VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Sản xuất vật chất và vai trò của nó đối với sự tồn tại, phát t
Trang 1PHẦN A NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN CÂU 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN
HỆ GIƯÃ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Định nghĩa vật chất của Lênin
Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của C Mác và Ph.Ăngghen, phân tích và khái quát một cách sâu sắc những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, năm 1908, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã nêu ra định nghĩa kinh điển về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
- Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin
+ Trước hết, V.I Lênin tiếp cận vật chất với tính cách là một phạm trù triết học, để phân biệt với khái niệm vật chất của các khoa học cụ thể và do đó nó có ý nghĩa thế giới quan, phương pháp luận chung nhất Vì vật chất là phạm trù khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không có một phạm trù nào rộng hơn nó, nên chỉ có một phương pháp định nghĩa duy nhất đang là đặt nó trong mối quan hệ và phải thông qua phạm trù đối lập với nó là ý thức, mà không thể định nghĩa bằng phương pháp thông thường
+ Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Đây chính là điều kiện cần và đủ để phân biệt những gì là vật chất và những gì không thuộc vật chất Cho nên, nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã, đang và sẽ tồn tại thực, bên ngoài ý thức con người Vật chất là hiện thực chứ không phải hư vô và hiện thực này là khách quan chứ không phải hiện thực chủ quan (tức ý thức)
- “Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh" Vật chất luôn biểu hiện đặc tính “thực tại khách quan” của mình thông qua sự tồn tại phong phú sinh động của các sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể Tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình đó khi tác động vào các giác quan thì cho ta cảm giác Cho nên, thực tại khách quan (vật chất) là cái có trước, cảm giác, ý thức con người là cái có sau
- Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
+ Bằng định nghĩa này V.I Lênin đã giải quyết triệt để cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, qua đó, vừa chống được những quan điểm duy tâm, thuyết bất khả tri, vừa khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác về phạm trù vật chất
Trang 2+ Định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được tính chất chủ quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng thời kế thừa và phát huy được những tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về vật chất
+ Định nghĩa vật của V.I Lênin đã góp phần đưa chủ nghĩa duy vật lên một tầm cao mới, làm cơ sở khoa học xây dựng quan niệm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội, đồng thời góp phần khắc phục sự khủng hoảng về mặt thế giới quan trong đội ngũ các nhà triết học và khoa học tự nhiên lúc bấy giờ, qua đó thúc đẩy họ tiếp tục đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, củng cố thêm mối liên minh chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật triết học.Triết học Mác-Lênin khẳng định: ý thức là sự phản ánh tích cực chủ động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người, và do đó, nó có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Về nguồn gốc tự nhiên của ý thức
+ Ý thức là một hiện tượng phản ánh, nhưng là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng
+ Thuộc tính phản ánh gắn với sự tiến hoá cửa hệ thống vật chất từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Cho nên, nếu như các kết cấu vật chất phát triển từ vô cơ, hữu cơ, thực vật, động vật đến con người thì thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ phản ánh vật lý, phản ánh thực vật, tâm lý động vật đến phản ánh của con người
+ Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt là “bộ não người" Con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài của thế giới vật chất Não người - cơ quan vật chất của ý thức - là sản phẩm phát triển cao nhất của vật chất, có kết cấu rất phức tạp Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong não người, trên cơ sở các quá trình sinh lý thần kinh của bộ não
+ Như vậy não người và thuộc tính phản ánh của nó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Về nguồn gốc xã hội của ý thức
Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức
+ Lao động là nhân tố cơ bản quyết định biến vượn thành người và cùng với quá trình cải biến tự nhiên lao động đã tạo ra xã hội loài người, nhân tố tạo tiền đề, điều kiện đẩy nhanh sự hoàn thiện, phát triển của con người, nhu cầu động lực của sự phát triển ý thức
Lao động đã biến các giác quan của vượn thành các giác quan của con người, đồng thời tạo
ra các công cụ nối dài các giác quan giúp các giác quan của con người không ngừng phát triển, hoàn thiện
Trang 3Lao động đã tạo ra công cụ Công cụ càng phát triển càng làm tăng khả năng của con người tác động vào tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình, buộc thế giới khách quan bộc lộ các thuộc tính để con người nhận thức, cải tạo thỏa mãn nhu cầu
Sự phát triển về phương thức, nội dung, loại hình và năng suất của lao động làm cho đời sống vật chất, tinh thần trong đó có chất lượng bữa ăn của con người ngày càng tăng lên Điều
đó giúp cho bộ não và sự hoạt động của bộ não con người ngày càng hoàn thiện
+ Ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là
“cái vỏ vật chất” của tư duy, là công cụ để con người phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hoá các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Ngôn ngữ là phương tiện để lưu truyền tri thức
từ thế hệ này sang thế hệ khác, giúp con người nhanh chóng hình thành, phát triển ý thức
+ Lao động và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, là cơ sở, tiền đề cho nhau tồn tại, phát triển, luôn giữ vai trò quyết định đối với sự ra đời phát triển của ý thức
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc của ý thức là cơ sở lý luận để khẳng định trong xem xét, phát triển ý thức con người phải toàn diện; trên cơ sở phát triển nguồn gốc xã hội phải quan tâm đúng mức đến nguồn gốc tự nhiên; tránh coi nhẹ, tuyệt đối hoá, hoặc tách rời các nguồn gốc với nhau
+ Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động Nghĩa là con người dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật, hiện tượng làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính chất của mình, qua đó con người có hiểu biết về sự vật, hiện tượng
+ Ý thức là quá trình “cái vật chất” được di chuyển vào óc người và được cải biến trong đó, cho nên, sự phản ánh của ý thức mang dấu ấn sâu sắc của chủ thể phản ánh
Thứ nhất, sự phản ánh của ý thức phụ thuộc vào trình độ, năng lực của chủ thể Đó là tri thức, sự hiểu biết của chủ thể về tự nhiên và xã hội Trình độ của chủ thể càng cao thì khả năng xác định mục đích, phương tiện, phương pháp phản ánh càng chính xác và ngược lại
Thứ hai, sự phản ánh của ý thức phụ thuộc vào kinh nghiệm của chủ thể
Trang 4Thứ ba, sự phản ánh của ý thức phụ thuộc vào lợi ích của chủ thể Lợi ích, nhất là lợi ích giai cấp và lợi ích cá nhân chi phối trực tiếp tình cảm, ý chí, bản lĩnh của chủ thể phản ánh Lợi ích có thể xuyên tạc, bóp méo nội dung phản ánh.
- Xem xét, đánh giá nội dung của ý thức cần đặt trong mối quan hệ với tình cảm, ý chí, năng lực, lợi ích của chủ thể Để ý thức ngày càng phản ánh chính xác hơn hiện thực khách quan cần không ngừng nâng cao trình độ, năng lực, kinh nghiệm, bản lĩnh của chủ thể Tránh tách rời nội dung của ý thức với chủ thể phản ánh
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Vật chất và ý thức luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, vật chất quyết định
ý thức, còn ý thức có tác động trở lại đối với vật chất
- Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức:
+ Vật chất quyết định ý thức về nguồn gốc, nội dung, bản chất và sự vận động, phát triển Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, có trước ý thức, là nguồn gốc sinh ra ý thức + Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung, sự vận động phát triển của ý thức Tính chất năng động, sáng tạo có mục đích của ý thức bắt nguồn trực tiếp từ hoạt động vật chất - hoạt động thực tiễn của con người, nhưng suy đến cùng cũng do thế giới khách quan qui định
- Ý thức tác động trở lại với vật chất
+ Do có tính năng động, sáng tạo và độc lập tương đối so với vật chất nên ý thức có vai trò, định hướng, chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn của con người Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự vận động, biến đổi, phát triển các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan
Ý thức phản ánh đúng sẽ giúp con người cải tạo có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển của hiện thực khách quan
Ngược lại, ý thức phản ánh không đúng sẽ làm cho hoạt động của con người kém hiệu quả thậm chí phản tác dụng, kìm hãm, gây nguy hại cho chính bản thân con người và hiện thực khách quan
+ Khả năng của ý thức tác động trở lại vật chất không chỉ phụ thuộc vào năng lực phản ánh của ý thức, tình cảm, ý chí, bản lĩnh, kinh nghiệm của chủ thể mà còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khách quan
Tóm lại, để hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, đồng thời phát
Trang 5huy cao nhất vai trò của nhân tố chủ quan Bên cạnh đó cũng cần chống chủ nghĩa khách quan, định mệnh, trông chờ, ỷ lại điều kiện khách quan; đồng thời, chống chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, tinh thần.
CÂU 2 02 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
• QUAN HỆ PHỔ BIẾN
• QUAN HỆ PHÁT TRIỂN
Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất
Vì thế Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
I Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng
1 Khái niệm mối liên hệ phổ biến:
Là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
2 Nội dung và tính chất của mối liên hệ
– Tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ: Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động lại là phương thức tồn tại của vật chất, là một tất yếu khách quan, do đó mối liên hệ cũng là một tất yếu khách quan
Mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới
– Do mối liên hệ là phổ biến, nên nó có tính đa dạng: Các sự vật; hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng cần phải phân loại mối liên hệ một cách cụ thể
Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những loại mối liên hệ sau: chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian, v.v Sự phân loại này là tương đối, vì mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt trong toàn
bộ mối liên hệ phổ biến nói chung
Trang 6– Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất và phổ biến nhất của thế giới khách quan Còn những hình thức cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiến cứu của các ngành khoa học cụ thể.
