1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đề tài phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh thực trạng và giải pháp

26 344 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 276,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh -- thực trạng và giải pháp. Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Bước vào thế kỷ XXI, cùng với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, những thách thức của sự phát triển cũng đang diễn ra ngày càng phức tạp và rộng lớn trên quy mô toàn cầu, đó là sự suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường, nghèo đói, thất nghiệp, cách biệt về mức sống và thu nhập, chiến tranh sắc tộc, tôn giáo,…

Ở Việt Nam, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, trong sự phát triển cũng còn nhiều yếu kém, bất cập Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp Tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và tiết kiệm Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô nhiễm nặng Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt vẫn còn bức xúc; tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng; ùn tắc và tai nạn giao thông còn nghiêm trọng; tham nhũng chưa bị đẩy lùi; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề còn yếu kém và chậm được cải thiện; các bệnh viện bị quá tải, chất lượng dịch vụ y tế còn thấp

Vì vậy, vấn đề phát triển bền vững trở nên cấp bách hơn bao giờ hết và là nguyên tắc định hướng chiến lược cho sự phát triển của nhiều quốc gia, trong đó

có Việt Nam

Hòa nhập với cộng đồng quốc tế, trong quá trình đổi mới kinh tế và xã hội, phát triển bền vững với nội hàm phát triển toàn diện và có hiệu quả về kinh

tế, đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường luôn luôn

là mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ kế hoạch của đất nước Nó đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản

Trang 2

quy phạm pháp luật của Nhà nước, của tỉnh đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững

đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước, của tỉnh Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, năng suất, chất lượng, hiệu quả phát triển kinh tế chưa cao; các cân đối kinh tế chưa thật vững chắc

Do thời gian có hạn nên tôi chỉ chọn một phần nội dung của phát triển bền

vững, đó là vấn đề: “Phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh Bình Thuận -

Thực trạng và giải pháp” để làm tiểu luận cuối khoá nhằm nghiên cứu cơ sở lý

luận và thực tiễn về phát triển bền vững kinh tế; đồng thời trên cơ sở đó đánh giá thực trạng phát triển về kinh tế trong giai đoạn 2007 - 2009 và đề ra giải pháp phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2010 - 2015

Dưới góc độ khoa học kinh tế, tiểu luận vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp điều tra, khảo sát để thực hiện đề tài

Ngoài mở đầu và kết luận, tiểu luận có 03 phần chính:

Phần thứ nhất: Một số vấn đề chung về phát triển bền vững và phát triển bền vững về kinh tế

Phần thứ hai: Thực trạng phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh Bình Thuận

Phần thứ ba: Phương hướng, giải pháp phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh Bình Thuận

Trang 3

Phần thứ nhất MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm phát triển

Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

1.1.2 Khái niệm phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn

1.1.3 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường

1.1.4 Khái niệm phát triển bền vững về kinh tế

Phát triển bền vững về kinh tế là quá trình phát triển đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, tránh được sự suy thoái, đình trệ trong tương lai và không để lại gánh nợ nần cho các thế hệ mai sau

1.2 Nội dung phát triển bền vững

Bao gồm 3 nội dung sau:

Thứ nhất, phát triển bền vững về kinh tế

Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao không ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học - công nghệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường

Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường, dựa trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo lại được, giảm tối đa chất thải độc hại và khó

Trang 4

phân huỷ, duy trì lối sống của cá nhân và xã hội hài hòa và gần gũi với thiên nhiên

Thực hiện quá trình "công nghiệp hóa sạch", nghĩa là ngay từ ban đầu phải quy hoạch sự phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử

lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền "công nghiệp xanh"

Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững Trong khi phát triển sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên: đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học

Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát triển bền vững

Thứ hai, phát triển bền vững về xã hội

Tập trung nỗ lực để xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm; tạo lập cơ hội bình đẳng để mọi người được tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân

số đối với các lĩnh vực tạo việc làm, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái

Định hướng quá trình đô thị hóa và di dân nhằm phát triển bền vững các

đô thị; phân bố hợp lý dân cư và lực lượng lao động theo vùng, bảo đảm sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững ở các địa phương

Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước

Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống

Thứ ba, phát triển bền vững về môi trường

Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết

Trang 5

Tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm, suy thoái huỷ hoại môi trường Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường

1.3 Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc phát triển bền vững

1.3.1 Mục tiêu phát triển bền vững

Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử

lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển

và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

Trang 6

1.3.2 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học

1.3.3 Nguyên tắc phát triển bền vững

Để đạt được mục tiêu nêu trên, trong quá trình phát triển cần thực hiện những nguyên tắc chính sau đây:

Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới

Thứ ba, phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước

Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân

Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo

vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Trang 7

Phần thứ hai THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ

Ở TỈNH BÌNH THUẬN

2.1 Đặc điểm tình hình của tỉnh Bình Thuận

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Bình Thuận là một tỉnh duyên hải miền Trung, kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Là đầu mối giao thông quan trọng nối liền các tỉnh miền Trung, Tây nguyên, Nam bộ thông qua các quốc lộ 1A, quốc lộ 28, quốc lộ 55 và tuyến

phía Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận

Với tổng diện tích tự nhiên là 781.042,67 ha, dân số gần 1,3 triệu người, Bình Thuận được chia thành 08 huyện, trong đó có huyện đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120 km về hướng Đông Nam; 01 thành phố (đô thị loại 2)

2.1.2.1 Tình hình văn hóa – xã hội

Về giáo dục: Công tác giáo dục - đào tạo tiếp tục có chuyển biến tiến bộ

Quy mô các ngành học, bậc học tiếp tục phát triển, mở rộng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học được quan tâm đầu tư nhiều hơn, mạng lưới trường lớp tiếp tục phát triển và bố trí đều khắp trên các địa bàn dân cư; tỉ lệ học sinh trong

độ tuổi ra lớp ngày cao hơn, đến năm 2009, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi các cấp đến trường: nhà trẻ 10,46% (năm 2007 là 4,89%), mẫu giáo 69,46%

Trang 8

(năm 2007 là 50,81%), tiểu học 99,9% (năm 2007 là 99,64%), trong đó tỷ lệ trẻ

6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,9% (năm 2007 là 99,89%), trung học cơ sở 82% (năm

2007 là 76,4%), trung học phổ thông 48% (năm 2007 là 44,5%) Toàn tỉnh hiện

có 127/127 (100%) xã, phường, thị trấn giữ vững chuẩn quốc gia về CMC; số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS: 125/127

PCGDTH-Về dân số: Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được quan tâm và

nâng dần về chất; so sánh năm 2007 với năm 2009: tỷ suất chết mẹ giảm từ 15/100.000 trẻ đẻ sống xuống còn 10/100.000; tỷ suất chết trẻ dưới 1 tuổi giảm

từ 5%o xuống còn 2,9%o; tỷ suất chết trẻ dưới 5 tuổi từ 5,6%o xuống còn 3,4%o; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1,24% năm 2009

Về đời sống: Đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện Công tác

xóa đói giảm nghèo tiếp tục được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu và có chất lượng hơn, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo, đặc biệt là công tác hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho

hộ nghèo, như: cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, giải quyết nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo

2.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế

Về nông, lâm nghiệp: Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển khá toàn

diện cả trồng trọt và chăn nuôi Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp (tính theo giá cố định 1994) bình quân 3 năm đạt 6,6% Trong đó giá trị sản xuất trồng trọt có xu hướng tăng, trong khi chăn nuôi có xu hướng giảm Cơ cấu cây trồng có sự chuyển biến khá mạnh; từ quỹ đất chưa sử dụng, đất lâm nghiệp chuyển dịch đưa vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần tăng nhanh diện tích cây trồng lợi thế Tổng diện tích gieo trồng tăng bình quân 3%/năm, trong đó diện tích cây hàng năm tăng 0,7%/năm, diện tích cây lâu năm tăng 9,1%/năm Diện tích cây dài ngày tăng nhanh theo xu hướng đầu tư cây lâu năm có lợi thế, trong

3 năm tăng thêm 18.285 ha Đến năm 2009, diện tích thanh long đạt 10.000 ha, cây cao su đạt 20.475 ha

Trang 9

Công tác lâm nghiệp đang chuyển mạnh theo xu hướng xã hội hoá, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách giảm dần, thay vào đó là nguồn vốn đầu tư từ tổ chức kinh tế, hộ gia đình tăng lên đáng kể Độ che phủ rừng năm 2009 đạt 37,45%

Về thuỷ sản: Kinh tế thuỷ sản tiếp tục phát triển theo hướng nâng cao

chất lượng và giá trị sản phẩm gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu Tốc

độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản (tính theo giá cố định 1994) bình quân 3 năm đạt 9,2% Năng lực tàu cá gia tăng nhanh về công suất, nhất là tàu trên 90CV, cho thấy xu hướng chuyển đổi cơ cấu thuyền nghề vươn ra khai thác vùng khơi tiếp tục đẩy mạnh, giảm dần tàu công suất nhỏ Đến cuối năm 2009, toàn tỉnh có khoảng 8.770 tàu thuyền/tổng 580.000CV, bình quân đạt 66,1CV/thuyền, trong đó tàu thuyền từ 90CV trở lên có 1.580 chiếc

