1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2019 LV VHVN pham thi thanh thuy van xuoi tran bao dinh duoi goc nhin phe binh sinh thai

145 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC PHẠM THỊ THANH THỦY CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ 60 22 01 21 TP Hồ Chí Minh năm 2019 VĂN XUÔI TRẦN.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của TS Tạ Anh Thư Toàn bộ

dữ liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, đúng quy định Kết quả cuối cùng của luận văn này là do tôi tự tìm hiểu, khám phá và phân tích một cách độc lập, khách quan, trung thực phù hợp với thực tiễn văn học Việt Nam hiện nay Đặc biệt, kết luận khoa học của luận văn này chưa từng được công bố ở một công trình nghiên cứu nào trước đó

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Tạ Anh Thư, người luôn nhiệt tình định

hướng, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã hết lòng tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa học và giúp tôi có những định hướng ban đầu

trong quá trình chọn lựa đề tài luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến nhà văn Trần Bảo Định đã dành thời gian nói chuyện, chia sẻ về chuyện đời, chuyện văn chương và cung cấp cho tôi một số tư liệu quý giá để

thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể gia đình, người thân, bạn bè đã hỗ trợ, động viên để tôi chuyên tâm hoàn thành khóa học cũng như hoàn thành công trình khoa

học này

Luận văn Văn xuôi Trần Bảo Định dưới góc nhìn phê bình sinh thái được thực hiện

xuất phát từ nỗi đau trước thực trạng môi trường sinh thái đang bị tàn phá nghiêm trọng

và niềm yêu thích mảng phê bình sinh thái cùng với lối văn chương mộc mạc, giản dị

mà thâm trầm, sâu sắc và những thông điệp ý nghĩa mà nhà văn Trần Bảo Định đã gửi gắm qua những trang văn Tuy nhiên, do thời gian có hạn cũng như khả năng của bản thân còn hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để luận văn được

hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2019

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

4 Mục đích nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của đề tài 14

7 Bố cục của luận văn 14

CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ NHÀ VĂN TRẦN BẢO ĐỊNH 11

1.1 Khái lược về phê bình sinh thái 11

1.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của phê bình sinh thái 11

1.1.2 Khái niệm phê bình sinh thái 14

1.1.3 Quan niệm về phê bình sinh thái 17

1.1.4 Đặc trưng của phê bình sinh thái 19

1.1.5 Các khuynh hướng chính của phê bình sinh thái 23

1.1.6 Hạn chế của phê bình sinh thái 25

1.2 Khái lược về nhà văn Trần Bảo Định 26

1.2.1 Trần Bảo Định - con người sống khép kín, coi văn chương là một “cuộc chơi”, một “liệu pháp” chữa bệnh 26

1.2.2 Trần Bảo Định - “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện” với “bút lực” dồi dào 27

1.2.3 Trần Bảo Định - nhà văn “kêu tiếng kêu cấp cứu sinh thái trên quê hương” 29

CHƯƠNG 2: SINH THÁI TỰ NHIÊN TRONG VĂN XUÔI TRẦN BẢO ĐỊNH 33 2.1 Tự nhiên mang đặc trưng vùng đất Nam Bộ 33

2.2 Tự nhiên - thế giới muôn loài 37

2.2.1 Thế giới muôn loài đa dạng về đặc điểm, tính cách 38

2.2.2 Thế giới muôn loài trong quan hệ tương giao 41

2.2.3 Thế giới muôn loài trong cuộc chiến sinh tồn 44

2.3 Tự nhiên - những biến dạng do sự tàn phá, tận diệt 47

2.3.1 Sự biến dạng của môi trường, cảnh sắc thiên nhiên 49

2.3.2 Sự biến dạng của các loài động, thực vật 52

Trang 6

2.4 Tự nhiên - lời kêu gọi khẩn thiết 55

CHƯƠNG 3: SINH THÁI SINH THÁI NHÂN VĂN TRONG VĂN XUÔI TRẦN BẢO ĐỊNH 58

3.1 Quan hệ Tự nhiên - Con người 58

3.1.1 Tự nhiên - con người trong quan hệ hòa hợp 59

3.1.1.1 Thiên nhiên hỗ trợ con người 60

3.1.1.2 Con người gắn kết với thiên nhiên 67

3.1.2 Tự nhiên - con người trong quan hệ đối đầu 69

3.1.2.1 Hành trình bóc lột tự nhiên của con người 69

3.1.2.2 Hành động đáp trả của tự nhiên đối với con người 74

3.2 Quan hệ giữa con người với con người 79

3.2.1 Con người trong quan hệ gắn kết 79

3.2.2 Con người trong quan hệ đối đầu cạnh tranh 83

3.3 Ứng xử của con người với các giá trị văn hóa 87

3.3.1 Thái độ trân trọng, gìn giữ văn hóa 87

3.3.2 Sự chối bỏ, phá hủy các giá trị truyền thống 95

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHẦN PHỤ LỤC 113

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, trên thế giới, môi trường sinh thái đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề “nóng” được đưa lên bàn nghị sự Ở Việt Nam hiện nay, môi trường sinh thái cũng đang bị xuống cấp nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh cũng như quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa từ sau công cuộc cải cách đổi mới (1986) Thời gian gần đây, vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang diễn ra với tốc độ chóng mặt và trở thành một “bài toán khó”, một vấn đề nan giải cần lời giải đáp bằng những hành động thiết thực Một thực tế đau lòng đang bày ra trước mắt chúng ta,

đó là diện tích rừng đang ngày càng bị thu hẹp, sự đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường xảy ra trên diện rộng từ môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí,…Trước thực trạng đó, điều đặt ra trước mắt của mỗi chúng ta là cần có sự thay đổi tư duy, thái độ, hành động và có cách ứng

xử hòa hợp, thân thiện với tự nhiên Có nhiều cách phản ánh về vấn đề này nhưng

có thể coi một trong những cách ánh hiệu quả là thông qua các tác phẩm văn học viết về vấn đề sinh thái dưới lăng kính của những nhà văn Dòng văn học sinh thái

Việt Nam ra đời từ đó

Phê bình sinh thái (Ecocriticism) là một ngành khoa học trẻ, mới chỉ manh nha vào những năm 70 của thế kỉ XX nhưng có những chuyển biến mạnh mẽ, lan rộng

ra nhiều quốc gia, châu lục trên thế giới trong đó có Việt Nam Đây là một khuynh hướng nghiên cứu liên ngành, giàu tiềm năng, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng môi trường toàn cầu và trước những vấn nạn môi trường do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gây nên thì sự xuất hiện và du nhập của phê bình sinh thái vào Việt Nam càng có ý nghĩa sâu sắc Không chỉ dừng lại ở việc phân tích văn học, phê bình sinh thái hướng tới một quan niệm, một thái độ sống thân thiện, hòa hợp với tự nhiên và dẫn dắt hành động thực tiễn của con người Nó đưa ra những trải nghiệm, đặt lại vấn đề, tra vấn cách nghĩ, cách sống của chúng

ta từ gốc rễ Sự phát triển của phê bình sinh thái là một biểu hiện của mối quan hệ tăng tương tác giữa văn học với các vấn đề thực tiễn của xã hội, giữa nghiên cứu văn học với các ngành khoa học khác

Trang 8

Trần Bảo Định là một “nhà văn trẻ”, một trong những cây bút tích cực của dòng văn học sinh thái Việt Nam hiện đại Văn của Trần Bảo Định đã phản ánh thực trạng xuống cấp trầm trọng của môi trường sinh thái vùng đất Nam Bộ, sự can thiệp thô bạo của con người với thế giới tự nhiên và sự mất mát của nhiều giá trị văn hóa tinh thần của vùng đất này Từ đó, góp thêm tiếng nói bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn, bảo vệ nét đẹp văn hóa trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với tự nhiên, con người với con người, con người với các giá trị văn

hóa Tác phẩm của Trần Bảo Định xuất hiện đều đặn trên các báo, tạp chí như: Tạp chí Sông Hương, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tạp chí Nông thôn Việt, Báo Sài Gòn Giải phóng, Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn hóa Phật giáo,…và nhận

được sự quan tâm của độc giả cũng như các nhà nghiên cứu, phê bình Mặc dù đã ở tuổi 75 nhưng Trần Bảo Định có “bút lực” rất dồi dào Tuy mới gia nhập vào làng văn

từ năm 2012 nhưng ông đã cho xuất bản 6 tập thơ, 11 tập văn xuôi Bên cạnh các tập thơ bày tỏ ân tình với quê hương, bạn bè, người thân, người bạn đời,…các tập văn xuôi của Trần Bảo Định đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Điều cảm nhận đầu tiên ở văn xuôi của Trần Bảo Định đó là đậm đà phong vị của vùng đất phương Nam Qua những trang văn của Trần Bảo Định, người đọc được biết đến vùng đất Nam Bộ với lịch sử hình thành, đời sống sinh hoạt, vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của người dân Nam Bộ cũng như đặc điểm, cuộc sống sinh tồn của các loài sinh vật dưới nước và những sinh vật sống trên cạn và sự phong phú, đa dạng của hệ sinh thái vùng đất phương Nam Điều đặc biệt là thông qua những trang văn đó, Trần Bảo Định đã kêu cứu cho môi trường sinh thái đang bị con người hủy hoại với một tốc độ khủng khiếp Biết bao loài chim không còn nơi xây tổ và đang bên bờ vực tuyệt chủng khi con người tàn phá rừng - tàn phá môi trường sống và bị con người bị đưa lên bàn nhậu Biết bao loài cá ngày càng cạn kiệt và mất dần bởi bàn tay tận diệt của con người và sự xuống cấp trầm trọng của môi trường sống khi nước biển xâm nhập vào những dòng sông, ao hồ, đồng ruộng Những con ba khía bao đời sống quần tụ trong rừng mắm, đước hết bị B.52 rải thảm đến thuốc khai quang, nay hòa bình lại bị con người phá rừng, phải sống cầm tù trong các trại nuôi nhân tạo chỉ để làm mồi nhậu Các loài cây trái đặc sản của miền Nam đang dần bị biến chất bởi lòng tham của con người, vì cái lợi trước mắt mà có những hành động làm suy kiệt giống nòi,…Tất cả những điều đó

Trang 9

đã được Trần Bảo Định truyền tải qua những trang văn đậm chất thời sự làm cho

chúng tôi không khỏi nhức nhối trước thực trạng đau lòng trên

Với đề tài Văn xuôi Trần Bảo Định dưới góc nhìn phê bình sinh thái, chúng

tôi mong muốn đem đến một cái nhìn mới về văn chương sinh thái qua lăng kính của một nhà văn suốt cuộc đời sống giữa lòng dân, giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long Hi vọng, đề tài này góp phần làm cho diện mạo nghiên cứu về phê bình sinh thái nói riêng và phê bình văn học Việt Nam hiện đại nói chung ngày càng phong phú, đa dạng; góp thêm tiếng nói cho việc xây dựng môi trường sinh thái hiện nay

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Văn xuôi Trần Bảo Định dưới góc nhìn phê bình sinh thái Cụ thể là chúng tôi khảo sát, nghiên cứu văn xuôi Trần Bảo

Định trên các phương diện sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn cũng như nghệ thuật và hình thức văn chương Trần Bảo Định

- Phạm vi nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu 7 tập văn xuôi của Trần Bảo Định: Kiếp ba khía (2014), Đời bọ hung (2015), Phận lìm kìm (2016), Chim phương Nam (2017), Bóng chiều quê (2018a), Bông trái quê nhà, (2018b), Khói un chiều (2018c)

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

3.1 Các công trình về phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học

Mặc dù mới du nhập vào nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX nhưng phê bình sinh thái dần dần đã thu hút sự quan tâm của các nhà văn, các nhà nghiên cứu, giới khoa học Các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn cũng đã tổ chức các hội thảo về phê bình sinh thái đem lại cái nhìn đa dạng về lĩnh vực mới mẻ này Trong các cuộc Hội thảo đã có nhiều tham luận đã vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái để phân tích những hiện tượng văn học cụ thể Hội thảo “Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế” do Viện Văn học tổ chức vào tháng 5 năm 2014 đã

có một số tham luận về phê bình sinh thái như: Nghiên cứu phê bình sinh thái hiện đại

và di sản văn hóa: nhìn từ cách sinh thái học tìm về tam giáo (Phật giáo, Nho Giáo, Đạo giáo) của Trần Hải Yến; Sáng tác và phê bình sinh thái - tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam Nguyễn Thị Tịnh Thy; Tư tưởng sinh thái trong truyện ngắn Trần Duy Phiên của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cái tự nhiên trong truyện ngắn Nguyễn