3 Ý nghĩa phương pháp luận
– Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các
bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật
đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật
và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Để thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại
– Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể
Quan điểm lịch sử – cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác
Vì vậy để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời
kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ đó và trong khi thực
Trang 7hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể.
II Nguyên lý về sự phát triển
1 Khái niệm phát triển
– Phát triển là sự vận động tiến lên (từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn)
– Từ khái niệm trên cho thấy:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì nhờ có mối liên hệ thì sự vật mới có sự vận động và phát triển
Cần phân biệt khái niệm vận động với khái niệm phát triển Vận động là mọi biến đổi nói chung, con người phát triển là sự vận động có khuynh hướng và gắn liền với sự ra đời của cái mới hợp quy luật
2 Nội dung và tính chất của sự phát triển
– Phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, là khuynh hướng chung của thế giới
– Sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừa liên tục
– Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua những khâu trung gian, thậm chí có lúc, có sự thụt lùi tạm thời
– Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật Nguồn gốc của sự phát triển là do sự đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật
3 Phân biệt quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển
– Quan điểm biện chứng xem sự phát triển là một quá trình vận động tiến lên thông qua những bước nhảy vọt về chất Nguồn gốc của sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập ở trong sự vật
– Quan điểm siêu hình nói chung là phủ định sự phát triển, vì họ thường tuyệt đối hoá mặt
ổn định của sự vật, hiện tượng Sau này, khi khoa học đã chứng minh cho quan điểm về sự phát triển của sự vật, buộc họ phải nói đến sự phát triển, song với họ phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng không có sự thay đổi về chất và nguồn gốc của nó ở bên ngoài sự vật, hiện tượng
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 8– Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.
– Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển
– Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật
– Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của
sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người
– Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
– Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch
sử – cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người Song để thực hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng – nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình
III Ý nghĩa phương pháp luật của việc nắm vững hai nguyên lý này
Nguyên lý về liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần phải có quan điểm toàn diện Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật, phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thận sự vật và với các sự vật và hiện tượng khác
Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động và phát triển của sự vật
Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là vận động đi lên thì trong nhận thực và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển Quan điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện được cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật
Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sự cụ thể và phát triển Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện
và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao
Trang 9CÂU 3 CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT (03 QUY LUẬT)
Trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, V.I.Lênin đã coi quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập là "hạt nhân của phép biện chứng", bởi vì quy luật này đã chỉ
rõ nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển của sự vật; và là "chìa khoá" giúp chúng ta nắm vững thực chất của các quy luật cơ bản và các cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng
I Nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)
1 Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến
- Mâu thuẫn là một khái niệm để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập Đó
là những mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau cùng tồn tại trong một sự vật.Mâu thuẫn là sự thống nhất của hai mặt đối lập
- Mâu thuẫn có tính khách quan, vì là cái vốn có trong các sự vật hiện tượng và tính phổ biến - tồn tại trong tất cả các lĩnh vực (tự nhiên, xã hội và tư duy)
- Do mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến, nên mâu thuẫn có tính đa dạng và phức tạp Mâu thuẫn trong mỗi sự vật và trong các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau.Trong mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một mâu thuẫn, mà có nhiều mâu thuẫn.Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn lại có đặc điểm, có vai trò tác động khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật.Vì vậy, cần phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự xung đột, bài trừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập
Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập không tách rời với sự đấu tranh giữa chúng, bởi vì trong quy định, ràng buộc lẫn nhau, hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược nhau, đấu tranh với nhau
Trang 10- Phát triển là một sự đấu tranh giữa các mặt đối lập:
+ Quá trình hình thành và phát triển của một mâu thuẫn: lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt; sau đó phát triển lên thành hai mặt đối lập; khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và có điều kiện thì giữa chúng có sự chuyển hoá - mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và lại một quá trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động và phát triển
+ Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lập không chuyển hoá), thì không có
sự phát triển Chuyển hoá của các mặt đối lập là tất yếu, là kết quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Do sự đa dạng của thế giới, nên các hình thức chuyển hoá cũng rất đa dạng: có thể hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau và cũng có thể chuyển hoá lên hình thức cao hơn
Sự vận động và phát triển của sự vật thể hiện trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt: thống nhất của các mặt đối lập và đấu tranh của hai mặt đối lập, trong đó: thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời, tương đối; còn đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vận động và phát triển của sự vật là sự tự thân và diễn ra liên tục.Tính tương đối của thống nhất giữa các mặt đối lập làm cho thế giới vật chất phân hoá thành các bộ phận, các sự vật đa dạng, phức tạp, gián đoạn
Tóm lại: mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan đều là thể thống nhất của các mặt đối lập, chính sự đấu tranh của các mặt đối lập và sự chuyển hoá giữa chúng là nguồn gốc, động lực của sự phát triển
II Ý nghĩa phương pháp luận
- Mâu thuẫn là khách quan, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên muốn nắm được bản chất của sự vật cần phải phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của chúng
- Mâu thuẫn là phổ biến, đa dạng, do đó trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải có phương pháp phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ thể Việc giải quyết mâu thuẫn chỉ bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đối lập và với những điều kiện chín muồi
***
Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.Quy luật này chỉ rõ cách thức của sự phát triển của sự vật, hiện tượng
I Nội dung của quy luật lượng - chất
Trang 11Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng.Để hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt này, trước hết cần phải nắm vững các khái niệm chất và lượng.
1 Cặp phạm trù chất và lượng
- Chất: là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, làm cho nó là nó và phân biệt nó với cái khác
Từ quan niệm trên chúng ta không nên đồng nhất khái niệm chất với khái niệm thuộc tính.+ Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính Nhưng những thuộc tính này không tham gia vào việc quy định chất như nhau, mà chỉ có những thuộc tính cơ bản mới quy định chất của sự vật.Vì thế, chỉ khi nào thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật mới thay đổi.Khi các thuộc tính không cơ bản có thể thay đổi, nhưng không làm cho chất của sự vật thay đổi
+ Mặt khác, các thuộc tính cũng như chất của sự vật chỉ bộc lộ qua những mối liên hệ cụ thể Do đó, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính cũng chỉ là tương đối Và như vậy, mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất tuỳ theo những mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác
+ Chất biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật, là cái vốn có và không tách rời sự vật
Do đó, không thể có chất tồn tại "thuần tuý" hoặc phụ thuộc vào cảm giác chủ quan của con người như các nhà triết học duy tâm chủ quan quan niệm
- Lượng: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, về mặt quy mộ, trình độ phát triển của sự vật, biểu thị số lượng các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật.+ Đặc trưng của lượng được biểu thị bằng con số hoặc các đại lượng chỉ kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, tổng số nhiều hay ít, trình độ cao hay thấp, tốc độ nhanh hay chậm v.v Nhưng đối với các sự vật phức tạp, không thể chỉ diễn tả bằng những con số chính xác, mà còn phải được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hoá
+ Cũng giống như chất, lượng là cái khách quan vốn có bên trong của sự vật
+ Sự phân biệt giữa chất và lượng cũng là tương đối, nghĩa là, có cái ở trong quan hệ này là chất, nhưng ở trong quan hệ khác lại là lượng và ngược lại Do đó, cần chống quan điểm siêu hình tuyệt đối hoá ranh giới giữa chất và lượng
2 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
Trang 12- Chất và lượng là hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định, còn lượng thường xuyên biến đổi Song, hai mặt đó không tách rời nhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng.Sự thống nhất giữa chất và lượng ở trong một độ nhất định, khi sự vật đang tồn tại.
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn, mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.Điểm giới hạn khi mà lượng đạt tới sẽ làm thay đổi chất của sự vật thì gọi là điểm nút
- Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy Đó là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng, là sự gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật Do vậy có thể nói phát triển là sự "đứt đoạn" trong liên tục, là trạng thái liên hợp của các điểm nút
- Khi sự vật mới ra đời với chất mới lại có một lượng mới phù hợp, tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng Sự tác động của chất mới đối với lượng mới được biểu hiện ở quy mô, nhịp điệu phát triển mới của lượng
Tóm lại: Quy luật lượng - chất đã chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật và hiện tượng Trước hết, lượng biến đổi dần dần và liên tục và khi đạt đến điểm nút (giới hạn của sự thống nhất giữa chất và lượng) sẽ dẫn đến bước nhảy về chất; chất mới ra đời lại tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng
Tất nhiên, thế giới sự vật, hiện tượng là đa dạng, phong phú, do đó hình thức của các bước nhảy cũng rất đa dạng và phong phú
II - Ý nghĩa phương pháp luận
1 Quy luật lượng chất có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Do sự vận động và phát triển của sự vật, trước hết, là sự tích luỹ về lượng và khi sự tích luỹ về lượng vượt quá giới hạn độ, thì tất yếu có bước nhảy về chất, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống cả hai khuynh hướng: thứ nhất, "tả khuynh" - tư tưởng nôn nóng, chủ quan duy ý chí, thể hiện ở chỗ khi chưa có sự tích luỹ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất; thứ hai, "hữu khuynh" – tư tưởng bảo thủ, chờ đợi, không dám thực hiện bước nhảy về chất, khi đã có sự tích luỹ đầy đủ về lượng hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng
2 Cần có thái độ khách quan khoa học và có quyết tâm thực hiện các bước nhảy khi có các điều kiện đầy đủ
***
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, chỉ rõ khuynh hướng của sự vận động, phát triển của sự vật và sự liên hệ giữa cái mới và
Trang 13cái cũ.Để hiểu được bản chất của quy luật, trước hết cần nắm được khái niệm phủ định và phủ định biện chứng.