Nuôi trồng thủy, hải sản đã thu hút nhiều nguồn lực thực hiện các dự án đầu tư phát triển Việc phát triển loài nuôi theo nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái được quan tâm, mang lại hiệu quả Lợi thế về sản xuất tôm giống tiếp tục duy trì, phát triển Diện tích nuôi thủy sản nước lợ có xu hướng giảm dần, do diện tích bị thu hẹp để quy hoạch phát triển du lịch, công nghiệp, khu dân cư và ảnh hưởng của dịch bệnh

Về công nghiệp: Công nghiệp có bước phát triển khá, giá trị sản xuất

công nghiệp (tính theo giá cố định 1994) giai đoạn 2007 - 2009 tăng bình quân hàng năm là 17,16%, trong đó: kinh tế nhà nước tăng 19,65%, kinh tế dân doanh tăng 15,69%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,63%

Về thương mại, dịch vụ: Các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch phát

triển mạnh đáp ứng ngày càng cao sự phát triển của thị trường và nhu cầu xã

tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2007 - 2009 là 19,1% Hoạt động du lịch tiếp tục tăng trưởng khá Lượng du khách trong và ngoài nước tăng lên, thời gian lưu trú dài hơn; doanh thu cao hơn Tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2007 - 2009

là 14,85%/năm; trong đó khách quốc tế tăng bình quân hàng năm 14,33%; chiếm bình quân 9,88% so tổng lượng khách du lịch hàng năm Doanh thu từ hoạt động du lịch tăng trưởng khá cao, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2007

Trang 10

- 2009 là 28% Hoạt động xuất khẩu có sự chuyển biến tích cực; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2009 đạt 121 triệu USD, tăng bình quân hàng năm thời kỳ

2007 - 2009 là 5,35%

Về thu ngân sách: Thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2007 - 2009

khoảng 14.000 tỷ đồng, bao gồm: thu nội địa 5.759 tỷ đồng, đạt tỷ lệ huy động trên GDP là 11,31%; thu từ dầu thô là 8.247 tỷ đồng Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước hàng năm (không kể thu từ dầu thô) giai đoạn 2007 – 2009 là 17,30%

2.2 Kết quả và nguyên nhân

2.2.1 Kết quả đạt được trong phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh Bình Thuận

2.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kinh tế tiếp tục phát triển, trên từng mặt, từng lĩnh vực có sự chuyển biến tiến bộ Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân 3 năm 2007 - 2009 tăng 12,77% Trong đó, tốc độ tăng trưởng bình quân 3 năm của khu vực các nhóm ngành: nông - lâm - ngư nghiệp tăng 5,38%; công nghiệp - xây dựng tăng 15,38%; dịch vụ tăng 15,10%

GDP bình quân đầu người đến năm 2009 đạt 856 USD, tăng bình quân 3 năm 23,3% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đến cuối năm 2009, tỷ trọng GDP của nhóm ngành nông lâm - thuỷ sản giảm từ 25,6% năm 2007 còn 22,58%; công nghiệp - xây dựng năm 2007 chiếm 33,68%, đến năm 2009 tăng lên 34,39%; dịch vụ năm 2007 chiếm 40,72% đến năm 2009 tăng lên 43,03%

2.2.1.2 Huy động các nguồn lực đầu tư đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại

Huy động các nguồn vốn xã hội cho đầu tư tăng nhanh, trong giai đoạn

2007 – 2009 huy động khoảng 27.018 tỷ đồng, bình quân huy động vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007 - 2009 chiếm khoảng 54,12% GDP, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 27,83%/năm Cơ cấu nguồn vốn đầu tư có sự chuyển biến quan trọng theo hướng huy động ngày càng rộng các nguồn vốn trong xã hội, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực nhà nước chiếm 31,35%, vốn

Trang 11

doanh nghiệp và dân cư trong nước chiếm 65,51% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 3,14%

Cơ cấu đầu tư theo ngành: nông - lâm - thủy sản chiếm 14,84%; công nghiệp và xây dựng chiếm 21,8; thương mại và dịch vụ 30,3%; ngành vận tải và thông tin truyền thông chiếm 14,4%; y tế chiếm 2,3%; giáo dục và đào tạo chiếm 4,1%; các ngành khác chiếm 12,26%

2.2.1.3 Cơ cấu lao động

Giải quyết việc làm cho người lao động có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động dịch vụ việc làm, cho vay vốn từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm có hiệu quả hơn nên tình hình lao động thất nghiệp, thiếu việc làm được giải quyết tốt hơn Trong 3 năm 2007 – 2009, giải quyết việc làm cho 64.000 người, bình quân hàng năm tạo việc làm cho 21.330 người

