Do vậy trong quá trình sử dụng đất thường xảy ra hiện tượng tranh chấp đất đai giữa các chủ sử dụng, vi phạm pháp luật đất đai, giao đất sai mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ TRUNG KIÊN
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA HUYỆN TRẠM TẤU, THÀNH PHỐ YÊN BÁI
GIAI ĐOẠN 2010 - 2013”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoá học : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Ngọc Anh
yễn Thế Hùng
Phòng QLKH & QHQT - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2MỤC LỤC
Phần 1:ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của chuyên đề 1
2 Mục đích yêu cầu của chuyên đề 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
2.3 Ý nghĩa 2
Phần 2:TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở lý luận, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai 3
2.1.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai 3
2.2 Sơ lược về công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên cả nước 7
2.2.1 kết quả đạt được 7
2.3 Tình hình quản lý đất đai của Huyện Trạm Tấu 13
2.3.1 Kiện toàn tổ chức bộ máy 13
2.3.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất13 2.3.3 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 14
2.3.4 Công tác điều tra khảo sát, đo đạc, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính 14
2.3.5 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 15
2.3.6 Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất 15
2.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra, khiếu nại tố cáo về đất đai 15
Phần 3:NỘI DUNG VÀ PHƯONG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành:Phòng TNMT huyện Trạm Tấu 17
3.3 Nội dung nghiên cứu: 17
Trang 33.3.1 Điều tra cơ bản 17
+ Địa hỡnh, địa mạo 17
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất 17
3.3.3 Thực trạng cụng tỏc quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Trạm Tấu trong giai đoạn 2010-2013 17
3.4 Đánh giá chung về tình hình quản lý đất đai của huyện Trạm Tấu 18
3.5 Đề xuất một số giải phỏp nhằm thực hiện tốt cụng tỏc quản lý nhà nước về đất đai 18
Phần 4:KẾT QUẢ 19
4.1 Điều tra cơ bản 19
4.1.1 Điều kiện tự nhiờn 19
4.2 Thực trạng phỏt triển kinh tế – xó hội 25
4.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 25
4.2.2 Thực trạng phỏt triển cỏc ngành kinh tế 26
4.2 Hiện trạng sử dụng đất 33
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nụng nghiệp 33
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nụng nghiệp 34
4.2.3 Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng 36
4.2.4 Tớnh hợp lý sử dụng đất 37
4.3 Thực trạng cụng tỏc quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Trạm Tấu giai đoạn 2010-2013 39
4.3.1 Ban hành cỏc văn bản quy phạm phỏp luật về quản lý và sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện cỏc văn bản 39
4.3.2 Xỏc định địa giới hành chớnh, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chớnh, lập bản đồ hành chớnh 42
4.3.3 Khảo sỏt, đo đạc, đỏnh giỏ phõn hạng đất, lập bản đồ địa chớnh, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 43
4.3.4 Cụng tỏc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 46
Trang 44.3.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất chuyển mục đích sử
dụng đất 49
4.3.6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50
4.3.7 Thống kê, kiểm kê đất đai 52
4.3.8 Quản lý tài chính về đất đai 54
4.3.9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản 55
4.3.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 56
4.3.11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai 57
4.3.12 Giải quyết tranh chấp về đất đai, khiếu nại, tố cáo vi phạm trong công việc quản lý và sử dụng đất 58
4.3.13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai 59
4.4 Đánh giá chung về tình hình quản lý đất đai của huyện Trạm Tấu 59
4.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai 61
Phần 5 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Đề nghị 67
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần dân tộc huyện Trạm Tấu giai đoạn 2010 –
2013 25
Bảng 4.2 Cơ cấu kinh tế huyện Trạm Tấu giai đoạn 2010 –2013() 26
Bảng 4.3 Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp huyện Trạm Tấu() 27
Bảng 4.4 Hiện trạng dân số huyện Trạm Tấu năm 2010() 30
Bảng 4.5 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Trạm Tấu() 34
Bảng 4.6 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Trạm Tấu() 36
Bảng 4.7 : Các loại tài liệu trong bộ hồ sơ địa giới hành chính 42
Bảng 4.8: Kết quả đo đạc bản đồ theo chỉ thị 299/TTg Huyện Trạm Tấu 43
Bảng 4.9 : Kết quả đo đạc thành lập bản đồ địa chính chính quy huyện Trạm Tấu 44
Bảng 4.10: Kết quả phân hạng đất nông nghiệp theo nghị định 73/CP 45
Bảng 4.10: Hiện trạng sử dụng đất huyện trạm tấu 47
Bảng 4.11: Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2015 48
Bảng 4.12: Kết quả giao đất giai đoạn 2010 - 2013 49
Bảng 4.13 : Kết quả giao đất cho các tổ chức, doanh nghiệp của Huyện Trạm Tấu giai đoạn 2010 - 2013 49
Bảng 4.14.: Kết quả thu hồi đất theo Quyết định của UBND Tỉnh Yên Bái 50
Bảng 4.16 Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai của Trạm Tấu giai đoạn 2010 -2013 53
Bảng 4.17: Kết quả thu ngân sách từ đất đai của Huyện Trạm Tấu năm 2010 - 2013 54
Trang 6Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của chuyên đề
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng qúy giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Chính vì vậy mà đất đai có tầm quan trọng rất lớn, là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Mặt khác đất đai là nguồn tài nguyên có hạn
về số lượng, cố định về vị trí, do vậy việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch cụ thể và có sự quản lí của nhà nước
Đảng và nhà nước đã nhận định và có chủ trương, đường lối, chính sách
pháp luật đất đai phù hợp với từng giai đoạn
Hiến pháp năm 1992, Luật đất đai năm 1993 đã nêu: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lí” và “Nhà nước thống nhất quản
lí toàn bộ đất đai theo quy hoạch của pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục
đích và có hiệu quả”
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đất đai năm 1998, năm 2001
đăc biệt là luật đất đai năm 2003 chính thức thi hành ngày 01/07/2004 từng
bước đưa luật đất đai phù hợp với thúc tế quản lí sử dụng đất, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong thực tế hiện nay, có nhiều địa phương, đơn vị, cá nhân thực hiện chức năng quản lí sử dụng đất theo đúng pháp luật Tuy nhiên bên cạnh đó còn không ít những địa phương đơn vị thực hiện chức năng quản lí còn lỏng lẻo, yếu kém chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Do vậy trong quá trình
