HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMKHOA MÔI TRƯỜNG ------KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ, SỬ DỤNG PHÂN BÓN VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT DƯA HẤU TẠI X
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ, SỬ DỤNG PHÂN BÓN VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT DƯA HẤU TẠI XÃ HOẰNG THẮNG HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ LÊ
Chuyên ngành : Môi Trường Giáo viên hướng dẫn : TS TRẦN DANH THÌN Địa điểm thực tập : Xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa,
tỉnh Thanh Hóa
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được nhiều sử giúp đỡ động viên của của các thầy cô giáo, các cán bộ người dân tôi chọn thực tập , cùng với gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi trường
và các thầy cô Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Trần Danh Thìn là người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, hộ gia đình, hộ kinh doanh phân bón
và thuốc BVTV đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã khích lệ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan những kết quả trong báo cáo này là sự thật
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Lê
Trang 3MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
3.Bộ Tài Chính,19/06/2015, Việt Nam nhập khẩu 100 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm, 64
7.Hải quan online, 11/02/2015,Xử phạt hơn 2,1 tỷ đồng sai phạm về thuốc bảo vệ thực vật, 64
8.Hương Thu, 3/04/2014, Gần 1.000 tấn hoá chất độc hại giấu dưới lòng đất, 64
9.Mỹ Hà, 17/12/2014, Sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật trong nước mới dừng lại ở mức sang chiết và đóng chai, 65
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4BVTV : Bảo vệ thực vật
Bộ NN &PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
Trang 5Bảng 3.1 : Đặc điểm phân bố dân cư của xã năm 2015 32
Bảng 3.2: Cơ cấu các ngành kinh tế trên địa bàn xã 33
giai đoạn 2010 – 2015 33
Bảng 3.3 : Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2015 35
Bảng 3.4 : Cơ cấu một số loại cây trồng chính tại xã Hoằng Thắng 35
Bảng 3.5 : Diện tích gieo trồng cây dưa hấu xã Hoằng Thắng 36
giai đoạn 2004 – 2016 36
Bảng 3.6 : Các loại phân chính sử dụng bón cho cây dưa hấu 37
Bảng 3.7: Lượng phân bón dùng cho sản xuất dưa hấu của nông dân 39
xã Hoằng Thắng 39
Bảng 3.8: Thời điểm bón phân cho cây dưa tại xã Hoằng Thắng 40
Bảng 3.9: Các loại thuốc BVTV được sử dụng trên cây dưa hấu 42
ở xã Hoằng Thắng 42
Bảng 3.10: Cách thức lựa chọn thuốc sử dụng cho cây dưa xã Hoằng Thắng 43
Bảng 3.11 :Liều lượng của một số loại thuốc BVTV sử dụng cho 46
cây dưa hấu ở xã Hoằng Thắng 46
Bảng 3.12 : Sự tuân thủ thời gian cách ly một số loại thuốc của các nông hộ tại xã Hoằng Thắng 49
Bảng 3.13 : Tình hình sử dụng bảo hộ lao động khi phun thuốc BVTV 50
Bảng 3.14: Năng suất và giá cả thị trường của dưa hấu ở 53
xã Hoằng Thắng giai đoạn 2010 – 2015 53
Bảng 3.15 : Những mặt được và hạn chế trong công tác thanh tra kiểm tra buôn bán kinh doanh phân bón thuốc BVTV trong sản xuất dưa tại xã Hoằng Thắng 56
3.Bộ Tài Chính,19/06/2015, Việt Nam nhập khẩu 100 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm, 64
7.Hải quan online, 11/02/2015,Xử phạt hơn 2,1 tỷ đồng sai phạm về thuốc bảo vệ thực vật, 64
8.Hương Thu, 3/04/2014, Gần 1.000 tấn hoá chất độc hại giấu dưới lòng đất, 64
9.Mỹ Hà, 17/12/2014, Sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật trong nước mới dừng lại ở mức sang chiết và đóng chai, 65
Trang 6DANH MỤC HÌNH
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
Hình 1.1: Bản đồ phân bố vùng trồng dưa hấu ở Việt Nam 6
Hình 3.1 : Biểu đồ thể hiện sự quan tâm của người dân đến nguồn gốc và 44
hạn sử dụng khi mua thuốc BVTV sử dụng cho cây dưa hấu 44
Hình 3.2 : Thời điểm chọn phun thuốc của người dân với cây dưa hấu 45
Hình 3.3: Hệ thống quản lý phân bón và thuốc BVTV trên địa bàn 56
xã Hoằng Thắng 56
3.Bộ Tài Chính,19/06/2015, Việt Nam nhập khẩu 100 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm, 64
7.Hải quan online, 11/02/2015,Xử phạt hơn 2,1 tỷ đồng sai phạm về thuốc bảo vệ thực vật, 64
8.Hương Thu, 3/04/2014, Gần 1.000 tấn hoá chất độc hại giấu dưới lòng đất, 64
9.Mỹ Hà, 17/12/2014, Sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật trong nước mới dừng lại ở mức sang chiết và đóng chai, 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dưa hấu (Citrullus lanatus Thunberg) có nguồn gốc nhiệt đới khô và
nóng của châu Phi rồi từ đó lan truyền đến tất cả những nơi có điều kiện đất đai
và khí hậu phù hợp trên thế giới
Ngày nay dưa hấu là cây ăn quả được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA, 2008) thành phần dinh dưỡng trong 100 g thịt quả tươi chứa 30 kcal, 7,55 g carbon hydrat, 6,2 g đường và 0,4 g chất xơ; 0,15 g chất béo, 0,61 g đạm, 91,5 g nước, các loại vitamin như A, B1, B2, B3, B5, B6, B9, C và nhiều chất khoáng khác
Trong thời kì phát triển kinh tế xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho sự phát triển nông nghiệp Dưa hấu đã được lựa chọn là cây trồng chủ lực trong công cuộc chuyển đổi này Dưa hấu là một trong những loại cây trồng nông nghiệp được trồng tập trung, mang tính chất sản xuất hàng hóa, là cây trồng chủ lực trong cơ cấu vụ xã Thu nhập của trồng dưa hấu đem lại mức thu nhập cao hơn từ 2,26 - 2,78 lần so với cây ngô, lạc hay đậu tương; còn nếu tính lãi thu được sau khi trừ chi phí cơ bản thì cây dưa hấu đem lại mức lãi gấp 2,0 - 2,74 lần Chính vì vậy, cây dưa hấu được người dân quan tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa, đem lại nguồn thu nhập cho người dân góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương
Do giá trị kinh tế mà dưa hấu mang lại, nhu cầu sử dụng tăng cao cùng với diện tích nông nghiệp giảm Để đảm bảo mang lại năng suất cao nhất người dân đã sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để sản xuất nông nghiệp nói chung và cho cây dưa hấu nói riêng Tuy nhiên, do nhận thức của người dân còn kém và vì lơi ích kinh tế trước mắt mà người dân đã làm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Việc lạm dụng sử dụng bừa bãi như vậy đã đem lại những ảnh hưởng đối với môi trường , chất lượng nông sản và sức khỏe người sản xuất lẫn người tiêu dùng Do đó, đánh giá thực trạng quản lí, sử dụng phân bón và