I - Phủ định và phủ định biện chứng
1 Khái niệm phủ định
Trong thế giới vật chất, các sự vật đều có quá trình sinh ra, tồn tại, mất đi và được thay thế bằng sự vật khác.Sự thay thế cái cũ bằng cái mới là sự phủ định.Như vậy, phủ định là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất
2 Khái niệm phủ định biện chứng
Nếu quan điểm siêu hình coi phủ định là sự xoá bỏ hoàn toàn cái cũ, thì triết học Mác - Lênin coi phủ định là sự phủ định biện chứng - sự phủ định có kế thừa, tạo điều kiện cho sự phát triển
- Quan niệm về sự phủ định biện chứng như trên tất yếu sẽ gắn với sự giải quyết mâu thuẫn
và thực hiện bước nhảy Chính sự ra đời của sự vật mới về chất phải thông qua việc giải quyết mâu thuẫn (đó cũng chính là bước nhảy về chất)
3 Những đặc điểm của phủ định biện chứng
- Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguyên nhân của phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật và của quá trình từ những tích luỹ về lượng dẫn đến sự nhảy vọt về chất
- Tính kế thừa: Cái mới ra đời trên cơ sở của cái cũ đó là sự phủ định có kế thừa Phủ định
có kế thừa - sự loại bỏ những yếu tố đã lỗi thời, lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển; đồng thời cũng chọn lọc, giữ lại những yếu tố tích cực và cải biến đi cho phù hợp vợi cái mới
II - Nội dung của quy luật phủ định của phủ định
- Thế giới vật chất vận động và phát triển diễn ra thông qua quá trình phủ định biện chứng
vô tận Sự phát triển của các sự vật diễn ra qua nhiều lần phủ định, tạo ra một khuynh hướng đi
từ thấp đến cao có tính chu kỳ Tính chu kỳ của sự phủ định biện chứng biểu hiện ở chỗ thông qua một số lần phủ định, cái mới xuất hiện dường như lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn Thí dụ: Hạt lúa (khẳng định) (1); Cây lúa (phủ định) (2); Bông lúa (phủ định của phủ định)+ Qua sự phủ định lần thứ nhất, sự vật chuyển thành mặt đối lập với chính mình (cây lúa phủ định hạt lúa)
+ Qua sự phủ định lần thứ hai, sự vật mới này lại chuyển thành mặt đối lập với nó và dường như trở lại dạng ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn (bông lúa phủ định cây lúa)
Trang 14Như vậy, kết quả của sự phủ định của phủ định là cái tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực
đã được phát triển từ trước, trong cái khẳng định ban đầu và cái phủ định lần thứ nhất.Đó là sự
"lọc bỏ" biện chứng những giai đoạn đã qua để đạt đến cái mới về chất cao hơn.Đó chính là quá trình "lọc bỏ" biện chứng
Ở thí dụ trên, qua hai lần phủ định sự vật trải qua một chu kỳ phát triển Rõ ràng, ở sự vật đơn giản, ít ra cũng phải thông qua hai lần phủ định mới có được sự phát triển, ở các sự vật phức tạp số lần phủ định có thể nhiều hơn
Sự phủ định của phủ định là sự kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ mới và cứ như thế tiếp tục mãi mãi, tạo nên hình thái "xoáy trôn ốc" của sự phát triển
III - Ý nghĩa phương pháp luận
1 Quy luật phủ định của phủ định đã chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng chung, là tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà quanh co phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định, nhiều khâu trung gian Điều đó giúp chúng ta tránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các
sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội
2 Quy luật phủ định của phủ định cũng khẳng định tính tất thắng của cái mới, vì cái mới, là cái ra đời phù hợp với quy luật phát triển của sự vật Mặc dù khi mới ra đời, cái mới có thể còn non yếu, song nó là cái tiến bộ hơn, là giai đoạn phát triển cao hơn về chất so với cái cũ.Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần có ý thức phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển
3 Trong khi phê phán cái cũ, cần phải biết sàng lọc, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ, tránh thái độ "hư vô chủ nghĩa", "phủ định sạch trơn"
CÂU 4 VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Sản xuất vật chất và vai trò của nó đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội:
1) Sản xuất vật chất là hoạt động khi con người sử dụng công cụ lao động tác động (trực tiếp hay gián tiếp) vào đối tượng lao động nhằm cải biến các dạng vật chất của tự nhiên, tạo ra của cải cần thiết mà các dạng vật chất trong tự nhiên không có để thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển Sản xuất vật chất có tính khách quan, tính xã hội, tính lịch sử và tính sáng tạo Bất
kỳ một quá trình sản xuất nào cũng được tạo nên từ ba yếu tố cơ bản là sức lao động của người lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động
Trang 152) Phương thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất
ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người; cách thức mà con người tiến hành sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng Mỗi phương thức sản xuất đều có yếu tố kỹ thuật và kinh tế của mình; trong đó yếu
tố kỹ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nào để tác động biến đổi các đối tượng của quá trình đó; còn yếu tố kinh tế của phương thức sản xuất là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sản xuất được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế nào Hai yếu tố trên của phương thức sản xuất vận động theo hướng tách biệt và phụ thuộc lẫn nhau tạo ra vai trò của phương thức sản xuất là quy định tính chất, kết cấu, sự vận động và phát triển của xã hội
3) Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội
Sản xuất vật chất luôn giữ vai trò quy định sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người; là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội; là cơ sở của
sự hình thành, biến đổi và phát triển của xã hội loài người
a) Mọi thành viên trong xã hội đều tiêu dùng (ăn, uống, ở, mặc v.v) Những thứ có sẵn trong
tự nhiên không thể thoả mãn mọi nhu cầu của con người, nên nó phải sản xuất ra của cải vật chất Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan cơ bản; là một hành động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm trước đây con người vẫn phải tiến hành Cùng với việc cải biến giới
tự nhiên, con người cũng cải biến chính bản thân mình và cải biến cả các mối quan hệ giữa con người với nhau và chính việc cải biến đó làm cho việc chinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn
b) Xã hội loài người tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất Lịch sử xã hội loài người, do vậy và trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất
c) Sản xuất vật chất là cơ sở để hình thành nên các mối quan hệ xã hội khác Xã hội loài người là một tổ chức vật chất và giữa các yếu tố cấu thành nó cũng có những kiểu quan hệ nhất định Các quan hệ xã hội về nhà nước, chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, khoa học v.v (cái thứ hai) đều được hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất vật chất (cái thứ nhất) nhất định Trong quá trình đó, con người đồng thời cũng sản xuất ra và tái sản xuất ra những quan hệ
xã hội của mình
d) Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tiến bộ xã hội Sản xuất vật chất không ngừng được các thế hệ người phát triển từ thấp đến cao Mỗi khi phương thức sản xuất thay đổi, quan hệ giữa người với người trong sản xuất cũng thay đổi; và do vậy, mọi mặt của đời sống xã hội đều có
sự thay đổi theo sự tiến bộ của phương thức sản xuất
II Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Trang 161 Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi, phát triển dưới ảnh hưởng quyết định của lực lượng sản xuất
- Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất và cách mạng nhất, là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, là hình thức xã hội của phương thức sản xuất Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức
- Lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất biến đổi theo phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Sự phù hợp đó làm cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất phát triển đến mức nào đó sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có, đòi hỏi xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ để hình thành quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất đang phát triển, làm phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới xuất hiện
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thấp đến cao qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đã quyết định sự thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cao hơn, đưa loài người trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau từ thấp lên cao, với những kiểu quan hệ sản xuất khác nhau
2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
- Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất sẽ tạo địa bàn rộng lớn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, trở thành động lực cơ bản thúc đẩy, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển
- Khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành xiềng xích trói buộc, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Quan hệ sản xuất, sở dĩ có thể tác động (thúc đẩy hoặc kìm hãm) sự phát triển của lực lượng sản xuất, vì nó quy định mục đích của sản xuất; ảnh hưởng đến thái độ lao động của quảng đại quần chúng; kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ, việc áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, việc hợp tác và phân công lao động, v.v
- Trong xã hội có giai cấp đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh giai cấp mới giải quyết được mâu thuẫn đó để đưa xã hội tiến lên
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện sự vận động nội tại của phương thức sản xuất và biểu hiện tính tất yếu của sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác cao hơn.Quy luật này là quy luật phổ biến tác động trong mọi xã hội, làm cho xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao
Trang 173 Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta.