sử dụng đất thường xảy ra hiện tượng tranh chấp đất đai giữa các chủ sử dụng, vi phạm pháp luật đất đai, giao đất sai mục đích chuyển nhượng quyền
sử dụng đất trái phép, giao đất trái thẩm quyền, không thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất…
Xuất phát từ thực tế trên để thực hiện tốt công tác quản lí và sử dụng đất
đai cần phải tìm hiểu và đánh giá một cách chi tiết trong công tác quản lí và
sử dụng đất đai của các cấp có thẩm quyền
Trang 7Được sự đồng ý của khoa Tài nguyên - Trường Đại hoc Nông lâm Thái
Nguyên và sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Ngọc Anh - khoa Tài Nguyên, em
tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Đánh giá tình hình quản lí nhà nước về đất đai của huyện Trạm Tấu, Thành Phố Yên Bái giai đoạn 2010 - 2013”
2 Mục đích yêu cầu của chuyên đề
2.1 Mục đích
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và những căn cứ pháp lí của quản lí nhà nước
về đất đai
+ Tìm hiểu công tác quản lí và sử dụng đất của huyện Trạm Tấu giai
đoạn 2010 - 2013 Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện 13 nội dung quản lí nhà
nước về đất đai và tình hình quản lí sử dụng đất của huyện trên các mặt tích cực và tiêu cực
+ Đề xuất một số phương hướng, biện pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế tồn đọng tiêu cực trong công tác quản lí nhà nước về đất đai, giúp cơ quan quản lí nhà nước quản lí chặt chẽ, nắm chắc nguồn tài nguyên đất đai
2.2 Yêu cầu
+ Nắm chắc 13 nội dung quản lí nhà nước về đất đai
+ Nắm vững tình hình quản lí và sử dụng đất của huyện Trạm Tấu giai
2.3 Ý nghĩa
- Giúp cho sinh viên biết cách nghiên cứu một vấn đề, củng cố, bổ sung
và vận dụng những kiến thức đã học vào điều kiện thực tế
- Giúp cho sinh viên làm quen với môi trường làm việc, công tác tại địa phương
- Làm tài liệu cơ sở cho công tác quản lý đất đai của địa phương
Trang 8Phần 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai
2.1.1 Cơ sở lý luận
Thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là hoàn toàn đúng đắn nhằm để đảm bảo định hướng XHCN Hệ thống quản lý đất đai chặt chẽ và chính sách đất đai phù hợp sẽ có tác động tích cực trong giải quyết những vấn đề sau:
- Tăng sản lượng kinh tế nông nghiệp, đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện đời sống nông dân
- Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
- Bảo vệ tài nguyên đất và bảo vệ môi trường sinh thái
- Quy hoạch hợp lý các khu công nghiệp và kiểm soát quá trình đô thị hoá
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lý
- Xây dựng xã hội công bằng và văn minh trước hết trong chính sách nhà ở, đất ở
- Tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
2.1.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
Công tác quản lý nhà nước về đất đai phải dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Từ năm1992 đến nay Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về
đất đai, cụ thể như sau:
- Hiến pháp năm 1992;
- Luật Đất đai năm 1993;
- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành văn bản quy định về giao đất nông nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
- Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành văn bản quy định về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp;
Trang 9- Nghi định số 61/NĐ-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về việc mua bán kinh doanh nhà ở;
- Nghị đinh số 87/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về khung giá các loại đất;
- Nghị định số 09/NĐ-CP ngày 12/2/1996 của Chính phủ về chế độ quản
lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh;
- Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg ngày 20/2/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về vịêc giao đất và cấp GCNQSDĐ nông nghiệp;
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sự dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
- Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý sử dụng đất tại đô thị;
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 02/12/1998;
- Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1999 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính;
- Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất
và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;
- Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp GCNQSDĐ nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn;
- Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành bản quy định về giao đất nông nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao
đất và cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ôn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp;
Trang 10- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai;
- Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC ngày 06/6/2000 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng cục địa chính hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp;
- Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001;
- Nghị định số 66/2001/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP về thi hành Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Nghị định số 12/2002/NĐ-CP ngày 22/01/2002 của Chính phủ về hoạt
động đo đạc, lập bản đồ;
- Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về giá đất;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;
- Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thống kê, kiểm kê và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về hướng dẫn lập, quản lý, chỉnh lý hồ sơ địa chính;
Trang 11- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất;
- Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 17/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
- Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm
2006 của liên Bộ Tư pháp - Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn công
chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/07/2007 về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 06 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Trang 12- Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 của liên Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm
2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về
đất đai
2.2 Sơ lược về công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên cả nước
2.2.1 Kết quả đạt được
+ Giai đoạn trước năm 1945