Trang 8thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất cây dưa hấu ở địa bàn xã là quan trọng nhằm đưa ra được các giải pháp để quản lí và sử dụng một cách hợp lí nhất đem lại hiệu quả cao nhất Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, với mong muốn áp dụng những kiến thực đã học vào sản xuất nông nghiệp tại địa phương Được sự thống nhất của Bộ Môn Sinh Thái Nông Nghiệp – Học Viện Nông Nghiệp Việt
Nam dưới sự hướng dẫn của TS Trần Danh Thìn em thực hiện đề tài : “ Đánh giá thực trạng quản lí, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất dưa hấu tại xã Hoằng Thắng , huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa “
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sản xuất nông nghiệp nói chung và cây dưa hấu noi riêng tại xã Hoằng Thắng
- Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đối với cây dưa hấu
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đến chất lượng dưa hấu
- Đánh giá tình hình quản lí phân bón và thuốc bảo vệ thực trên địa bàn xã
- Đề xuất một số giả pháp nâng cao hiệu quả quản lí , sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp nói chung và cây dưa hấu nói riêngcủa xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệuvề việc ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường của việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên cây
Trang 9dưa hấu Đồng thời là những dẫn liệu về việc quản lí sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vạt từ đó đưa ra các giải pháp hợp lí nhất giúp người dân trong quá trình trồng cây dưa hấu.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá thực trạng sử dụng , quản lí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất cây dưa hấu tại xã hoằng thắng Từ đó, đưa ra những giải pháp tốt
và đạt hiệu quả nhất
Trang 10Phân bón là những chất hoặc hợp chất có chứa một hay nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cây trồng, giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất và chất lượng cao hoặc làm tăng độ phì nhiêu của đất Hoặc có thể hiểu một cách đơn giản, phân bón là “ thức ăn” do con người bổ sung cho cây trồng
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều cây phát triển xanh tốt tạo điều kiện thuận lợi cho sâu hại ngô phát triển và gây hại Ngoài ra, do trình
độ hiểu biết của người dân còn thấp, họ đã sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có
độ độc cao đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, đồng thời xuất hiện chủng nòi dịch hại mới
có tính kháng thuốc cao, gây khó khăn trong việc phòng trừ sâu bệnh hại
Trong những năm gần đây, người dân xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã dần dần áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại (IPM) trong chăm sóc và bảo vệ cây dưa hấu Tuy nhiên, do điều kiện sinh thái đặc thù nên quy luật phát sinh, phát triển của sâu nhện hại cây dưa hấu và thiên địch chúng có sự khác biệt so với các vùng sản xuất khác Vì vậy việc nghiên cứu chúng có vai trò quan trọng là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng trừ dịch hại một cách thích hợp nhất nhằm ngăn chặn sự gây hại của sâu nhện hại trên dưa hấu, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả sự phá hại của loài sâu nhện hại chính, phát huy tính tích cực của lực lượng thiên địch góp phần tăng năng suất và chất lượng dưa hấu, đồng thời giữ cân bắng sinh học trên hệ sinh thái đồng ruộng, hạn chế sử dụng thuốc hóa học nhằm bảo vệ sức khỏe con người và hạn chế sự ô
Trang 11nhiễm môi trường.
1.2 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới
Dưa hấu thuộc nhóm cây hai lá mầm, họ bầu bí (Curubitaceae), là loại cây trồng ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, có thể tham gia nhiều công thức luân canh khác nhau Dưa hấu có nguồn gốc từ châu Phi, trên có sở phân tích DNA lục lạp , dưa hấu trồng và dưa hấu hoang dã tách ra độc lập từ một tổ tiên chung,
cỏ thể từ loài Citrullus ecirrhosus ở Namibia (Fenny anh Jiarong, 2006)
Theo Carol (2005), trên thế giới có khoảng 1200 giống dưa hấu, có 200 –
300 giống được trồng ở Mỹ và Mexico Đông Nam châu Á là khu vực có diện tích trồng dưa lớn nhất trên thế giới (chiếm trên 50%)
Trên thế giới, trong giai đoạn 1995 – 2003 diện tích dưa hấu tăng 4,2%, năng suất tăng 25,6% và sản lượng tăng 9,9% Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAOSTAT, 2013), trong năm 2012 tổng sản lượng dưa hấu của toàn thế giới khoảng 95,2 triệu tấn các nước có sản lượng dưa hấu lớn nhất là Trung Quốc (70000 triệu tấn), Thổ Nhĩ Kỳ (4,04 triệu tấn), Iran (3,80 triệu tấn), Brazil (2,08 triệu tấn) và Ai Cập (1,87 triệu tấn)
Trang 121.2.2 Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam
- Các tỉnh Nam Trung Bộ (trồng từ sau tháng 1 dl): tập trung ở 4 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
- Vùng ĐBSCL: có thể trồng quanh năm, nhưng tập trung ở vụ sớm (dưa Noel từ tháng 10 – 30/12 dl) và vụ chính (dưa Tết từ tháng 11 dl - Tết Nguyên đán) Tập trung ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang…
• Diện tích trồng dưa hấu không ổn định: xấp xỉ 20.000 ha/năm.(1)
• Sản lượng dưa dưa hấu dao động: 500-600 ngàn tấn/năm (1)
(1) Số liệu Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2014
1.3 Vai trò của thuốc BVTV và phân bón trong sản xuất nông nghiệp
1.3.1 Vai trò của thuốc BVTV
1.3.1.1 Khái niệm thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, các chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, chất làm rụng hay khô lá, các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại
Trang 13tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt (Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật nước CHXHCNVN và Điều lệ Quản lý thuốc BVTV).
