NGUYÊN LIỆU Bảng so sánh hàm lượng đường và acid ở một số loại trái cây điển hình dùng làm rượu vang trái cây Các loại quả chứa nhiều đường, acid hữu cơ, vitamin, khoáng cùng một lượng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TPHCM Khoa Công Nghệ Thực Phẩm
BÀI BÁO CÁO Môn: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỨC UỐNG LÊN
Trang 2SV: MSSV:
DANH SÁCH NHÓM
Trang 3NỘI DUNG
I BEER
II RƯỢU TRÁI CÂY
III CHẤT BẢO QUẢN SỬ DỤNG
TRONG ĐỒ UỐNG CÓ CỒN
IV.LÊN MEN ACETIC
Trang 41 Giới thiệu
Trang 6 Ngâm đại mạch
Ươm mầm
Sấy malt
• Nghiền
Trang 8
1 Quá trình lên men chính
• C6H12O6 2C5H5OH + 2CO2 + Q
Trang 10• Các thông số cần theo dõi trong quá trình lên men chính:
Trang 12Được tiến hành trong các thùng kín đặt trong phòng lạnh (1- 20C).
ngày đêm
Trang 13Mục đích:
phá hủy của vi sinh vật
Trang 14Bồn lên men bia
Trang 16RƯỢU TRÁI CÂY
Trang 17NGUYÊN
LIỆU
Bảng so sánh hàm lượng đường và acid ở một số loại trái cây
điển hình dùng làm rượu vang trái cây
Các loại quả chứa nhiều đường, acid hữu
cơ, vitamin, khoáng cùng một lượng protein đáng kể
Trang 18Lý tưởng nhất là nho (Wine grape) Nho khi chín cho dịch quả
có sự cân bằng về hàm lượng
20/0.5), thường ít protein và pectin (<1%)
duy nhất có thể được lên men để sản xuất đồ uống có cồn có độ cồn chấp nhận được ( ≥12%) và axit (pH ≥ 3.2) mà không cần thêm các phương pháp điều chỉnh khác
NGUYÊN
LIỆU
Trang 19 Táo và lê cho sản phẩm có độ cồn thấp (5- 9% ABV), nhưng độ acid
và hàm lượng tanin cao hơn Rượu thành phẩm
có thể có vị chua và chát hơn so với nho.
Một số loại trái cây như chuối có hàm lượng đường cao và độ acid hợp lý, tuy nhiên khi sản xuất rượu lại cho năng suất thấp và rượu dễ bị đục.
NGUYÊN
LIỆU
Trang 20SẢN XUẤT
Theo quy trình sản xuất, có hai loại rượu vang trái cây cơ bản:
cây trong thành phần cơ bản, chú trọng đến tất cả các mùi hương trong sản phẩm hoàn thiện
trái cây có sự tương đồng chung với rượu nho,
Trang 21SẢN XUẤT
Việc sản xuất rượu vang trái cây nói chung rất giống với sản xuất rượu vang, chỉ khác biệt ở giai đoạn đầu:
Trái cây
Rửa
Nghiền nhỏ → Must
Ngâm ủ must Giai
đoạn này có sự pha
thêm nước nóng hoặc
Trang 22 Kỹ thuật pha nước (infusion technique) là việc trộn quả
đã nghiền hoặc trộn quả nguyên với nước sôi/nước lạnh Sau
đó thêm các phụ gia (đường hoặc xi-rô đường nghịch đảo, axit, nấm men dinh dưỡng, enzyme pectic, hỗn hợp nho, tannin trong nho, các muối chuyển hóa kali và natri, vụn gỗ sồi), enzyme pectin
Các phương pháp pha lạnh và phương pháp pha nóng
thông thường được ưa thích hơn so với phương pháp truyền nhiệt trực tiếp hoặc đun sôi, vì kỹ thuật đun sôi có thể dẫn đến sự mất mát các thành phần dễ bay hơi và sự hình thành các mùi vị “chín” (thông qua phản ứng Maillard).
NGÂM Ủ
MUST
Trang 23NGÂM Ủ MUST
Trang 24LÊN MEN
Sau khi thêm và pha chế natri hoặc potassium metabisufite, phải để yên trong 24 giờ Các nhà máy rượu vang lớn sau đó thêm chủng nấm men khởi động hoạt hoá ở giai đoạn này và sự lên men trên thịt quả bắt đầu sau vài giờ
Nhiều công ty tự sản xuất chủng khởi động nấm men đặc trưng của riêng mình.
Nồng độ ethanol tăng nhanh trong giai đoạn này giúp giải phóng các hợp chất mùi và các sắc tố từ các mô trái cây Sự hiện diện của enzyme pectolytic cũng giúp trong phương diện này nhờ khả năng thoái biến thành tế bào.