Nước ta lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, do đó xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài và đầy khó khăn, phức tạp Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ và có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Tình hình thực tế của nước ta đòi hỏi phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá
độ từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn Để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội Từng bước xã hội hoá xã hội chủ nghĩa, quá trình đó được thực hiện không phải bằng gò ép mà được thực hiện từng bước thông qua sự hỗn hợp các hình thức sở hữu như công ty cổ phần, chủ nghĩa tư bản nhà nước, các hình thức hợp tác xã v.v để dần dần hình thành các tập đoàn kinh doanh lớn, trong đó các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể là nòng cốt Chúng ta chỉ bỏ qua những gì của xã hội cũ không còn phù hợp với xã hội mới thay thế và không đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn; chúng ta chủ trương thực hiện sự chuyển hoá cái cũ thành cái mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Lưu ý: Liên hệ với quá trình đi lên CNXH ở VN
CÂU 5 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG
I- Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1 Cơ sở hạ tầng
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định Khái niệm cơ sở hạ tầng phản ánh chức năng xã hội của các quan hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội
- Cơ sở hạ tầng bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ sản xuất là tàn dư của
xã hội trước và những quan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội sau Đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị quy định
- Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì tính chất của sự đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ trong cơ sở hạ tầng
2 Kiến trúc thượng tầng
Trang 18- Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
- Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật phát triển riêng, nhưng có liên hệ tác động lẫn nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng, trong đó nhà nước là bộ phận có quyền lực mạnh mẽ nhất của kiến trúc thượng tầng Chính nhờ
có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội
- Kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm hệ tư tưởng và thể chế của giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước, các quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời, quan điểm tư tưởng của các tầng lớp trung gian Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của kiến trúc thượng tầng trong một hình thái xã hội nhất định.Tính chất đối kháng về quan điểm tư tưởng và cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng phản ánh tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng
II- Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, giữa chúng
có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
và kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng
1 Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
- Cơ sở hạ tầng sinh ra kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng của một xã hội nhất định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó thế nào thì hệ thống tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, v.v và các quan hệ; các thể chế tương ứng với những tư tưởng
ấy cũng như vậy
- Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng Sự biến đổi đó xảy ra trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, cũng như từ hình thái kinh tế — xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự biến đổi đó diễn ra thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp
- Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mỗi hình thái kinh
tế - xã hội
2 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
- Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện trước hết ở chức năng chính trị - xã hội của kiến trúc thượng tầng nhằm bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ
Trang 19- Các bộ phận khác nhau của kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng có tác động to lớn nhất và trực tiếp đối với cơ sở hạ tầng.
- Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, kiến trúc thượng tầng có những quá trình biến đổi nhất định Quá trình đó càng phù hợp với cơ sở hạ tầng thì sự tác động của nó đối với cơ sở hạ tầng càng có hiệu quả; ngược lại, quá trình đó không theo cùng chiều với quy luật vận động của
cơ sở hạ tầng thì nó sẽ cản trở sự phát triển của cơ sở hạ tầng
- Trong thời đại ngày nay, vai trò của kiến trúc thượng tầng tăng lên rõ rệt, càng thể hiện với
tư cách là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử Song nếu quá nhấn mạnh hoặc thổi phồng vai trò của kiến trúc thượng tầng đến mức phủ định tính tất yếu kinh tế của xã hội, thì sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan, duy y chí
3 Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta
- Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Về xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng ta đã khẳng định: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng cho mọi hoạt động tinh thần của xã hội Xây dựng hệ thống chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa mang tính chất giai cấp công nhân, do đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm cho nhân dân thực sự là người chủ của xã hội Các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị - xã hội không tồn tại như một mục đích tự thân mà vì phục vụ con người, thực hiện cho được lợi ích và quyền lực thuộc về nhân dân lao động
- Mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng hoặc kiến trúc thượng tầng là một bước giải quyết mâu thuẫn giữa chúng Việc phát triển và củng cố cơ sở hạ tầng, điều chỉnh và củng cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là một quá trình diễn ra trong suốt thời kỳ quá độ
- Sự định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì hoạt động định hướng của kiến trúc thượng tầng chính trị không chỉ bó hẹp trong kinh tế quốc doanh mà phải hoạt động bao quát cả trong những thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với những hình thức và bước đi thích hợp theo hướng: kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển ở những vị trí chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng, các tập đoàn kinh doanh lớn có sức chi phối trong nền kinh tế được hình thành
CÂU 6 KHÁI NIỆM CẤU TRÚC HÌNH THÁI KT-XH
Trang 20• TẠI SAO NÓI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HÌNH THÁI KT-XH LÀ MỘT QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỰ NHIÊN
A KHÁI NIỆM CƠ BẢN
B NỘI DUNG CHÍNH
C Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
D LIÊN HỆ ĐỐI VỚI BẢN THÂN
- Khái niệm “hình thái kinh tế - xã hội”
Với tư cách là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệm hình thái kinh
tế - xã hội dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy
- Các yếu tố hợp thành một hình thái kinh tế - xã hội
+ Phương pháp luận của sự phân tích các yếu tố cấu thành một hình thái kinh tế - xã hội:
Xã hội là tổng thể của nhiều lĩnh vực với những mối quan hệ xã hội hết sức phức tạp Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để phân tích đời sống xã hội, tiến hành trừu tượng hóa các quan hệ xã hội và phân tách ra những quan hệ sản xuất, tức là những quan hệ kinh tế tồn tại một cách khách quan, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí con người, tiến hành “giải phẫu” những quan hệ đó Đồng thời phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ phụ thuộc của nó với thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực Phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ với toàn bộ những quan hệ xã hội khác, tức với những quan hệ thuộc kiến trúc thượng tầng chính trị - xã hội, từ đó cho thấy rõ xã hội là một hệ thống cấu trúc với các lĩnh vực cơ bản tạo thành V.I.Lênin từng nhấn mạnh rằng:
“Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”.+ Các yếu tố cấu thành một hình thái kinh tế - xã hội:
Một là, các lực lượng sản xuất của xã hội ở một trình độ phát triển nhất định, đóng vai trò là
cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội đó
Hai là, hệ thống quan hệ sản xuất được hình thành trên cơ sở thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của các lực lượng sản xuất đó; những quan hệ sản xuất này hợp thành một cơ cấu kinh tế của xã hội, đóng vai trò là cơ sở hạ tầng kinh tế của việc xác lập trên đó một kiến trúc thượng tầng nhất định
Trang 21Ba là, hệ thống kiến trúc thượng tầng được xác lập trên cơ sở hạ tầng kinh tế, đóng vai trò là các hình thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá, của các quan hệ sản xuất của xã hội.
- Hiểu thế nào về luận điểm của C.Mác: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên?
Theo C.Mác: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên
Luận điểm đó được phân tích ở các nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người
mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, trong đó, cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng
Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, của xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó
Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại và đó là sự phát triển của lịch sử
xã hội loài người, có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định chính là sự tác động của các quy luật khách quan Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó, là quá trình thay thế tuần
tự của các hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
- Nhân tố chủ quan đóng vai trò gì đối với tiến trình phát triển của lịch sử?
Trong khi khẳng định tính chất lịch sử - tự nhiên, tức tính quy luật khách quan của sự vận động, phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đồng thời khẳng định vai trò của các nhân
tố khác đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng Đó là sự tác động của các nhân tố thuộc về điều kiện địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử, v.v Chính do sự tác động của các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Tính chất phong phú, đa dạng trong tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định Tuy nhiên, những sự
“bỏ qua” như vậy đều phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định
Trang 22Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, nó đóng vai trò là các nhân tố thuộc cơ chế vận động, phát triển của lịch sử nhân loại Từ đó lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó.
- Ý nghĩa phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế - xã hội
Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó hạt nhân là lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã cung cấp một phương pháp luận thực sự khoa học trong nghiên cứu về lĩnh vực xã hội
Thứ nhất, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất vật chất chính là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất và do đó cũng là nhân tố quyết định trình độ phát triển của đời sống xã hội và lịch sử nói chung Vì vậy, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng hoặc từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội, mà phải xuất phát từ bản thân thực trạng phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là từ trình độ phát triển của phương thức sản xuất xã hội với cốt lõi là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực
Thứ hai, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống động Các phương diện của đời sống xã hội tồn tại trong một hệ thống cấu trúc thống nhất chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò là quan hệ cơ bản nhất, quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội khác nhau Vì vậy, để lý giải chính xác đời sống xã hội cần phải sử dụng phương pháp luận trừu tượng hóa khoa học - đó là cần phải xuất phát từ quan hệ sản xuất hiện thực của xã hội để tiến hành phân tích các phương diện khác nhau (chính trị, pháp luật, văn hóa, khoa học, ) của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng
Thứ ba, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sự vận động, phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, tức là quá trình diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan, do vậy muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn, có hiệu quả những vấn
đề của đời sống xã hội thì phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động, phát triển của xã hội V.I.Lênin từng nhấn mạnh rằng: “Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó”.Những giá trị khoa học trên đây của lý luận hình thái kinh tế - xã hội là những giá trị về mặt phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử nhân loại, lịch sử các
Trang 23cộng đồng người, nó không thể thay thế cho những phương pháp đặc thù trong các quá trình nghiên cứu về từng lĩnh vực cụ thể của xã hội V.I.Lênin từng dạy rằng: lý luận đó “không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp “duy nhất khoa học” để giải thích lịch sử”.