1.3.1.2 Phân loại thuốc BVTV
Theo yêu cầu nghiên cứu và sử dung, phân loại thuốc BVTV như sau :
a Dựa vào đối tượng phòng chống
Thuốc trừ sâu: Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt,
xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người.
Thuốc trừ bệnh :Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hoá
học (vô cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị những bệnh do những yếu tố phi sinh vật gây ra
Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm và trừ vi khuẩn SThường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm; còn thuốc trừ nấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn Hiện nay ở Trung quốc, mới xuất hiện một số thuốc trừ bệnh có thể hạn chế mạnh sự phát triển của virus (Ningnanmycin ).
Thuốc trừ chuột: là những hợp chất vô cơ, hữu cơ; hoặc có nguồn gốc
sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng và các loài gậm nhấm Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi (ở nơi kín đáo)
Trang 14Thuốc trừ nhện: những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hại cây
trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết thuốc trừ nhện thông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc Đại đa số thuốc trong nhóm là những thuốc đặc hiệu có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch Nhiều loại trong chúng còn có tác dụng trừ trứng và nhện mới nở; một số khác còn diệt nhện trưởng thành Nhiều loại thuốc trừ nhện có thời gian hữu hiệu dài, ít độc với động vật máu nóng Một số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng có tác dụng trừ nhện.
Thuốc trừ tuyến trùng: các chất xông hơi và nội hấp được dùng để xử lý đất
trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây.
Thuốc trừ cỏ: các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự
sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt và gồm cả các thuốc trừ rong rêu trên ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng các thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng.
b Dựa vào con đường xâm nhập (cách tác động của thuốc) đến vật hại : tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thẩm thấu và nội hấp
c Dựa vào nguồn gốc hóa học :
Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây
cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh ) có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung
dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi ) có khả năng tiêu diệt dịch hại.
Thuốc có nguồn gốc hữu cơ Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat )
Trang 15 Gần đây, do nhiều dịch hại đã hình thành tính chống nhiều loại thuốc
có cùng một cơ chế, nên người ta đã phân loại theo cơ chế tác động của các loại thuốc (như thuốc kìm hãm men cholinesterase, GABA, kìm hãm hô hấp ) hay theo phương thức tác động (thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng, thuốc triệt sản, chất dẫn dụ, chất xua đuổi hay chất gây ngán)
Phân chia theo các dạng thuốc (thuốc bột, thuốc nước ) hay phương pháp sử dụng (thuốc dùng để phun lên cây, thuốc xử lý giống )
Ngoài cách phân loại chủ yếu trên, tuỳ mục đích nghiên cứu và sử dụng, người ta còn phân loại thuốc BVTV theo nhiều cách khác nữa
Không có sự phân loại thuốc BVTV nào mang tính tuyệt đối, vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch hại khác nhau, có khả năng xâm nhập vào
cơ thể dịch hại theo nhiều con đường khác nhau, có cùng lúc nhiều cơ chế tác động khác nhau; trong thành phần của thuốc có các nhóm hay nguyên tố gây độc
khác nhau nên các thuốc có thể cùng lúc xếp vào nhiều nhóm khác nhau.
1.3.1.3 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp
Thuốc BVTV đóng một vai trò quan tọng trong snar xuất nông nghiệp với nhiều ưu điểm :
• Thuốc hóa học tiêu diệt nhanh triệt để,đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng được các trận dịch trong thời gian ngắn mà các biện pháp không làm được
• Đem lại hiệu quả rõ rệt kinh tế bảo vệ được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản đem lại hiệu quả kinh tế, giảm diện tích gieo trồng Nếu không dùng thuốc BVTV, sản lượng cây trồng trung bình bị mất khoảng
60 - 70%, không thể đáp ứng nổi thực phẩm cho con người hiện nay Nếu không, để tồn tại, con người phải tăng 3 lần diện tích đất canh tác hiện nay, điều này không thể làm được (Nguyễn Trần Oánh, 2007).
• Là biện pháp hóa học dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau
và nhiều khi là biện pháp duy nhất để phòng trừ sâu bệnh
Trang 16Đến nay thì thuốc BVTV đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết tất cả các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
1.3.1.4 Các nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
1 Đúng thuốc
Không một loại thuốc nào có thể phòng trừ được tất cả các loại dịch bệnh Một loại thuốc chỉ phòng trừ được một hoặc một vài loại dịch hại nhất định thuốc chỉ thích hợp trong điều kiện đất đai thời tiết, canh tác, cây trồng nhất định Trước khi mua thuốc cần phải xác định được loại dịch hại nào đang phá hoại trên đồng ruộng, mua đúng thuốc đem lại hiệu quả cao nhất Chọn thuốc phải phù hợp với trình độ kĩ thuật và điều kiện tại địa phường Ví dụ : ở miền Bắc do diện tích đất canh tác ít người dân thường có thòi quen có dịch hại rồi mới phòng trừ nên thường chọn thuốc có tác dụng là diệt trừ Còn miền Nam, người nông dân thường phun phòng sớm và phun phòng nhiều lần trong 1 vụ nên th ường chọn thuốc có tác dụng là phòng