* Thời kỳ đầu lập nước
Sử liệu không nói gì nhiều về quan hệ đất đai của nước ta ở thời Lạc Việt, trải qua giai đoạn bị phong kiến phương Bắc đô hộ cho tới khi Đinh Tiên Hoàng giành được độc lập Thời Đinh và thời Lê không dài, hơn nữa tình hình chính trị trong nước lúc đó chưa ổn định cũng như biên giới phía Bắc chưa yên, nên quan hệ đất đai cũng chưa có gì thay đổi so với thời gian trước đó
Trong thời Lý và thời Trần, nhà vua chấp nhận ba hình thức sở hữu đất
đai: Sở hữu nhà vua, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Sở hữu nhà vua được coi
là sở hữu nhà nước bao gồm ruộng đất công, ruộng đất giao cho các quan lại
Sở hữu tập thể có 2 loại đó là quan điền bản xã và đất của tôn giáo Quan điền bản xã là đất chung của làng xã, đất của tôn giáo thường là đất của nhà chùa hoặc đất của họ tộc để thờ cúng Sở hữu tư nhân bao gồm đất đai thuộc người
Trang 13dân, trong đó có sở hữu nhỏ của tầng lớp địa chủ Các loại đất này đều phải nộp thuế cho công quỹ nhà nước
Khi cướp ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách cải cách ruộng đất (1397) với nội dung là chế độ hạn điền (mỗi người không quá 10 mẫu ruộng) để thu hồi đất đai cho Nhà nước Sau đó là thời kỳ thuộc Minh, có quan hệ đất đai không khác gì nhiều so với thời Lý, Trần
Tuy hình thành dưới triều nhà Lý nhưng chế độ sở hữu nhà nước đối với
đất đai chỉ được xác lập hoàn toàn và đầy đủ nhất vào thế kỷ XV, dưới triều
nhà Lê Giai đoạn thịnh trị của thời Hậu Lê là thời gian dưới quyền cai trị của vua Lê Thánh Tông Trong giai đoạn này Bộ luật đầu tiên của nước ta được ban hành (Quốc triều hình luật hay còn gọi là luật Hồng Đức), trong đó có 60
điều nói về quan hệ đất đai Tinh thần chung của các điều luật nhằm điều
chỉnh quan hệ đất đai là tính nhân đạo và triệt để bảo vệ đất công Công việc
đo đạc lập địa bạ được tiến hành từ khi Lê Lợi lên ngôi đến cuối thời Hậu Lê
vẫn chưa hoàn thành Cùng với sự suy yếu của nhà Lê, ruộng đất tư hữu đã dần dần phát triển tới mức lấn át cả ruộng đất công Sở hữu tư nhân bắt đầu chiếm ưu thế
Thời Nguyễn bắt đầu từ khi Nguyễn ánh (Gia Long) lên ngôi, từ 1805
-1836 trong suốt 31 năm nhà Nguyễn đã hoàn thành công tác đo đạc lập địa bạ còn dang dở từ thời nhà Lê cho 18.000 xã bao gồm 10.044 tập Trong địa bạ ghi rõ thửa đất của ai, sử dụng để làm gì, kích thước bao nhiêu trên cơ sở điều tra tại thực địa, đo đạc cụ thể, có sự nhất trí của chủ sở hữu và quan đạc điền Ngay trong những năm đầu tiên trị vì đất nước, Nguyễn ánh đã cho ban hành
Bộ luật thứ 2 của nước ta mang tên Hoàng Việt Luật (hay còn gọi Luật Gia Long), xác định quyền sở hữu tối thượng của nhà vua đối với ruộng đất cả nước Trong đó chia ra đất công quản và đất tư quản, thuế đất được xác định
và thu rất triệt để cho ngân sách quốc gia Thời kỳ này còn thực hiện chế độ hạn điền, thành công trong chính sách khai khẩn đất hoang Nhà Nguyễn đã
đặt hệ thống chính quyền sở hữu từ trung ương đến địa phương, ra sức bảo vệ
Trang 14chế độ sở hữu ruộng công, nhưng đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chỉ còn tồn tại ở mặt hình thức
* Thời kỳ Pháp thuộc
Khi tới xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã điều chỉnh quan hệ đất đai của ta theo luật pháp của Pháp, công nhận quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối về
đất đai, đánh thuế đất nông nghiệp rất cao, nhưng thuế đất ở lại không đáng
kể Thực dân Pháp đã cho lập bản đồ địa chính theo toạ độ và lập sổ địa bạ mới nhằm thu thuế đất nông nghiệp triệt để hơn Dưới chế độ thực dân nước
ta có 3 chế độ cai trị khác nhau:
- Chế độ địa bạ ở Nam kỳ
- Chế độ quản thủ địa chính ở Bắc kỳ và Trung kỳ
Công trình lập hồ sơ địa chính mới của Pháp kết thúc năm 1898 tại Nam kỳ, năm 1925 tại Bắc kỳ và cho tới năm 1945 vẫn chưa hoàn thành ở Trung kỳ
+ Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến ngày ban hành Hiến pháp 1992
* Chính sách đất đai của chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền nam
Đây là thời kỳ Đế quốc Mỹ xâm lược miền nam Việt Nam, lập nên
chế độ Nguỵ quyền Chính sách đất đai được áp dụng là “Quốc sách cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm và sau đó là quốc sách “Người cày có ruộng” của Nguyễn Văn Thiệu
Thời kỳ đầu tồn tại 03 chế độ điền thổ
- Chế độ theo sắc lệnh ngày 21/7/1925 áp dụng một số xã tại Nam Kỳ
- Chế độ quản thủ địa bộ áp dụng ở nơi chưa thuộc sắc lệnh năm 1925
- Chế độ quản thủ địa chính áp dụng cho một số địa phương ở Trung Kỳ Sau này thực hiện công tác kiến điền và quản thủ điền địa (từ 1962)
- Công tác kiến điền: Lập sổ địa bộ, sổ điền chủ và sổ mục lục điền chủ
- Quản thủ điền địa: Thiết lập các nha địa chính theo hệ thống từ TW đến
địa phương
Trang 15* Chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Chính sách đất đai của ta lúc này là: “Chấn hưng nông nghiệp”, Chính phủ đã quyết định nhiều chính sách sử dụng đất hoang, đất vắng chủ, đất thuộc sở hữu của Thực dân Pháp và bọn việt gian phản động Ngày 14/12/1953, Quốc hội đã thông qua Luật cải cách ruộng đất nhằm đánh
đổ hoàn toàn chế độ phong kiến - thực dân sở hữu ruộng đất, thực hiện triệt để
người cày có ruộng
* Giai đoạn 1955 -1959: Giai cấp địa chủ phong kiến đã sụp đổ hoàn toàn,
chế độ sử dụng đất nông nghiệp đã thay đổi cơ bản, cải cách ruộng đất hoàn thành Giữa năm 1958, hệ thống địa chính được tái lập, trực thuộc Bộ Tài chính với chức năng chủ yếu là quản lý ruộng đất để thu thuế nông nghiệp
* Giai đoạn 1960 - 1979: Tuy sở hữu tư nhân về đất đai vẫn còn được
pháp luật thừa nhận nhưng gần như toàn bộ đất đai đã thuộc hình thức sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu hỗn hợp Trọng tâm của chính sách đất đai trong giai đoạn này là:
- Nhà nước có chủ trương phát triển các nông - lâm trường quốc doanh theo hướng xác lập, củng cố và phát triển hình thức sở hữu toàn dân đối với
* Giai đoạn 1980 - 1991: Được mở đầu bằng Hiến pháp năm 1980, trong
đó quy định toàn bộ đất đai và tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý bằng pháp luật và quy hoạch Tuy nhiên hệ thống quản lý đất đai của nước ta chưa đủ mạnh trên phạm vi toàn quốc cho mọi loại đất, chưa có quy hoạch sử dụng đất toàn quốc Nhà nước chỉ quan
Trang 16tâm đến quản lý và các chính sách đối với đất nông nghiệp nên đã dân đến việc giao và sử dụng tuỳ tiện các loại đất khác, chuyển đổi mục đích sử dụng
đất không đúng quy hoạch Khắc phục tình trạng đó, hàng loạt các văn bản
mang tính pháp luật của Nhà nước về đất đai ra đời: Quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, Chỉ thị số 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng và đăng