CÂU 7 QUAN ĐIỂM VỀ HÀNG HÓA, 02 THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HÓA.
- Khái niệm hàng hoá:
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
- Hai thuộc tính của hàng hóa: giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng:
+ Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp
+ Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hóa:
* Hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật
* Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa
là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định
* Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất, tiêu dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào
* Hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại thì giá trị sử dụng càng cao
Giá trị hàng hóa:
Một vật, khi đã là hàng hoá thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất
cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hoá Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật
đó phải có giá trị trao đổi Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi
+ Giá trị trao đổi:
Trang 24* Khái niệm: Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị
sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác
* Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc
* Hai vật thể khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ sở chung nào đó Vì các hàng hóa khác nhau về giá trị sử dụng nên không thể lấy giá trị sử dụng để đo lường các hàng hóa Các hàng hóa khác nhau chỉ có một thuộc tính chung làm cho chúng có thể
so sánh được với nhau trong khi trao đổi: các hàng hóa đều là sản phẩm của lao động, sản phẩm của lao động là do lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Thực chất các chủ thể khi trao đổi hàng hóa với nhau là trao đổi lao động chứa đựng trong hàng hóa Trong ví dụ trên, giả sử người thợ dệt làm ra được 1 m vải mất 5 giờ, người nông dân làm ra 10 kg thóc cũng mất
5 giờ Trao đổi 1 m vải lấy 10 kg thóc thực chất là trao đổi 5 giờ lao động sản xuất ra 1 m vải với 5 giờ lao động sản xuất ra 10 kg thóc
Như vậy, hao phí để sản xuất ra hàng hóa là cơ sở chung của trao đổi gọi là giá trị hàng hóa.+ Khái niệm: Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá
+ Đặc trưng của giá trị hàng hóa:
* Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
* Giá trị là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó chỉ tồn tại ở những phương thức sản xuất có sản xuất và trao đổi hàng hóa
* Giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội, tức là quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa Trong nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ kinh tế giữa người với người biểu hiện thành quan hệ giữa vật với vật Hiện tượng vật thống trị ngưòi gọi là sự sùng bái hàng hóa, khi tiền tệ xuất hiện thì đỉnh cao của sự sùng bái hàng hóa là
sự sùng bái tiền tệ
* Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi Giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi theo
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Hai thuộc tính trên đều do cùng một lao động sản xuất ra hàng hóa
+ Hai thuộc tính của hàng hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập Sự đối lập và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ: người làm ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa do mình làm ra, nếu họ có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được
Trang 25giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉ chú ý đến giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá trị của nó cho người bán Nghĩa là quá trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện.
CÂU 8 HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Giá trị thặng dư được sản xuất trong nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Về hình thức,
nó biểu hiện trong lưu thông theo công thức chung của tư bản: T – H – T’, trong đó T’ = T +
DT DT là phần giá trị dôi ra so với số tiền (T) ứng ra ban đầu, gọi là giá trị thặng dư (m) Nhưng thực tế, giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất giá trị sử dụng với quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Để sản xuất, nhà tư bản phải mua các yếu tố sản xuất gồm tư liệu sản xuất và sức lao động Giả định việc mua này đúng giá trị Ví dụ, nhà tư bản sản xuất 20 kg sợi trong 8 giờ chia làm 2 lần:
- Trong 4 giờ đầu, để sản xuất 10 kg sợi, nhà tư bản ứng tư bản để: mua 10 kg bông hết 10 USD; chi phí về hao mòn máy móc để chuyển lượng bông đó sang sợi là 2 USD; và mua sức lao động trong cả ngày (8 giờ) là 3 USD
Giả sử trong 4 giờ đầu, bằng lao động cụ thể, người công nhân chuyển hết 10 kg bông thành sợi và bằng lao động trừu tượng tạo thêm lượng giá trị mới là 3 USD Kết quả sản xuất là một lượng sợi với giá trị 15 USD Nhà tư bản đem sợi bán trên thị trường theo đúng giá trị và thu được 15 USD Nếu ngày lao động chỉ dừng lại ở 4 giờ đầu thì nhà tư bản không có lợi, tiền chưa chuyển hóa thành tư bản Song, vì nhà tư bản thuê công nhân cả ngày (8 giờ), nên không
có lý do gì mà không tiếp tục sử dụng sức lao động của 4 giờ còn lại
– Trong 4 giờ lao động tiếp theo, để sản xuất 10 kg sợi, nhà tư bản chỉ phải chi phí 12 USD (10 USD mua 10 kg bông và 2 USD khấu hao máy móc), mà không phải trả tiền công nữa Tương tự như 4 giờ đầu, nhà tư bản lại có một lượng sợi giá trị 15 USD
– Tổng cộng trong một ngày lao động 8 giờ, nhà tư bản phải chi phí: 20 USD bông, hao mòn máy móc 4 USD, trả công cho công nhân 3 USD bằng 27 USD Nhưng khi đem bán 20 kg sợi trên thị trường đúng giá trị lại thu được 30 USD, số tiền dôi ra là 3 USD Phần giá trị dôi ra
đó chính là DT hay giá trị thặng dư (m) Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư là lao động của công nhân mà không được trả công
2 Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư
Trang 26– Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra lượng giá trị thặng dư đó (hay tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và giá trị sức lao động), ký hiệu m’.
Công thức: m’ = (m / v) 100%
Tỷ suất giá trị thặng dư cho biết phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được bằng bao nhiêu phần trăm phần giá trị sức lao động mà họ phải trả cho công nhân Nó phản ánh chính xác trình độ bóc lột của tư bản đối với lao động
– Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến,
ký hiệu M
Công thức: M – m’ V
Trong đó: V = Svi (i nằm trong khoảng i-1 đến n) là tổng tư bản khả biến trong doanh nghiệp tư bản) Nó cho biết quy mô bóc lột của tư bản đối với lao động
3 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: sản xuất
m tuyệt đối và sản xuất m tương đối
a) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Đây là phương pháp nhà tư bản dùng để kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối, qua đó làm tăng thời gian lao động thặng dư, trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi Tăng cường độ lao động hiểu theo nghĩa hao phí calo cũng có nghĩa là kéo dài thời gian lao động Giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chủ nghĩa tư bản Nó được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nhưng do vấp phải giới hạn
về thể chất và tinh thần của người công nhân và bị công nhân đấu tranh, nên nhà tư bản còn sử dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
b) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Đây là cách thức mà nhà tư bản dùng để rút ngắn thời gian lao động cần thiết, làm tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong khi độ dài ngày lao động không đổi hoặc có thể được rút ngắn lại Cơ sở để thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là tăng năng suất lao động
Phương pháp sản xuất này được áp dụng ngày càng phổ biến cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, nó không gạt bỏ phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
Trang 27đối; trái lại chúng được kết hợp với nhau, bởi vì việc sử dụng máy móc với tốc độ nhanh làm cho cường độ lao động phải tăng lên.
CÂU 9 SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN LÀ CM XHCN
- Giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử
+ Tự mình thực hiện và lãnh đạo nhân dân lao động thực hiện một cuộc cách mạng xã hội
để tự giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột;
+ Đồng thời, xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
- Vì sao giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử đó?
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sứ mệnh lịch sử của một giai cấp không phải do ý muốn chủ quan quy định mà trái lại, được quy định bởi những điều kiện khách quan của lịch sử; đồng thời cũng chính điều kiện lịch sử khách quan đó là cơ sở khách quan tạo cho giai cấp đó có được những đặc điểm chính trị - xã hội mang tính cách mạng có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử ấy
Chứng minh:
Thứ nhất, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội
là sự phát triển của lực lượng sản xuất; trong đó, người lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu Trong xã hội tư bản chủ nghĩa hay trong bất cứ một xã hội nào dựa trên sự phát triển của nền đại công nghiệp thì lực lượng sản xuất hàng đầu của nó vẫn là người công nhân Chính người công nhân là đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến nhất của thời đại ngày nay; không có một giai cấp nào có thể thay thế địa vị đó
Chú ý: ở đây là nói người công nhân với tư cách là sản phẩm của nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa; nó đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội hiện thời và xã hội tương lai.