Trang 10

Huy Thiệp từ góc nhìn phê bình sinh thái của Đặng Thị Thái Hà, Hình tượng loài vật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt, Khuynh hướng văn xuôi sinh thái Việt Nam sau đổi mới của Trần Thị Ánh

Nguyệt,…Năm 2016, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng tổ chức hội thảo quốc gia

“Văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” Tại hội thảo này đã có 5 tham luận

ứng dụng phê bình sinh thái để nghiên cứu văn học Đặc biệt là Hội thảo quốc tế Phê

bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu do Viện Văn học tổ chức vào

ngày 14/12/2017 tại Hà Nội Đây là hội thảo quốc tế đầu tiên về phê bình sinh thái

diễn ra ở Việt Nam, là diễn đàn để các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới trao đổi

về các vấn đề diễn tiến của phê bình sinh thái trong thời gian gần đây; kinh nghiệm

nghiên cứu văn học sinh thái và cơ hội và khả năng của phê bình sinh thái ở Việt Nam

Kỷ yếu của Hội thảo tập hợp 84 bài viết của các tác giả, nhóm tác giả trong và ngoài

nước đã được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội in và phát hành Tháng 1/2018, Hội thảo

“Phê bình sinh thái: Lý luận và ứng dụng” do Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí

Minh tổ chức đã phân tích, đánh giá bước đầu văn xuôi Nam Bộ từ góc nhìn phê bình sinh thái, từ đó làm sáng tỏ thêm mối quan hệ hài hòa giữa con người với môi trường

tự nhiên, xã hội trên tinh thần nhân văn hiện đại vì sự phát triển bền vững của vùng đất phương Nam Có 12 bài viết vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái để nghiên cứu văn học như đã được tập hợp và in trong Kỷ yếu của Hội thảo này

Nghiên cứu văn học từ góc nhìn phê bình sinh thái hiện nay ở Việt Nam cũng đã có những bước tiến và đã đạt được một số thành tựu cơ bản thể hiện qua các công trình dịch thuật, luận văn, luận án, các bài nghiên cứu, phê bình, Ngoài ra, các bài viết về phê bình sinh thái của các học giả trên thế giới cũng đã được dịch thuật tại Việt Nam

góp phần đưa người đọc đến gần hơn với phê bình sinh thái Phê bình sinh thái - cội nguồn và sự phát triển (2012) do Đỗ Văn Hiểu dịch đã giới thiệu về nguồn gốc, sự

hình thành và phát triển, tính khả dụng của phê bình sinh thái và khẳng định trào lưu

phê bình sinh thái đang dần dần lan rộng trên toàn thế giới Trong bài viết Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012), Đỗ Văn Hiểu

đã làm sáng tỏ một số cách tân bản chất của phê bình sinh thái trên phương diện tư

tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên tắc thẩm mĩ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu; bên cạnh đó cũng lưu tâm đến hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng, phát triển của

khuynh hướng nghiên cứu này Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học của

Trang 11

Karen Thornber trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: tuyển tập phê bình (các nền văn học, văn hóa môi trường) do Hải Ngọc dịch Trong bài viết này, Karen Thornber đề

nghị phê bình sinh thái cần thiết phải đi theo hướng tiếp cận so sánh trong bối cảnh các

vấn đề môi trường không phải là vấn đề mang tính địa phương nữa Bài Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường là lời giới thiệu của Cheryll Glotfelty

trong Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học

do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên được Trần Thị Ánh Nguyệt dịch năm

2014 Bài viết nói về sự khai sinh của nghiên cứu văn học môi trường, định nghĩa phê

bình sinh thái, khoa học nhân văn và sự khủng hoảng môi trường, nghiên cứu phê bình sinh thái ở Mĩ và tương lai của phê bình sinh thái Qua đó làm sáng tỏ một số cách tân bản chất của phê bình sinh thái trên phương diện tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên

tắc thẩm mĩ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đặc biệt, Phê bình sinh thái là gì? do

Hoàng Tố Mai chủ biên (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017) là một công trình đáng được quan tâm Với việc tổng hợp những bài dịch, bài viết, những công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới về phê bình sinh thái, bàn luận về phê bình sinh thái trong bối cảnh khủng hoảng môi trường toàn cầu, những tương tai của phê bình sinh thái và văn học,…cuốn sách đã phần nào khái quát sự phát triển của phê bình

sinh thái cũng như ảnh hưởng của nó trên toàn thế giới Bên cạnh đó, bài viết cũng lưu

tâm đến hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng, phát triển của khuynh hướng nghiên

cứu này Ngoài ra còn một số bài dịch như Phê bình sinh thái - nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc ( 2013) do Nguyễn Thị Tịnh Thy dịch, Phê bình sinh thái (2014) do Đặng Thị

Nguyệt - Lê Lưu Oanh, 2017)

“Rừng khô, suối cạn, biển độc…và văn chương”của Nguyễn Thị Tịnh Thy (Nhà

xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2016; tái bản 2017) là một công trình về phê bình sinh thái đặc sắc Nhờ việc vận dụng thuần thục, hiệu quả phương pháp liên ngành,

Trang 12

phê bình hậu hiện đại để tiếp cận với những vấn đề quan thiết của nhân loại, của Việt Nam như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường sinh hoạt, văn hóa, sự hòa kết giữa lý luận và thực tiễn,…khiến chuyên luận không hàn lâm, nặng nề mà rất sát hợp với thị hiếu, tâm cảm của bạn đọc Bên cạnh việc đưa ra các khái niệm tiền đề, khái niệm về phê bình sinh thái, lịch sử hình thành, phát triển cũng như những hạn chế của phê bình sinh thái, tác giả còn giới thiệu với độc giả những tác phẩm văn học sinh thái kinh điển của thế giới cũng như các công trình nghiên cứu về phê bình sinh thái ở Việt Nam Công trình cho thấy sự nhạy cảm, bản lĩnh, cái tâm và trách nhiệm công dân của người trí thức đối với thực trạng xã hội hôm nay trên tinh thần “môi trường kêu gọi, văn chương đáp lời” (Bùi Thanh Truyền, 2017)

Còn với chuyên luận Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2016; tái bản

2017), Trần Thị Ánh Nguyệt - Lê Lưu Oanh đã trình bày một cái nhìn bao quát về dòng văn học sinh thái, nhằm tìm hiểu về khuynh hướng văn xuôi văn học Việt Nam sau 1975 từ cái nhìn của phê bình sinh thái, một khuynh hướng mới trong phê bình văn học thế giới Bên cạnh đó, chuyên luận cũng trình bày cảm ứng phê phán từ điểm nhìn sinh thái và sự kiến lập cảm quan đạo đức sinh thái

Còn trong bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay

đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An, Trần Đình Sử đã “vận dụng tư tưởng sinh thái để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, không tập trung vào quan hệ con người và tự nhiên, mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như là môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường

văn hóa tinh thần với sáng tạo văn nghệ” (Trần Đình Sử, 2015)

Bên cạnh đó, nhiều đề tài dựa trên lý thuyết phê bình sinh thái cũng đã ra đời

Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa cũng đã

đưa ra cái nhìn khái lược về phê bình sinh thái, chỉ ra tấm mạng sinh thái trong Thơ

mới và khẳng định “thiên nhiên luôn có một địa vị quan trọng, nối con người với nơi

chốn cưu mang, cân bằng sinh thái con người trong tuyệt vọng, an ủi và tái tạo con người trước sự tinh khôi của Mẹ Đất Xa hơn, những vần thơ viết về thiên nhiên, tự nhiên trong Thơ Mới cũng có ý nghĩa đánh thức sự gắn kết giữa con người với môi trường nhân tính của tự nhiên, bằng chính ngôn ngữ của tự nhiên, bằng thứ ngôn ngữ trong trẻo và nhiều khi tràn đầy dục tính” (Nguyễn Đăng Điệp, 2014)

Trang 13

Với Khí quyển thơ - sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và những linh hồn,

Nhã Thuyên (2011) đã đưa ra một cách nhận diện khí quyển thơ - sinh thái đặc trưng trong thơ Mai Văn Phấn trong đó tập trung vào mối quan hệ đa chiều và không dễ nắm bắt giữa thơ ca (hành vi sáng tạo) - bầu trời (không gian sinh thái) và những linh hồn (sự sống ẩn tàng trong vạn vật) chỉ là vài ý tưởng, như hé một khung cửa nhỏ mở vào

bầu trời

Trong bài nghiên cứu “Cảm thức xanh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và một vài suy nghĩ về phê bình sinh thái”, Nguyễn Thị Thanh Xuân cũng đã đưa ra một cách cảm nhận Truyện Kiều mới mẻ dưới góc nhìn của phê bình sinh thái Trong bài viết của mình, tác giả đã đánh giá “Truyện Kiều của Nguyễn Du là “Ngôi nhà của tồn sinh”

đặc biệt, ở đó con người, văn hóa và tự nhiên tương chiếu nhau, làm nên ánh sáng từ muôn vàn cánh cửa” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2018)

Với luận văn Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái, Nhã Thuyên

đã chỉ ra sự hòa kết độc đáo giữa văn chương và sinh thái trong sáng tác của Nguyễn

Ngọc Tư được thể hiện qua những không gian làng cảnh đậm sắc thái vùng miền, phát

hiện những hiểm họa từ môi trường cũng như những thông điệp về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, sự chuyển biến trong quan hệ giữa người với người; quan hệ ứng xử của con người với những giá trị văn hóa; cảm hứng về mối

quan hệ giữa con người với môi trường nhân văn Còn với luận văn, Truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái, Trịnh Thùy Dương đã tìm hiểu truyện ngắn

của Cao Duy Sơn từ góc nhìn của lý thuyết phê bình sinh thái qua đó cung cấp cho chúng ta những nét chính về lý thuyết phê bình sinh thái và hành trình sáng tác của nhà văn Cao Duy Sơn, quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng như nghệ thuật thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong truyện ngắn Cao Duy Sơn Công

trình Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái

của Trần Thị Ánh Nguyệt đã lấy tư tưởng cốt lõi “trái đất làm trung tâm” để đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Từ góc nhìn phê bình sinh thái, Trần Thị Ánh Nguyệt

đã phát hiện cách đặt vấn đề môi trường và số phận của con người trong thời đại khủng hoảng môi trường sinh thái của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Đồng thời tác giả cũng “đề xuất một cách lắng nghe từ tiếng nói từ tự nhiên để tìm ra câu trả lời cho những khủng hoảng của con người thời hiện đại và đề xuất một thái độ sống gần gũi tự

nhiên để được chia sẻ và thanh thản” (Trần Thị Ánh Nguyệt, 2014),

Trang 14

Điểm qua các công trình về phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học tiêu biểu, chúng tôi thấy rằng phê bình sinh thái đang dần chiếm một vị trí quan trọng trong dòng

chảy văn học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng

3.2 Các công trình nghiên cứu văn xuôi Trần Bảo Định

Là một nhà văn mới xuất hiện trên văn đàn chưa lâu lại là người khá kín tiếng,

ít tiếp xúc, từ chối trả lời các cuộc phỏng vấn nên văn chương Trần Bảo Định chưa được nghiên cứu nhiều Khảo sát các công trình nghiên cứu về văn xuôi Trần Bảo Định, chúng tôi chỉ tìm được một số bài viết của các nhà phê bình như Nguyễn Khắc Phê, Du Tử Lê, Nguyễn Thành Thi, Huỳnh Như Phương, Huyền Sương, Trần Đình Ba, được đăng trên các báo, Tạp chí Trong số đó, có lẽ nhà phê bình Nguyễn Khắc Phê là người tâm đắc với văn của Trần Bảo Định hơn cả bởi chúng tôi nhận thấy ông đã đồng hành cùng chặng đường văn chương của

Trần Bảo Định từ tập truyện đầu tay Kiếp ba khía xuất bản năm 2014 cho đến Chơi thôi mà! vừa mới xuất bản vào năm 2019 Nguyễn Khắc Phê đã có một loạt

bài phê bình về các tập văn xuôi của Trần Bảo Định Ở bài viết Từ “Kiếp ba

khía”, hiểu thêm vùng đất phía Nam đăng trên báo Đà Nẵng ngày 16/03/2015, Nguyễn Khắc Phê đã chỉ ra điểm làm nên giá trị của tập truyện Kiếp ba khía là

nằm ở cả hai yếu tố đó là sự hài hước và nỗi đau đời được thể hiện với giọng điệu hồn nhiên, vui vẻ, đậm chất dân gian Bên cạnh đó, nhiều trang viết của Trần Bảo Định đã chạm đến số phận của con người trong những giai đoạn bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc Đó là những sự kiện như đất nước chia hai miền sau năm