Cần có những hiểu biết về tác dụng của thuốc để sử dụng đúng thuốc Ví
dụ : Conphai và Actara là hai thuốc trừ rầy nâu có tác dụng nôi hấp, có thể phun trùm trên ngọn, cũng có thể tiêu diệt rầy nâu ở gốc lúa Lựa chọn loại thuốc thích hợp cho từng loại cây trồng trên cơ sở đánh giá toàn diện ưu nhược điểm của từng loại thuốc để phát huy hiệu quả cao nhất, đem lại hiệu quả kinh tế nhưng lại an toàn cho người sử dụng , môi sinh môi trường, không để lại dư lượng là một điều khó khăn
2 Đúng nồng độ, liều lượng
Phun thuốc với liều lượng và nồng độ thấp sẽ không đảm bảo hiệu quả phòng trừ, gây lãng phí thuốc, thậm chí tạo điều kiện cho địch hại quen thuốc và dịch hại phát triển mạnh hơn.Ngược lại phun với liều lượng cao sẽ không đem lại lợi ích kinh tế, gây độc cho người sử dụng, cây trồng, gia súc, thiên địch và
để lại dư lương cao trên nông sản
Trang 17Phun thuốc với lượng nước ít, thuốc sẽ không bao phủ toàn cây, dịch hại không tiếp xúc được nhiều với thuốc.Nhưng nếu phun với lượng nước quá nhiều
sẽ làm cho lượng thuốc bị mất nhiều, hiệu quả phòng trừ bị giảm, mất nhiều công vận chuyển nước và gây độc cho môi trường
Hiệu quả phòng trừ dịch hại cũng không thể nâng cao nếu chỉ tăng nồng
độ thuốc dùng và giảm lượng nước phun Làm như vậy chỉ tăng độ độc cho người sử dụng, môi sinh và môi trường nhưng vẫn không đạt được hiệu quả phòng trừ mong muốn
Để có hiệu quả phòng trừ cao, ít gây hậu quả xấu cho môi trường, cần đảm bảo đồng thời 3 yếu tố trên.Ba yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau trên
cơ sở được tính toán kỹ.Các dạng thuốc khác nhau có khả năng phân tán trong nước không giống nhau Vì thế, cần có cách pha thích hợp cho từng dạng thuốc,
để tạo hiệu quả phòng trừ cao nhất
3 Đúng lúc
Đúng thời điểm: Dùng thuốc vào thời điểm dịch hại dễ bị tác động, cây
trồng chịu thuốc nhất và điều kiện ngoại cảnh thuận lợi cho thuốc phát huy hiệu lực tốt nhất
Dịch hại mẫn cảm: Nên dùng thuốc khi sâu còn nhỏ, cỏ còn non, bệnh mới vừa xuất hiện Với các côn trùng cần phun thuốc lúc sâu còn ở bên ngoài, đang kiếm ăn, bướm chưa đẻ sẽ mang lại hiệu quả cao
Để trừ cỏ, phải nắm vững thuốc dễ tác động vào giai đoạn nào của cỏ (mầm cỏ,
cỏ non hay cỏ già) mới đem lại hiểu quả cao
Cây trồng chịu thuốc tốt nhất: Thực vật có những giai đoạn chống chịu thuốc tốt, đồng thời có những giai đoạn rất mẫn cảm với thuốc Thuốc BVTV dễ làm giảm năng suất nếu phun vào lúc cây ra hoa thụ phấn.Trưa nắng to, thuốc cũng dễ gây cháy lá.Cần tránh phun thuốc BVTV vào giai đoạn này
Trang 18Điều kiện thời tiết thuận lợi nhất cho thuốc phát huy tác dụng: Không phun thuốc khi trời sắp mưa, quá nắng nóng Nên phun vào sáng sớm hay chiều mát (tốt nhất là phun thuốc lúc chiều mát), tránh phun thuốc buổi trưa
Phun vào sáng sớm, tuy ít hại đến người đi phun, dịch hại chưa lẫn tránh, nên dễ bị trúng độc, dần đến trưa, nhiệt độ lên cao thuốc dễ gây độc cho dịch hại; nhưng sau khi phun, thuốc gặp nhiệt độ cao, nắng gắt, thuốc sẽ bị phân hủy một phần; mặt khác, gặp nhiệt độ cao, sự trao đổi chất của dịch hại mạnh, nên thuốc cũng bị thải ra nhiều
Phun vào chiều mát, khỏe người, ít ngộ độc, gió lặng hơn nên thuốc bị mất ít hơn.Sau khi phun thuốc, gặp nhiệt độ xuống thấp, thuốc ít bị phân hủy; dịch hại hoạt động, ra khỏi nơi ẩn nấp, nên dễ tiếp xúc với thuốc, tạo điều kiện thuốc phát huy hiệu lực
Hạn chế một phần tác hại của thuốc đối với sinh vật có ích: Không phun khi thiên địch còn ít, thời điểm sinh vật có ích hoạt động mạnh Ở vùng có nuôi ong mật, nên phun thuốc vào buổi chiều khi ong đã về tổ, phun thuốc nội hấp
Về mặt kinh tế: Mỗi cây trồng chỉ có từng giai đoạn sinh trưởng nhất
định, tác động của dịch hại dễ ảnh hưởng đến năng suất Vì vậy chỉ nên phun thuốc vào thời điểm mật độ hay sự phá hại của dịch hại vượt ngưỡng kinh tế Làm như vậy sẽ làm giảm được số lần phun thuốc (không phun thuốc trừ sâu cuốn lá sớm nhằm bảo vệ thiên địch và tận dụng khả năng tự bồi đắp của cây lúa) Làm tốt công tác dự tính dự báo để giảm quy mô dùng thuốc (trừ theo ổ)
Sử dụng thuốc trên cơ sở ngưỡng kinh tế
4 Đúng phương pháp xử lí ( đúng cách)
Phun đúng nơi dịch hại cư trú để dịch hại tiếp xúc với thuốc nhiều nhất Chọn phương pháp sử dụng thích hợp nhằm tăng cường tính chọn lọc của thuốc Chọn đúng công cụ phun rải thích hợp cho từng mục đích sử dụng.Trong điều kiện có thể, nên dùng luân phiên các thuốc khác nhau để giảm tác hại của thuốc đến sinh quần và làm chậm tính kháng thuốc của dịch hại
Trang 191.3.2 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
1.3.2.1 Khái niệm phân bón
Phân bón là chất hoặc hợp chất có chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cây trồng , thúc đẩy sự phát triển, sinh trưởng cây trồng và cải thiện độ phì nhiêu của đất
1.3.2.2 Phân loại phân bón
a.Theo nguồn gốc hình thành
Phân hữu cơ :Là loại phân bao gồm phế phụ phẩm của cây trồng và gia súc ở
các giai đoạn khác nhau của quá trình phân giải và được bón vào đất nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và cải thiện tính chất đất Phân hữu cơ bao gồm phế phụ phẩm của trồng trọt, lâm nghiệp, rác thải từ các nghành sản xuất như nghành sản xuất giấy, đường, bùn cống rãnh và phế phụ phẩm từ các ngành chế biến nông sản
