Quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng là nền tảng trong vấn đề bảo vệ chủ quyền của mỗi quốc gia. Chính bản thân mỗi quốc gia và người dân của họ phải xây dựng các hệ thống quản lý tài nguyên nhằm đảm bảo nguồn của cải này phục vụ cho lợi ích phát triển và ổn định của chính xã hội.
Trang 1NỘI DUNG
Mở đầu
Tài nguyên thiên nhiên vốn là “của trời cho”, có những quốc gia may mắn có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn, cung cấp nguồn nguyên liệu cho đất nước phát triển các ngành nghề liên quan.Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng có được nguồn tài nguyên phong phú Mặt khác, Tài nguyên thiên nhiên là dạng hàng hóa đặc biệt, nếu được quảm lý tốt tài nguyên sẽ sản sinh lợi tức, còn không sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của mỗi quốc gia Do đó để tài nguyên được khai thác, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả thì quản lý tài nguyên là một trong những nội dung cần thiết trong hoạt động quản lý nhà nước
Nhận thấy tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên cũng như hoạt động quản
lý nhà nước về tài nguyên ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay, dựa vào những kiến thức đã học trong học phần “Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường” Nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu, thuyết trình chủ đề “Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên, các giải pháp về nâng cao quản lý nhà nước về tài nguyên và liên
hệ thực tiễn Việt Nam”
1. Khái quát chung về tài nguyên
1.1. Khái niệm tài nguyên
Theo nghĩa rộng, tài nguyên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên có giá trị, là nguồn vật chất để con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và phát triển của mình Theo nghĩa hẹp, tài nguyên là nguồn vật chất tự nhiên mà con người có thể làm nguyên, nhiên liệu cho các hoạt động chế tác của mình
Có nhiều cách phân loại tài nguyên nhưng thông thường được phân loại thành tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo
+ Tài nguyên tái tạo bao gồm các loại động, thực vật, đất, nước, sự đa dạng sinh học…hay còn gọi là tài nguyên phục hồi được, là loại tài nguyên mà trữ lượng
mà trữ lượng của nó có thể thay đổi
Trang 2+ Tài nguyên không tái tạo như khoáng sản , nhiên liệu , có trữ lượng nhất định, có thể bị cạn kiệt
1.2. Vai trò của TNTN
Đời sống của mọi sinh vật nói chung và của con người nói riêng luôn gắn liền với thiên nhiên Mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên là một điều hiển hiện có thể thấy được ngay trong đời sống thường ngày Con người được sinh ra từ thiên nhiên, thiên nhiên quyết định cuộc sống của con người và con người quyết định số phận của thiên nhiên
Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của tài nguyên Vì con người tồn tại được là cần có các tài nguyên của môi trường cung cấp; bên cạnh đó con người trong hoạt động của mình có tác động mạnh mẽ trở lại và làm thay đổi môi trường
Con người cũng nhận ở môi trường các loại tài nguyên thiên nhiên: Kim loại,
mỏ quặng các loại, than đá, khí đốt, gỗ rừng, gió, sức nước, sợi vải, cây trái … để đưa vào sản xuất chế biến phục vụ đời sống con người và phát triển xã hội
Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế, với vai trò là một yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất Trong đó tổng mức cung của nền kinh
tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất là nguồn lao động, vốn sản xuất, tai nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ
+ Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai thì sẽ không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người
Có thể nói, TNTN là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn TNTN của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nguồn TNTN cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thủy tinh, sành sứ…
Trang 3+ Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định
Đối với hầu hết nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút nhắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô
để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
Như trên chúng ta đã thấy, nguồn TNTN thường là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước Sự giàu
có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới bị rời vào trạng thái bất ổn
+ Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp và công nghiêp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp hóa như Việt Nam Tuy vậy, cần đề phòng tình trạng khai thác qua mức TNTN để xuất khẩu nguyên liệu thô
1.3. Tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch…Tài nguyên thiên nhiên ở nước ta được quan tâm trước hết là đất đai, sau đó là rừng tự nhiên và gần đây nhất là khoáng sản (bao gồm cả dầu khí) Mỗi loại tài nguyên lại có một cách chuyển lợi ích khác nhau
Tài nguyên đất: Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, diện tích đất đã sử
dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04 % quỹ đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất tự nhiên và 38, 92% diện
Trang 4tích đất đang sử dụng Hiện còn 14,217 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên
Phân loại tài nguyên đất( số liệu năm 2011)
Tài nguyên đất màu mỡ đã đưa Việt Nam thành một trong 2 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đất feralit lớn và phân bố tập trung là điều kiện cho cây công nghiệp phát triển đưa Việt Nam giữ vị trí tứ nhất thế giới về sản lượng hồ tiêu xuất khẩu
Tài nguyên rừng: Nước ta có tới ¾ diện tích đồi núi và rừng che phủ hơn 30%
diện tích Rừng Việt Nam là kho tài nguyên quý báu, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh tháu, rừng làm cho không khí trong lành, điều hòa khí hậu
Tài nguyên Khoáng sản: Nước ta nằm giữa hai vành đai tạo khoáng lớn của
thế giới là Thái Bình Dương và Địa Trung Hải Công tác thăm dò địa chất trong 40 năm qua đã phát hiện và đánh giá được trữ lượng của 5000 mỏ và điểm quặng, thuộc
60 loại khoáng sản Khoáng sản chiếm đến 40 % tỉ trọng trọng tổng giá trị tài nguyên thiên nhiên Các loại khoáng sản có quy mô lớn như: Than, boxit, thiếc, sắt, đồng, crôm, vàng, đá quý…và đặc biệt là dầu mỏ
Tài nguyên nước: Nếu xét chung trong cả nước, thì tài nguyên nước mặt của
nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc với 2.345 con sông có chiều dài trên
10 km, mật độ trung bình từ 1,5 – 2 km sông/1 km2 diện tích, tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 853 km3, trong đó tổng lượng dòng chảy phát sinh trên nước ta chỉ có 317 km3 Tỉ trọng nước bên ngoài chảy vào nước ta tương đối lớn, tới 60% so với tổng lượng nước sông toàn quốc, riêng đối với sông Cửu Long là 90% Nước ta có trữ lượng nước ngầm phong phú, khoảng 130 triệu m3/ngày, đáp ứng được 60% nhu cầu nước ngọt của đất nước
Trang 5Tài nguyên biển: Việt Nam có 3260 km bờ biển với vùng lãnh thổ rộng tới
226000 km2, diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 2 triệu ha trong đó 1 triệu
ha nước ngọt; 0,62 triệu ha nước lợ và 0,38 triệu ha nước mặn Phần lớn diện tích này
đã được đưa vào sử dụng để khai thác hoặc nuôi trồng thuỷ sản
Biển nước ta còn có 2.028 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị kinh tế cao
Tài nguyên sinh vật:
Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng sinh học, hệ thực vật có khoảng 14.000 loài thực vật bậc cao có mạch; đã xác định được khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 600 loài rong biển Trong đó có 1.200 loài thực vật đặc hữu, hơn 2.300 loài thực vật đã được sử dụng làm lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, tinh dầu, vật liệu trong xây dựng Tỷ lệ số loài thực vật dùng làm dược liệu ở nước ta lên tới 28%
Hệ động vật ở nước ta có 275 loài thú, 1.009 loài và phân loài chim, 349 loài
bò sát và lưỡng cư, 527 loài cá nước ngọt, khoảng 2.038 loài cá biển, 12.000 loài côn trùng, 1.600 loài động vật giáp xác, 350 loài động vật da gai, 700 loài giun nhiều tơ, 2.500 loài động vật thân mềm, 350 loài sa nhô được biết tên… 80 loài thú và phân loài thú, hơn 100 loài và phụ loài chim, 7 loài linh trưởng Hệ động vật Việt Nam còn
có một số loài quý hiếm như voi, tê giác, bò rừng, bò tót, trâu rừng, hổ, báo, culy, vượn den, voọc vá, voọc mũi hếch, voọc đầu trắng, sếu cổ trụi, cò quắm cánh xanh, sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, …
Tài nguyên du lịch: Việt Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh
tươi Địa hình có núi, có rừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có cả cao nguyên, thuận lợi cho phát triển du lịch thắng cảnh tự nhiên Đồng thời, Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong đó khoảng 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) lịch sử, văn hoá, dấu ấn của quá trình dựng nước và giữ nước, như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu Đặc biệt quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội
An và khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới Hàng nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ
Trang 6thuật - văn hoá khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn
1.4 Sự cần thiết phải quản lí nhà nước về tài nguyên thiên nhiên.
- Do tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên: quyết định sự sống của con người, cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, phát triển kinh tế
- Do sự hữu hạn của các tài nguyên
- Do khai thác tài nguyên chưa gắn với bảo vệ môi trường
Ngày nay sử dụng hợp lí và hiệu quả tài nguyên đã trở thành một vấn đề trọng yếu mang tính toàn cầu Ở nước ta vấn đề này đã trở thành sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân mà còn là nội dụng cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương,
kế hoạch phát triển văn hóa – xã hội của đất nước Việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên có vai trò đặc biêt quan trọng đối với quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững; góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội
Đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp nên cần có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Uỷ đảng, sự quản lí chặt chẽ của nhà nước, sự tham gia tích cực của tổ chức đoàn thể và sự phối hợp của nhân dân trong cả nước có sự hài hòa trong tăng trưởng kinh tế xã hội, công bằng xã hội… “khai thác tài nguyên gắn với phát triển, thúc đẩy phát triển”, đồng thời khắc phục việc chỉ chú trọng phát triển kinh
tế mà ít quan tâm hoặc coi nhẹ vấn đề tài nguyên
2 Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên
Thứ nhất, Điều tra nguồn tài nguyên quốc gia, xây dựng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch về việc huy động các nguồn tài nguyên khai thác
Đây là nhiệm vụ hàng đầu nhằm nắm được địa điểm, phân bổ, trữ lượng, giá trị kinh tế, điều kiện tàng trữ, từ đó mà hướng dẫn, tổ chức nhân dân thăm dò, khai thác
mà Nhà nước giao
Trang 7Đồng thời, Nhà nước đặt hàng đối với các lực lượng chuyên môn trong và ngoài nước về thăm dò, điều tra hay Nhà nước tổ chức lực lượng trực tiếp thăm dò, khai thác những tài nguyên do Nhà nước phải trực tiếp quản lý
Trên cơ sở đó tập hợp, hệ thống hóa, lưu giữ tài liệu, thông tin về nguồn tài nguyên quốc gia, cân đối giữa khai thác và chế biến, giữa xuất và nhập khẩu đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và tăng nguồn vốn cho kinh tế - xã hội bằng các tài nguyên có thể mạnh trên thị trường quốc tế
Ví dụ thực tiễn về Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm
2015 định hướng đến năm 2020
Với mục tiêu đề xuất danh mục và kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn 2010 – 2020 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao cho Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia thực hiện dự án
“Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm 2015 định hướng đến năm 2020"
Trên cơ sở nội dung đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, Trung tâm đã tổ chức thực hiện từ tháng 01 năm 2009 và hoàn thành dự án vào tháng 12 năm 2010 Trong quá trình đánh giá, phân tích, dự án đã tiến hành quy hoạch và lập danh mục các công tác điều tra đánh giá tài nguyên nước dự kiến sẽ tiến hành trong giai đoan 2011-2020 Tổng số các nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên nước được
đề xuất trong Quy hoạch này là 37, trong đó có 25 nhiệm vụ Kiểm kê đánh giá tài nguyên nước; 06 nhiệm vụ Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng, hiện trạng suy thoái nguồn nước và đề xuất các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước; 02 nhiệm vụ Đánh giá tai biến liên quan đến tài nguyên nước và đề xuất các biện pháp phòng chống, giảm thiểu; 01 nhiệm vụ Biên hội, biên tập tài liệu, bản đồ tài nguyên nước phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin tài nguyên nước quốc gia; và
03 nhiệm vụ Đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới tài nguyên nước và đề xuất các biện pháp thích nghi, ứng phó
Thứ hai, Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý tài
nguyên, có gắn với môi trường
Trang 8Để quản lý tài nguyên có gắn với môi trường nhà nước cần xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn và điều chỉnh các loại tài nguyên được phép khai thác, cất giữ, chế biến…
Hạn chế lãng phí vật tư, nguyên liệu trong sản xuất
Định mức tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm cũng như hướng dẫn, quy định về đăng
ký xin thăm dò, khai thác và kết quả, sau đó được hưởng các quyền về lợi ích, sở hữu, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và nghĩa vụ đóng góp của người thăm dò
Khai thác và sử dụng tài nguyên mà không tác động xấu đến môi trường, sinh thái
Một số văn bản của nhà nước về quản lý Nhà nước:
+ Luật đất đai 2013
+ Luật tài nguyên 2012
+ Luật khoáng sản 2010
+ Luật đa dạng sinh học 2008
+ Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004
+ Luật thuế tài nguyên 2009
+ Luật thuế bảo vệ môi trường 2010
+ Luật tài nguyên biển và hải đảo 2015
+ …
Thực tiễn Việt Nam về Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Trong năm 2016, Tổng cục Biển và hải đảo Việt Nam đã tập trung phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương có biển xây dựng và hoàn thiện trình cấp
có thẩm quyền ban hành 9 văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Trang 9Trong đó, đã tập trung xây dựng và trình Bộ để trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định (Nghi định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Thủ tường Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Nghị định số số 41/2016/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/5/2016 quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam
Thứ ba, Điều chỉnh, hỗ trợ, giám sát sự hoạt động của các đơn vị thăm dò,
khảo sát hoặc khai thác tài nguyên
Nội dung điều chỉnh, hỗ trợ, giám sát sự hoạt động của các đơn vị thăm dò, khảo sát hoặc khai thác tài nguyên nhằm giám sát để phát hiện, loại trừ các hoạt động không phép, trái phép, hay thiếu biện pháp, quy trình công nghệ, có hại cho người lao động, cho môi trường và sự phục hồi tài nguyên hoặc tiêu thụ sản phẩm khai thác không đúng quy định của nhà nước Đặc biệt là giám sát việc giao nộp thuế tài nguyên và phí bù đắp cho sự làm hại môi trường
Thứ tư, Thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của nhà nước đối với các chủ thể
hoạt động tài nguyên
Ở mỗi quốc gia tài nguyên là công sản do sự hợp lý hóa lao động Xã hội nên việc khai thác và sử dụng tài nguyên chỉ có một số người được thực hiện Trong đó nhà nước được xem là đại diện cho xã hội, là người chủ của công sản đó Nhà nước giao nguồn tài nguyên cho những người đủ điều kiện để tham gia khai thác chế biến sau đó thực hiện đền đáp công lao thỏa đáng cho họ, phân chia đóng góp của họ cho tòan xã hội Những chủ thể hoạt động tài nguyên là các cá nhân tổ chức trực tiếp được nhà nước giao quyền khai thác, chế biến, sử dụng tài nguyên Họ cũng có thể là những công dân góp phần phát hiện tài nguyên quý giá hoặc trực tiếp có các hành vi
vi phạm pháp luật đối với tài nguyên và môi trường sinh thái Khi tiếp nhận phân phối các sản phẩm, các đóng góp theo nghĩa vụ của công dân hay chủ thể khai thác, chế biến, sử dụng tài nguyên thì nhà nước cũng phải thực hiện các hoạt động khuyến khích các thành tích tốt, cấp bằng phát hiện tài nguyên quý hiếm, cấp giấy chứng nhận công lao hay kỷ luật các hành vi vi phạm pháp luật
Trang 10Việc nhà nước thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với các chủ thể hoạt động tài nguyên như việc khuyến khích, khen thưởng, chứng nhận những thành tích tốt của các chủ thể hoạt động tài nguyên, một mặt là đền đáp xứng đáng so với những gì mà các chủ thể hoạt động tài nguyên đem lại, mặt khác đây cũng là một trong những biện pháp huy động sự tham gia của người dân vào các hoạt động quản
lý nhà nước về tài nguyên môi trường Đối với các hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước cần phải kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý kỷ luật hợp lý nghiêm minh và có hiệu quả
Thứ năm, Quản lý toàn bộ dữ liệu thông tin về tài nguyên quốc gia
Quản lý toàn bộ dữ liệu thông tin về tài nguyên quốc gia, là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về tài nguyên, giúp phân bố trữ lượng, chất lượng, giá trị sử dụng Đồng thời, chịu trách nhiệm đối với hậu thế và tính chính xác, bí mật quốc gia về kho báu tài nguyên đất nước
Ở Việt Nam các cơ quan có trách nhiệm quản lý dữ liệu thông tin về tài nguyên
ở Việt Nam theo Nghị định Số: 102/2008/NĐ-CP Về việc thu thập, quản lý, khai thác
và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường
Chính phủ thống nhất quản lý về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường do mình thu thập
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quản lý việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng các dữ liệu về tài nguyên và môi trường ở địa phương