ký ruộng đất, Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp Luật Đất đai 1988 ra đời là một dấu mốc
lịch sử đầu tiên trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Tiếp sau hàng loạt văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật nhằm đưa công tác quản lý ruộng
đất đi vào nền nếp và đúng pháp luật Trong giai đoạn này, văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển nền kinh tế nông nghiệp là Nghị quyết
10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ chính trị về việc giao đất cho gộ gia
đình cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Đây là quan niệm cụ thể có tính
then chốt khẳng định việc chuyển nền nông nghiệp tự cấp, tự túc theo hướng sản xuất hàng hóa
+ Giai đoạn 1992 đến nay
Hiến pháp năm 1992 ra đời xác định thời điểm khởi đầu của công cuộc
đổi mới hệ thống chính trị Chế độ sở hữu và quản lý đất đai được ghi vào
Hiến pháp, trong đó quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài ” Tiếp sau đó, Luật Đất đai sửa đổi được ban hành năm
1993 lấy Hiến pháp năm 1992 làm nền tảng, đã khẳng định rõ hơn nữa về chế
độ sử dụng đất cũng như phương thức quản lý sử dụng đất trong thời kỳ đổi
mới nền kinh tế đất nước Điểm nổi bật trong chính sách quản lý đất đai được thể hiện cho phép người sử dụng đất có 05 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp Như vậy, tức là đã công nhận tính chất hàng hoá của đất đai và đất có giá Quan niệm này đã tạo điều kiện cho việc
Trang 17hình thành thị trường quyền sử dụng đất phát triển một cách sôi động và lành mạnh, người dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất làm chủ trên mảnh đất
được giao
Luật còn nêu lên 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai Từ đây, Chính phủ và Tổng cục Địa chính có hàng loạt văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật đất đai
Qua 10 năm thực hiện Luật Đất đai năm 1993 ( bao gồm cả Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Đất đai năm 2001), pháp luật về đất đai đã trở thành một trong
những động lực chủ yếu để đưa nước ta vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản và thuỷ sản Kinh tế nông nghiệp thoát khỏi tình trạng tự túc, tự cấp và chuyển sang sản xuất hàng hoá; bộ mặt kinh tế nông thôn được cải thiện
Tuy nhiên trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, pháp luật về đất đai đã bộc lộ rõ nhưng hạn chế đó là: Chưa xác định rõ nội dung cốt lõi của chế độ sử hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý; chưa đủ tầm giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề đất đai để
đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
trong thời kỳ mới; chưa thực sự theo kịp với tiến trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; chưa giải quyết được những tồn tại lịch sử trước đây về đất đai, cũng như các vấn đề mới phát sinh; nhiều nội dung của pháp luật đất đai mới dừng ở mức độ quy định nguyên tắc, quan điểm mà thiếu các văn bản quy định cụ thể nên việc hiểu pháp luật và thực thi pháp luật còn khác nhau giữa các ngành, các cấp
Để khắc phục nhưng thiếu sót trên, thực hiện Nghị quyết số
12/2001-QH11 về chương trình xây dựng pháp luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XI (2002-2007), tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai năm 2003 thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 Ngoài việc tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân như trong Luật Đất đai
1993, Luật Đất đai 2003 quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở
Trang 18hữu Nhà nước giữ quyền định đoạt cao nhất đối với đất đai bằng việc thực hiện quyền năng cụ thể như: Quyết định mục đích sử dụng (thông qua việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất), quy định thời hạn sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, định giá đất Trên cơ sở đó, Luật Đất đai đã quy định
cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và của từng cấp chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ của người đại diện
2.3 Tình hình quản lý đất đai của Huyện Trạm Tấu
2.3.1 Kiện toàn tổ chức bộ máy
Tổ chức bộ máy của cơ quan TN&MT gồm một phòng TN&MT kiện toàn theo đúng tinh thần hướng dẫn của Bộ TN&MT, sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh VPĐKQSD đất trực thuộc Sở TN&MT đã được UBND tỉnh ban hành quyết định thành lập, đơn vị đã ổn định tổ chức bộ máy đi vào hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao
2.3.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất
Kể từ khi thành lập,Phong Tài nguyên và Môi trường Huyện Trạm Tấu
đã tham mưu cho UBND huyện ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về
quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện như sau:
+ Kế hoạch số: 67/KH của UBND Huyện Trạm Tấu về việc triển khai Luật đất đai năm 2003;
+ Quyết định số: 13/2007/QĐ của UBND Huyện Trạm Tấu về việc ban hành quy định trình tự thủ tục hành chính trong việc quản lý Nhà nước về đất
đai đối với tổ chức trong nước để phục vụ XDCB và phát triển kinh tế xã hội
trên địa bàn Huyện Trạm Tấu;
+ Quyết định số: 67/2005/QD của UBND Huyện Trạm Tấu về định mức giao đất trống đồi núi trọc cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh;
+ Quyết định số: 68/2005/QĐ-UBND của UBND Huyện Trạm Tấu quy
định hạn mức đất ở với thửa đất có vườn ao liền kề trong cùng thửa đất;
+ Quyết định số: 17/2006/QĐ- UBND của UBND Huyện Trạm Tấu về việc ban hành quy định thực hiện một số chinh sach hỗ trợ khi nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn Huyện Trạm Tấu, được thay thế bằng quyết định số
13/2008/QĐ- UBND
Trang 19+ Hướng số: 427/HD-TNMT, Hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư đang sử dụng đất trên địa bàn Huyện Trạm Tấu
+ Bảng giá đất hàng năm, từ năm 2010 đến 2013;
+ Bảng giá bồi thường tài sản, cây cối hoa màu phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện
2.3.3 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
Thực hiện Chỉ thị 364/TTg của Thủ tướng Chính phủ về vệc lập hồ sơ
địa giới hành chính, Huyện Trạm Tấu tiến hành lập hồ sơ địa giới hành chính
trên 12 xã,
Hồ sơ địa giới hành chính được lưu tại 3 cấp : tỉnh, huyện, xã Việc quản
lý hồ sơ địa giới hành chính tại cấp tỉnh và huyện do ngành Nội vụ đảm nhiệm, tại cấp xã do UBND xã đảm nhiệm
2.3.4 Công tác điều tra khảo sát, đo đạc, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính
- Công tác điều tra khảo sát
