 105 vịt ở các thành phố Ichon Dun, Fusan, Chunchon, Yanggu và Taejeon Tác giả đã tìm thấy 6 loài sán lá, trong đó có các loài ký sinh ở ruột:
Echinostoma miyagawai, Echinochasmus japonicus
Ở Peshawar (Pakistan), Khan và cs (1980 -1983) [53] nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ở vịt (Anas creacca), các tác giả đã phát hiện 3 loài sán
lá, trong đó có 2 loài ký sinh phổ biến ở đường tiêu hoá vịt: Echinostoma paraulum và Echinoparyphium recurvatum
Chullabusapa (1992) [48] mổ kiểm tra 200 vịt tại Bangkurad Amphur Bangyai, tỉnh Nonthaburi ở Thái Lan đã phát hiện vịt nhiễm giun sán với tỷ lệ 66%, với 6 loài giun sán ký sinh, trong đó có 2 loài sán lá ký sinh ở ruột
Echinostoma revolutum và Hypoderaeum conoideum Nguyên nhân là do vịt
ăn phải vật chủ trung gian mang mầm bệnh sán lá có trong môi trừng nước trong mùa mưa
Mổ khảo sát 129 vịt tại Mexico, Farias và cs (1986) [49] phát hiện 25 loài giun sán ký sinh trong đường tiêu hoá của vịt, có 3 loài sán lá ký sinh ở
ruột: Echinoparyphium recuvatum, Echinostoma revolutum và Hypoderaeum conoideum
Trang 40Kulisic, Lepojep (1994) [54], mổ khám tìm sán lá ký sinh ở 100 vịt nuôi gia đình ở khu vực Belgrade (Nam Tư), kết quả cho thấy vịt ở khu vực này nhiễm rất cao, với tỷ lệ 72% Tác giả định danh được 13 loài giun sán ký
sinh ở vịt, có 4 loài sán lá ruột (Echinostoma revolutum, Notocotilus imbricatus, Hypoderaum conoideum, Echinoparyphium recuvatum) Tác giả
nhận xét tỷ lệ nhiễm sán lá ở vịt phụ thuộc vào mùa vụ, tập quán chăn nuôi và điều kiện sinh thái ở mỗi vùng
Tóm lại, những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy:
- Thành phần loài sán lá ruột ở vịt rất đa dạng, phong phú, trong đó những loài phổ biến có vai trò gây bệnh sán lá ruột cho vịt và các loài gia cầm
khác gồm có các loài: Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma recuvatum, Hypoderaum conoideum
- Vịt nhiễm sán lá ruột với tỷ lệ cao, cường độ nhiễm lớn, một vịt có thể nhiễm từ một đến nhiều loài sán
- Những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tình hình nhiễm sán lá ruột ở vịt bao gồm: thời tiết, khí hậu, tuổi, mùa vụ và phương thức chăn nuôi
- Trong quá trình ký sinh, sán lá ruột gây hại thông qua nhiều tác động (cơ giới, chiếm đoạt chất dinh dưỡng, độc tố ), làm cho vịt gầy yếu, ỉa chảy
và có thể chết khi nhiễm nặng
- Những phương pháp thường sử dụng để chẩn đoán bệnh sán lá ruột: căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và các đặc điểm dịch tễ của bệnh kết hợp với phương pháp soi phân tìm trứng Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám tìm sán ký sinh
- Có nhiều loại hoá dược có tác dụng tốt trong tẩy sán lá ruột cho vịt cần sử dụng những thuốc đặc hiệu để có hiệu lực tẩy cao nhất
- Để phòng bệnh sán lá ruột ở vịt cần áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp theo quan điểm của Skrjabin K.I (1963) [45]