Phân vô cơ : Là những loại phân không có yếu tố cacbon ( có khi dùng
thuật ngữ hóa học , phân khoáng để gọi phân vô cơ nhằm phân biệt với các sản phẩm được sản xuất phương pháp vật lí, hóa học và không có nguồn gốc từ cây trồng vật nuôi )
Phân đơn: Là loại phân chỉ chứa một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng
(phân đạm , kali, lân )
Phân tổng hợp: Là những loại phân chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng
(bao gồm có phân trộn như NPK; phân phức hợp như DA, DAP.v.v
Phân sinh học: Là loại phân có chứa vi sinh vật có tác dụng tăng cường quá trình tổng hợp, phân giải, chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong đất để cây trồng sử dụng Phân sinh học chỉ có giá trị khi bón ra đồng ruộng các vi sinh vật trong phân còn sống và phát huy tác dụng
Phân sinh hóa : Là loại phân sản xuất bằng cả công nghệ sinh học và hóa
học trong đó :
+Sử dụng công nghệ sinh học để chuyển hoá làm giàu các nguyên liệu sản
xuất phân
+ Sử dụng công nghệ hoá học để tạo ra sản phân bón Phân sinh hoá khi bón
ra ruộng không còn sự có mặt của vi sinh vật
Phân phức hợp : Là loại phân có chứa trong thành phần 2 hoặc nhiều
Trang 20yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
Phân trung lượng : Là loại phân chứa một loại chất dinh dưỡng trung
lượng như: Mg, S, Ca…Các loại chất dinh dưỡng này cây cần với một lượng trung bình nhưng rất cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng
Phân vi lượng : Phân vi lượng là loại phân có chứa một yếu tố dinh
dưỡng vi lượng như : Cu, Fe, Zn, Mo… Phân vi lượng cây trồng cần một lượng rất nhỏ nhưng nó lại ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển cũng như chất lượng nông sản
b phân loại theo cách sử dụng
Phân bón rễ : Là các loại phân bón được bón trực tiếp vào đất hoặc vào
nước để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua bộ rễ;
Phân bón lá :là các loại phân bón được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá
hoặc thân để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua lá
Chất cải tạo đất :Là chất bón vào đất có tác dụng nâng cao độ phì, cải
thiện đặc điểm lý tính, hoá tính, sinh tính đất, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao và chất lượng nông sản tốt;
1.3.2.3 Vai trò của phân bón
Tăng năng suất cây trồng :
Cây trồng vẫn có thể sinh trưởng phát triển được ngay cả khi không có phân bón Nhưng để đạt được năng suất cao thì sử dụng phân bón là biện pháp hữu quả nhất Thực tế sản xuất cho thấy, một giống cây trồng dù có tiềm năng năng suất cao như thế nào mà không được chăm bón tốt, gieo trồng trong điều kiện thích hợp và nhất là không được bón phân một cách cân đối hợp lí thì cũng không đạt được năng suất cao như mong muốn Điều này thể hiện ở các quốc gia
có trình dộ thâm canh thấp
Ở các nước có hệ thống nông nghiệp 100 năm trở lại đây (từ khi bắt đầu
sử dụng phân hóa học) sử dụng phân khoáng đã làm tằng 60% năng suất cây trồng Cách mạng xanh ở Ấn Độ năm 1950, khi nông dân chưa biết sử dụng phân bón năng suất chỉ đạt được 50 triệu tấn lương thực/ năm , thiếu đói trầm
Trang 21trọng Năm 1984, nhờ sử dụng 7,8 triệu tấn phân bón/ năm đã đưa sản lượng lương thực lên 140 triệu tấn Kết quả điều tra của FAO trong thập niên 70 – 80 của thế kỉ 20 trên phạm vi toàn cầu trung bình phân bón quyết định 50% sản lượng nông sản tăng lên hàng năm Ở các nước châu Á, Thái Bình Dương (1979 – 1989) phân bón làm tăng 75% năng suất lúa Theo tổng kết về vai trò của các yếu tố trong kĩ thuật nông nghiệp hiện đại ở Mỹ thì năng suất được quyết định bởi 41% do phân khoáng Năm 1997, ở Việt Nam tính trung bình phân bón làm tăng 38 – 405 năng suất, dự tính có thể tăng hơn nữa 75% năng suất lúa, nếu sử dụng 1 tấn dinh dưỡng nguyên chất sẽ thu được 13 tấn ngũ cốc
Vai trò nâng cao chất lượng nông sản :
Bón phân cân đối và hợp lí sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng nông sản Việc bón thừa và thiếu chất dinh dưỡng đều có những ảnh hưởng xấu tới chất lượng nông sản, sức khỏe của con người và gia súc Bón nhiều đạm làm giảm hàm lượng đồng trong cỏ khô cho bò có thể gây ra bệnh vô sinh cho bò sinh sản.Bón thiếu hay thừa đạm cho rau có thể gây giảm tỉ lệ ribo fla vin (vitamin B2) là chất chống tác động gây ung thu cho con người trong hợp chất 4.Dimethinlamino – benzen Bón đầy đủ lân cho cây trồng có tác làm tăng hiệu quả chắc hạt Bón đầy đủ phân có tác dụng làm tăng hàm lượng vitamin, đường trong hoa quả
Vai trò cải thiện và nâng cao độ phì của đất :
Phân bón, đặc biệt là các loại phân hữu cơ có khả năng cải thiện tính chất đất rất rõ rệt như tăng độ xốp, tăng dung tích hấp phụ, tăng hàm lượng mùn trong đất Bón các loại phân vô cơ một cách hợp lý và cân đối cũng có thể góp phần đảm bảo cân bằng dinh dưỡng trong đất, tạo điều kiện cho các vi sinh vật hoạt động và giúp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt
1.4 Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và trên thế giới
1.4.1 Tình hình sử dụng trên thế giới
1.4.1.1 Sử dụng phân bón
Tiêu thụ phân bón có liên quan chặt chẽ tới sản xuất nông nghiệp Nếu
Trang 22sản xuất thuận lợi kinh tế phát triển thì nhu cầu về phân bón tăng cao Mức tiêu thụ phân bón đạt gần 173 triệu tấn năm 2007 sau đó giảm mạnh xuống còn 153,3 triệu tấn giai đoạn 2008 – 2009, đạt 172,6 triệu tấn 2010 – 2011 và 176 triệu tấn 2011 – 2012.