Trong những năm qua, UBND huyện đã chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nhiều cuộc điều tra khảo sát đánh giá khả năng sử dụng quỹ đất vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Công tác phân hạng đất
Phân hạng đất là một công tác hết sức quan trọng, việc phân hạng đất của UBND huyện đã được tiến hành từ nhiều năm trước, những kết quả đó hiện nay vẫn đang được sử dụng làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên do thời gian tiến hành phân hạng đất đã lâu nên kết quả phận hạng đất nhiều khi không còn phục vụ đắc lực trong quản lý đất đai
- Công tác đo đạc Bản đồ địa chính:
- Công tác lập hồ sơ địa chính:
Cùng với việc giao đất, cho thuê đất thì công tác lập hồ sơ địa chính của các cấp đã được thực hiện, hệ thống hồ sơ địa chính cơ bản đã lập và lưu giữ
ở cấp xã với các tài liệu gồm:
Trang 20+ Sổ mục kê: 07 quyển
+ Sổ địa chính: 09 quyển
+ Sổ theo dõi biến động: 01 quyển
+ Bản đồ giải thửa 299/TTg: 64 tờ
2.3.5 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật, hàng năm huyện đã thực hiện đầy đủ công tác lập kế hoạch sử dụng đất và thực hiện nghiêm túc
kế hoạch đã đề ra Tuy nhiên quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch còn gặp phải nhiều khó khăn
2.3.6 Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ trong những năm qua
đã được UBND huyện quan tâm Sau khi thực hiện Nghị định 64/CP, Chỉ thị
số 10, chỉ thị số 18, Nghị định 85/CP và Luật Đất đai năm 2003, công tác giao
đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ đã đạt được những kết quả nhất định Đã
cấp 1.654 GCNQSD đất bao gồm:
- Đối với hộ gia đình, cá nhân: 1.650 giấy chứng nhận QSD đất, gồm: + Đất ở: 525 giấy chứng nhận QSD đất
+ Đất nông nghiệp: 1.022 giấy chứng nhận QSD đất
+ Đất lâm nghiệp: 53 giấy chứng nhận QSD đất
+ Đối với đất nuôi trồng thuỷ sản: 50 giấy
- Đối với đất chuyên dùng do tổ chức đang sử dụng: Đã tiến hành cấp
2.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra, khiếu nại tố cáo về đất đai
- Việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện theo đúng trình
tự, thủ tục quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai
UBND xã thực hiện hoà giải tranh chấp đất đai khi có đơn đề nghị của các bên tranh chấp đất đai khi không thoả thuận được Chủ tịch UBND huyện giải quyết tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau Chủ tịch UBND tỉnh giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa
Trang 21tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài với nhau hoặc với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
Nội dung các vụ tranh chấp đất đai chủ yếu là tranh chấp đất sản xuất nông nghiệp, đất sới bãi và đất lâm nghiệp trong dòng tộc và tranh chấp đất
đai giữa hộ gia đình với tổ chức sử dụng đất
- Việc giải quyết khiếu nại về đất đai, tố cáo liên quan đến quản lý, sử dụng đất:
Nội dung khiếu nại về đất đai, tố cáo liên quan đến quản lý, sử dụng đất chủ yếu là khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, khiếu nại về đơn giá đất, khiếu nại về xác định loại đất để áp dụng bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, đặc biệt là đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư khi nhà nước thu hồi đất
Việc giải quyết khiếu nại về đất đai, tố cáo liên quan đến quản lý, sử dụng đất trong thời gian qua được thực hiện dân chủ, công khai, kịp thời và
đúng quy định của pháp luật đất đai được người sử dụng đất chấp nhận
- Kết quả thực hiện từ năm 2010 đến nay:
+ Số vụ đòi bồi thường giải phóng mặt bằng: 2 vụ việc;
Trang 22Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯONG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành:Phòng TNMT huyện Trạm Tấu
- Thời gian tiến hành: từ 20/1/2013 đến 20/04/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu:
3.3.1 Điều tra cơ bản
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
* Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
Trang 23.+ Xỏc định địa giới hành chớnh, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chớnh, lập bản đồ hành chớnh
+ Khảo sỏt, đo đạc, đỏnh giỏ phõn hạng đất, lập bản đồ địa chớnh, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
+ Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chớnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Thống kờ, kiểm kờ đất đai
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành cỏc quy định của phỏp luật về đất
đai và xử lý vi phạm phỏp luật về đất đai
+ Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cỏo cỏc vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
+ Quản lý cỏc dịch vụ cụng về đất
+ Đỏnh giỏ chung về quản lý đất đai tại huyện Trạm Tấu
3.4 Đánh giá chung về tình hình quản lý đất đai của huyện Trạm Tấu 3.5 Đề xuất một số giải phỏp nhằm thực hiện tốt cụng tỏc quản lý nhà nước về đất đai
3.6 Đề xuất một số phương phỏp nghiờn cứu
Trang 24Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều tra cơ bản
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc và Đông giáp huyện Văn Chấn
- Phía Nam giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
- Phía Tây Nam giáp huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
- Phía Tây giáp huyện Mường La, tỉnh Sơn La
- Phía Tây Bắc giáp huyện Mù Cang Chải
Toàn huyện có 12 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn và 11 xã vùng cao đặc biệt khó khăn Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 74.333,60 ha, chiếm 10,80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Trạm Tấu là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, nằm ở sườn Đông dãy Pú Luông thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, có độ cao trung bình khoảng 1.300 m so với mặt nước biển, điểm cao nhất là đỉnh Pu Luông cao 2.985m, điểm thấp nhất là thị trấn Trạm Tấu cao 590m so với mặt nước biển Địa hình huyện Trạm Tấu được chia thành 2 khu vực rõ rệt:
- Khu vực đồng bằng và đồi núi thấp: chủ yếu là đồi núi thấp xen kẽ là các thung lũng bằng phẳng, là khu vực có độ cao từ 590 – 900m, nằm dọc theo tỉnh lộ 174 và suối Thia Địa hình đồng bằng xen kẽ đồi núi thấp tập trung chủ yếu ở thị trấn Trạm Tấu, xã Pá Hu, Pá Lau, Hát Lừu, Xà Hồ, Bản Công và xã Trạm Tấu
Trang 25- Khu vực đồi núi cao: địa hình chủ yếu của huyện Trạm Tấu là đồi núi cao, hiểm trở, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều núi đá dốc, khe lạch, vực sâu, nhiều nơi tạo thành vách đứng dễ gây sạt lở, trượt khối Hướng dốc chính từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với nhiều dãy núi cao kết hợp với thủy vực sâu;
