Trong ca dao yêu thương, tình nghĩa hiện lên hình ảnh con người Việt Nam lạc quan, yêu đời, cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hi sinh trong quan
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Chủ đề:
So sánh lối phô diễn trực tiếp và lối phô diễn gián tiếp trong ca dao.
Nhóm 7
I) Giới thiệu đề tài.
Ca dao là loại thơ trữ tình xuất hiện từ lâu đời và rất phổ biến trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Nội dung chính của nó là phản ánh đời sống tư tưởng, tình cảm phong phú của người bình dân Dân ca là những sáng tác kết hợp giữa ca dao với các làn điệu dân ca Vì thế mà ca dao – dân ca thường sóng đôi, gắn bó như hình với bóng.
Người bình dân thời xưa hay dùng ca dao – dân ca để thể lộ tâm tình và nói lên những suy nghĩ về cuộc sống Trong giao tiếp hằng ngày, họ có thói quen mượn những câu ca dao hợp tình, hợp cảnh để diễn đạt thay cho lời nói, làm tăng sức biểu cảm của lời nói
Từ ca dao, người dân biến thành các làn điệu dân ca nhằm gửi gắm, bộc lộ đầy đủ hơn tâm tư, tình cảm của mình
II) Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1. Nguồn gốc
Mỗi một dân tộc, một quốc gia nào trên thế giới đều có những nét đặc trưng riêng về bản sắc và nền văn hoá của mình Điều đó là một sự tự hào dân tộc Cũng như Việt Nam ta, một kho tàng về một nền văn minh hình thành rất sớm từ thời cây lúa nước Tạo ra cho con người Việt cổ đã biết lao động và hình thành cái trục cho sự xuất hiện và hình thành
xã hội sau này Nhưng không chỉ có vậy, rồi từ từ trong cái tiến hoá của con người nói chung người Việt cổ nói riêng, cái tất yếu cũng ra đời (tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, hội hoạ ) sớm xuất hiện và hình thành ngày càng hoàn chỉnh hơn trong đời sống tinh thần của họ Lúc bấy giời, lẫn lượt trôi dạt mãi đến ngày nay, đúc kết trong cuộc sống và những kinh nghiệm thiết thực trong xã hội và đặc biệt, lưu truyền theo cách truyền miệng
từ người này qua người khác Ca dao đã ra đời.
Trang 22. Phân loại và nội dung:
2.1 Là tiếng hát yêu thương, tình nghĩa, ca dao bộc lộ tình sâu nghĩa nặng đối với xóm làng, quê hương, đất nước, đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè và dạt dào nhất là tình cảm lứa đôi.Trong suốt chiều dài lịch sử, khắp chiều rộng không gian đất nước, đâu đâu cũng đều vang lên những câu ca về cảnh núi rừng hùng vĩ, cảnh non xanh nước biếc, những sản vật phong phú của mỗi miền
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.
Hội An bán gấm, bán điều Khiêm Bồng bán vải, Trà Nhiêu bán hàng
Lụa này thật lụa Cố Đô Chính tông lụa cống các cô hay dùng
Ca dao nói về tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi rất trong sáng, hồn nhiên, tha thiết:
Con người có tổ có tông Như cây có cội như sông có nguồn.
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.
Mỗi đêm thắp một đèn trời Cầu cho cha mẹ ở đời với con.
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
Đôi ta như thể con ong Con quấn, con quýt, con trong, con ngoài.
Trong ca dao yêu thương, tình nghĩa hiện lên hình ảnh con người Việt Nam lạc quan, yêu đời, cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hi sinh trong quan hệ giữa người với người Ca dao thể hiện những phẩm chất tốt đẹp đó của
Trang 3người Việt Nam và hướng con người Việt Nam đến cái chân, cái thiện, cái mĩ trong cuộc sống.
2.2 Ca dao than thân ra đời từ cuộc sống làm ăn vất vả, cực nhọc và bị áp bức nặng nề của người dân trong xã hội cũ Ca dao than cho cảnh đè nén, áp bức:
Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia.
Đặc biệt là tiếng than của người phụ nữ chịu nhiều bất công do chế độ nam quyền và lễ giáo phong kiến gây ra:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem Nếm xong mới biết rằng em ngọt bùi.
Cảnh tảo hôn, đa thê, gả bán, :
Vợ lẽ như giẻ chùi chân Chùi xong lại vứt ra sân Gọi ông hàng xóm có chùi chân thì chùi.
Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi qua chỗ lội đánh rơi mất chồng.
Chị em ơi, cho tôi mượn gàu sòng
Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên.
Than mà phản kháng, người dân lao động khi khổ thì cất tiếng than nhưng không bao giờ
để mất niềm tin.
Chớ than phận khó ai ơi Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây.
Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa.
2.3 Ca dao hài hước châm biếm: Cùng với truyện cười, vè sinh hoạt, ca dao hài hước châm biếm đã thể hiện tập trung các nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam nhằm tạo ra tiếng cười mua vui, giải trí, phê phán những thói hư tật xấu hay những người đáng cười trong xã hội:
Ăn thì ăn những miếng ngon Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
Cái cò là cái là quăm Mày hay đánh vợ tối nằm với ai
Trang 4Cái cò là cái cò kì
Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô.
Làm trai cho đáng nên trai Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.
3. Nghệ thuật:
Ca dao phong phú trong cách cấu tứ và xây dựng hình tượng Thể loại được dùng nhiều trong ca dao là thể lục bát, song thất lục bát và các thể vãn Mỗi bài ca dao thường có hai dòng thơ lục bát nên kết cấu đơn giản, ngắn gọn Sức hấp dẫn ở ca dao là ở âm điệu, vừa phong phú, vừa thanh thoát và ở lời ca dao giàu hình ảnh Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nói quá, tạo ra những hình ảnh gợi cảm, mở rộng trường liên tưởng sâu xa:
Đôi ta thương mãi nhớ lâu Như sông nhớ nước, như dâu nhớ tằm.
Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.
Đường xa thì mặc đường xa Nhờ mình làm mối cho ta một người Một người mười tám đôi mươi Một người vừa đẹp, vừa tươi như mình Nghệ thuật so sánh ví von đã tạo nên những hình ảnh truyền thống độc đáo trong
ca dao: cây đa - bến nước - con đò; trúc - mai, con cò, chiếc cầu,
Cái cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt ai đưa cò về.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ.
Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.
Trang 5Có thể nói ca dao dùng lời ăn tiếng nói của nhân dân để chuyển tải tâm tư, tình cảm của nhân dân.
Âm tiết đơn giản Lời lẻ mộc mạc, rất đời thường nhưng tô điểm rất đậm nét các vấn đề
xã hội lúc ấy Càng đáng trân trọng hơn nữa là lưu trữ kho tàng này là những người nông dân, những người địa phương theo cách truyền miệng Đôi khi qua sự truyền miệng ấy, xuất hiện nhiều dị bản khác nhau, nhưng vẫn không mất ý nghĩa của câu ca dao.
Tình cha mẹ con cái, tình anh em, tình vợ chồng, tình yêu đôi lứa, tình người đã thể hiện hết trong lời và ý thơ, cái chất dân gian đã tạo được sự rung động trong lòng người Không hoa mỹ, không cầu kỳ, không triết lý, nhưng nói hết được toàn cảnh về đời sống con người thời ấy.
Mỗi thể thơ khi đọc lên là hiểu ngay Đó mới chỉ là một phạm trù nhỏ Cái mà mình
trân trọng là ý nghĩa của từng câu ca dao đó Có một nhà phê bình văn học đã từng nói " nói về ca dao tục ngữ Việt Nam, tôi không thể nói được, kỳ lạ lắm, thiên liêng lắm, đời thường lắm"
4 Vai trò thẩm mĩ của ca dao:
Mỗi người, bất kể giàu nghèo, sang hèn,… đều có thể lấy ca dao là tiếng nói tâm tư, tình cảm của mình, có thể soi lòng mình trong ca dao Cho nên, ca dao còn được coi là
“thơ của vạn nhà”, là gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc; nơi lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, nguồn mạch vô tận cho thơ ca.
III) Đối tượng phạm vi nghiên cứu.
1. Đối tượng nghiên cứu
+ Là lời ca dao hiện đại hoặc cổ truyền được sưu tầm, biên soạn và xuất bản dưới dạng văn bản viết Bao gồm hình ảnh , nội dung liên quan tới lối phô diễn tâm tình trực tiếp và lối phô diễn tâm tình gián tiếp trong ca dao.
+ Là ban chất sự vật hoặc hiện tượng cần được xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu Cần phân biệt đối tượng nghiên cứu với khách thể nghiên cứu với đối tượng khảo sát.
Trang 62. Phạm vi nghiên cứu.
c
I) Khái quát về ca dao.
Ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước đi tiếng đệm láy hay còn gọi ca dao là lời
ca dân gian.
Ca dao là 1 thể loại văn học dân gian Ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc được miêu tả tự sự, ngụ ý và diễn tả tình cảm.
Những tác phẩm ở thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người lao động trong sinh hoạt gia đình xã hội hay nói lên những kinh nghiệm sống và hoạt động thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng những vấn đề cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên rất rõ.