Bảng 1.1 : Lượng tiêu thụ phân bón toàn cầu
Nguồn: tổ chức nông lượng thế giới (FAO)
Trong đó các nước tiêu thụ phân bón nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc là nước tiêu thụ lớn nhất, sau đó đến Ấn Độ, Mỹ, brazin…nhóm 10 nước này tiêu thụ chiếm 74% tổng lượng phân bón tiêu thụ
Theo FAO (2011), với nhu cầu lượng thực tăng người nông dân sẽ tăng thềm phân bón để tăng năng suất cây trồng, vì vậy nhu cầu sử dụng phân bón dự đoán sẽ tăng 2% và đạt 194 triệu tấn vào năm 2015 Còn theo ủy ban nông nghiệp IFA, nhu cầu phân bón thế giới trung bình tăng 1,7% với cả 3 yếu tố dinh dưỡng và sẽ đạt 189,9 triệu tấn vào năm 2015 ( IFA, tháng 5/2012) và gia tăng nhu cầu phân bón tập trung ở hầu hết các nước Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ
1.4.1.2 Sử dụng thuốc BVTV
Sự phát triển của các biện pháp hóa học có nhiều lúc thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới tăng lên không ngừng số chủng loại thì ngày càng phong phú Nhiều loại thuốc mới, thuốc an toàn với môi trường xuất hiện bất chấp với các công tác quản lí chặt chẽ của các quốc gia về thuốc BVTV và kinh phí dầu tư cho sự nghiên cứu các loại thuốc mới tăng cao
Trong 10 năm trở lại đây, tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV có xu hướng giảm nhưng giá trị của thuốc có xu hướng không ngừng tăng Nguyên nhân là cơ
Trang 23cấu thuốc thay đổi : nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, lượng độc lớn, ảnh hưởng tới môi trường được thay thế bằng các thuốc mới an toàn, hiệu quả, liều lượng ít hơn nhưng giá thành cao.
Tuy nhiên , mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu các nhóm thuộc tùy thuộc vào đặc điểm, tỉnh hình canh tác của mỗi quốc gia Ngày nay, biện pháp hóa học bảo vệ thực vật phát triển theo hướng sau :
Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới, có tính chọn lọc có khả năng diệt trừ bệnh hại cao, lượng độc nhỏ, tồn dư ngắn và dễ dùng Ví dụ : thuốc trừ sâu có tác dụng chậm (điều khiển sinh trưởng côn trùng, các chất di truyển, chất triệt sản…)
Tìm hiểu các phương pháp và nguyên liệu gia công các loại thuốc ít ô nhiễm, hiệu lực dài dễ dùng , lọa bỏ dần các dạng thuốc gây ô nhiễm môi trường
1.4.2 Tình hình sử dụng ở Việt Nam
1.4.2.1 Sử dụng phân bón
Hiện nay, Việt Nam là một nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng được nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Việt Nam là một trong 20 nước sử dụng phân bón nhiều nhất trên thế giới mỗi năm nông dân Việt Nam sử dụng khoảng
5 triệu tấn phân vô cơ không kể phân bón hữu cơ và phân bón do các cơ sở tư nhân và các công ty TNHH cung ứng
Theo Nguyễn Văn Bộ một năm nước ta sử dụng khoảng 1202140 tấn đạm, 456000 tấn lân, 402000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% Do điều kiện khí hậu gặp nhiều bất lợi kĩ thuật bón phân chỉ mới phát huy được 30% hiệu quả đạm , 50% hiệu quả lân và kali
Từ năm 1985 đến nay mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%, phân lân tăng 13,9%, riêng phân kali tăng cao nhất 23,9% Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0% trong thời gian tới xu hướng tăng 10%
Hiện nay ngành sản xuất phân hóa học của nước ta chỉ đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu về phân bón trong sản xuất nông nghiệp, còn lại nhập khẩu
Trang 24gần như toàn bộ phân đạm, phân ure, phân phức hợp DAP, một lượng lớn phân NPK với tổng số trên 3 triệu tấn mỗi năm Riêng phân khoáng kali nhập khẩu hoàn toàn từ nước ngoài nên nước ta phụ thuộc vào nước ngoài về lượng phân kali cho sản xuất nông nghiệp.
Đối với dư lượng thuốc BVTV hằng năm chi cục BVTV và cục BVTV lấy mẫu cây trồng tại các vùng sản xuất và trên thị trường để kiểm tra dư lượng thực vật Kết quả kiểm tra từ năm 2006 đến nay thì dư lượng thuốc BVTV vượt quá mức cho phép vẫn ở mức cao (8,53%) số mẫu kiểm tra Nguyên nhân dư lượng thuốc BVTV cao do : sử dụng thuốc BVTV không đúng nồng độ , liều lượng, không tuân thủ thời gian cách ly
Hầu hết thuốc BVTV ở Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài.Hằng năm Việt Nam nhập khẩu trên 70000 tấn thành phẩm với trị giá 210 – 500 USD.Trên 90% thuốc BVTV là nhập khẩu từ Trung Quốc
1.5 Tình hình quản lý thuốc BVTV và phân bón trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình quản lí thuốc BVTV
Trang 25 Các văn bản quy định về sử dụng thuốc BVTV ở nước ta
Thuốc BVTV là một loại hàng hóa đặc biệt , hạn chế kinh doanh, kinh doanh phải có đăng ký, người bán phải có chứng chỉ mới được phép kinh doanh
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta về thuốc BVTV được xây dựng dựa trên sự hướng dẫn của FAO, hài hòa với nguyên tắc quản lý thuốc BVTV tại các nước ASEAN, dựa trên các công ước quốc tế mà Việt Nam tham
dự như công ước Basel , công ước stockhom… Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuốc BVTV ở nóc ta bao gồm luật háo chất năm 2007, nghị định của chính phủ, thông tư của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Pháp lệnh về Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là văn bản có tính pháp lý cao nhất của Nhà nước ta về công tác bảo vệ và kiểm dịch thực vật, trong đó có một chương riêng (chương IV) chuyên về quản lý thuốc BVTV Trong văn bản này, thuốc BVTV được liệt vào loại hàng hoá hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; nhà nước thống nhất quản lý mọi khâu từ sản xuất, xuất nhập khẩu, bảo quản, dự trù, vận chuyển buôn bán và sử dụng thuốc BVTV; có chính sách ưu đãi với việc
sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, ít độc
Nhà nước cũng quy định trách nhiệm cụ thể của Bộ NN&PTNT bảo đảm
an toàn khi xảy ra các sự cố thuốc BVTV, điều kiện sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV; những quy định về việc tiêu huỷ, dự trữ thuốc BVTV và những điều nghiêm cấm trong việc sản xuất, gia công, sang chai, đúng gói, nhập khẩu, tàng trữ, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV
Nghị định 92 CP của chính phủ ban hành năm 1993 được thay bằng
Nghị định 58 ban hành năm 2002 về “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh về Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật”, trong đó có “Điều lệ Bảo vệ thực vật” (có
điều quy định điều kiện người trực tiếp làm dịch vụ BVTV, có liên quan đến
vấn đề kinh doanh thuốc BVTV) và “Điều lệ quản lý thuốc BVTV”.