hệ số xâm thực lớn tạo thành địa hình cắt xẻ phức tạp Địa hình này tập trung chủ yếu ở các xã Bản Công, Bản Mù, Làng Nhì, Tà Si Láng
Với đặc điểm địa hình trên đã tạo nên nhiều khó khăn cho công tác quản
lý đất đai, sản xuất nông, lâm nghiệp, bố trí xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi… cũng như việc giao lưu buôn bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá giữa các địa phương trong và ngoài huyện
4.1.1.3 Khí hậu
Huyện Trạm Tấu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, về cơ bản khí hậu hình thành 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm (có năm đến sớm
hơn, có năm kết thúc muộn hơn) Vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét, lũ ống,
sạt lở đất gây thiệt hại lớn về người và tài sản
- Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, khí hậu thường
khô hanh làm ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của nhân dân
- Nhiệt độ trung bình năm biến đổi từ là 22- 230C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, trung bình khoảng 280C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng
Trang 26- Gió bão: Là một huyện vùng núi cao của tỉnh Yên Bái nên Trạm Tấu ít chịu
ảnh hưởng của bão Hàng năm thường xảy ra những đợt sương muối, gió Lào và
lốc xoáy gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của bà con nhân dân
Nhìn chung, Trạm Tấu có khí hậu khá khắc nhiệt, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn Đặc biệt là số giờ nắng thấp nên việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới như: tăng vụ, luân canh, gối vụ và
đưa các giống mới vào sản xuất gặp rất nhiều khó khăn
4.1.1.4 Thuỷ văn
Do không có hệ thống sông lớn, chế độ thuỷ văn của Trạm Tấu chủ yếu chịu
ảnh hưởng của hệ thống suối và khe nằm trên toàn huyện Toàn huyện có gần 30
con suối và khe chạy từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông xuyên qua các xã tạo thành mạng lưới thuỷ hệ chằng chịt
Hệ thống suối của Trạm Tấu có đặc điểm là ngắn và dốc, sự phân bố dòng chảy phụ thuộc theo mùa, tốc độ dòng chảy có sự biến động lớn, đặc biệt vào mùa mưa, nước chảy dồn từ các sườn núi xuống gây lũ lụt và ảnh hưởng lớn đến
đời sống của nhân dân hai bên bờ Ngược lại, trong mùa khô mực nước xuống
thấp, dòng chảy trong các tháng rất nhỏ, thường gây khô hạn
Hệ thống khe và suối trên địa bàn huyện Trạm Tấu đều bắt nguồn từ núi cao, có độ dốc lớn nên dồi dào về tiềm năng phát triển thuỷ điện Mặt khác,
đây cũng là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng ban đầu, huyện Trạm Tấu có những loại đất chính sau:
+ Nhóm đất xám (Acrisols) được hình thành trên các loại đá mẹ khác
nhau hoặc từ mẫu chất nghèo dinh dưỡng, hình thành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm Là loại đất cát pha ít sạn thô, hàm lượng dinh dưỡng thấp, khả năng thấm, thoát nước khá, giữ nước trung bình, diện tích khoảng 51.000 ha, chiếm khoảng 69% tổng diện tích tự nhiên, gồm các loại đất sau:
Trang 27- Đất xám mùn đá sâu (Xu-d2): phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện
- Đất xám mùn điển hình (Xu-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã
- Đất xám kết von đá sâu (Xfe-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở xã Hát Lừu
+ Nhóm đất đỏ (Feralits), có diện tích khoảng 8.262 ha, chiếm khoảng
11% tổng diện tích tự nhiên, nhóm đất này tuy có dinh dưỡng khá nhưng độ dốc lớn nên chỉ thích hợp với cây lâm nghiệp, một số phần diện tích có độ dốc dưới 250 thích hợp với các loại cây dài ngày như chè, cây ăn quả Gồm các loại
+ Nhóm đất mùn Alit núi cao (Alisols): có diện tích khoảng 15.000 ha,
chiếm khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở độ cao trên 1800 m, nhóm đất này tuy có thành phần dinh dưỡng khá nhưng độ dốc lớn nên chỉ thích hợp với cây lâm nghiệp Gồm các loại đất sau:
- Đất mùn Alít núi cao điển hình giầu mùn (Ah-u): phân bố tập trung chủ
yếu ở các xã Xà Hồ, Trạm Tấu, Pá Lau, Túc Đán
- Đất mùn Alít núi cao điển hình đá sâu (Ah-d2): phân bố tập trung chủ
yếu ở các xã Xà Hồ, Bản Mù, Bản Công, Tà Si Láng, Túc Đán
Trang 28+ Nhóm đất phù sa (Fluvisols) diện tích khoảng 10 ha, chiếm 0,01% diện
tích tự nhiên Nhóm đất phù sa được hình thành do quá trình bào mòn rửa trôi trên thượng nguồn và nhờ dòng chảy cuốn trôi, lắng tụ ở phần hạ lưu của các con suối Thành phần cơ giới của đất phù sa đa số là nhẹ, độ dày tầng đất >
100 cm, dung tích hấp thụ thấp, đất thường chua Tuy nhiên, đây vẫn là nhóm
đất có ý nghĩa lớn trong sản xuất nông, lâm nghiệp
Tóm lại, đất đai của huyện Trạm Tấu có hàm lượng dinh dưỡng thấp hơn
so với các huyện khác trong tỉnh , do vậy việc cải tạo, sử dụng phải được đầu
tư cao và mất nhiều công sức cũng như thời gian
* Tài nguyên nước
+ Nguồn nước mặt: có 4 suối lớn chảy qua địa phận huyện Trạm Tấu là
suối Thia, Nậm Tăng, Nậm Đông và suối Ngòi Nhì Các suối này đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao nên lưu lượng nước phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa tự nhiên và đây là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của người dân nơi đây Ngoài ra nước còn được lấy từ các suối, ao,
hồ đập nhỏ nằm rải rác trên địa bàn huyện Tuy nhiên, việc sử dụng nước ở
đây còn gặp rất nhiều khó khăn do vào mùa khô lưu lượng nước rất ít, gây ra
khô hạn Vào mùa mưa thường gây lũ quét, sạt lở làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của người dân
+ Nguồn nước ngầm: tuy chưa có những khảo sát chi tiết, nhưng theo
các kết quả nghiên cứu sơ bộ thì trữ lượng nước ngầm trên địa bàn huyện khá dồi dào Ngoài ra huyện có nguồn nước khoáng nóng, với tổng độ khoáng hóa
1 – 3,3g/lít, nước thuộc nhóm Sunfat Can – Magiê có hàm lượng Silic và Lưu huỳnh cao có tác dụng chữa bệnh tốt Hiện tại, nguồn nước khoáng này đang
được khai thác kinh doanh với quy mô nhỏ nên chưa khai thác đúng tiềm
năng của nguồn nước khoáng này Vì vậy trong thời gian tới cần có các biện pháp khai thác và sử dụng có hiệu quả để tương xứng với tiềm năng hiện có
Trang 29* Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2010, huyện Trạm Tấu có 56.602,09
ha đất lâm nghiệp, chiếm 76,15% tổng diện tích tự nhiên, gồm 7.345,27 ha rừng sản xuất và 49.256,82 ha rừng phòng hộ Diện tích rừng chủ yếu tập trung ở các xã Xà Hồ, Túc Đán, Bản Công, Tà Si Láng, Bản Mù, Làng Nhì
Do thời tiết khá khắc nhiệt, đất đai khô cằn nên cây trồng chủ yếu ở đây
là các giống cây bản địa có giá trị hàng hóa không cao Những năm gần đây, huyện đã đưa một số giống cây có giá trị kinh tế vào trồng thử nghiệm như:
đưa cây Sơn Tra, cây Thông Đuôi Ngựa vào cơ cấu rừng phòng hộ, trồng