1954, cải tạo tư sản, vượt biên, tình trạng tham ô, tham nhũng của cán bộ qua hành động mượn phép thu hồi đất của dân để bán, cho thuê nhằm trục lợi cho mình Nhiều truyện của Trần Bảo Định đậm màu sắc bi thương nhưng được đan cài những chi tiết hài hước tạo nên nét độc đáo

Trong bài viết Đọc “Đời bọ hung” của “nhà văn tr ” 73 tuổi Trần Bảo Định

đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 10/3/2016, Nguyễn Khắc Phê đã phát hiện 10 truyện

trong 15 truyện của tập Đời bọ hung đều mượn thế giới loài vật để nêu lên những

suy ngẫm về cuộc sống, về thiện - ác, về sự hơn thua trong thế gian Dưới ngòi bút tài tình của Trần Bảo Định, thế giới loài vật trở thành đối tượng phản ánh, là

“nhân vật” với đời sống tinh thần, tính dục rất sinh động Với nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, loài vật hiện lên như những con người thực thụ, biết nghe tiếng người và

Trang 15

giao tiếp như con người Giữa con người và thế giới tự nhiên có sự hòa quyện với

nhau Đời bọ hung còn khẳng định một phong cách dân dã, phóng khoáng đậm

chất Nam Bộ của ngòi bút Trần Bảo Định

Với bài viết Người kể chuyện dân gian hiện đại đăng trên Tạp chí Văn nghệ số

53/2016, Nguyễn Khắc Phê đã đưa ra những nhận xét mang tính khái quát sau khi

phân tích những nét đặc sắc của một số truyện ngắn trong hai tập Kiếp ba khía và Đời bọ hung Ở bài viết này, Nguyễn Khắc Phê chú trọng vào việc khẳng định tài

năng của Trần Bảo Định từ cách chọn đề tài, gửi gắm những suy ngẫm về triết lý nhân sinh cho đến cách thể hiện thái độ qua giọng văn để từ đó đi đến khẳng định:

“Trần Bảo Định, mặc dù nhập cuộc muộn, đã đặt được một cột mốc khá độc đáo trên văn đàn hôm nay - tôi muốn được gọi ông là “nhà kể chuyện dân gian hiện đại” (Nguyễn Khắc Phê, 2016)

Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Phê cũng đã đưa ra cái nhìn toàn diện, khái quát

hơn về văn Trần Bảo Định qua bài viết Trần Bảo Định - một tác giả đặc sắc trong dòng “văn học sinh thái” đăng trên Tạp chí Sông Hương số 345, tháng 11/2017

Ở bài viết này, Nguyễn Khắc Phê đã đưa ra những đánh giá của mình sau khi đọc

4 tập văn xuôi của Trần Bảo Định: Kiếp ba khía (2014), Đời bọ hung (2015), Phận lìm kìm (2016) và Chim phương Nam (2017) Phát hiện của Nguyễn Khắc

Phê ở 4 tập văn xuôi này là Trần Bảo Định đều lấy nhan đề là tên các con vật, nhiều truyện tác giả đã mượn loài vật để nhắc nhở, giáo dục con người, gửi gắm những triết lý về nhân sinh, thời cuộc Với những trang văn về thế giới loài vật

đó, Trần Bảo Định “có lẽ là cây bút lập kỷ lục viết về loài vật trong làng văn Việt Nam” (Nguyễn Khắc Phê, 2017) Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Phê cũng đã chỉ ra thực trạng các loài trong thế giới tự nhiên bị tàn phá, tận diệt bởi bàn tay của con người và tiếng kêu cứu của Trần Bảo Định cho môi trường sinh thái đang bị con người hủy hoại với một tốc độ khủng khiếp để từ đó đưa ra nhận xét về những đóng góp của Trần Bảo Định với dòng văn học sinh thái Việt Nam hiện đại:

“Cũng như nhiều nhà văn khác, Trần Bảo Định cũng “mượn loài vật” để gửi gắm những triết lý về nhân sinh, thời cuộc, nhưng bằng sự tập trung toàn truyện

các loài chim trong Chim phương Nam và nhiều truyện về nhiều loài vật khác

trong 3 cuốn sách trước, Trần Bảo Định đã liên tục phát tín hiệu S.O.S kêu cứu cho môi trường sinh thái đang bị con người hủy hoại với một tốc độ khủng

Trang 16

khiếp Trần Bảo Định là một cây bút có đóng góp rất đặc sắc trong dòng “văn học sinh thái” đang ngày càng được chú ý; và do đó, các tác phẩm của ông…đã vươn tới một chiều kích rộng lớn hơn và rất thời sự nữa” (Nguyễn Khắc Phê, 2017)

Trong bài viết này, một lần nữa Nguyễn Khắc Phê lại khẳng định Trần Bảo

Định xứng danh là “người kể chuyện dân gian hiện đại”

Còn ở bài viết Những trang sách đầy ắp “phù sa” châu thổ đăng trên báo Sài

Gòn Giải phóng ngày 16/3/2018, Nguyễn Khắc Phê đã khẳng định về sự giàu có

trong vốn văn chương của Trần Bảo Định khi chỉ trong một năm 2017 mà Ông già Nam Bộ nhiều chuyện - Góc khuất dưới chưn đèn, Đất phương Nam ngày cũ và Chim phương Nam lần lượt được “chào đời”:

“Nghĩ là ông già trên 70 tuổi, lại đang mang trọng bệnh, chắc đã hết “vốn” và hết… hơi, ai dè cuối năm 2017, Trần Bảo Định tung ra liền một lúc 3 cuốn sách, dày tổng cộng trên 700 trang…Quả là quá nhiều chuyện, nhiều điều không thể diễn tả hết trong 3 tác phẩm mới của Trần Bảo Định, nên có thể hình dung những trang sách của ông giàu có, bất tận như “phù sa” châu thổ sông Cửu Long” (Nguyễn Khắc Phê, 2018)

Mới đây khi tập truyện ngắn Chơi thôi mà! của Trần Bảo Định vừa xuất bản

tháng 5/2019 còn nóng hổi trên tay độc giả, Nguyễn Khắc Phê đã có ngay bài viết

Số phận đặc biệt của một nhà báo - Đọc “Chơi thôi mà!”, Truyện ngắn của Trần Bảo Định, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2019 đăng báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt

Nam, số 25, ngày 22/6/2019 nhân kỷ niệm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam Ở bài viết này, Nguyễn Khắc Phê không đi vào đánh giá toàn bộ tập truyện mà dừng

lại bàn luận đôi điều về truyện Chơi thôi mà! đặt cuối tập sách mà ông cho là

“một truyện thôi, cũng đã nhiều chuyện đáng suy ngẫm” Đó là câu chuyện có thực về Hoàng Sơn - một ký giả sống chết đều lặng lẽ nhưng thật đáng trọng Nguyễn Khắc Phê đã đánh giá cao về cách mở đầu truyện rất “cao tay” của Trần Bảo Định khi chỉ dùng 9 dòng mà đã thể hiện một cách đầy đủ các yếu tố của một màn kịch với đầy bi, hài và cả “sex”, có sức hút bạn đọc Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Phê cũng đã phân tích và khẳng định giá trị câu chuyện nằm ở nội dung sâu sắc, cảm động được ẩn giấu dưới một nhan đề đậm chất hài hước

Trang 17

Còn Huyền Sương trong bài viết Tủm tỉm cười cho đời thêm tươi đăng trên báo

Phụ nữ ngày 21/01/2016 cũng đã nêu lên những cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của

mình khi đọc tập Kiếp ba khía của Trần Bảo Định Với Huyền Sương, từ thiên

nhiên đến tính cách con người Nam Bộ qua mắt Trần Bảo Định đều mang vẻ tự

nhiên, gần gũi và dung dị Nhân vật trong Kiếp ba khía là những con người mang

bản chất con người Nam Bộ, sống nhân nghĩa, biết trước biết sau, gắn kết trong tình làng nghĩa xóm, biết yêu thương, đùm bọc, tối lửa tắt đèn có nhau Nhiều nhân vật hiện lên với vẻ khí khái, cương trực, những lúc cần thiết vẫn dám bộc

bạch chính kiến Đặc biệt, các truyện ở Kiếp ba khía dù bi, dù hài vẫn “bàng bạc

không khí trào lộng, lạc quan như tính cách của bà con nông dân miền Nam” (Huyền sương, 2016)

Còn trong bài viết Đọc những trang viết mới về đất và người Phương Nam,

Nguyễn Thành Thi lại đánh giá cao văn Trần Bảo Định về phương diện văn hóa,

lịch sử khi đề cập đến sản vật, hay món ăn mộc mạc mang hương vị quê nhà, cảnh sắc, phong vị của “Đất phương Nam ngày cũ”, những tập tục, hay sinh hoạt văn

hóa, hình ảnh của con người Nam Bộ Bên cạnh đó, Nguyễn Thành Thi cũng đã đánh giá cao những nét đặc sắc về mặt nghệ thuật như khiếu quan sát tinh tế, hình thức thể loại, việc tích hợp các yếu tố tư liệu khoa học, lịch sử cũng như việc vận dụng yếu tố văn học dân gian, những trải nghiệm sâu sắc, những tìm tòi công phu

và những phát hiện thú vị về sự vật, con người quê hương nơi tác giả

Bài viết Tập truyện ngắn “Bóng chiều quê”: Đọc để thấm “tục hay nếp cũ” Nam Bộ của Trần Đình Ba đăng trên trang Thể thao Văn hóa ngày 17/10/2018 đã

nêu lên được cốt lõi của tập truyện là viết về những “tục hay nếp cũ” trên mảnh đất chín rồng Đó “là hồn cốt, nết ăn nết ở, là những nếp cũ, tục hay làm nên riêng

chất Nam Bộ” (Trần Đình Ba, 2018) Bên cạnh đó, tác giả phát hiện ra ở Bóng chiều quê có sự tích hợp kiến thức lịch sử vào các câu chuyện hết sức tự nhiên để

từ đó truyền tải, gửi gắm những thông điệp về lối sống, cách cư xử làm nên tính

cách con người Ngoài ra, Bóng chiều quê còn hấp dẫn người đọc bởi giọng văn

đậm đà chất Nam Bộ cùng cốt truyện hấp dẫn tự nhiên Chính điều đó đã làm cho

“nghệ thuật ngôn từ của Trần Bảo Định trở nên mượt mà, không trúc trắc, không nghịch nhĩ” (Trần Đình Ba, 2018)

Trang 18

Trong bài viết Gửi theo bông trái quê nhà đăng trên báo Người lao động số

8085, ngày 8/11/2018, Huỳnh Như Phương đã kể tên các loài cây trái sản vật của miền Nam với những đặc điểm về hình dáng, màu sắc cùng với những câu chuyện liên quan đến nguồn gốc, xuất xứ cũng như đời sống của những người nông dân

Nam Bộ xuất hiện trong tập Bông trái quê nhà Trong bài viết, Huỳnh Như

Phương đã đánh giá cao về vấn đề thời sự cũng như giá trị cảnh tỉnh sinh thái môi trường ở Việt Nam được Trần Bảo Định phản ánh trong tập văn xuôi này:

“Chưa bao giờ đất nước và con người Việt Nam đứng trước nguy cơ một cuộc khủng hoảng toàn diện về môi trường sinh thái như hiện nay Dân tộc kêu gọi, văn học cất lên tiếng nói và văn học đang thăm dò con đường thể hiện nghệ thuật của tư tưởng sinh thái luận” (Huỳnh Như Phương, 2018)

Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra đóng góp mới của Trần Bảo Định là “sự kết hợp bước đầu tinh thần nhân bản Phật giáo với chủ nghĩa nhân văn sinh thái Thiên nhiên nuôi dưỡng và vun đắp Phật tánh nơi con người” (Huỳnh Như Phương, 2018) và chỉ ra đặc điểm riêng trong giọng văn và thể loại đó là “giọng văn mộc mạc, chân thành, giao thoa ký và truyện, sưu khảo và du khảo” (Huỳnh Như Phương, 2018)

Còn với bài viết Tập truyện ngắn “Bóng chiều quê”: Đọc để thấm “tục hay, nếp cũ” Nam Bộ, Trần Đình Ba đã đánh giá cao về những đóng góp của Trần Bảo

Định ở phương diện giá trị văn hóa được thể hiện trong tập truyện này:

“Ở Bóng chiều quê, ta cảm nhận được, đó không chỉ là hồn cốt, nết ăn nết ở, là

những nếp cũ, tục hay làm nên riêng chất Nam Bộ, mà xen kẽ qua từng câu chuyện, tác giả đã hết sức tự nhiên lồng vào đó bao hiểu biết về lịch sử…để từ đây, những thông điệp về lối sống, cách cư xử làm nên tính cách Nam Bộ cũng được truyền tải nhẹ nhàng mà thấm sâu” (Trần Đình Ba, 2018)

Nói tóm lại, trong những bài viết trên, mỗi nhà nghiên cứu, phê bình có một cách cảm nhận riêng nhưng có một điểm chung rất dễ nhận thấy là các tác giả đều khẳng định những đóng góp của nhà văn Trần Bảo Định đối với văn học Nam Bộ nói riêng và Việt Nam hiện đại nói chung, đặc biệt là dòng văn học sinh thái Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, khi nghiên cứu về Trần Bảo Định, đa số các bài viết trên chỉ dừng lại ở những bài phê bình về các tập văn xuôi một cách riêng lẻ hay tập hợp vài ba tập chứ chưa nghiên cứu sâu với tính chất một chuyên luận Tính

Trang 19

đến thời điểm đề tài này được tiến hành thì chưa có một công trình nghiên cứu

luận văn, luận án hoàn chỉnh nào về đề tài Văn xuôi Trần Bảo Định dưới góc nhìn phê bình sinh thái ra đời Do đó, chúng tôi rất hy vọng đề tài nghiên cứu

này như là một phát hiện mới, thú vị trong việc cảm nhận những sáng tác văn xuôi của Trần Bảo Định nhằm bổ sung thêm một cái nhìn mới về văn chương sinh thái cho nền văn học Việt Nam hiện đại

4 Mục đích nghiên cứu

Đề tài ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào tìm hiểu văn xuôi Trần Bảo Định nhằm mục đích chỉ ra sự hòa kết độc đáo giữa văn chương và sinh thái trong sáng tác của Trần Bảo Định và những đóng góp của nhà văn cho mảng văn học hiện đại nói chung và mảng văn học sinh thái nói riêng Qua đó, góp thêm một cái nhìn mới về văn xuôi Trần Bảo Định cũng như khẳng định hiệu quả của một hướng nghiên cứu mới trong văn học Việt Nam hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó tập trung ở một số phương pháp cơ bản sau:

5.1 Phương pháp phê bình sinh thái

Chúng tôi sử dụng phương pháp phê bình sinh thái, dựa trên lý thuyết của phê bình sinh thái để khai thác các khía cạnh sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn trong các sáng tác của Trần Bảo Định Từ đó, chúng tôi đi đến đến những kết luận

về vấn đề sinh thái trong văn xuôi Trần Bảo Định và những đóng góp của ông cho dòng văn chương sinh thái Việt Nam

5.2 Phương pháp phê bình tiểu sử

Với phương pháp phê bình tiểu sử, chúng tôi làm rõ về con đường đến với văn chương cũng như những đóng góp của nhà văn Trần Bảo Định cho dòng văn học sinh thái nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung Đồng thời khẳng định

vị trí của nhà văn này trong nền văn học Việt Nam hiện đại

5.3 Phương pháp thi pháp học

Phương pháp nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có thể đi sâu tìm hiểu các phương diện nghệ thuật của văn Trần Bảo Định trong việc thể hiện sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn như: nghệ thuật xây dựng bối cảnh không gian, giọng điệu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật sử dụng kết cấu liên văn bản, xây

Trang 20

dựng biểu tượng

5.4 Phương pháp lịch sử - xã hội

Phương pháp này giúp luận văn nghiên cứu và khẳng định đóng góp của lý thuyết phê bình sinh thái đối với nền văn học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Đồng thời phân tích văn Trần Bảo Định trong mối quan hệ với các điều kiện lịch sử xã hội để thấy được tính thời sự, tính cấp thiết của các vấn đề xã hội được Trần Bảo Định đề cập trong tác phẩm

5.5 Phương pháp so sánh

Phương pháp này được chúng tôi dùng trong việc tìm hiểu, so sánh với các nhà văn viết về văn học sinh thái để thấy được những điểm chung cũng như sự khác biệt trong ngòi bút của Trần Bảo Định để làm bật nét riêng cũng như những đóng góp của ông

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng nhiều phương pháp, thao tác khác để phục vụ cho việc nghiên cứu được hoàn chỉnh như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, Với sự kết hợp này, người nghiên cứu có được cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu để từ đó đưa ra được những đánh giá, nhận xét, kết luận chính xác, có

cơ sở

6 Đóng góp của đề tài

Đứng trên góc nhìn chủ quan, chúng tôi nhận thấy đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về văn xuôi Trần Bảo Định dưới góc nhìn phê bình sinh thái Chính vì vậy, nếu thực hiện thành công đề tài này, luận văn sẽ góp phần chứng minh sự ảnh hưởng của lý thuyết phê bình sinh thái đối với văn xuôi Trần Bảo Định nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung

Đề tài này đã chỉ ra được một đặc điểm quan trọng của văn chương Trần Bảo Định là mang đậm dấu ấn sinh thái cũng như khẳng định được những đóng góp của Trần Bảo Định cho nền văn học sinh thái Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

Bên cạnh đó, luận văn này cũng là một tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về văn xuôi Trần Bảo Định

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và 7 Phụ lục, luận văn được triển khai thành ba chương như sau:

Trang 21

Chương 1: Khái lược về phê bình sinh thái và văn xuôi Trần Bảo Định

Ở chương này, chúng tôi đi vào giới thiệu những nét chính về lịch sử hình thành, quá trình phát triển của phê bình sinh thái, khái niệm, đặc trưng, các trường phái chính cũng như những hạn chế của phê bình sinh thái Đồng thời, chúng tôi cũng giới thiệu khái quát về nhà văn Trần Bảo Định để thấy được con đường đến với văn chương cũng như quan niệm văn chương và đặc sắc nội dung, nghệ thuật trong tác phẩm của ông

Chương 2: Sinh thái tự nhiên trong văn xuôi Trần Bảo Định

Ở chương này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dấu ấn của sinh thái tự nhiên trong văn xuôi Trần Bảo Định qua việc khai thác bức tranh thiên nhiên, thế giới sinh vật vùng đất Nam Bộ trước bối cảnh khủng hoảng môi trường sinh thái Chương 3: Sinh thái nhân văn trong văn xuôi Trần Bảo Định

Ở chương này, chúng tôi nghiên cứu dấu ấn của sinh thái nhân văn trong văn Trần Bảo Định qua các mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, con người với con người và con người và các giá trị văn hóa

Trang 22

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ NHÀ VĂN TRẦN BẢO ĐỊNH

1.1 Khái lược về phê bình sinh thái

1.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của phê bình sinh thái

Thế kỷ XVIII - XIX, thời đại của khoa học công nghệ bùng nổ, sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại (Modernism) đã làm cho con người có niềm tin rằng họ là chủng loài ưu việt vượt lên trên các loài, có khả năng thống trị được mọi thứ, kể cả tự nhiên Với tư tưởng đó, con người đã có những hành động tàn phá thế giới tự nhiên không thương tiếc Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật là sự chết dần, chết mòn của thế giới

tự nhiên Sự tàn phá tự nhiên một cách vô tội vạ đó đã tạo ra mối nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của chính con người Điều đó đã được manh nha cảnh báo trong một số tác phẩm rời rạc, nhưng chưa được chú ý Phải đến thế kỷ XX, vấn đề môi trường - sinh thái mới được lật lại và bắt đầu nghiên cứu nó một cách nghiêm túc

và bài bản Khi con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất họ mới nhận

ra một điều, đó là cần phải duy trì sự hài hòa, ổn định, cân bằng hệ sinh thái để bảo vệ cuộc sống và phê bình sinh thái xuất hiện như một phản ứng trước sự tàn phá môi trường, quá trình đô thị hóa và sự mất cân bằng sinh thái đe dọa sự tồn vong của Trái Đất Thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocritisim) xuất hiện vào cuối thập niên 70 của

thế kỉ trước, do Wiliam Rueckert sử dụng vào năm 1978 trong tiểu luận Văn học và sinh thái: một thử nghiệm trong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocritism) Mục đích của Wiliam Rueckert là ứng dụng sinh thái học

và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học

Về bản chất, phê bình sinh thái ra đời bắt nguồn từ phản ứng lại với tư tưởng truyền thống “nhân loại trung tâm luận” - coi con người là trung tâm, là “chúa tể muôn loài”, dẫn đến việc xem nhẹ, phủ nhận thiên nhiên, từ đó đề ra tư tưởng “sinh thái trung

tâm”, hướng con người đến sự hài hòa giữa tự nhiên và con người Trong bài viết Phê bình sinh thái trong bối cảnh khủng hoảng môi trường sinh thái toàn cầu in trong cuốn Phê bình sinh thái là gì?, Kate Rigby đã chỉ ra: “Phê bình sinh thái luôn tìm cách phục

hồi lại ý nghĩa đích thực của thế giới vượt ra ngoài giới hạn của trang sách Họ quan tâm đến việc định giá lại thế giới tự nhiên” (Hoàng Tố Mai (chủ biên), 2017, tr 60)

Trang 23

Quá trình phát triển của phê bình sinh thái được nhiều nhà phê bình nghiên cứu và

đã có nhiều cách phân chia quá trình phát triển của phê bình sinh thái

Lấy phê bình sinh thái ở Mỹ làm trung tâm, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành

phân kỳ cho văn học sinh thái Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc…và văn chương,

Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017) đã giới thiệu về cách phân kì phê bình sinh thái của hai nhà nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới là Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell

Nhà phê bình Cheryll Glotfelty trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học (Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) đã chia phê bình sinh thái thành 3 giai đoạn phát

triển:

“Giai đoạn thứ nhất chủ yếu nghiên cứu văn học đã tái hiện tự nhiên và môi trường như thế nào Giai đoạn này, phê bình sinh thái dựa vào lý thuyết sinh thái học bề sâu, thường đi theo cách tiếp cận sinh học trung tâm luận để xem xét tự nhiên được

mô tả như thế nào trong văn học và cả sự thiếu vắng hình ảnh tự nhiên trong một số văn bản văn học nhất định

Giai đoạn thứ hai là sự thâm nhập vào các tác phẩm văn học viết về tự nhiên bị bỏ quên, tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, sự phát triển, thành tựu và phong cách, thể tài của các tác phẩm miêu tả tự nhiên trong văn học Mỹ

Giai đoạn thứ ba, phê bình sinh thái bắt đầu xây dựng thi pháp sinh thái và xây dựng lý luận phê bình sinh thái” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 176)

Còn nhà nghiên cứu Lawrence Buell trong Tương lai của phê bình môi trường: khủng hoảng môi trường và sự và tưởng tượng của văn học (The Future of Environmental Criticcism: Environmental Crisis and Literrary Imagination, 2005) thì

lại chia phê bình sinh thái làm hai giai đoạn hay còn gọi là “hai làn sóng sinh thái”

“Làn sóng thứ nhất xuất hiện khoảng giữa thập niên 90 của thế kỉ XX Phê bình sinh thái thời kỳ này chủ yếu lấy triết học chủ nghĩa sinh thái trung tâm, nhất là sinh thái học bề sâu làm cơ sở; lấy việc nghiên cứu lối với tự nhiên làm trung tâm, mở rộng đến các tác phẩm văn học về tự nhiên trước đây không được coi trọng, khai quật vấn đề sinh thái đang ngủ yên trong những tác phẩm kinh điển, tìm hiểu hình tượng

tự nhiên hoặc hình mẫu tự nhiên trong tác phẩm, nhấn mạnh sự hài hòa giữa vạn vật

Trang 24

Làn sóng thứ hai bắt đầu vào khoảng cuối thập niên 90 cho đến đầu thế kỷ XXI Sứ mệnh “phê bình xanh” của thời kỳ này là công bằng môi trường, chủ yếu đứng trên lập trường công bằng môi trường để nghiên cứu mối quan hệ của văn học, văn hóa, văn nghệ với môi trường Lập trường công bằng môi trường ở đây chủ yếu lấy điểm nhìn về chủng tộc và sự phân biệt giới là bước đột phá Phạm vi nghiên cứu của thời

kỳ này được mở rộng, không giới hạn về thể loại văn bản, khái niệm “môi trường” cũng có nhiều thay đổi và mở rộng “Môi trường” còn chỉ nơi sinh sống, làm việc, thực hành tín ngưỡng, tinh thần của cá nhân Phê bình sinh thái từ “hoang dã” trở về môi trường nhân tạo, thậm chí về thành thị, trở về vùng giao cách giữa con người và