Công tác đào tạo nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực Các cơ sở dạy nghề trong toàn tỉnh tiếp tục được đầu tư, mở rộng, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề Đến năm 2009, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 24% Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, lao động nông - lâm - ngư nghiệp là 55,2%, công nghiệp – xây dựng chiếm 15,3%, thương mại – dịch vụ chiếm 29,5%

2.2.1.4 Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ

Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống; nhất là ứng dụng phục vụ phát triển các lĩnh vực, sản phẩm lợi thế, phục vụ các nhiệm vụ trọng tâm, công trình trọng điểm của tỉnh có chuyển biến Một số tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới đã được chuyển giao và ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế thủy sản, bảo quản sản phẩm và chế biến hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghệ thông tin; hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn được quan tâm hơn nên đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng tốt hơn công tác quản lý, điều hành của Nhà nước

Trang 12

Tỉnh đã tập trung hỗ trợ đổi mới thiết bị - công nghệ cho doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm lợi thế của địa phương, như chế biến thủy sản, nước mắm, muối công nghiệp và thanh long xuất khẩu

2.2.1.5 Gắn việc phát triển kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, bảo

vệ môi trường

Việc giải quyết các chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng do hầu hết các thủ tục, hồ sơ thực hiện theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông nên kịp thời, chính xác, đầy đủ, đối tượng an tâm phấn khởi Ngoài việc thực hiện tốt chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng và một lần, các chế độ ưu đãi khác, như: giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, đất ở… đã được các ngành, các địa phương trong tỉnh quan tâm đúng mức

Công tác xóa đói giảm nghèo tiếp tục được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu và

có chất lượng hơn, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo,

hộ nghèo, vùng nghèo, đặc biệt là công tác hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho hộ nghèo, như: cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, giải quyết nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo Trong 3 năm (2007 - 2009) toàn tỉnh ước giảm được 11.329 hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm 4.266 hộ nghèo, tương ứng tỷ lệ giảm 2,04%; đưa tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh giảm xuống còn khoảng 6% vào năm 2009

Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được tăng cường Cơ sở vật chất và trang thiết bị của ngành y tế được kiện toàn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ y tế chuyên sâu ở một số lĩnh vực và chăm sóc sức khoẻ ban đầu Mạng lưới nhân viên y tế thôn phát triển rộng khắp; hầu hết các thôn ở miền núi, vùng cao đã có nhân viên y tế thôn hoạt động; 100% trạm y tế xã, phường có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; 60% trạm y tế xã, phường (76/127) có bác sỹ; bình quân toàn tỉnh có 5 bác sỹ/vạn dân; 3 dược sỹ đại học/vạn dân; 4 - 5 cán bộ/trạm y tế

Công tác bảo vệ môi trường bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về môi trường được chú ý hơn, nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường từng bước được nâng lên Đầu tư

Trang 13

đô thị đều đã có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung; đường nội thị từng bước được nâng cấp, nhựa hóa; số lượng công viên cây xanh, tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom …đều tăng hơn trước Môi trường các khu công nghiệp, các khu

du lịch bước đầu có cải thiện; tỉnh luôn quan tâm đến yếu tố môi trường trong xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từng bước được tăng cường

2.2.2 Nguyên nhân đạt được

Thứ nhất, đạt được những kết quả trên là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của

trung ương, của các cấp uỷ, chính quyền từ tỉnh đến xã, phường; sự tác động tích cực từ những cơ chế chính sách của Trung ương, của tỉnh

Thứ hai, sự đoàn kết thống nhất, đồng thuận quyết tâm cao trong Đảng

bộ, chính quyền các cấp, các ngành trong việc định hướng chỉ đạo điều hành, vận dụng và triển khai tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra một cách cụ thể, sâu sát, có trọng tâm, trọng điểm

Thứ ba, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ được từng bước củng cố và

hoàn thiện gắn với thực hiện đổi mới, cải cách hành chính

Thứ tư, kết quả đầu tư trong nhiều năm qua đã phát huy tác dụng, làm

tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế

2.3 Tồn tại và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại cần phải khắc phục:

2.3.1 Tồn tại trong việc phát triển bền vững về kinh tế ở tỉnh Bình Thuận

2.3.1.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mức độ

thấp

Nền kinh tế có những khó khăn ảnh hưởng, tốc độ tăng trưởng chưa vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa cao Lợi thế so sánh trên từng lĩnh vực chưa được khai thác có hiệu quả Lợi thế trên một số lĩnh vực sản xuất nông - lâm - thủy sản chưa được phát huy tích cực, nên dễ bị chi phối khi thị trường biến động

Ngày đăng: 17/05/2017, 13:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w