Nội dung được phản ánh trong ca do đó là: phản ánh khát vọng chinh phục thế giới tự nhiên để cuộc sống con người được sung sướng no đủ hơn, phản ánh tâm tư tình cảm của con người, phản ánh hiện thực xã hội của dân tộc Ca dao phản ánh lịch
sử, miêu tả khá chi tiết trong phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân lao động nhưng trước hết là sự bộc lộ tinh thần dân tộc trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và xã hội Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ,
ca dao đã vận dụng mọi khả năng ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện 1 cách chính xã tinh tế cuộc sống hơn nữa để biểu hiện 1 cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng của dân dân về cuộc sống ấy.
Đặc trưng của nghệ thuật cao dao: "ca dao cũng là thơ 1 thể loại thơ rất ít riêng"(xuân Diệu) điều đó nói lên rằng ca dao thuộc lọai trữ tình dân gian nó có đặc trưng với tự sự và kịch Mặt khác tuy giống thơ nhưng cũng khác thơ vì nó không được sáng tạo ra để đọc
mà để hát, nó gắn liền với môi trường ca hát, nghệ nhân diễn xướng và các yếu tố âm nhạc tạo hình và vũ đạo.
"Ngôn ngữ là hệ thống trong đó mọi yếu tố khăng khít, mà giá trị của yếu tố này chỉ
là sự tồn tại đồng thời của yếu tố khác" (Fde.Sausure) Ngôn ngữ là công cụ là chất liệu
cơ bản của văn họ, vì vậy văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ M.Go rơ-ki khẳng định: "ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học"
Ngôn ngữ dân gian là cội nguồn của ngôn ngữ văn học được chọn lọc, được rèn dũa
Trang 7qua lao động nghệ thuật của nhà văn, đến lượt mình nó lại góp phần nâng cao làm phong phú ngôn ngữ nhân dân.
Ngôn ngữ ca dao vừa là ngôn ngữ thơ vừa là ngôn ngữ giao tiếp, nó là cấu trúc lời đôi và chính nó là ngôn ngữ đối đáp hội thoại
Vai giao tiếp và vị thế giao tiếp sẽ ảnh hưởng đến hệ thống xưng hô và cách ứng xử Kiểu nhân vật nào thì có kiểu nói năng tương ứng Mỗi kiểu dạng nhân vật ca dao có một
hệ thống cấu trúc ngôn ngữ tương ứng và mỗi hệ thống văn bản là lời ca thể hiện một nội dung ý nghĩa nhất định.
Lối phô diễn tâm tình là cách cấu tứ trong ca dao Nó được thể hiện qua các thể phú, hứng, tỉ.
II) Khái niệm về lối phô diễn tâm tình trực tiếp.
Lối phô diễn tâm tình trực tiếp trong ca dao là lối bày tỏ một cách phô bày, mô tả một cách trực tiếp về tình cảm con người, tình yêu đôi lứa, cảnh vật thiên nhiên Hay đó là
tự sự, kể chuyện về những sự việc, những biến cố xảy ra trong cuộc đời.
Lối phô diễn này thược được thể hiện trong thể phú, thể hứng.
+ Thể phú là phô bày, mô tả Phô bầy, mô tả một cách trực tiếp về con người, về cảnh vật thiên nhiên Phú cũng là tự sự, kể chuyện về những sự việc, những biến cố xảy ra trong cuộc đời
Vì ca dao trữ tình chủ yếu là bộc lộ tình cảm, tâm sự cá nhân nên cảnh được mô tả, hay chuyện được kể lại (dù thật hay hư cấu) cũng chỉ là cái cớ để tình cảm con người được phát triển, hoặc nương vào đó mà biểu lộ ra được.
Ví dụ: TÁT NƯỚC ĐẦU ĐÌNH
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho
Trang 8Giúp em một thúng sôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiến cưới lại đèo buồng cau
Tát Nước Ðầu Ðình là một bài ca dao làm theo thể phú loại kể chuyện Để có dịp thổ lộ tình yêu với cô gái, chàng trai mượn cớ quên áo, hỏi xin, nhân đó gợi chuyện làm thân rồi lân la ngỏ ý cầu hôn Anh chàng đã bày tỏ trực tiếp mong muốn của mình.
+ Thể hứng là một loại ca dao được mở đầu bằng một hay vài câu tả ngoại cảnh để gợi hứng, sau đó tác giả mới xúc cảm sinh tình, muốn bộc lộ nỗi lòng của mình
III) Khái niệm về lối phô diễn tâm tình gián tiếp.
Lối phô diễn gián tiếp là lỗi phô diễn dùng những hình ảnh, sự vật, sự việc này ám chỉ
về một đối tượng khác nhằm đáp ứng mục đích của người nói nói Ở hai đối tượng này có nét tương đồng với nhau.
Đó là cách suy nghĩ, bày tỏ tình cảm bằng cách sử dụng các hình ảnh so sánh, ví von, ẩn dụ v.v Nó được thể hiện rõ trong thể tỷ.