Tuy nhiên cả ba làn sóng này không phải phát triển trước sau một cách có thứ lớp rõ ràng, mà có lúc giao thoa, trùng điệp, song hành cho nên khó có thể phân định rạch ròi Căn cứ vào tính chất và quan điểm phê bình, vào đặc điểm giao thoa của ba làn sóng, theo Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), phê bình sinh thái thành 3 giai đoạn phát triển như sau:

Giai đoạn 1 (1972 - 1990): Giai đoạn hình thành

Các nhà phê bình sinh thái công bố các tác phẩm vào cuối những năm 1960 và 1970 nhưng phê bình sinh thái chưa trở thành một phong trào thống nhất Giai đoạn này được xem là giai đoạn tiền đề với một vài thành tựu

Giai đoạn 2 (1991 - 2007): Giai đoạn phát triển

Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của những tổ chức và thuật ngữ “Phê bình sinh

thái” được sử dụng rộng rãi Nhận ra được sự không phổ quát ở giai đoạn trước, các

nhà nghiên cứu đã bắt đầu thành lập những hội thảo, tạp chí, tổ chức về phê bình sinh

thái như: Hội thảo khoa học về “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” do

Hội ngôn ngữ học hiện đại Mỹ tổ chức năm 1991, Hội nghiên cứu văn học và môi trường (Association for the Study of Literature and Environment, viết tắt là ASLE) do

Trang 25

đại học Nevada thành lập năm 1992, Tạp chí Nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường ra đời năm 1993 tạo điều kiện thuận lợi cho việc phê bình sinh thái phát triển

mạnh

Giai đoạn 3 (2008 – nay): Giai đoạn chuyển hướng

Giai đoạn này đã đặt ra những vấn đề đạo đức sinh thái, trách nhiệm sinh thái - một biểu hiện của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Năm 2008, Scott Slovic xuất

bản cuốn Đi xa để suy nghĩ: Nhập thế, xuất thế và trách nhiệm của phê bình sinh thái

nhằm tiếp tục đề xướng ra ba vấn đề lí tưởng sinh thái, học thuật sinh thái và trách nhiệm sinh thái Bên cạnh đó, phê bình sinh thái cũng đã mở rộng phạm vi nghiên cứu

ở văn học người Mỹ gốc Phi với một số công trình của một số tác giả tiêu biểu Có thể

kể đến N Ruffin với Màu đen trên trái đất: Truyền thống văn học sinh thái của người

Mỹ gốc Phi (2010), phê bình sinh thái với góc nhìn văn hóa và hậu thực dân: Những khám phá phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học và văn hóa của Patrick D Murphy (2010) Elizabeth Deloughrey và B Handley chủ biên cuốn Sinh thái hậu thực dân: Văn học về môi trường (2011)

Phê bình sinh thái cũng phát triển mạnh ở các nước châu Á Công trình Sự mơ hồ sinh thái: khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (2012) của Karen

Thronber đã tìm đến không gian Đông Á và đưa ra quan niệm mới về mơ hồ sinh thái

Ở Nhật Bản, việc thành lập Hội nghiên cứu văn học và môi trường Nhật Bản năm

1994 là một dấu mốc quan trọng trong phê bình sinh thái của quốc gia này Tạp chí

Văn học và môi trường của ASLE - Japan với Tạp chí Bình luận phê bình sinh thái ra đời Ở Trung Quốc, từ thập niên 80, phê bình sinh thái ở Trung Quốc khá hưng thịnh Lúc này, nhiều học giả liên tục công bố công trình nghiên cứu của mình như: “Hợp tuyển văn học sinh thái Trung Quốc và nước ngoài” (Kinh Á Bình chủ biên), Lịch sử phê bình sinh thái phương Tây (Hồ Chí Hồng), Thế nào là phê bình sinh thái trong văn học (Trần Tiểu Hồng), chuyên luận Phê bình sinh thái và tư tưởng sinh thái

(Vương Nặc),

1.1.2 Khái niệm phê bình sinh thái (Ecocriticism)

Đã có rất nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái được đưa ra nhưng tựu trung lại, có thể coi 5 định nghĩa dưới đây là tiêu biểu nhất

Năm 1990, trong công trình Những giá trị của văn học (The Value (s) of Literature),

James S Hans đưa ra định nghĩa:

Trang 26

“Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa cầu Văn học không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bên ngoài Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì sẽ làm cản trở mối liên hệ rất quan trọng của văn học với các hệ thống khác, mà chính những mối liên hệ đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị của chúng ta” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 141)

Trong định nghĩa này, James S Hans mở rộng phạm vi nghiên cứu của phê bình sinh thái không chỉ trong mối quan hệ giữa con người với xã hội mà còn là mối quan

hệ giữa con người với hệ sinh thái trên Trái Đất, không tách biệt xã hội và sinh thái Tuy nhiên, định nghĩa này chưa chỉ ra được quan niệm giá trị cần biểu đạt của phê bình sinh thái gì Đồng thời, chưa nói rõ được đặc trưng bản chất của phê bình sinh thái cũng như sự khác nhau căn bản giữa phê bình sinh thái và phê bình truyền thống Năm 1994, Scott Slovic đã đưa ra định nghĩa:

“Phê bình sinh thái là chỉ hai phương diện nghiên cứu: Vừa có thể sử dụng bất kỳ một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lối viết tự nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong bất

cứ văn bản văn học nào, cho dù những văn bản ấy thoạt nhìn có vẻ như rõ ràng miêu tả thế giới phi nhân loại Điểm nóng của nghiên cứu mới này […] phản ánh nhận thức ngày càng lớn của xã hội đương đại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thương của thế giới phi nhân loại” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 142)

Định nghĩa này có diện bao phủ rất rộng, khẳng định các phương pháp đều có thể nghiên cứu lối viết tự nhiên, nó đặc biệt chú trọng đến lối viết tự nhiên và sự miêu tả thế giới phi nhân loại Tuy nhiên, định nghĩa của Scott Slovic cũng có ba khuyết điểm

mà Nguyễn Thị Tịnh Thy đã nêu khá rõ: Thứ nhất, nó trộn lẫn văn học sinh thái với lối viết tự nhiên là những tác phẩm phi hư cấu, có chủ đề liên quan đến tự nhiên Thứ hai, chưa nêu rõ ý thức về thế giới phi nhân loại là ý thức như thế nào Thứ ba, nó giới hạn đối tượng phê bình là các văn bản miêu tả thế giới phi nhân loại trong cả văn học truyền thống lẫn hiện đại Cuối cùng, vì không nêu được đặc trưng thẩm mỹ của phê bình sinh thái nên nó cũng không có những tiêu chí, đường hướng nghiên cứu nhất định Người nghiên cứu có thể đứng ở bất kỳ góc độ nào và dùng bất kỳ phương pháp nào để nghiên cứu văn học

Trang 27

Năm 1996, trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học và văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology), giáo sư Cheryll Glotfelty - nhà phê bình sinh thái đầu tiên của Mỹ đưa ra

định nghĩa: “Phê bình sinh thái (Ecocriticism) là nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 145) Cheryll Glotfelty còn bổ sung “Phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy

trái đất làm trung tâm” (earth –centered) (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 146)

Với định nghĩa này, Cheryll Glotfelty xác định tiền đề cơ bản của phê bình sinh thái là văn hóa nhân loại được gắn với thế giới vật chất và có ảnh hưởng qua lại với thế giới đó và chủ đề của phê bình sinh thái là mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hóa Đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của văn học trong việc làm sáng tỏ thực

tế về hệ sinh thái mà nó góp phần sắm vai Thông qua văn học, chúng ta thẩm định lại văn hóa của nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa và truy tìm nguồn gốc văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Định nghĩa này còn cho thấy khuynh hướng chủ yếu của Cheryll Glotfelty là chỉnh thể sinh thái với mục đích của lý luận phê bình sinh thái

là tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn có mâu thuẫn nội tại khi dung chứa cả phê bình môi trường, không rõ ràng về mặt tư tưởng của thuật ngữ khi thoát khỏi hàm nghĩa của “sinh thái”, không có đặc trưng tư tưởng của phê bình sinh thái rõ ràng

Sau định nghĩa của Cheryll Glofelty, còn có 2 định nghĩa William Howarth và Lawrence Buell William Howarth từ góc độ từ nguyên học, định nghĩa phê bình sinh thái là “phán quyết việc nhà”, tức là người phê bình sẽ tập trung “đánh giá những ưu nhược tốt xấu trong các tác phẩm miêu tả ảnh hưởng của văn hóa đến tự nhiên, chủ trương ca ngợi tự nhiên, lên án kẻ tàn phá tự nhiên và thông qua hành động chính trị

để làm giảm bớt sự thương tổn của tự nhiên” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 148) Tuy nhiên quan điểm này của William Howarth không được đánh giá cao bởi bị coi là chưa rõ ràng, thiếu sự chặt chẽ và cần phải giải thích lại

Trong khi đó, Lawrence Buell, đã định nghĩa phê bình sinh thái một cách ngắn gọn:

“Từ tinh thần thực tiễn của chủ nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 149)

Quan điểm này có ưu điểm là nhấn mạnh sứ mệnh của phê bình sinh thái nhưng cũng vấp phải những hạn chế như không giới hạn được phạm vi cho phê bình sinh

Trang 28

thái, khuynh hướng thiên lệch về chủ nghĩa môi trường mà hạ thấp chủ nghĩa nhân loại trung tâm

Mặc dù có nhiều định nghĩa được đưa ra, hầu hết các định nghĩa đều có những ưu, khuyết điểm nhất định, nhưng ít nhất đã cho thấy sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu trong việc tìm ra một định nghĩa chung nhất, khái quát nhưng cũng đầy đủ nhất cho lĩnh vực phê bình rất mới mẻ này Trong số những định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy định nghĩa của Cheryll Glotfelty được sử dụng nhiều nhất trong các công trình nghiên cứu về phê bình sinh thái vì nó ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu hơn cả

Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp những ý kiến định nghĩa về phê bình sinh thái của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu về phê bình sinh thái như sau: Phê bình sinh thái là phương pháp nghiên cứu văn học với mục đích chính là nghiên cứu mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, con người với con người và con người với các giá trị văn hóa tinh thần trong một chỉnh thể sinh thái trên cơ sở vừa đảm bảo lợi ích của con người vừa đảm bảo lợi ích sinh thái, vừa đảm bảo tính thực tiễn, vừa đảm bảo tính thẩm mỹ

1.1.3 Quan niệm về phê bình sinh thái

Nguyễn Văn Dân trong bài viết Phê bình sinh thái - một xu hướng nghiên cứu liên ngành đã chỉ ra hai cách hiểu về phê bình sinh thái trên thế giới hiện nay:

“Cách hiểu thứ nhất là theo nghĩa rộng, nó ám chỉ mọi nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học với môi trường vật lý Cách hiểu thứ hai mang tính đặc thù của thời

đại toàn cầu hóa: nghiên cứu số phận của môi trường sinh thái dưới tác động của

con người từ góc nhìn của văn học” (Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên), 2017, tr.90)

Theo cách hiểu thứ nhất, mục đích của việc đọc tác phẩm văn học là để tìm ra sự thể hiện thiên nhiên trong tác phẩm, đề cao những tác giả nào lấy thiên nhiên làm đề tài, chủ đề chính trong những tác phẩm của mình; chú trọng vào những tác phẩm tri thức

có cảnh quan thiên nhiên trong văn bản, Theo tinh thần này, mọi vấn đề liên quan đến

sự có mặt của thiên nhiên trong văn học đều là đối tượng nghiên cứu mà theo đó đề tài

về văn học cổ điển và lãng mạn có thể trở thành một đối tượng nghiên cứu phong phú của xu hướng phê bình sinh thái này Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy thì phê bình sinh thái đã xuất hiện từ lâu đời và chẳng có gì để nói về sự xuất hiện của phê bình sinh thái hiện đại Chính vì vậy mà theo Nguyễn Văn Dân, khuynh hướng nghiên cứu nói trên

Trang 29

thực ra phải được gọi là “phê bình thiên nhiên” chứ không phải là phê bình sinh thái đích thực

Nghĩa thứ hai của phê bình sinh thái gắn với thời đại toàn cầu hóa ngày nay khi những vấn đề về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang đặt ra trước mắt nhân loại những thách thức lớn Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu số phận của môi trường sinh thái dưới tác động của con người từ góc nhìn của văn học được xem là yếu tố đặc thù chi phối hướng nghiên cứu của phê bình sinh thái hiện đại Nếu như phê bình thiên nhiên nhìn con người từ thiên nhiên thì phê bình sinh thái hiện đại nhìn thiên nhiên từ con người, bày tỏ lo âu trước yếu tố tác động của con người đến thiên nhiên Vấn đề

mà phê bình sinh thái hiện đại quan tâm đó là những thảm họa môi trường, sự mất cân bằng sinh thái do phát triển phi bền vững của con người gây ra Như vậy, có thể nói, nếu như âm hưởng chủ đạo trong “phê bình thiên nhiên” cổ điển là ngợi ca thiên nhiên trong cuộc sống con người, thì âm hưởng nổi bật trong phê bình sinh thái hiện đại là nỗi lo, nỗi bất an của con người trước những biến đổi của thiên nhiên, trước sự biến đổi của môi trường sống của con người ở tầm quốc gia và quốc tế Nhiệm vụ của phê bình sinh thái là tập trung vào những vấn đề liên quan đến số phận của con người trong mối tương tác giữa nó với môi trường, chứ không đơn thuần là ngợi ca thiên nhiên như một trong những nhiệm vụ của phê bình thiên nhiên thường làm Chính vì vậy, các nhà phê bình phải nắm vững được dấu hiệu nhận diện của một tác phẩm sinh thái trong quá trình nghiên cứu

Còn trong bài viết Bàn về văn hóa sinh thái văn chương, Trần Lê Bảo đã chỉ ra 3

quan niệm về phê bình sinh thái:

“Thứ nhất, ở nhiều nước phương Tây hiện nay tập trung vào vấn đề dùng tư tưởng sinh thái để đánh giá văn học trong việc thể hiện vấn đề sinh thái; khẳng định vai trò của tự nhiên, xét lại quan điểm con người là trung tâm từ thời Khai Sáng

Thứ hai, quan niệm “lấy tư tưởng của đất làm trung tâm để phê bình văn học”, chủ yếu “nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường vật chất xung quanh” Đây là cách quan niệm của một số nhà phê bình sinh thái văn học Mỹ và Trung Quốc

Thứ ba, quan niệm vận dụng tư tưởng sinh thái để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trường, văn hóa tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, xem đời sống tinh thần xã hội là bối cảnh của sáng tạo văn học, không tập trung vào quan hệ con

Trang 30

người và tự nhiên như ở quan niệm thứ hai Đây là quan điểm của một số học giả người Mỹ như P K Bock, F Plog và Bate, Joseph W Meeker” (Nguyễn Đăng Điệp chủ biên, 2017, tr 54)

Như vậy, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng tựu trung lại, có thể nói rằng phê bình sinh thái là một phong trào phê bình văn học hiện đại trong bối cảnh xã hội hiện nay nhằm góp chung tiếng nói cùng xã hội đấu tranh để bảo vệ môi trường sinh thái trong phát triển bền vững, bảo vệ và phát triển cũng như bảo vệ tính tương lai của con người Vì vậy, phê bình sinh thái là công việc có mục đích rõ ràng chứ không phải

là sự ngẫu hứng của nhà phê bình Vì phê bình sinh thái tích hợp với các vấn đề xã hội như giới tính, chủng tộc, giai cấp, xã hội, nên nó đòi hỏi các nhà phê bình phải

có trình độ chuyên gia đa ngành, đặc biệt là trình độ về khoa học môi trường, về văn hóa học và về khoa học phát triển bền vững Việc nắm vững quan niệm về phê bình sinh thái là việc làm quan trọng giúp chúng ta có định hướng trong quá trình tìm hiểu các tác phẩm văn học dưới góc nhìn của phê bình sinh thái

1.1.4 Đặc trƣng của phê bình sinh thái

Để nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn phê bình sinh thái, điều quan trọng trước tiên là chúng ta cần nắm được đặc trưng của phê bình sinh thái để từ đó làm cơ

sở xem xét, nghiên cứu tác phẩm văn học Nói về đặc trưng của phê bình sinh thái có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà phê bình phương Tây cũng như phương Đông Trong bài viết “Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái” của Vương Nhạc Xuyên do Đỗ Văn Hiểu dịch, phê bình sinh thái có sáu đặc trưng cơ bản sau:

“Thứ nhất: Phê bình sinh thái lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học làm chủ, muốn trong tác phẩm thể hiện động hướng phức tạp của con người và thế giới tự nhiên, quan hệ tương tác giữa văn học và môi trường tự nhiên Phê bình sinh thái trong phê bình văn học tần suất sử dụng tăng lên

và phạm vi sử dụng không ngừng mở rộng, do đó phê bình sinh thái đã trở thành thuật ngữ quan trọng của lí luận văn học đi vào từ điển thuật ngữ văn luận phương Tây

Thứ 2: Phê bình văn học cũng có thể từ góc độ văn hóa sinh thái đọc lại kinh điển văn học truyền thống, từ đó tìm ra ý nghĩa văn hóa sinh thái và ý nghĩa mỹ học sinh thái từng bị che lấp, và xây dựng lại mối quan hệ thẩm mỹ thi ý giữa con người và

Trang 31

tự ngã, con người và người khác, con người và xã hội, con người và tự nhiên, con người và trái đất

Thứ 3: Phê bình sinh thái đối với vấn đề tính chủ thể của con người trong sáng tác nghệ thuật bảo giữ lập trường “chính trị chính xác” - vừa không thể có lập trường chủ nghĩa nhân loại trung tâm, vừa không thể là lập trường chủ nghĩa tự nhiên tuyệt đối, mà là chú trọng quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, chủ trương nhân loại chuyển biến từ “ý thức tự ngã” sang “ý thức sinh thái” Con người và trái đất có quan hệ hòa hợp sinh mệnh cùng tồn vong, nhân loại không thể là chú tể của muôn loài nữa, mà là một thành viên trong muôn loài trên trái đất, cùng sinh tử với các thành viên khác trong thế giới tự nhiên

Thứ 4: Phê bình sinh thái liên kết nghiên cứu văn học và khoa học sinh mệnh, từ hai lĩnh vực nghiên cứu văn học và tự nhiên, chú trọng từ góc độ phát triển xã hội loài người và biến đổi môi trường sinh thái thâm nhập vào tầng diện văn học, từ đó làm cho phê bình sinh thái có đặc tính liên ngành văn học Phê bình sinh thái là phản tư văn học sau khi nhân loại đối diện với tai họa sinh thái, là các nhà văn học nghệ thuật sự định vị lại vị trí của con người trên trái đất, là sự tính toán lại những cực đoan mang tính hiện đại phương tây của các nhà tư tưởng

Thứ 5: Phê bình sinh thái khi tiến hành quan chiếu đối với hiện tượng văn hóa sinh thái, đã kế thừa hình thái ý thức cách mạng xanh, nhấn mạnh không thể xa rời tinh thần văn học và diễn ngôn văn học, cần phải cố hết sức có thể tại tầng diện hình thức văn bản văn học và thủ pháp nghệ thuật triển khai tự sự diễn ngôn, thông qua thủ pháp cái đẹp hình thức của sáng tác mang “tính văn học” để thể hiện ra tinh thần văn hóa sinh thái

Thứ 6: Nội dung của phê bình sinh thái yêu cầu trong tầm nhìn song trùng của bản chất sinh mệnh và địa cầu, khảo sát trạng thái tồn tại quá khứ và tương lai của con người Góc nhìn này liên kết nghiên cứu văn học đã rơi vào chủ nghĩa hình thức và vấn đề sinh tồn với đầy những nguy cơ của trái đất Văn học từ đó có thể từ bỏ trò chơi văn tự của chủ nghĩa hình thức, xốc lại tinh thần từ trong đủ các loại diễn ngôn phê bình hóa giải ngôn ngữ” (Đỗ Văn Hiểu, 2015)

Còn Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Thời đại khủng hoảng môi trường và vai trò

vị thế của phê bình sinh thái in trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Phê bình sinh thái –

Trang 32

Tiếng nói bản địa - tiếng nói toàn cầu” lại cho rằng phê bình sinh thái có 4 đặc trưng

cơ bản:

“Trước hết, sự xuất hiện của phê bình sinh thái có ý nghĩa như một đối thoại văn hóa, khi nó đề xuất tư tưởng lấy sinh thái làm trung tâm thay thế tư tưởng coi con người là trung tâm Các nhà phê bình sinh thái đã nổ lực rà soát xét lại các nguồn khác nhau để chống lại sự phân chia có tính nhị nguyên văn hóa/ tự nhiên và con người/ thiên thiên để đưa chúng vào một mối quan hệ gắn bó chặt chẽ mang tính chỉnh thể con người - xã hội - tự nhiên Như vậy, phê bình sinh thái đã góp phần xây dựng và thiết lập tư tưởng triết học mới trên cơ sở mới về môi trường và kêu gọi sự hài hòa giữa con người và tự nhiên Đây cũng là nhân tố sâu xa để xác lập đạo đức sinh thái nằm sâu trong diễn ngôn sinh thái

Thứ hai, các nhà phê bình sinh thái không đối lập mà luôn tìm kiếm mối quan hệ giữa “văn hóa” và “tự nhiên”; “văn minh” và “hoang dã” Họ nhận thấy một thực tế hiển nhiên rằng, xã hội ngày càng phát triển và quá trình đô thị hóa ngày càng diễn

ra với tốc độ cao thì sự tàn phá của con người đối với tự nhiên ngày càng khủng khiếp

Thứ ba, vì nằm ở vị trí giáp ranh/ giao thoa giữa khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội và nhân văn nên về bản chất, phê bình sinh thái là hướng tiếp cận liên ngành

Thứ tư, phê bình sinh thái luôn phải đối mặt với những mối tương tác giữa con

người và tự nhiên trong những môi trường khác nhau nên bản thân nó rất khó tạo ra

sự chặt chẽ về hệ thống khái niệm như các lý thuyết phê bình văn học đã thấy trước đây Karen Thornber gọi những mâu thuẫn, sự phức tạp, tính nước đôi trên đây là

“sự mơ hồ sinh thái” (ecoambiguity) Nhưng cũng chính vì thế mà nó cho phép phê bình sinh thái mở rộng phạm vi nghiên cứu, rọi cái nhìn xa hơn để tìm hiểu cả mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong văn học cổ xưa không chỉ khoanh vùng trong văn học lãng mạn trở về sau” (Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên), 2017, tr 41-43)

Còn Nguyễn Thị Tịnh Thy trong Rừng khô, suối cạn, biển độc…và văn chương lại

cho rằng phê bình sinh thái có 6 đặc trưng:

“Thứ nhất, phê bình sinh thái chú ý định hướng đạo đức sinh thái Phê bình sinh

thái không chỉ đưa người đọc tiếp cận với tự nhiên mà còn kêu gọi họ có ý thức về tính môi trường (environmentality), qua văn học thể hiện thái độ của nhà phê bình

về văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên

Trang 33

Thứ hai, phê bình sinh thái đọc lại văn học kinh điển truyền thống từ góc nhìn sinh thái Việc đọc lại những tác phẩm này nhằm mục đích tìm ra ý nghĩa văn hóa sinh

thái và ý nghĩa mỹ học sinh thái từng bị chìm khuất, từ đó xây dựng lại các quan hệ thẩm mỹ đẹp trong bản thân mỗi con người, giữa con người với con người, con

người với xã hội, con người với tự nhiên, con người với Trái Đất

Thứ ba, phê bình sinh thái giữ vững lập trường chủ nghĩa sinh thái trung tâm

Phê bình sinh thái tuyệt đối không nghiêng về lập trường chủ nghĩa nhân loại trung tâm hay chủ nghĩa tự nhiên trung tâm mà chú trọng đến sự hài hòa giữa con người

và tự nhiên, xây dựng mối quan hệ thống nhất sinh mạng, đồng sinh đồng tử Phê bình sinh thái chủ trương thay đổi từ “ý thức về cái tôi” sang “ý thức về tự nhiên” Con người không thể là kẻ thống trị tự nhiên, mà là một thành viên như muôn vàn thành viên khác trong đại tự nhiên này

Thứ tư, phê bình sinh thái có tính liên ngành

Phê bình sinh thái kết nối nghiên cứu văn học với khoa học sinh mệnh, tăng cường

sự nghiên cứu đối với văn học và tự nhiên từ hai lĩnh vực này, chú trọng thâm nhập vào các từ nghĩa của tác phẩm văn học từ góc độ sự phát triển của xã hội loài người

và sự thay đổi của môi trường sinh thái Là một loại phê bình văn hóa, tầm nhìn lý luận rộng lớn của phê bình sinh thái yêu cầu nó phải tích hợp lý luận văn học với tri thức khoa học của nhiều ngành bao gồm cả tự nhiên và xã hội nhân văn

Thứ năm, phê bình sinh thái thể hiện tinh thần văn hóa sinh thái thông qua “tính văn học”