Trong “Điều lệ quản lý thuốc BVTV”(06/2002) quy định lại phạm vi
thi hành của điều lệ và đưa ra nhiều định nghĩa về những khái niệm dùng
Trang 26trong điều lệ Điều lệ cũng quy định các tổ chức cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV ở Việt nam phải tuân theo pháp luật về quản lý thuốc BVTV ở Việt nam và những Điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia
Hàng năm Bộ NN&PTNT sẽ ra danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cấm sử dụng Những điều nghiêm cấm trong việc sản xuất, gia công, sang chai, đúng gói, nhập khẩu, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng thuốc cấm, thuốc giả thuốc ngoài danh mục, thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc không có nhãn, hoặc cá nhân nhưng vi phạm quy định về nhãn hàng hoá, vi phạm nhãn được bảo hộ; cấm nhập khẩu buôn bán và sử dụng thuốc đã hết hạn sử dụng Cấm quảng cáo những thuốc không có trong danh mục thuốc được phép sử dụng, những thuốc hạn chế và thuốc cấm sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam
Điều lệ còn quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn trách nhiệm của những tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của Nhà nước trong các lĩnh vực: sản xuất, gia công, sang chai, đúng gói thuốc BVTV; xuất nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc BVTV; vận chuyển, bảo quản, buôn bán thuốc BVTV trong nước; sử dụng thuốc BVTV; đăng ký, kiểm định, khảo nghiệm thuốc BVTV; chế độ quản lý sử dụng dự trữ thuốc BVTV
Nghị định 78/CP ngày 27/11/1996 và được điều chỉnh, bổ sung làm rõ
hơn trong Nghị định số 26/2003/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ và kiểm dịch thực vật” Trong Nghị định số
26/2003/NĐ-CP có quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc xử phạt, những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng, các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả Riêng mục C trong chương II, qui định cụ thể hình thức xử phạt và mức phạt về quản lý thuốc BVTV
Kèm theo điều lệ, các quy định của nhà nước bộ NN & PTNN đã ban hành một số những quy định của bộ về công tác quản lý thuốc BVTV Thông
Trang 27tư số 03/2015/TT-BNNPTNT ngày 29/1/2015: Ban hành Danh mục thuốc bảo
vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam và công bố mã số
HS đối với thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam Hay Thông tư số 03/2015/TT-BNNPTNT ngày 29/1/2015: Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam và công bố mã số HS đối với thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam
Trong những văn bản nói trên đã chứng tỏ Nhà nước ta rất coi trọng việc quản lý thuốc BVTV Đồng thời Nhà nước ta cũng đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh lưu thông và người sử dụng (nông dân) thuốc BVTV phải quán triệt để nghiêm chỉnh thực hiện
Tình hình quản lý thuốc BVTV ở nước ta
Tất cả các loại thuốc BVTV để phòng trừ dịch hại , xử lí hạt giống, bảo quan nông sản… đều phải đăng ký tại Việt Nam Hằng năm bộ NN & PTNN đều ban hành danh mục các loại thuốc được phép sử dụng và thuốc cấm không được phép sử dụng
Trong 7 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đã chi khoảng 463 triệu USD, tương đương khoảng trên 9.000 tỷ đồng để nhập thuốc trừ sâu và nguyên liệu Đây là số liệu thống kê mới nhất vừa được Bộ Công Thương công bố, khiến không ít người phải giật mình(Thu Hường, 2015)
Việt Nam là một thị trường lớn đối với thuốc trừ sâu bảo vệ thực vật nhập khẩu từ nước ngoài Trong 5 tháng đầu năm 2015 nhập khẩu nhóm hàng này trị giá 338,25 triệu USD, giảm nhẹ 1,06% so với cùng kỳ năm 2014 là trị giá 341,83 triệu USD (Asem, 2015) Do ngành sản xuất các loại hoá chất tổng hợp dùng cho bảo vệ thực vật trong nước chưa phát triển nên các doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu Tuy nhiên chúng ta cũng có những DN nhập nguyên liệu để phối chế và xuất khẩu thuốc thành phẩm sang nhiều nước khác với số lượng có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Hiện thị
Trang 28trường kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam có khoảng 150 doanh nghiệp trong đó 15% nguyên liệu doanh nghiệp nhập để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xuất khẩu, 15% để trong kho, còn lại 70% (tương đương 70.000 tấn) để sử dụng trong nước (Asem, 2015).
Ngày 8/6/2015, Bộ NN&PTNT đã ký ban hành Thông tư số 21 về quản lý thuốc bảo vệ thực vật Thông tư này sẽ có hiệu lực từ 1/8/2015 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định lâu dài để các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thuốc bảo
vệ thực vật tại Việt Nam thời gian tới
Hiện nay trên cả nước có 20.000 đại lý buôn bán thuốc BVTV, 200 doanh nghiệp thuốc BVTV và 97 nhà máy chế biến thuốc (chế biến được 50% lượng chế phẩm sử dụng trong nước, khoảng 30.000–40.000 tấn/năm) (Mỹ Hà, 2014) Phần lớn các cơ sở này nằm trong các khu công nghiệp và tập trung tại các tỉnh, thành phố phía Nam
Theo thông tin mới nhất từ Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 19-11-2014, tổng số cơ sở sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên cả nước đã được thanh tra là 4457 cơ sở, phát hiện nhiều hành vi vi phạm Tổng số mẫu được lấy kiểm định 652 mẫu, trong đó số mẫu không đạt là 35 mẫu, chiếm 5,37%.Tổng số tiền phạt cho những vi phạm trên là hơn 2,1 tỷ đồng
1.5.2. Tình hình quản lý phân bón
Các văn bản quy định của nhà nước
Phân bón là loại hàng hóa đặc thù, có những đặc điểm khác biệt so với các loại hàng hóa khác Hiện nay có nhiều quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng phân bón ở nước ta như :
Nghị định 113/2003/NĐ-CP ngày 07/10/2003 của Chính phủ quy định quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón (sau đây gọi tắt là Nghị định 113) và Nghị định số 191/2007/NĐ-CP ngày 31/12/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
Trang 29sung một số điều của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 191);
Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về Nhãn hàng hoá; Nghị định 15/2010/NĐ-CP ngày 01/3/2010 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón
Cùng với các nghị định thông tư của nhà nước thì bộ NN & PTNN cũng đưa ra nhưng thông tư quy định về quản lý, sử dụng sản xuất kinh doạn phân bón như : Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT ngày 24/6/2010 về việc ban hành quy định sản xuất, kinh doanh phân bón;