+ Thể tỉ là so sánh Ca dao trữ tình chuyên nói về đề tài tình cảm, thuộc về vấn đề trừu tượng nên rất khó diễn tả Bởi vậy ca dao trữ tình rất ưa sử dụng thể tỉ, là một phương pháp nghệ thuật đặc sắc, giúp cho ý tứ diễn đạt thêm rõ ràng, linh động mà tình cảm bộc
Trang 9Trong ca dao trữ tình có rất nhiều hình ảnh được dùng làm ẩn dụ, mang giá trị tượng trưng độc đáo như trong những thí dụ vừa trình bẩy ở trên Bên cạnh đó còn không ít những hình ảnh biểu tượng khác được dùng quá quen thuộc đã trở thành ước lệ, như “con cò” để tượng trưng cho người hiền phụ ở thôn quê.
IV) So sánh lối phô diễn tâm tình trực tiếp và lối phô diễn tâm tình
gián tiếp.
1: Giống nhau:
Lối phô diễn trực tiếp và lối phô diễn gián tiếp là hai hình thức thể hiện tiêu biểu của ca dao Cả hai góp phần tạo nên sự mới mẻ , độc đáo trong lối diễn đạt ; tạo nên góc nhìn khác cho người nghe nhưng không làm mất đi chủ ý của tác giả
a Xét về phương diện ngôn ngữ :
Lối phô diễn trực tiếp và lối phô diễn gián tiếp đều sử dụng ngôn ngữ bình dị , mộc mạc , gắn liền với đời sống nhân dân Mang đậm màu sắc trữ tình , ý tứ đặc trưng của ngôn ngữ ca dao
b Xét về phương diện nội dung :
Lối diễn đạt trực tiếp và lối diễn đạt gián tiếp đều có tính biểu trưng cao ; có nghĩa là lấy một sự vật , hiện tượng nào đó có tính chất tượng trưng , ước lệ một cái gì đó khác mang tính trừu tượng Nói cách khác đi , cả hai loại hình đều vay mượn các hình ảnh thiên nhiên , con người trong lao động để phản ánh toàn bộ cuộc sống của nhân dân lao động nhưng nghiêng về phản ánh đời sống tình cảm là chủ yếu Phần lớn cả hai loại hình đều thể hiện tình yêu nam nữ và các mối quan hệ gia đình , xã hội Ngoài ra , còn đề cập đến các hiện tượng thiên nhiên , những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh
Ví dụ:
- Xét về phương diện nội dung :
* Lối diễn đạt trực tiếp
Trang 10Trời mưa ướt bụi , ướt bờ
Ướt cây , ướt lá , ai ngờ ướt em.
Trời mưa rả rích qua đêm
Thấy em gian khổ , anh thêm não lòng
-> Bài ca dao vừa tả cảnh , vừa tả tình Hai câu đầu tả cảnh một ngày mưa dầm dề qua cái nhìn vô thức của tác giả Bằng việc sử dụng những hình ảnh "mưa" , "bụi" , "bờ" ,
"cây" , "lá" đã vẽ nên một bức tranh ngày mưa hối hả phủ kín cả vùng trời Đâu đó trong cái khoảng trời mênh mông đó , bất ngờ điểm xuyết bởi sự xuất hiện hình ảnh một cô gái đội cả "trời mưa rả rích" Khoảnh khắc đó làm rung động lòng thương của tác giả trước cảnh "gian khổ" của cô gái ấy Tình cảm được bộc lộ mạnh mẽ một cách bất ngờ dưới cảnh thiên nhiên mưa đêm "rả rích" ấy* Lối phô diễn gián tiếp
Chiều chiều em đứng em trông
Trông non non ngất , trông sông sông dài
Trông mây , mây kéo ngang trời
Trông trăng , trăng khuyết , trông người người xa
-> Bằng việc đưa vào bài ca dao những hình ảnh thiên nhiên "non" , "sông" , "mây" ,
"trăng" kết hợp cùng những động từ "ngất , dài , kéo ngang , khuyết" đã thể hiện trạng thái cô độc , bị bó hẹp trước mọi cảnh vật của người con gái Góc khuất tâm hồn không thể giải bày khi sự cô đơn bao trùm và bản thân chỉ có thể tự độc hành bước tiếp Cảnh vật tuy hữu tình nhưng trong tâm trí của cô gái mọi thứ trở nên vô tình quá đỗi
- Xét về phương diện ngôn ngữ:
*Lối phô diễn trực tiếp
c
*Lối phô diễn gián tiếp
Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ , dạ sầu đâm chiêu
Biết là thuốc dấu hay bùa yêu
Làm cho thuốc phải nhiều điều xót xa