Đây là điểm đáng lưu ý để phê bình sinh thái không xa rời bản chất mỹ học của bộ môn nghệ thuật ngôn từ Tất cả mọi thông điệp của văn học đều được thể hiện thông qua thế giới hiện tượng Và thế giới đó được kiến tạo như thế nào, bởi những thủ pháp nghệ thuật nào, sách lược tự sự nào, phong cách sáng tác nào để làm bật lên thông điệp đều phải được nhà phê bình đào xới kỹ càng Có như thế, văn học sinh thái mới có thể lay động người đọc, khơi gợi ở họ tình yêu tự nhiên, ý thức trách nhiệm đối với thế giới tự nhiên Vì vậy, phê bình sinh thái cần cân bằng giữa giá trị sinh thái và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Thứ sáu, hàm nghĩa của thuật ngữ rất phức tạp” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, 165)

Trang 34

158-Điểm qua một số quan niệm khác nhau về đặc trưng của phê bình sinh thái của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, mỗi nhà nghiên cứu có một quan điểm riêng, có một cách nhìn nhận riêng trong việc đưa ra đặc trưng của phê bình sinh thái Tựu trung lại, chúng tôi nhận thấy phê bình sinh thái có một số đặc trưng cơ bản như sau: Phê bình sinh thái lấy sinh thái làm trung tâm thay thế tư tưởng coi con người là trung tâm Nó chú trọng mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, chú ý định hướng đạo đức sinh thái Phê bình sinh thái chủ trương chuyển biến từ “ý thức tự ngã” sang “ý thức sinh thái” và có tính liên ngành

1.1.5 Các khuynh hướng chính của phê bình sinh thái

Vì phê bình sinh thái được xem là “đứa em út” của văn học hậu hiện đại nên cho đến nay, nó vẫn chưa được định hình cụ thể Việc xác định khuynh hướng cụ thể của phê bình sinh thái là một điều hết sức khó khăn và vẫn còn để ngỏ, bởi hiện tại người

ta có thể tin tưởng rằng tương lai phê bình sinh thái sẽ còn mở rộng ra thêm nhiều chiều kích khác Trong phạm vi bài nghiên cứu, chúng tôi xin tạm chia phê bình sinh thái thành hai khuynh hướng chính là phê bình sinh thái tự nhiên và phê bình sinh thái nhân văn

1.1.5.1 Phê bình sinh thái tự nhiên

Phê bình sinh thái tự nhiên là một khuynh hướng chính của phê bình sinh thái Để

hiểu được về nguồn gốc, đặc điểm của phê bình sinh thái tự nhiên trước hết ta cần tìm hiểu về sinh thái tự nhiên

Trong bài viết Bàn về văn hóa sinh thái văn chương, Trần Lê Bảo đã định nghĩa về

sinh thái tự nhiên như sau:

“Sinh thái tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất với tất cả sự đa dạng muôn vẻ, luôn vận động và biến đổi và tồn tại khách quan đối với con người, hay còn được gọi là thế giới khách quan - giới tự nhiên Đó là môi trường trái đất, hay môi trường toàn cầu” (Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên), 2017, tr 59)

Nhiệm vụ của sinh thái tự nhiên là phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, nhìn lại trách nhiệm và cách ứng xử mà con người đối với cho tự nhiên Sinh thái tự nhiên nhấn mạnh sự bình đẳng giữa con người với thế giới tự nhiên, xóa nhòa vai trò chủ thể của con người đồng thời hướng tới sự dung hợp hài hòa giữa con người

và tự nhiên, đồng thời khơi gợi ý thức sinh thái, trách nhiệm và vai trò của con người đối với thế giới tự nhiên

Trang 35

Một tác phẩm nhìn theo phê bình sinh thái tự nhiên không chỉ miêu tả tự nhiên, mà quan trọng hơn là phải có đầy đủ tư tưởng sinh thái và góc nhìn sinh thái Văn học sinh thái đặc biệt chú trọng đến trách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọi con người bảo vệ vạn vật và duy trì cân bằng sinh thái Văn học sinh thái đưa trách nhiệm của nhân loại đối với tự nhiên thành đạo đức sinh thái Theo Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), một tác phẩm được xem là văn học sinh thái cần có những đặc trưng sau:

“Phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm và sự cực đoan hóa chủ nghĩa sinh thái trung tâm; Lấy chủ nghĩa chuyển thể sinh thái làm lợi ích cao nhất, kêu gọi tinh thần

“chủ nghĩa nhân văn sinh thái” (ecological humanism); Nhấn mạnh “nơi chốn” (place) và “ý thức nơi chốn” (sense of place); Kết hợp “tính khoa học” và “tính văn học”; Có trách nhiệm sinh thái, phê phán mặt trái của văn minh, thể hiện lý tưởng sinh thái và cảnh báo nguy cơ sinh thái” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr 93 - 96) Tuy nhiên, lấy lợi ích sinh thái làm giá trị cao nhất không có nghĩa là văn học sinh thái coi thường nhân loại hoặc phản nhân loại, bởi vì lợi ích của sinh thái suy cho cùng chính là lợi ích căn bản và bền vững của nhân loại Đảm bảo sự cân bằng đối với tự nhiên cũng chính là đảm bảo cân bằng xã hội Đồng thời, trong văn học sinh thái, những vấn đề về môi trường còn được tích hợp với những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu như giới tính, chủng tộc và giai cấp Đó chính là những cơ sở để hình thành khuynh hướng phê bình sinh thái nhân văn

1.1.5.2 Phê bình sinh thái nhân văn

Theo Lê Trọng Cúc, “Sinh thái nhân văn học được ra đời từ những nghiên cứu đô thị của các nhà xã hội học thuộc Đại học Tổng hợp Chicago và thuật ngữ này được hiện diện lần đầu trong một ấn phẩm của Robert E Park và Ernest W Burgess năm 1921” (Lê Trọng Cúc (chủ biên, 2017, tr 24)

“Sinh thái nhân văn (Human Ecology) là khoa học dựa trên nguyên tắc quan hệ có

hệ thống giữa xã hội loài người (hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái) làm thành hệ thống sinh thái nhân văn Mục đích nghiên cứu sinh thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ xã hội và hệ sinh thái” (Nguyễn Thanh Hóa, 2015)

Trang 36

Giá trị của sinh thái nhân văn là giúp cho con người thấy được mối quan hệ cũng như tầm quan trọng giữa con người với môi trường mà từ trước đến nay con người chưa có một sự nhìn nhận đúng đắn Đồng thời nó cũng giúp con người thấy được vị trí của mình trong thế giới tự nhiên và suy nghĩ về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với môi trường tự nhiên mà mình sống, gắn bó Các nghiên cứu của sinh thái nhân văn cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn

đề như giảm nhẹ, phòng chống và thích ứng với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường; quản lý tài nguyên thiên nhiên, đô thị hóa, dân số, văn hóa,…

Theo Lê Nguyên Cẩn (2018), phê bình sinh thái nhân văn là một thuật ngữ chiết trung, thể hiện tính đa ngành, đa chiều, đa lĩnh vực Nó chịu ảnh hưởng của triết học

Na Uy qua tác phẩm Sinh thái học chiều sâu (Deep Ecology) của Arne Naess Phê bình sinh thái nhân văn trở thành một hình thức khoa học có tổ chức của Hiệp hội nghiên cứu văn chương và môi trường ASLE (Association for Study of Literature and Environment) từ năm 1990 Tác phẩm được viết theo phê bình sinh thái nhân văn đầu

tiên là Hài kịch của sự sinh tồn của Jossepph Meekers

Phê bình sinh thái nhân văn quan tâm tới việc tạo ra nhận thức về quan hệ tương hỗ

và lệ thuộc giữa con người và môi trường, nhấn mạnh quan hệ giữa cái nhân tính và phi nhân tính trong cuộc sống đời thường, quan hệ giữa con người với con người, quan

hệ giữa con người với hoàn cảnh mà nó bị đặt vào Không chỉ vậy, phê bình sinh thái nhân văn còn chỉ ra mặt tích cực và mặt tiêu cực của khoa học tự nhiên Từ góc độ sinh thái nhân văn, con người đã phát huy vốn văn hóa và đi từ chỗ là con người tự nhiên biến thành con người xã hội, biết vượt lên hoàn cảnh, biến hoàn cảnh bất lợi thành hoàn cảnh có lợi, biến cái không thể thành cái có thể Không chỉ vậy, con người còn được nghiên cứu trong mối quan hệ giữa con người với các giá trị văn hóa do chính con người tạo ra và thái độ ứng xử của con người với các giá trị văn hóa được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá giá trị của con người

1.1.6 Hạn chế của phê bình sinh thái

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, phê bình sinh thái cũng không tránh khỏi những hạn chế về lý luận, phương pháp và thực tiễn nghiên cứu Chúng tôi đồng ý với Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017) khi chỉ ra nhưng hạn chế của phê bình sinh thái về mặt lý luận, về mặt phương pháp và về mặt thực tiễn nghiên cứu:

Trang 37

Về mặt lý luận: Phê bình sinh thái bị cho là yếu về tính lý luận hoặc né tránh lý luận,

vì cơ sở triết học của phê bình sinh thái là lấy chủ nghĩa sinh thái trung tâm làm điểm tựa lý luận, nhưng nhìn từ góc độ lý luận, gốc rễ của phê bình sinh thái tương đối yếu

ớt vì một số quan điểm về tự nhiên khi phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm còn rơi vào phiến diện Ngoài ra, còn nhiều điểm chưa thống nhất về lý luận đang gây ra sự chia đàn rẽ nghé giới phê bình

Về mặt phương pháp: Phê bình sinh thái bị đánh giá là một phương pháp phê bình dễ dãi vì đối tượng phê bình của phê bình sinh thái rất rộng trong khi phê bình sinh thái vẫn chưa tìm ra phương pháp hữu hiệu thành thục để dẫn đường cho thực tiễn phê bình, nhiều học giả mở rộng biên giới phê bình sang các ngành nghệ thuật khác khiến phê bình sinh thái lâm vào cảnh ngộ chiếm bề rộng trong khi đang thiếu bề sâu

Về thực tiễn nghiên cứu: Nhiều công trình nghiên cứu vẫn chỉ là những thực nghiệm mang tính thử nghiệm vì vậy nên có những kiến giải chưa thấu đáo và những giải thích không thích hợp, chưa làm rõ được đặc tính của phê bình sinh thái khiến cho diện mạo của phê bình sinh thái trở nên mơ hồ, bị cho là “bình mới rượu cũ”, bị chỉ trích, giễu cợt Bên cạnh đó, nhiều công trình chú ý đến tư tưởng sáng tác, đến tính phản tư mà bỏ qua giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học dẫn đến sự rập khuôn, trùng lặp trong phê bình

1.2 Khái lược về nhà văn Trần Bảo Định

1.2.1 Trần Bảo Định - con người sống khép kín, coi văn chương là một “cuộc

chơi”, một “liệu pháp” chữa bệnh

Trần Bảo Định sinh năm 1944 tại An Vĩnh Ngãi, Tân An, Long An, là cựu sinh viên Đại học Văn khoa Đà Lạt Ông có biệt danh “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện” và đây cũng là bút danh Trần Bảo Định dùng đặt tên cho hai tập văn xuôi của mình là

Dấu chưn lưu dân và Góc khuất dưới chưn đèn Ở Trần Bảo Định không có sự cao

sang, đạo mạo của một con người nhiều chữ mà là vẻ mộc mạc, chân chất của một người nông dân Nam Bộ Khi được hỏi: “Tại sao bác không chịu nhận mình là nhà văn Nam Bộ mà lại nhận mình là “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện”?”, Trần Bảo Định đã chia sẻ:

“Bác không dám nhận mình là nhà văn Nam Bộ đâu vì bác thấy mình chẳng phải nhà văn gì, bác chỉ viết chơi thôi Còn biệt danh “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện” là

do bạn bác ở dưới quê nói: “Ông nhiều chuyện quá!” Thêm vào đó bác cũng 74

Trang 38

tuổi nên tụi nó gọi là ông già, mà ông bà ta thời trước gọi là cụ, 74 tuổi - “Thất thập

cổ lai hi” rồi, vả lại bác lại ở miền Nam Vì vậy, có chăng bác chỉ là “Ông già Nam

bộ nhiều chuyện!” thôi Mà bác thấy là mình nhiều chuyện thiệt!” (Phụ lục 1) Khi cầm bút, Trần Bảo Định không chịu ảnh hưởng của trường phái nào mà chủ yếu chịu ảnh hưởng từ sách Trần Bảo Định đọc sách rất nhiều bởi vì có một thời gian ông làm phụ việc cho thư viện Đại học Văn khoa Đà Lạt Ngoài giờ học, ông lọc từng đầu sách, phân loại phụ giúp văn thư và tranh thủ đọc sách những lúc có thể Những kiến thức Trần Bảo Định học được từ sách có ảnh hưởng rất lớn đến ngòi bút của ông Nó không còn ở dạng “thô” mà chuyển hóa thành “tinh bột” nên khi cầm bút viết nó nằm bàng bạc ở trong những điều ông viết Con đường đến với văn chương của Trần Bảo Định thật đơn giản, chỉ là một cuộc chơi - cuộc chơi với ngòi bút, cuộc chơi với những con chữ Vì coi văn chương là “một cuộc chơi” nên Trần Bảo Định cứ viết lặng lẽ, cứ thảnh thơi mà viết Ông viết không phải nắn nót để trở thành nhà văn mà viết để tự mình để thưởng ngoạn, viết để cho bạn bè, bà con thưởng ngoạn Vì vậy, ông nói nếu

có gọi là nhà văn thì ông cũng chỉ cũng là một nhà văn tài tử, khi thấy không đủ độ hứng nữa thì nghỉ Bên cạnh đó, Trần Bảo Định còn coi văn chương như là một “liệu pháp” chữa bệnh: “Số là, khi mắc trọng bịnh, bác viết như “liệu pháp” để quên những cơn đau” (Phụ lục 1) Với Trần Bảo Định, mỗi tác phẩm ông viết ra không phải là tài sản của riêng mình mà là của cả một tập thể bởi trước khi trở thành tác phẩm đăng báo

nó đã được bà con, bạn bè ở quê đọc và cho ý kiến bởi vì Trần Bảo Định viết về con

cá, con ong mà, nói chung là về côn trùng, về các loài động, thực vật Những người ở quê họ sống cả đời ở quê nên họ biết đặc tính của nó như thế nào, mùa nào sinh sản, mùa nào hạnh phúc, mùa nào đau khổ vì mỗi loài có đặc điểm riêng, có tâm tình riêng Với nghiệp cầm bút của Trần Bảo Định, vợ ông - bà Lê Kim Phượng, người phụ nữ suốt đời hi sinh vì chồng con là người có ảnh hưởng rất lớn và được ông nói đến với tình cảm yêu thương chân thành và xen lẫn vào đó là sự biết ơn Ngoài ra, một người bạn chơi thân với Trần Bảo Định và Lê Kim Phượng từ nhỏ cũng có ảnh hưởng lớn trong nghiệp cầm bút của ông là bà Cao Thị Hoàng Đó là lí do Trần Bảo Định lấy hai bút danh Lê Kim Phượng và Cao Thị Hoàng và dùng hai bút danh này khi gửi đăng

các tác phẩm trên Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Tạp chí Nông thôn,…

1.2.2 Trần Bảo Định - “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện” với “bút lực” dồi dào

Trang 39

Trần Bảo Định bước vào làng thơ văn Việt Nam như bước vào “một cuộc chơi” Mặc dù là “người đến sân chơi muộn” lại cầm bút ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng với vốn kiến thức phong phú, đa dạng ở nhiều lĩnh vực cùng với cái nhìn sắc sảo của một con người gắn bó với thời cuộc, Trần Bảo Định viết rất sung sức Ông được coi là một “hiện tượng lạ” khi chỉ trong một thời gian ngắn đã liên tục cho xuất bản một số lượng tác phẩm lớn Từ năm 2012 và đến nay (6/2019), ông đã cho ra đời 17 “đứa con

tinh thần” bao gồm cả thơ và văn xuôi 6 tập thơ của Trần Bảo Định bao gồm Ngao du sơn thủy (2012), Thầy tôi (2013), Mẹ - Tiếng lòng (2013), Sáu Tám (in chung Hoàng Yên Dy, 2013), Vợ tôi (2014), Làng tôi (2015) Thực ra, Trần Bảo Định làm thơ làm từ

thời trung học Đệ lục, Đệ ngũ tuy nhiên ông không đặt nặng vấn đề làm thơ Với ông, thơ chỉ là văn xuôi, nhật ký có vần ghi lại những cảm xúc của mình mà thôi Trong thơ, Trần Bảo Định chủ yếu để nói về thú ngao du sơn thủy, về làng quê của mình, về những người thân yêu đã từng gắn bó với cuộc đời ông Đó là người mẹ, người thầy đáng kính, là người vợ hiền, là người bạn hiền thân yêu của ông Chính vì vậy, nhan đề của các tập thơ của Trần Bảo Định cũng thật đơn giản, gắn bó với các nhân vật mà ông hướng tới

Đặc biệt từ năm 2014 đến 2019, trong vòng chưa đầy 5 năm nhưng Trần Bảo Định

đã thể hiện “bút lực” dồi dào của mình qua việc đã cho trình làng 11 tập văn xuôi

Sau Kiếp ba khía (2014), Đời bọ hung (2015), Phận lìm kìm (2016) được xuất bản bởi

Nxb Văn hóa - Văn nghệ TP HCM, trong năm 2017, Trần Bảo Định cho ra đời liền 3

tập: Chim phương Nam, do Nxb Văn hóa - Văn nghệ TP HCM tiếp tục làm “bà đỡ”, Ông già Nam Bộ nhiều chuyện (hai tập: Góc khuất dưới chưn đèn và Dấu chưn lưu dân ) được xuất bản bởi Nxb Hội Nhà văn Đến năm 2018, ông lại tiếp tục cho ra đời

3 tập văn xuôi, đó là Khói un chiều do Nxb Đà Nẵng ấn hành, Bóng chiều quê và Bông trái quê nhà do Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành Đầu năm 2019, Chơi thôi mà! lại vừa được ra mắt độc giả đang còn thơm mùi mực càng khẳng định bút lực dồi dào, sung sức của “Ông già Nam Bộ nhiều chuyện” Trong số đó, truyện ngắn Bông cà

na quê nhà (in trong tập Bông trái quê nhà, Nxb Tổng hợp TP HCM, 2018) được Tạp

chí Sông Hương, số 350/ tháng 4 2018 chuyên đề về sinh thái bình chọn “Truyện ngắn hay trong năm 2018” của Tạp chí Với một người khỏe mạnh, bình thường làm được như vậy đã là một việc khó, còn với Trần Bảo Định, tất cả những “đứa con tinh thần” đó đều được viết trong những cơn đau vật vã do căn bệnh ung thư lại càng khó

Trang 40

hơn nhưng Trần Bảo Định đã thực hiện một cách xuất sắc Những trang văn đã trở thành những “liều thuốc tinh thần” với công dụng thật tuyệt vời đưa ông vượt qua những cơn đau

1.2.3 Trần Bảo Định - nhà văn “kêu tiếng kêu cấp cứu sinh thái trên quê hương”

Trần Bảo Định cầm bút viết văn không đơn thuần là một “liệu pháp” chữa bệnh như ông nói mà còn xuất phát từ một mục đích lớn lao hơn Đó là “ông kêu tiếng kêu cấp cứu sinh thái trên quê hương” Là một người yêu và gắn bó với quê hương, Trần Bảo Định viết bằng vốn sống, bằng sự trải nghiệm cộng với tâm hồn của một người ở quê - nơi ông sinh ra và trở về “sinh ký tử quy” như ông lời ông tâm sự

Bước vào thế giới văn xuôi của Trần Bảo Định, người đọc được đến với vùng đất Nam Bộ, bước vào thế giới của những cảnh sắc thiên nhiên mang nét đặc trưng của vùng đồng bằng sông nước và cuộc sống của những người dân mộc mạc, hiền lành, chân chất Các địa danh xuất hiện trong tác phẩm của Trần Bảo Định là những nơi ông

đã từng đi qua, từng sống và đã thâm nhập vào con người ông chứ không phải là kiểu

“cưỡi ngựa xem hoa” Những ngọn rạch, những câu chuyện kể về các loài côn trùng, loài chim, loài cá, loài hoa, cây trái,…được kể bằng sự am hiểu sâu sắc Từng loại cá

ăn theo giờ, buổi sáng sớm cá nào, buổi chiều cá nào, cá nào lội lưng chừng nước, cá nào lội sát đáy, ăn sát đáy, cá nào ăn hỗn trên mặt nước, cá nào lội lững lờ lên mặt nước mà con khác không ăn nó được,…đều được ông làm rõ bằng vốn kiến thức phong phú của mình Những trang văn của ông còn được mở ra với những cánh đồng

cò bay thẳng cánh và dòng sông Cửu Long trĩu nặng phù sa đã được đề cập đến trong thơ, ca, nhạc, họa từ bao đời nay Như một người “hướng dẫn viên du lịch” thực thụ, Trần Bảo Định đã đưa người đọc đến với mọi nơi của vùng đồng bằng Nam Bộ để khám phá về cảnh sắc tự nhiên, về đời sống của muôn loài, về nếp sống, phong tục tập quán,…của người dân nơi đây Khi nhận xét về văn xuôi Trần Bảo Định, trong bài viết

Gửi theo bông trái quê nhà, Huỳnh Như Phương đã viết:

“Văn xuôi Trần Bảo Định khoáng đạt những cánh đồng và dòng sông đậm vị phù

sa, thơm ngát những bông trắng trái vàng rực nắng một khoảng trời châu thổ Giọng văn mộc mạc, chân thành, giao thoa ký và truyện, sưu khảo và du khảo” (Huỳnh Như Phương, 2018)

Đặc biệt, qua những trang văn của mình, Trần Bảo Định đã đề cập đến một vấn đề thời sự mang tính toàn cầu đó là vấn đề môi trường sinh thái đang bị hủy diệt với tốc

Ngày đăng: 26/07/2022, 01:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Bình Nguyên Lộc. (2001). Tuyển tập Bình Nguyên Lộc. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Bình Nguyên Lộc
Năm: 2001
10. Bùi Thanh Truyền (chủ biên). (2018). Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ. TP. Hồ Chí Minh: Văn hóa - Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ
Tác giả: Bùi Thanh Truyền (chủ biên)
Năm: 2018
11. Chu Xuân Diên. (1999). Cơ sở văn hoá Việt Nam. TP. Hồ Chí Minh: Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1999
12. Đỗ Đức Hiểu. (2000). Thi pháp hiện đại. Hà Nội: Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 2000
13. G. N. Pospelov. (1985). Dẫn luận nghiên cứu văn học tập II. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học tập II
Tác giả: G. N. Pospelov
Năm: 1985
14. Hà Minh Đức. (2014). Lí luận văn học. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2014
15. Hoàng Phê (chủ biên). (2010). Từ điển Tiếng Việt. Hà Nội: Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Năm: 2010
16. Hoàng Thị Châu. (2009). Phương ngữ học Tiếng Việt. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 2009
17. Hoàng Tố Mai (chủ biên). (2017). Phê bình sinh thái là gì?. Hà Nội: Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái là gì
Tác giả: Hoàng Tố Mai (chủ biên)
Năm: 2017
18. Hồ Chí Minh. (1995). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 1995
19. Huỳnh Như Phương. (2014). Lý luận văn học (nhập môn). Hồ Chí Minh: Đại học Quốc gia TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học (nhập môn)
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Năm: 2014
20. Huỳnh Như Phương. (2017). Tác phẩm và thể loại văn học. TP. Hồ Chí Minh: Đại học Quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và thể loại văn học
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Năm: 2017
21. La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như Phương (đồng chủ biên). (2015). Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại
Tác giả: La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như Phương (đồng chủ biên)
Năm: 2015
22. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên). (2009). Từ điển thuật ngữ văn học. TP. Hồ Chí Minh: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Năm: 2009
23. Lê Huy Bắc. (2013). Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam. Hà Nội: Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2013
24. Lê Nguyên Cẩn. (2014). Tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2014
25. Lê Nguyên Cẩn (2018). Diện mạo phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX. Hà Nội: Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2018
26. Lê Trọng Cúc (Biên tập). (2017). Kỷ yếu của Hội thảo khoa học Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững - một số vấn đề từ lý luận đến thực tiễn. Hà Nội: Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững - một số vấn đề từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Lê Trọng Cúc (Biên tập)
Năm: 2017
27. Lê Thanh Vân. (2015). Con người và môi trường. Hà Nội: Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và môi trường
Tác giả: Lê Thanh Vân
Năm: 2015
28. Lộc Phương Thuỷ. (2007). Lý luận - Phê bình văn học thế giới thế kỷ XX. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận - Phê bình văn học thế giới thế kỷ XX
Tác giả: Lộc Phương Thuỷ
Năm: 2007

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w