Thông tư 52/2010/TT-BNNPTNT ngày 9/9/2010 về việc hướng dẫn khảo nghiệm, công nhận, đặt tên phân bón mới;
Thông tư 16/2011/TT-BNNPTNT ngày 1/4/2011 về đanh giá, chỉ định và quản lý hoạt động các phòng kiểm nghiệm lĩnh vực nông nghiệp;
Thông tư ban hành Danh mục phân bón (Sau đây gọi tắt là Danh mục) được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam được ban hành bổ sung hàng quý Đến nay đã có 19 Thông tư ban hành Danh mục phân bón còn hiệu lực (kể từ năm 2009 đến nay) Hàng năm, Bộ Nông nghiệp và PTNT tiến hành khảo nghiệm, công nhận hàng trăm loại phân bón mới để bổ sung vào Danh mục, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất ngày càng cao Trong Danh mục phân bón hiện nay có trên 5.000 phân bón các loại
Tình hình quản lý phân bón
Hiện nay, cả nước có trên 500 đơn vị sản xuất và khoảng 30.000 đơn vị kinh doanh phân bón (chủ yếu là qui mô nhỏ), trong khi đó phân bón lại chưa được qui định là mặt hàng sản xuất, kinh doanh có điều kiện Do vậy, nhiều cơ sở không đáp ứng được điều kiện cần thiết tối thiểu cho sản xuất và kinh doanh phân bón song vẫn được tham gia vào lĩnh vực này, gây khó khăn cho công tác quản lý Việc giám sát chất lượng ngay từ đầu nguồn chưa được thực thi hiệu quả
Việc quản lý phân bón theo Danh mục được phép sản xuất, kinh doanh và
sử dụng ở Việt Nam như hiện nay rất tốn kém, vừa mất thời gian khảo nghiệm,
Trang 30vừa gây khó khăn cho việc tra cứu do có quá nhiều loại phân bón trong Danh mục; không thực hiện được việc truy xuất nguồn gốc, dẫn tới hiệu quả quản lý thấp Để đưa một loại phân bón vào trong Danh mục phân bón cần phải thực hiện qua 13 thủ tục hành chính khác nhau, do vậy việc quản lý phân bón theo hình thức “Danh mục phân bón” không còn phù hợp với nhu cầu phát triển của thực tế sản xuất và xu hướng hội nhập quốc tế.
Các quy định về quản lý chất lượng phân bón của Nghị định 113 và Nghị định 191 chưa tương thích, chưa phù hợp với Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật Theo qui định hiện hành, các loại phân hữu cơ- khoáng, hữu cơ vi sinh chỉ được phép sản xuất, kinh doanh khi được công nhận là biện pháp kỹ thuật mới và phải có tên trong Danh mục phân bón, chưa thực hiện quản lý theo quy định của Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hoá và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn đã được ban hành Đến hết năm 2011, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chỉ định được 19 đơn vị khảo nghiệm phân bón, 27 phòng kiểm nghiệm chất lượng phân bón, 09 tổ chức chứng nhận phân bón, đào tạo và cấp chứng chỉ cho 1.082 người lấy mẫu phân bón
Hiện nay có 3 Bộ cùng tham gia quản lý Nhà nước về phân bón gồm: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ; tuy nhiên chưa phân định rõ Bộ nào chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ thống nhất quản lý phân bón Do vậy, chưa có cơ quan nào thực sự nắm vững về các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu phân bón Việc quản lý còn phân tán và có phần chồng chéo Ở địa phương, cơ quan quản lý chất lượng phân bón không đồng nhất giữa các địa phương, có nơi giao cho phòng Trồng trọt hoặc phòng Kỹ thuật thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, có nơi lại giao cho Chi cục Bảo vệ thực vật hoặc Chi cục Quản lý chất lượng Hầu hết các địa phương chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi, quản lý phân bón, đội ngũ cán bộ thiếu chuyên môn, thường xuyên bị thay đổi; thiếu trang thiết bị và kinh phí phân tích, kiểm định chất lượng
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí, sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất dưa hấu ở xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Khu vực nghiên cứu : tiến hành trên phạm vi toàn xã gồm 4 thôn : Hồng Văn, Gia Hòa, Hải Phúc và Hoàng Trì xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu ; từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016
- Nội dung : Nghiên cứu thực trạng sử dụng , quản lí phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất dưa hấu tại xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa , từ đó đề xuất giải pháp
Trang 322.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã
- Tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung cây dưa hấu nói riêng của xã
- Hệ thống phân phối phân bón và thuốc BVTV của xã
- Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp và cây dưa hấu
- Hiện trạng quản lí phân bón và thuốc BVTV trên địa bàn xã
- Đề xuất giải pháp sử dụng quản lí phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất dưa hấu hợp lí và đạt hiệu quả nhất
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu có liên quan tới nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ:Các cơ quan chức năng như: Uỷ ban xã Hoằng Thắng…., Các văn bản pháp quy của Nhà nước, Chính phủ
2 .4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra bảng hỏi:
+ Phỏng vấn hộ gia đình bằng mẫu phiếu in sẵn
+ Số phiếu điều tra:
Tiến hành phỏng vấn 4 hộ kinh doanh thuốc BVTV , phân bón ở 4 thôn trong
xã và ngẫu nhiên 60 hộ gia đình sản xuất nông nghiệp phân bố ở 4 thôn : Hồng Văn, Gia Hòa, Hải Phúc, Hoàng Trì và Hồng Văn Cụ thể:
Trang 33dụng hóa chất BVTV trong nông nghiệp tại địa phương: Loại, lượng, thời gian sinh trưởng, thời gian cách ly
+ Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc Bảo vệ thực vật+ Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT quy định về việc sản xuất, buôn bán
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Hoằng Thắng , huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lí.
Xã Hoằng Thắng thuộc vùng Đông Nam của huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm huyện về phía Đông Nam 3km và có vị trí tiếp giáp như sau :
Phía bắc giáp xã Hoằng Đạo
Phía Nam giáp các xã Hoằng Thành, Hoằng Lưu
Phía Đông giáp xã Hoằng Lưu (sông Cung )
Phía Tây giáp xã Hoằng Thái và Hoằng Đồng
Có diện tích tự nhiên 5,97 km2, chiếm 2,35% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Dân số là 8065 người, mật độ dân số là 1,248 người/km2
Xã có vị trí địa lí thuận lợi, phía bắc có đường tỉnh lộ Bút Sơn đi chợ Vực, đường liên xã Hoằng Thắng, Hoằng Đạo, Hoằng Thái, Hoằng Lưu chạy qua trung tâm xã tạo điều kiện cho giao lưu phát triển kinh tế