Mây Trắng dưới tán rừng tái sinh… Ngoài ra, huyện đã triển khai ký hợp
đồng quản lý và bảo vệ rừng đến từng hộ gia đình, nhờ đó mà công tác quản
lý, bảo vệ rừng có những chuyển biến tích cực, bước đầu hạn chế tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép
Thảm thực vật ở đây khá đơn giản, cây thường thấp, cây bụi, thảm cỏ xanh Đặc biệt dây leo cũng ít hẳn và thường ngắn, nhỏ, chỉ quấn quanh cây thân gỗ Thực vật phụ sinh phát triển mạnh bám vào thân, cành, lá cây khác, thực vật phu sinh ở đây phần lớn là họ dương xỉ, họ lan, họ ráy Cây rừng chủ yếu là: sồi, dẻ,
* Tài nguyên khoáng sản
Theo các kết quả điều tra, khảo sát sơ bộ, huyện Trạm Tấu có nguồn tài nguyên khoáng sản ít, cụ thể như sau:
+ Chì, Kẽm là 2 loại khoáng sản chính trên địa bàn huyện, hiện tại nguồn khoáng sản này đã được khai thác từ thời thực dân Pháp chiếm đóng, 2 loại khoáng sản này phân bố chủ yếu ở xã Xà Hồ
+ Vật liệu xây dựng bao gồm đá vôi, cát sỏi được phân bố dọc các con suối với trữ lượng nhỏ Những năm gần đây trên địa bàn huyện đã phát hiện
ra mỏ đá xây dựng với trữ lượng ước khoảng 0,23 triệu m3 được phân bố chủ
yếu ở các xã Hát Lừu, Xà Hồ và Tà Si Láng Ngoài ra còn có mỏ đá Thạch Anh và đá ốp lát được phân bố ở xã Bản Mù và xã Làng Nhì
+ Nước khoáng nóng được phân bố rải rác trên địa bàn của huyện, nhưng chủ yếu tập trung ở thị trấn Trạm Tấu Với trữ lượng dồi dào, tốt cho sức khỏe nên trong tương lai cần có các biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý tránh gây lãng phí và ô nhiễm môi trường
Trang 30* Dân số
Năm 2013, huyện Trạm Tấu có 27.147 nhân khẩu với 11 dân tộc anh em
cùng sinh sống, trong đó: dân tộc Mông 20.997 người (chiếm 77,34%); dân tộc Thái 3.771 người (chiếm 13,89%); dân tộc Kinh 1.799 người (chiếm
6,63%); các dân tộc còn lại chiếm 2,14% Mỗi dân tộc với những truyền
thống và bản sắc riêng đã hình thành nên nền văn hóa rất đa dạng và phong
phú, có nhiều nét độc đáo, giàu tính nhân văn sâu sắc
Bảng 4.1 Thành phần dân tộc huyện Trạm Tấu giai đoạn 2010 – 2013
Đặc điểm phân bố dân cư các dân tộc ở Trạm Tấu không phân theo vùng
rõ rệt, mà họ sống xen kẽ với nhau Tuy vậy mỗi dân tộc đều có những vùng quần tụ đông đảo của mình Các dân tộc cư trú ở những độ cao khác nhau nên phân thành vùng cao và vùng thấp Nhà ở, tập quán sản xuất, đời sống văn hóa của đồng bào mỗi vùng có những nét đặc thù riêng Người Mông ở vùng cao có nhà truyền thống là nhà đất, làm lúa nương; người Tày, Nùng, Thái, Mường ở nhà sàn với nền văn minh lúa nước…
Nhân dân các dân tộc trong huyện có tinh thần đoàn kết yêu quê hương,
có đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu hướng hội nhập với cả nước, khu vực và quốc tế
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội
4.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010 – 2013 đạt 11,50%(1) Trong đó: Nông – lâm nghiệp, thủy sản tăng 8,17%; công nghiệp - xây dựng tăng 15,05%; thương mại – dịch vụ tăng 13,25%
Trang 31
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - lâm nghiệp,
thủy sản năm 2013 là 60,25%, giảm 4,35% so với năm 2010; công nghiệp - xây dựng năm 2013 là 20,00%, tăng 2,90% so với năm 2010; thương mại, dịch vụ năm 2013 là 19,75% tăng 1,45% so với năm 2010
Bảng 4.2 Cơ cấu kinh tế huyện Trạm Tấu giai đoạn 2010 –2013 (2)
1 Nông - Lâm - Ngư nghiệp % 64,6 62,44 61,36 60,25
2 Công nghiệp – xây dựng % 17,1 18,5 19,2 20
469 kg tăng 114,7 kg so với năm 2010
+ Cây lúa: diện tích gieo trồng năm 2013 đạt 2.849,15 ha, tăng 145,15 ha
so với năm 2010, sản lượng đạt 8.076,07 tấn, tăng 1.444,17 tấn so với năm
2010 Trong 4 năm diện tích, sản lượng, năng suất lúa đều tăng do người dân
đã tích cực khai hoang mở rộng diện tích, đầu tư chăm sóc, bón phân hợp lý
và biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là đưa một số giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất
+ Cây ngô: năm 2013 diện tích gieo trồng cả năm đạt 2.165,30 ha, tăng 1.397,00 ha so với năm 2010 Diện tích cây ngô tăng là do nhân dân đã tận dụng tối đa đất đồi và chuyển diện tích lúa nương kém hiệu quả sang trồng ngô hai vụ Sản lượng ngô năm 2013 đạt 4.659,73 tấn, tăng 3.060,89 tấn so với năm 2010
Trang 32
Bảng 4.3 Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp huyện Trạm Tấu (4)
Trang 33được đầu tư thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích giúp nâng cao hiệu quả sản
xuất, tăng năng suất, sản lượng và dần khẳng định vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp toàn huyện
* Chăn nuôi – nuôi trồng thủy sản
Trong những năm vừa qua ngành chăn nuôi được đầu tư phát triển khá
cả về số lượng và chất lượng Tính đến cuối năm 2013 toàn huyện có: đàn trâu 5.678 con tăng 425 con so với năm 2010; đàn bò 3.306 con tăng 54 con
so với năm 2010; đàn lợn 13.167 con tăng 1.911 con so với năm 2010; gia cầm các loại 62.761 con tăng 9.085 con so với năm 2010; đàn dê 2.985 con giảm 115 con so với năm 2010, đàn ngựa 1.537 con giảm 127 con so với năm
2010 Sản lượng thịt năm 2013 đạt 82,00 tấn
Mặc dù góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyện trong thời gian qua, song tốc độ phát triển chăn nuôi nhìn chung còn chậm và mang tính tự phát, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của địa phương Trong thời gian tới, để ngành chăn nuôi có sự phát triển cần
có chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật cho người dân
Về thủy sản: toàn huyện có 20,00 ha mặt nước ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, với diện tích ao nuôi rất nhỏ nằm phân tán, rải rác trên 12 xã, thị trấn Những năm gần đây do được đầu tư kỹ thuật nên năng suất nuôi trồng thủy sản tăng lên đáng kể Đến cuối năm 2013, giá trị sản xuất ngành thủy sản đem lại
khoảng 1.981 triệu đồng (giá hiện hành), sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt
60,00 tấn, tăng 3,28 tấn so với năm 2010
* Lâm nghiệp
Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 65.644,54 triệu đồng năm 2010 lên
68.870,04 triệu đồng (giá hiện hành) năm 2013 Trong đó trồng rừng và
khoanh nuôi phục hồi rừng đạt 8.182 triệu đồng chiếm 11,88% giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp; khai thác gỗ và lâm sinh đạt 52.324,54 triệu đồng chiếm 75,96% giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp; dịch vụ và lâm nghiệp khác đạt 8.363,5 triệu đồng, chiếm 12,16% giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp Trong 4
Trang 34năm qua, công tác phát triển khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng phòng hộ và rừng sản xuất được quân tâm, nhờ vậy mà diện tích rừng không ngừng tăng lên Giai đoạn 2010 – 2013, toàn huyện trồng mới được 5.913 ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 51%