Trang 25Tính chất tổng thể của rượu có thể bị ảnh hưởng rõ rệt bởi bản chất của phụ gia được sử dụng trong kỹ thuật pha chế
là acid malic (pKa (1) = 3,40) acid xitric (pKa (1) = 3,13) acid tartaric (pKa (1) = 2,98) Trong đó, acid tartaric trong nho có thể là chất điều chỉnh độ acid tốt nhất Phải giữ độ pH của acid (hoặc hỗn hợp acid) trong khoảng 3,0 và 3,4
trước khi đưa vào giống khởi động nấm men Sau đó, việc ủ lên men 7-10 ngày sẽ cho đúng mức độ của
LÊN MEN
Trang 26Phenolic và anthocyanin trong một số loại trái cây
Trang 27Trái cây Các hợp chất thơm
Quả cơm cháy
Dihydroedulan, β-damascenone, 1-pentanal (fruity), 1-nonanal (flowery), 1-hexanal (grassy), 1-octen-3-ol (mushroom)
Quả anh đào
Acetophenone, benzaldehyde, benzyl alcohol
Trang 28Sulfur Dioxide (SO2)
UỐNG CHỨA CỒN
Trang 29 Nồng độ khoảng 1.5 mg/l là đủ để ức chế hầu hết các nấm men và vi khuẩn gây hư hỏng
lại vi khuẩn lactic Mặt khác, S cerevisiae có khả
bảo quản này cho phép loài này có thể chiếm ưu thế trong quá trình lên men
Chống oxy hoá: SO2 ức chế nhanh các hoạt động xúc tác của tyrosinase (hay polyphenoloxidase – các enzyme gây ra sự hóa nâu của nước ép và must)
Trang 30 Axit béo chuỗi ngắn được sử dụng làm chất bảo quản hóa học, chủ yếu là diệt nấm và không có tác dụng chống oxy hóa.
Ít ảnh hưởng lên vi khuẩn lactic và acetic, nên
Trang 31 Chất khử trùng, dùng trong bảo quản
một số loại rượu không chứa cồn
(hoặc hàm lượng cồn ít)
Trang 32 Phản ứng giữa acid ascorbic với O2 diễn ra nhanh hơn gấp 1700 lần so với phản ứng giữa SO2 và O2, nhưng nghiên cứu cho thấy không nên sử dụng acid
năng loại bỏ nhanh chóng oxy
phân tử trong nước trái cây hoặc
rượu vang
Trang 33 Không có tính kháng khuẩn Có khả năng làm giảm sự hóa nâu nhờ việc oxy hóa quinones về lại thành phenols,
lên men rượu (hàm lượng 50 mg/l), và thường sử dụng
Trang 34 Áp dụng trong rượu:
• Chất bảo quản trong nước ép nho,
cô đặc và trong khi đóng chai
(đường dư)
• Ngừng quá trình lên men rượu
• Ngăn chặn việc lên men rượu vang
• Kiểm soát men nấm mốc trong quá trình sản xuất rượu
Trang 35LÊN MEN ACETIC Giới thiệu
nhờ vi khuẩn acetic trong điều kiện hiếu khí
- Các sinh vật có thể gặp phải trong quá trình sản xuất có những cách trao đổi chất cũng như nhiều cách lên men khác nhau được thực hiện bởi các vi khuẩn khác nhau
Trang 36- Những biểu hiện của sự hư hỏng này có thể xuất hiện như
độ đục, màu đục, thay đổi màu sắc và thay đổi cảm giác, hương vị, mùi vị…
- Rượu, Bia với nồng độ cồn cao và độ pH thấp vì thế cũng
là môi trường không thực sự thuận lợi cho sự phát triển của
vi sinh vật Tuy nhiên, một số sinh vật đặc biệt có thể chịu được các điều kiện, và thay đổi môi trường trong quá trình sản xuất rượu, bia
Giới thiệu
Trang 37VI KHUẨN ACETIC
- Vi khuẩn acid acetic và lactic có thể sống trong
môi trường rượu.
- Acetobacter có thể oxy hóa ethanol thành acid
acetic trong môi trường hiếu khí và không có SO2
- Vi khuẩn acetic phát triển trên bề mặt của rượu.
Trang 38VI KHUẨN LACTIC
Pediococcus spp chuyển hóa một số chất như acid
malic thành acid lactic (lên men malolactic) và đường tạo hương vị cho chất lượng rượu vang.
Pediococcus là vi khuẩn lactic có thể sản xuất
histamine, có thể gây dị ứng đối với người nhạy
cảm với chất này.
Trang 39NẤM MEN TRONG SẢN XUẤT RƯỢU VANG
- Chủ yếu là Kloeckera/Hanseniaspora (hoạt động
trong 2-3 ngày đầu của quá trình lên men)
- Một lượng ít Candida, Cryptococcus
- Một lượng nhỏ Saccharomyces cerevisiae (trong
sản xuất bia sử dụng cả nấm men nổi và nấm men chìm)
- Sự tích lũy ethanol trong môi trường gây chết các
loại nấm men chỉ còn một số ít Saccharomyces
cerevisiae
Trang 40Zygosaccharomyces
Được sử dụng để điều chỉnh màu sắc và đường trong hỗn hợp rượu vang, thường phổ biến trong rượu vang trắng.
Phát triển ở nồng độ cồn cao và có khả năng chống lại các chất ức chế men như SO2, sorbic acid và diethyl dicarbonate
Zygosaccharomyces là tác nhân phổ biến làm hỏng
đồ uống, nước trái cây và các sản phẩm đường cao
(1 cfu/10l) rượu là đủ gây hư hỏng) Nhiệt độ là yếu
tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng
Trang 41Brettanomyces là nấm mốc gây hư hỏng nghiêm trọng trong
rượu vang trong khoảng 40 năm qua
Sự phát triển của Brettanomyces được kiểm soát tốt nhất
Trang 42chất thơm dễ bay hơi như acetic
acid, ethyl acetate và
2-phenylethanol trong rượu góp
phần tăng mùi vị cho sản phẩm.
Nấm men có thể tạo thành các màng trên bề mặt rượu, và các đồ uống khác, dưới điều kiện hiếu khí Sự tạo thành màng của nấm men
là môt yếu tố bất lợi cho sản phẩm
Sự tạo màng của nấm men