Thứ hai, trong các giai cấp, tầng lớp xã hội đối lập (mâu thuẫn) giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp ở vào địa vị mâu thuẫn trực tiếp nhất và có tính đối kháng Điều này khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp có tính cách mạng triệt để nhất trong cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị, áp bức và bóc lột của giai cấp tư sản Trong cuộc đấu tranh để
tự giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân dân lao động khỏi ách thống trị, áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân (với tư cách là giai cấp vô sản) không mất gì cả, ngoại trừ mất xiềng xích, còn nếu được thì được cả thế giới
Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuất công nghiệp, nhất là nền công nghiệp hiện đại, khiến cho giai cấp công nhân có được tính tổ chức cao với kỷ luật chặt chẽ Đồng thời, với
Trang 28sự phát triển mở rộng, có tính xã hội hoá cao của nền sản xuất công nghiệp khiến cho giai cấp công nhân có được mối quan hệ liên minh mang tính quốc tế của nó từ cơ sở của nền công nghiệp phát triển và nền kinh tế thị trường mở rộng có xu hướng quốc tế hoá Mặt khác, đội ngũ của nó cũng không ngừng lớn mạnh nhờ quá trình phát triển của công nghiệp hoá ngày càng mở rộng trong phạm vi một quốc gia cũng như ở nhiều quốc gia khác nhau.
Thứ tư, giai cấp công nhân là giai cấp thuộc những người lao động, điều đó là cơ sở khách quan cho sự liên minh vững chắc và lâu dài giữa giai cấp công nhân với các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong toàn xã hội, tạo thành lực lượng cách mạng của công cuộc cách mạng xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa
Thứ năm, giai cấp công nhân là giai cấp có được hệ tư tưởng khoa học của nó - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin
CÂU 10 NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CÓ TÍNH QUY LUẬT TRONG TIẾN TRÌNH CM XHCN
Câu hỏi 1: Thế nào là “dân chủ”, “chế độ dân chủ”, “nền dân chủ” và “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”? Hãy nêu khái quát tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa?
Trả lời:
- Khái niệm dân chủ
Khái niệm dân chủ có một nội hàm hết sức phong phú với một lịch sử phát triển trên hai nghìn năm qua nhưng nếu hiểu vắn tắt và cơ bản thì có thể nói: Khái niệm dân chủ dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân
Khái niệm này được hình thành từ những cuộc tranh luận về chủ thể quyền lực của xã hội thuộc về ai? (nhân dân hay vua - “quân chủ”; )
Nếu lý giải theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì khái niệm “dân chủ” bao hàm ba nội dung chủ yếu sau đây:
+ Dân chủ là quyền lực của nhân dân (tức chủ thể quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân) Theo nghĩa đó, một khi quyền lực cai trị xã hội thuộc về một người (ví dụ theo chế độ phong kiến) thì xã hội đó là xã hội không có dân chủ mà là xã hội “quân chủ” (vấn đề chỉ còn là “quân chủ tập quyền” hay “quân chủ phân quyền” mà thôi)
+ Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì không có dân chủ phi giai cấp Trái lại, về thực chất (chứ không phải là trên phương diện tuyên ngôn - lời tuyên bố) dân chủ bao giờ cũng là dân chủ đối với một giai cấp xác định còn đối với giai cấp khác, giai cấp đối kháng với nó thì không có dân chủ Bản chất giai cấp của dân chủ có cơ sở kinh tế của nó Giai cấp nào nắm
Trang 29được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì mới có thể thực sự thực hiện được quyền làm chủ
xã hội
Ví dụ, khái niệm dân chủ trong xã hội chiếm hữu nô lệ là dân chủ cho giai cấp chủ nô chứ không phải cho giai cấp những người nô lệ (những người bị coi không phải là “người”), cũng không phải thực chất cho tầng lớp lao động tự do (nông dân, thợ thủ công, trong xã hội chiếm hữu nô lệ)
+ Khái niệm dân chủ không phải là khái niệm bất biến, trái lại nó là một phạm trù có tính lịch sử và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong mỗi điều kiện xác định Bởi vậy, khái niệm “dân chủ" có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “chế độ dân chủ" và “nền dân chủ” Nếu không thế thì trong thực tế xã hội, khái niệm dân chủ chỉ là một khái niệm thuần tuý
tư tưởng, thiếu một nội dung hiện thực triển khai trong thực tiễn tổ chức xã hội
- Khái niệm chế độ dân chủ và nền dân chủ
Khái niệm chế độ dân chủ dùng để chỉ thiết chế xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân; còn khái niệm nền dân chủ dùng để chỉ hệ thống các thiết chế được xác lập và thực thi trong hiện thực xã hội theo mục tiêu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội đó Theo nghĩa đó, khái niệm chế độ dân chủ và khái niệm nền dân chủ có cùng bản chất nhưng tuỳ theo từng trường hợp cụ thể có thể sử dụng thay thế cho phù hợp
- Khái niệm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
+ Khái niệm:
Nền dân chủ (hay chế độ dân chủ) xã hội chủ nghĩa là hệ thống thiết chế (chính trị, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội) được xác lập và thực thi trong xã hội theo mục tiêu thực hiện quyền lực cai trị (quản lý, điều khiển, kiểm soát, xã hội) thực sự thuộc về nhân dân lao động.+ Cụ thể, nền dân chủ đó có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, đó là nền dân chủ phát triển ở trình độ cao nhất trong lịch sử, được xác lập sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được quyền lực nhà nước trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Đó là một chế độ dân chủ rộng rãi nhất - dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động Các chế
độ dân chủ trước đây về thực chất chỉ là dân chủ đối với thiểu số giai cấp thống trị - giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất của xã hội
Hai là, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ hoàn toàn có khả năng thực hiện được quyền lực thuộc về nhân dân lao động vì quyền lực ấy được bảo đảm bằng chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế
Trang 30Ba là, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một chế độ dân chủ được thể chế hoá và vận hành trong hiện thực xã hội bằng một cơ chế chặt chẽ: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ Đó là một thể chế và cơ chế đảm bảo thực hiện được: quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân, quản lý xã hội bằng công cụ quyền lực nhà nước và thực hiện được rộng rãi nhất quyền lực của nhân dân lao động.
- Tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong tiến trình xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa
Có thể phân tích tính tất yếu này trên ba điểm chính sau đây:
+ Nội dung chính trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do vậy, trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa tất yếu cần phải thiết lập và thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
+ Chỉ có xây dựng một chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mới đảm bảo được trong thực tế vai trò làm chủ của nhân dân lao động và sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời thực hiện được sự chuyên chính đối với những xâm phạm quyền lực của nhân dân
+ Chỉ có thể tập hợp được rộng rãi nhất và phát huy được sức mạnh to lớn của toàn thể nhân dân lao động vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội khi thiết lập và thực thi được chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
Câu hỏi 2: Có sự khác nhau nào giữa nền (chế độ) dân chủ xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ tư sản?
Thứ ba, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quản lý xã hội bằng nhà nước xã hội chủ nghĩa; còn nền dân chủ tư sản là nền dân chủ đặt dưới sự lãnh đạo của các đảng tư sản - tổ chức chính trị đại biểu cho lợi ích của các tập đoàn tư bản, thông qua nhà nước tư sản với nhiều hình thức tổ chức cụ thể khác nhau
Trang 31Câu hỏi 3: Hãy phát biểu một định nghĩa về nhà nước xã hội chủ nghĩa và nêu những đặc trưng, chức năng và nhiệm vụ của nó? Tại sao nói việc xây dựng và củng cố nhà nước
xã hội chủ nghĩa là một tất yếu trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội?
Trả lời:
- Định nghĩa về nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức quyền lực đặc biệt của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp công nhân
Với tư cách là một trong những tổ chức cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một tổ chức quyền lực đặc biệt, thể hiện và thực hiện lợi ích, ý chí của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp công nhân Chính vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa - xã hội của nhân dân, được thể hiện tập trung qua hai chức năng chủ yếu của nó, đó là chức năng thống trị giai cấp và chức năng tổ chức xây dựng xã hội mới
xã hội chủ nghĩa
- Đặc trưng của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác với các hình thức nhà nước đã từng có trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt Đó là kiểu nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau đây:
+ Một là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
+ Hai là, nhà nước xã hội chủ nghĩa có đặc trưng về nguyên tắc khác hẳn với nhà nước tư sản Cũng là công cụ của chuyên chính giai cấp, nhưng vì lợi ích của tất cả những người lao động tức là tuyệt đại đa số nhân dân, nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện sự trấn áp đối với những kẻ chống đối, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
+ Ba là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn xem mặt tổ chức xây dựng là đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản V.I.Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức xây dựng toàn diện xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
+ Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và theo V.I.Lênin, con đường vận động, phát triển của nó là: ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện nhân dân, mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia quản
lý nhà nước, quản lý xã hội
Trang 32+ Năm là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là “nửa nhà nước” Sau khi những cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn, nhà nước “tự tiêu vong” Đây cũng là một đặc trưng nổi bật của nhà nước vô sản.
- Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa
+ Chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nhà nước xã hội chủ nghĩa có hai chức năng cơ bản là chức năng tổ chức xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và chức năng trấn áp - trấn áp đối với mọi sự chống đối công cuộc xây dựng xã hội mới, bảo vệ lợi ích của nhân dân (cũng gọi tắt là chức năng tổ chức xây dựng và chức năng trấn áp)
Trong hai chức năng đó, chức năng tổ chức xây dựng là chức năng cơ bản nhất
+ Nhiệm vụ cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa:
Thứ nhất, trên lĩnh vực chính trị: nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ quyền lực chủ yếu
để bảo vệ sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua sự lãnh đạo của chính Đảng của nó; thực hiện lợi ích của nhân dân; đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội;
Thứ hai, trên lĩnh vực kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa đại biểu cho toàn thể xã hội thực hiện việc quản lý, vận hành toàn bộ tài sản quốc gia; tạo điều kiện môi trường pháp luật cho sự phát triển kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất; đảm bảo việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần không ngừng tăng lên của nhân dân;
Đối với lĩnh vực kinh tế, nhà nước vô sản phải nhanh chóng phát triển mạnh số lượng sản phẩm, củng cố kỷ luật lao động mới và nâng cao năng suất lao động được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Thứ ba, trên lĩnh vực văn hoá, xã hội: nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện việc quản lý mọi hoạt động văn hoá, xã hội bằng pháp luật và bằng những chính sách đầu tư, khuyến khích sự phát triển toàn diện các hoạt động văn hoá, xã hội theo mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa;
Đối với lĩnh vực xã hội, phải xây dựng được quan hệ xã hội mới, hình thành những tổ chức lao động mới, tập hợp được đông đảo những người lao động có khả năng vận dụng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện từng bước cải tạo những người tiểu sản xuất hàng hóa thông qua những tổ chức thích hợp
- Tính tất yếu của việc xây dựng, củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa
Tính tất yếu của việc xây dựng, củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa được phân tích ở những điểm căn bản sau đây:
Trang 33+ Chỉ có thiết lập và củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa mới có thể có công cụ quyền lực để xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
+ Khi đã thiết lập được chế độ công hữu về tư liệu sản xuất thì chỉ có xây dựng, củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa - với tư cách là đại biểu cho toàn dân - thực hiện việc quản lý và vận hành tài sản công hữu đó vì mục đích của nhân dân
+ Chỉ có xây dựng, củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa thì nhân dân mới có thể có công cụ quyền lực để thực hiện lợi ích chính đáng của mình trước sự chống đối của kẻ thù giai cấp (trong và ngoài nước)
+ Chỉ có xây dựng, củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa thì chính Đảng của giai cấp công nhân mới có thể có công cụ đắc lực cho việc thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn thể xã hội; đồng thời mới có thể thực hiện được việc huy động, thống nhất các lực lượng, nguồn lực của toàn xã hội vào công cuộc xây dựng xã hội mới, đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Câu hỏi 4: Thế nào là “Văn hoá” và “nền văn hoá xã hội chủ nghĩa”?
Trả lời:
- Khái niệm văn hoá
Khái niệm “văn hoá” có một nội hàm hết sức phong phú, bởi vậy cho đến nay có khá nhiều định nghĩa Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ bao quát nhất, có thể định nghĩa: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhờ lao động của mình
Theo khái niệm trên, có thể nói: cái cốt lõi của văn hoá chính là hệ giá trị đóng vai trò làm
cơ sở cho việc xây dựng nên một nền văn hoá nhất định, như: nền văn hoá phương Đông, phương Tây, văn hoá Hy Lạp, văn hoá Phục Hưng Tây Âu,
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì nội dung của văn hoá cũng có tính giai cấp Từ đó có thể nói tới các khái niệm theo tính giai cấp đó, như khi nói: nền văn hoá tư sản, nền văn hoá vô sản hay nền văn hoá xã hội chủ nghĩa,
- Khái niệm nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Nền văn hoá xã hội chủ nghĩa là một nền văn hoá được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân; có sự kế thừa, tiếp thu chọn lọc đối với những tinh hoa văn hoá đã được con người sáng tạo ra trong lịch sử
Trang 34Như vậy, nền văn hoá xã hội chủ nghĩa là nền văn hoá có bản chất giai cấp khác căn bản so với các nền văn hoá trước đây (thí dụ nền văn hoá tư sản), thế nhưng nó lại là sự tiếp tục của sự phát triển văn hoá mà nhân loại đã sáng tạo ra V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh rằng: “Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minh ra Văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu”.
- Những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đó là nền văn hoá được xây dựng trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân thể hiện tập trung ở hệ tư tưởng Mác - Lênin
Thứ hai, đó là nền văn hoá có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; đó là nền văn hoá được sáng tạo bởi nhân dân lao động và phục vụ lợi ích của nhân dân lao động
Thứ ba, đó là nền văn hoá có sự kế thừa đối với những tinh hoa của lịch sử văn hoá các dân tộc trên thế giới
Câu hỏi 5: Tại sao xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa là một tất yếu trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa? Quá trình xây dựng đó có những nội dung cơ bản nào? Phương thức cơ bản của việc xây dựng nền văn hoá đó?
Trả lời:
- Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa xuất phát từ những căn cứ sau đây:
Thứ nhất, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng xã hội có tính chất toàn diện, triệt để: diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hoá Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi phương thức sản xuất sẽ tạo ra một phương thức sinh hoạt văn hoá tinh thần tương ứng, đáp ứng nhu cầu phát triển của nó Xây dựng phương thức sản xuất mới tất yếu đòi hỏi phải xây dựng một phương thức sinh hoạt văn hoá tinh thần tương ứng cho nhu cầu phát triển của phương thức sản xuất này - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.Thứ hai, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa cũng tất yếu đòi hỏi phải từng bước xoá bỏ, cải tạo tính giai cấp trong nền văn hoá cũ (văn hoá tư sản, văn hoá phong kiến, ) đồng thời xây dựng những giá trị văn hoá mới mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động
Trang 35Thứ ba, xây dựng nền văn hoá mới là nhằm tạo ra động lực văn hoá đảm bảo phát huy được sức mạnh, nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ tư, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, bởi vì văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Những nội dung cơ bản của việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa bao gồm những nội dung chính sau đây:
+ Xây dựng và phát triển nền giáo dục quốc dân nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, trình độ học vấn cho nhân dân; tiến hành xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức mới xã hội chủ nghĩa phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa với những nội dung phù hợp với nhu cầu của
sự nghiệp cách mạng (con người có sự phát triển toàn diện về thể lực và trí lực; có năng lực lao động sáng tạo và ý thức tập thể, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, )
+ Xây dựng lối sống mới theo hệ giá trị văn hoá mới - văn hoá xã hội chủ nghĩa (mình vì mọi người, mọi người vì mình; tự do và bình đẳng cho mọi người; )
+ Xây dựng các cộng đồng văn hoá mới đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội mới xã hội chủ nghĩa; trong đó, vấn đề xây dựng cộng đồng văn hoá gia đình theo hệ giá trị mới xã hội chủ nghĩa giữ một vị trí vô cùng quan trọng
- Phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện được những nội dung chủ yếu của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa cần phải thực hiện các phương thức cơ bản sau đây:
+ Giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong đời sống tinh thần của xã hội; làm cho hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân
+ Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò quản lý của nhà nước
xã hội chủ nghĩa đối với mọi hoạt động tư tưởng - văn hoá của toàn xã hội
+ Thực hiện phương thức kết hợp giữa việc kế thừa đối với những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc với tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa nhân loại
+ Sử dụng mọi hình thức tổ chức thích hợp để lôi cuốn được đông đảo nhất quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt động văn hoá và sáng tạo văn hóa
Trang 36Câu hỏi 6: Trình bày khái niệm "dân tộc" và hai xu hướng phát triển của dân tộc trong chủ nghĩa tư bản?
Trả lời:
Khái niệm dân tộc
Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa:
+ Theo nghĩa rộng, khái niệm dân tộc dùng để chỉ những cộng đồng người có bốn đặc trưng: cộng đồng về ngôn ngữ; cộng đồng về lãnh thổ; cộng đồng về kinh tế; cộng đồng về văn hoá, về tâm lý, tính cách
Theo nghĩa này, những cộng đồng người được gọi là "dân tộc" là kết quả của sự phát triển hết sức lâu dài của các cộng đồng người trong lịch sử nhân loại: từ cộng đồng thị tộc, bộ lạc đến cộng đồng bộ tộc và phát triển lên hình thức tổ chức cộng đồng được gọi là dân tộc Đồng thời, sự hình thành dân tộc theo nghĩa này thường gắn với hình thức tổ chức nhà nước vì thế cũng còn thường được gọi là “quốc gia - dân tộc” Ví dụ nói: “các quốc gia dân tộc châu Âu”, ) Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm dân tộc thường được sử dụng theo nghĩa này
Sự hình thành cộng đồng dân tộc có thể diễn ra sớm hay muộn khác nhau tuỳ theo các điều kiện lịch sử Ví dụ, ở các nước Tây Âu, sự ra đời của các cộng đồng dân tộc khá muộn so với một số nước ở châu Á
+ Theo nghĩa hẹp, khái niệm dân tộc dùng để chỉ các tộc người; tức là dùng để chỉ các cộng đồng người có chung một số đặc điểm nào đó về kinh tế, tập quán sinh hoạt văn hoá, Ví dụ khi nói: dân tộc Kinh, Thái, Tày, Nùng, với tư cách là các cộng đồng dân tộc anh em tự nguyện gắn kết nhau lại thành cộng đồng dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh dựng nước và cứu nước
- Hai xu hướng phát triển của dân tộc trong chủ nghĩa tư bản
Khi nghiên cứu về dân tộc và phong trào dân tộc trong chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng phát triển có tính khách quan của nó:
+ Xu hướng thứ nhất:
Do sự chín muồi của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập Thực tế này đã diễn ra ở những quốc gia, khu vực nơi có nhiều cộng đồng dân cư với nguồn gốc tộc người khác nhau trong chủ nghĩa tư bản Xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc để tiến tới thành lập các quốc gia dân tộc độc lập và có tác động nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ
Trang 37nghĩa tư bản Trong xu hướng đó, nhiều cộng đồng dân cư đã ý thức được rằng, chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập, họ mới có quyền quyết định con đường phát triển của dân tộc mình.
+ Xu hướng thứ hai:
Các dân tộc ở từng quốc gia, kể cả các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của giao lưu kinh tế, văn hóa trong chủ nghĩa tư bản đã tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế mở rộng giữa các dân tộc, xóa bỏ sự biệt lập, khép kín, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau
Tuỳ từng điều kiện lịch sử khác nhau mà có thể diễn ra sự trội hơn của xu hướng nào Nói chung, trong điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự vận động của hai xu hướng nói trên gặp rất nhiều trở ngại
Câu hỏi 7: Trình bày những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội?
Trả lời:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, các vấn đề dân tộc cần phải được giải quyết trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
+ Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cần phải được coi là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm Bất kể cộng đồng dân tộc nào (cho dù đó là cộng đồng có đông người hay ít người; có trình độ phát triển cao hay thấp; ) cũng đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau; không thể có đặc quyền đặc lợi cho riêng một dân tộc nào về các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, + Trong phạm vi một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc cần phải được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật; đồng thời nhà nước cần phải có chính sách phù hợp trong việc khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, tạo nên sự phát triển hài hoà giữa các dân tộc
+ Trong phạm vi quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc trên thế giới, quyền bình đẳng dân tộc cần phải được gắn kết với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bá quyền nước lớn; chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạc hậu, chậm phát triển về kinh tế nhằm đạt được sự bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc trên phạm vi quốc tế
- Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết
Trang 38+ Quyền tự quyết của các dân tộc là nói đến quyền làm chủ của mỗi dân tộc mà trước hết và
cơ bản là quyền các dân tộc có thể tự mình quyết định con đường phát triển kinh tế, chính trị -
xã hội của dân tộc mình, không chịu sự ràng buộc, cưỡng bức của dân tộc khác
+ Quyền tự quyết của các dân tộc bao gồm: quyền tự do phân tách, hình thành nên cộng đồng quốc gia - dân tộc độc lập vì lợi ích chính đáng của các dân tộc và quyền liên hiệp các dân tộc trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng của các dân tộc
- Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
+ Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là một nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin; nó thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp; phản ánh tính thống nhất biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng
+ Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là một quan điểm có tính nguyên tắc trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa; quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc giải quyết các vấn đề thuộc quyền bình đẳng giữa các dân tộc và quyền tự quyết của cấc dân tộc
Câu hỏi 8: Tôn giáo là gì? Vì sao có sự ra đời và tồn tại của tôn giáo? Trình bày quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với việc giải quyết các vấn đề tôn giáo trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa?
Trả lời:
- Khái niệm tôn giáo
Chủ nghĩa Mác - Lênin xác định khái niệm tôn giáo với tư cách là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội
Với tư cách đó, có thể nói bất cứ một tôn giáo nào, với hình thái phát triển của nó, cũng đều bao gồm: ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng liêng cùng những tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó
Tiêu biểu cho tôn giáo với nghĩa như vậy là Phật giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo Đây là những tôn giáo có tầm ảnh hưởng quốc tế, vượt qua phạm vi nhiều quốc gia dân tộc Ngoài ra, tại một số quốc gia hay các khu vực còn có những tôn giáo có tầm ảnh hưởng ít hơn
Khi phân tích bản chất tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, Ph.Ăngghen đã cho rằng: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức của lực lượng siêu trần thế”
Trang 39- Nguồn gốc ra đời và tồn tại của tôn giáo
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời và tồn tại của tôn giáo có nguồn gốc khách quan và chủ quan của nó; đó là:
Thứ nhất, do sự hạn chế về khả năng chinh phục của con người trước sức mạnh tự phát của giới tự nhiên hay xã hội đã khiến cho con người sợ hãi trước sức mạnh ấy, từ đó dẫn tới sự hình thành tín ngưỡng và cao hơn là sự ra đời và tồn tại của tôn giáo
(Khái niệm tín ngưỡng dùng để chỉ lòng tin và sự ngưỡng vọng của con người về các đấng siêu nhiên; khái niệm này không đồng nghĩa với khái niệm mê tín, dị đoan - là khái niệm dùng
để chỉ lòng tin mù quáng của con người về những điều thần bí trong tự nhiên hay xã hội)
Thứ hai, trong xã hội có sự thống trị của các giai cấp áp bức, bóc lột, giai cấp này đã lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng,… để ru ngủ sức phản kháng của nhân dân lao động trước sự áp bức bóc lột đó
Thứ ba, khả năng nhận thức của con người trước thế giới vô cùng tận là có hạn Trong những giới hạn lịch sử nhất định, con người chưa thể giải thích được hết mọi bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, do đó dẫn tới sự sùng bái chúng đến mức biến thành tín ngưỡng
và tôn giáo
Thứ tư, sự sợ hãi, bất lực và bất hạnh trong cuộc đời của mỗi cá nhân khiến con người ta tìm đến tôn giáo như một chỗ dựa tinh thần hay như một sự “đền bù hư ảo” trước cái gọi là “số phận”
Thứ năm, trong tiến trình phát triển văn hoá truyền thống của các dân tộc, các tộc người, tôn giáo, tín ngưỡng đã trở thành một thành tố của sự phát triển văn hoá, nó hoà đồng và bám rễ sâu chắc vào các sinh hoạt đó và đồng hành cùng sự phát triển văn hoá của các cộng đồng người trong lịch sử
- Các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với việc giải quyết các vấn đề tôn giáo trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Giải quyết những vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần dựa trên những quan điểm cơ bản sau đây:
Một là, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xét về mặt hình thái ý thức xã hội thì ý thức tôn giáo là hình thái ý thức có nhiều hạn chế vì thế trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải được khắc phục và vượt qua
Tuy nhiên, cũng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cần phải xem xét tôn giáo một cách toàn diện không chỉ trên những phương diện còn có những hạn chế của nó mà còn phải là trên mặt tích cực của nó
Trang 40Hai là, khi tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân thì nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng của nhân dân; bảo đảm sự bình đẳng pháp luật về quyên lợi và nghĩa vụ giữa những người theo tôn giáo khác nhau cũng như giữa người có tôn giáo với người không có tôn giáo; nghiêm cấm những hành vi lợi dụng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của nhân dân;
Ba là, thực hiện đoàn kết những người có tôn giáo với những người không có tôn giáo; đoàn kết các tôn giáo; đoàn kết những người theo tôn giáo với những người không theo tôn giáo; đồng thời, nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ cộng đồng vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo
Bốn là, trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo cần phải phân biệt rõ mặt chính trị và mặt
tư tưởng của nó Mặt tư tưởng của vấn đề tôn giáo phản ánh nhu cầu tín ngưỡng và nhận thức của con người - đó là công việc lâu dài và cần phải có thái độ tôn trọng; còn mặt chính trị của vấn đề tôn giáo là nói sự lợi dụng tôn giáo (tư tưởng, tín ngưỡng hay hoạt động tôn giáo, ) để xâm hại lợi ích của nhân dân lao động, chống lại tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì cần phải giải quyết ngay, giải quyết triệt để với những biện pháp thích hợp
Năm là, phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo vì rằng một mặt trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò và sự tác động của từng tôn giáo cũng có sự khác nhau; mặt khác, ngay cả đối với một tôn giáo nào đó, thậm chí một vấn đề cụ thể nào đó của một tôn giáo nhất định cũng có thể có vai trò khác nhau trong những điều kiện lịch sử khác nhau
PHẦN B ĐƯỜNG LỐI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1 ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA CỦA ĐCSVN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LƯU Ý: PHÂN TÍCH, SO SÁNH VỚI GIAI ĐOẠN TRƯỚC ĐỔI MỚI
1 Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hoá
a) Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hoá thời kỳ 1960 - 1985
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 - 1986) với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960 - 1985, mà trực tiếp là mười năm, từ
1975 đến 1985 Đó là:
- Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, v.v Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công