4.1.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện đã có những nét chuyển biến tích cực Năm 2013, toàn huyện có 341 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, giá trị sản xuất của ngành đạt 50.981 triệu đồng
(giá hiện hành) tăng 32.672,4 triệu đồng so với năm 2010 Giá trị sản xuất của ngành tăng mạnh là do phát triển của nhà máy thủy điện Nậm Đông
Những sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện là: khai thác đá; chế biến thực phẩm; sản xuất và phân phối
điện; sản xuất gỗ và chế biến lâm sản…
Nhìn chung, ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện phát triển khá nhanh, đặc biệt là từ khi nhà máy thủy điện Nậm Đông đi vào hoạt động Tuy nhiên, giá trị hàng hóa chỉ mới đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân địa phương Vì vậy trong thời gian tới cần có các chính sách phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phù hợp với tiềm năng vốn có
của huyện, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cần thiết của người dân trên địa bàn
4.1.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ
Trong những năm qua thương mại - dịch vụ ngày càng phát triển Năm
2013, số cơ sở kinh doanh thương mại – dịch vụ trên địa bàn huyện là 237 cơ
sở, tăng 86 cơ sở so với năm 2010 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 42.905 triệu đồng, tăng 28.675 triệu đồng so với năm 2010
Hiện nay 12/12 xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã có các điểm bán lẻ hàng tạp hóa bước đầu đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi và giao lưu hàng hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương
Nhìn chung ngành thương mại – dịch vụ của huyện phát triển chậm, việc giao thương hàng hóa giữa các vùng, miền hầu như chưa có; hệ thống dịch vụ
Trang 35hiện tại chỉ đủ phục vụ nhu cầu cần thiết cho người dân trong huyện, ý thức phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ của nhân dân còn hạn chế
4.1.2.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Dân số toàn huyện tính đến 31/12/2013 có 27.147 người Dân cư thành thị có 2.394 người chiếm 8,82% dân số toàn huyện; dân cư nông thôn là 24.753 người chiếm 91,18% dân số toàn huyện Tổng số hộ là 4.787 hộ, mật
nhưng phân bố không đều Mật độ
dân số cao tập trung ở thị trấn Trạm Tấu (670,6 người/km 2), xã Hát Lừu
(218,8 người/km 2) Các xã còn lại có mật độ dân số thấp, dao động trong khoảng 17 – 70 người/km2, thấp nhất là ở xã Tà Si Láng với 17,7 người/km2,
xã Túc Đán 17,9 người/km2 Tốc độ tăng trưởng dân số từng bước được kiểm soát, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,1%
Bảng 4.4 Hiện trạng dân số huyện Trạm Tấu năm 2010 (5)
STT Tên xã, thị trấn Số khẩu
(người)
Số hộ (hộ)
Diện tích (ha)
Trang 36Năm 2013, dân số trong độ tuổi lao động toàn huyện là 13.698 người, chiếm 50,46% dân số toàn huyện, trong đó lao động trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, thủy sản là 9.791 người chiếm 71,48% tổng số lao động Lực lượng lao
động trên địa bàn huyện tuy đông, nhưng lao động được đào tạo ít (9,33% tổng
số lao động toàn huyện), số lao động chưa có việc làm còn nhiều vì vậy trong
những năm tới cần có các chính sách đào tạo nghề và giải quyết công ăn việc làm cho những lao động trên
Thời gian qua, đời sống nhân dân huyện Trạm Tấu đang dần được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 5,0 triệu đồng/người/năm tăng 1,64 triệu đồng so với năm 2010 Tuy nhiên, do là huyện thuần nông, thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản; việc phát triển các ngành nghề kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn nên thu nhập bình quân trên
địa bàn huyện còn thấp so với các huyện khác
4.1.2.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường
+ Thuận lợi
- Huyện Trạm Tấu có tỉnh lộ 174 chạy qua, đây là một lợi thế quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện cũng như tiếp cận và thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước
- Tài nguyên đất đai Trạm Tấu tương đối phong phú, quỹ đất chưa sử dụng còn nhiều Nguồn tài nguyên này trong thời gian tới có thể sử dụng để
mở rộng diện tích đất nông nghiệp cũng như xây dựng các cơ sở hạ tầng, nhằm thúc đẩy kinh tế của huyện ngày càng đi lên
- Tài nguyên khoáng sản thuận lợi cho việc hình thành và phát triển cơ
sở khai thác tuyển quặng chì, kẽm tại xã Xà Hồ Đầu tư khai thác mỏ đá tại xã Hát Lừu, Xà Hồ và Tà Si Láng Khai thác đá Thạch Anh và đá ốp lát ở xã Bản
Mù và xã Làng Nhì
- Huyện có nguồn lao động dồi dào, với truyền thống cần cù, chịu khó
Vì vậy có thể huy động chuyển dịch lao động từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác, nhằm giải quyết công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho nhân dân
Trang 37- Nguồn nước dồi dào, thuận lợi cho việc phát triển thủy điện Vì vậy, những năm gần đây ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện phát triển khá mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp
- Trạm Tấu có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, đây là một trong những lợi thế phát triển thương mại, du lịch gắn với phát triển bản sắc, văn hóa truyền thống của các dân tộc
+ Những hạn chế và thách thức
- Trạm Tấu là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, địa hình dốc và bị chia cắt mạnh Hàng năm thường bị lũ quét và lũ ống gây thiệt hại lớn về sản xuất cũng như đời sống nhân dân
- Điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tập quán sản xuất còn lạc hậu, manh mún, đầu tư thâm canh chưa cao nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm năng suất và hiểu quả
- Hệ thống giao thông chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại
và vận chuyển của người dân trên địa bàn huyện
- Nền kinh tế tuy có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng xuất phát điểm thấp, quy mô sản xuất nhỏ, hàng hóa có sức cạnh tranh thấp trên thị trường vì vậy sẽ có nhiều khó khăn trong tiến trình hội nhập trong những năm tới Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đúng hướng song vẫn chưa vững chắc
- Tiềm năng đất đai, nguồn lao động chưa được phát huy sử dụng triệt
để Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
- Dân cư phân bố không đều, sống rải rác trên các sườn núi, phương thức sản xuất mang tính tự cung tự cấp
- Trình độ dân trí không đồng đều nên việc truyên truyền và phổ biến
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn