1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

69 849 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 596,76 KB
File đính kèm 2013-NN-MT-01.rar (555 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã Thọ Nghiệp nằm cuối huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định nơi có hầu hết các hộ dân làm nông nghiệp. Khu đồng ruộng của xã nằm ngay cạnh khu dân cư. Đây là nguồn cung cấp lương thực và hoa màu rất đa dạng. Tuy nhiên, sự hiểu biết của nông dân về việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV còn thấp, lượng sử dụng ngày càng lớn, không theo quy trình cụ thể. Đặc biệt vỏ, bao bì của các loại thuốc BVTV không được thu gom, xử lý đã làm hủy hoại môi trường sinh thái, gây nên nhiều loại bệnh nguy hiểm. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định”

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Kính gửi: Khoa Tài Nguyên và Môi Trường – Trường Đại học Nông Nghiệp

Hà Nội

Trong thời gian từ tháng 1/2013 đến tháng 4/2013 chúng tôi tiếp nhận sinh viên Nguyễn Thị Đào vào thực tập tốt nghiệp tại xã Thọ Nghiệp – huyện Xuân Trường – tỉnh Nam Định Trong quá trình thực tập chúng tôi có một số nhận xét sau:

Sinh viên Nguyễn Thị Đào đã có nhiều cố gắng và hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình

Chấp hành mọi quy định của xã nói chung và Ban quản trị HTX nói riêng,

có thái độ nghiêm túc, có quan hệ tốt với mọi người

Đề nghị khoa Tài nguyên và Môi trường tạo điều kiện, giúp đỡ sinh viên Đào hoàn thành báo cáo tốt nghiệp

Thọ nghiệp, Ngày tháng năm 2013

UBND xã Thọ Nghiệp

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tổ chức lương thực thế giới Hóa chất bảo vệ thực vật

Trang 4

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, nhưng với tốc độ gia tăng dân số, cùng quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp dần, cùng với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh,

cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy việc sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) để nâng cao năng suất, sản lượng, phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo

vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Tuy nhiên, những năm gần đây việc sử dụng phân bón, hóa chất BVTV quá mức, sự đa dạng; biến đọng không ngừng của thị trường phân bón và hóa chất BVTV, tạo cơ hội ngày càng tăng lượng sử dụng chúng trong sản suất, nhiều hộ nông dân chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt Hậu quả, tạo ra sức ép đối với môi trường sống, chất lượng nông sản và sức khoẻ con người Để giải quyết được các sức ép đó, việc quản lý và sử dụng phân bón, hóa chất BVTV phải thực sự có hiệu quả, tuy nhiên với tình hình hiện nay đó là vấn đề hết sức khó khăn

Xã Thọ Nghiệp nằm cuối huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định nơi có hầu hết các hộ dân làm nông nghiệp Khu đồng ruộng của xã nằm ngay cạnh khu dân cư Đây là nguồn cung cấp lương thực và hoa màu rất đa dạng như : lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, dưa chuột, bí ngô, đậu đỗ,…

Tuy nhiên, sự hiểu biết của nông dân về việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV còn thấp, lượng sử dụng ngày càng lớn, không theo quy trình cụ thể Đặc biệt vỏ, bao bì của các loại thuốc BVTV không được thu gom, xử lý đã làm hủy hoại môi trường sinh thái, gây nên nhiều loại bệnh nguy hiểm

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài :

“Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định”

1.2 Mục đích, yêu cầu

Trang 5

1.2.1 Mục đích

- Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ

thực vật ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu tác hại của phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật đến môi trường, sức khỏe cộng đồng

Trang 6

2.1.1 Khái niệm về phân bón

Theo GS.TS Võ Minh Kha, thì “phân bón là những chất vô cơ hoặc hữu

cơ có chứa các nguyên tố cần thiết cho cây trồng được bón vào đất hay hòa nước phun, xử lý hạt giống, rễ, cây non”.[19]

Có thể ví phân bón là “thức ăn” của cây trồng Việc bón phân thích hợp sẽ góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế, ít hoặc không tác động đến kết cấu đất canh tác và môi trường

Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam cũng như trên thế giới vai trò của phân bón luôn được đề cao, nó là công cụ được sử dụng rất sớm Nền nông nghiệp nước ta từ xưa đến nay đã sử dụng phân bón như là một công cụ không thể thiếu, ông cha ta đã từng khẳng định “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Phân bón dần trở thành công cụ chủ lực để tăng năng suất và sản lượng cây trồng

Phân bón thực sự đạt hiệu quả khi nó được sử dụng một cách hợp lý Theo Nguyễn Văn Bộ: “Bón phân cân đối là cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu với tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng loại cây trồng với mùa vụ cụ thể đảm bảo năng suất cao, chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường sinh thái”.[15]

Phân bón hiện nay rất đa dạng, ngày càng phát triển, nó được chia thành nhiều dạng khác nhau:

Theo hợp chất cấu tạo có thể phân thành phân hữu cơ và phân vô cơ Theo thành phần nguyên tố dinh dưỡng có loại phân: phân đa lượng, phân trung lượng, phân vi lượng Theo GS Võ Minh Kha chia phân bón (theo ISO201 ) thành

-Phân bón công nghiệp: là các sản phẩm hữu cơ hoặc vô cơ có sinh vật sống được hoặc không sống được sản xuất từ công nghiệp khai khoáng, công nghiệp hóa học, công nghiệp sinh học được sử dụng để cung cấp dinh dưỡng hoặc làm tốt hơn quá trình dinh dưỡng cho cây trồng bao gồm: Phân khoáng (các loại phân chính là đạm, lân, kali), phân sinh hóa (phân vi lượng và các chất

Trang 7

điều hòa sinh trưởng), phân vi sinh (là các chất che phủ phải chứa vi sinh vật sống có ích như vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân và kali)

- Các loại phân do dân tự sản xuất: chủ yếu là các loại phân vô cơ, phân hữu cơ sản xuất tại chỗ

- Các chất cải tạo đất: cải tạo đất chua bằng vôi và các chất có tác dụng keo kết, cải tạo cấu trúc lý tính của đất.[19]

2.1.2 Phân bón và năng suất, chất lƣợng nông sản

*Phân bón và năng suất cây trồng

Từ lâu nông dân ta đã có câu “người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân” Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới Từ ngày có công nghệ phân hóa học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước ta được tăng lên rõ rệt Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (1960 – 1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hóa học tăng lên là 242%

Tại Ấn Độ phân bón đã góp phần làm tăng tổng sản lượng ngũ cốc từ 1% (1950) lên đến 58% (1995) Theo đánh giá của M.Velayuttham, mức đóng góp vào sản lượng lương thực gia tăng của phân bón là 60%.[17]

Theo Viện Lúa Quốc tế (IRRI), Ủy ban Lúa gạo Quốc tế (IRC), Viện nghiên cứu Nông hóa Mỹ khẳng định: gần 50% năng suất lúa là do tác động của phân bón, còn hơn 50% kia là do yếu tố khác như thuốc trừ sâu, giống mới, thủy lợi đầy đủ.[21]

*Phân bón và chất lượng nông sản

Các loại phân bón đều có vai trò trong việc tăng năng suất cây trồng và chất lượng nông sản, cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất và phân bón tạo nên chất lượng sản phẩm Đảm bảo bón phân cân đối hợp lý cho cây trồng sẽ làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng nông sản, ngược lại khi cây thiếu dinh dưỡng ta bón phân không hợp lý hoặc không đúng yêu cầu của cây sẽ làm giảm năng suất và chất lượng nông sản của cây

Trang 8

Vai trò của các loại phân bón được GS Bùi Đình Dinh, GS Võ Minh Kha,

GS Đỗ Ánh tổng hợp như sau:

- Phân đạm có vai trò trong cấu tạo protit là cơ sở của sự sống Thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, đẻ nhánh kém, ít phát triển mầm non, lá nhỏ, quang hợp yếu, ra hoa kết quả muộn, năng suất yếu

- Phân lân tham gia vào quá trình hình thành mầm non, đẻ nhánh, phân hoa, đậu quả, đồng thời tăng cường sự vận chuyển đường và bột tích lũy về dạng hoạt động Lân tăng cường khả năng chống lạnh, nóng cho cây trồng giúp cây chịu được đất chua hoặc kiềm

- Phân kali xúc tác quá trình quang hợp hình thành hợp chất đường, bột trong cây, quá trình tạo protit hình thành tế bào mới, giúp cây trồng khắc phục trạng thái thiếu ánh sáng Kali tăng cường sự hút nước, làm chậm sự đông kết của dịch tế bào khi gặp lạnh, nhờ đó giúp cây trồng chịu lạnh, nóng, tạo mô chống đỡ cho cây cứng, tạo khả năng chống bệnh, 60 loại men trong cây trồng cần kali để hoạt động.[19]

Khi thiếu S thì khả năng hình thành protit bị giảm, làm hàm lượng các chất đạm hòa tan trong cây tăng lên B là nguyên tố ảnh hưởng đến nhiều chất lượng sản phẩm Nếu thiếu B thì bắp cải rỗng ruột, củ cải xốp ở giữa; bắp cải, cà rốt, cà tím, cần tây bị nẻ cuống; lá hạt cây ngũ cốc bị lép nhiều do bị nấm và vi khuẩn phá hại

Chất lượng nông sản tác động nghiêm trọng đến sức khỏe con người, chất lượng thức ăn kém, thiếu vitamin, thiếu các nguyên tố vi lượng làm cho người

và động vật dễ mắc các bệnh suy dưỡng, thiếu máu, vô sinh

2.1.3 Ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và con người

* Ảnh hưởng đến môi trường

Trang 9

Trước hết tác động của phân bón đối với việc gây ô nhiễm môi trường phải kể đến đó là lượng dư thừa các chất dinh dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúng cách

Phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống

Ảnh hưởng tới khí quyển: Khi bón phân vào môi trường đất, chỉ một phần

được cây trồng sử dụng, phần còn lại chúng tích lũy trong môi trường nước, đất hoặc bay hơi vào khí quyển Theo Trần Văn Chiến và Phan Trung Quý riêng khí metan, hàng năm thế giới thải ra khoảng 250 triệu tấn, trong đó các hoạt động nông, lâm nghiệp chiếm khoảng 40 – 46%, ngoài ra trong quá trình sản xuất phân bón làm phát thải ra một lượng lớn các khí thải (NH4, CH4,CO2 ,…), hệ quả của nó là tạo ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính, quá trình được minh họa bằng các phương trình:[16]

CO + O3 CO2 + O2

NO + O3 NO2 + O2

CH4 +O2 CO2 + H2O

Nhiễm bẩn nitrat: Sử dụng các loại phân đạm khác nhau chính là nguyên

nhân sản sinh ra NO3-, nguồn phân đạm hóa học được sử dụng cây trồng chỉ hấp thu khoảng 50% còn lại nó đi vào môi trường đất, nước, không khí Trong môi trường đất, do keo đất là keo âm nên NO3- linh động dễ thấm sâu vào lòng đất, gây nhiễm bẩn NO3-

tầng nước ngầm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.[16][13]

Sự tích lũy photpho, kali: Lân khi bón vào đất chủ yếu tồn tại ở dạng khó

tan, liên kết chặt chẽ với Fe, Al… chỉ một phần cây trồng sử dụng, một phần bị rửa trôi theo dòng nước Ở những vùng ngập nước dư thừa lân, đạm, cùng với sự

Trang 10

sinh trưởng, phát triển của rong tảo sẽ dẫn đến hiện tượng dư thừa dinh dưỡng, giảm oxi hòa tan, gây ra hiện tượng phú dưỡng.[13]

Kali bón vào đất thường linh động hơn, việc dư thừa kali trong môi trường làm thay đổi tính chất của keo đất, ion K+

thay thế Ca+ làm tính bền keo đất giảm, có thể làm tăng áp suất thẩm thấu của đất, dẫn đến dễ bị rửa trôi, khả năng cung cấp nước từ đất kém đi, khả năng chống hạn kém, khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất cũng kém đi.[16]

Tích lũy kim loại nặng trong môi trường: Các loại phân hóa học được sản

xuất từ nguyên liệu chính là từ các quặng (apatit, photphorit, pyrit,…), các nguyên liệu này đều chứa một lượng nhỏ nhất định các kim loại nặng, khi bón phân các kim loại này tích đọng trong môi trường, trong các sản phẩm gây hại cho con người và tới môi trường[16] Cũng theo, Huỳnh Thanh Hùng và cộng sự thì phân chuồng có nguồn gốc từ thức ăn tổng hợp là một trong những nguyên nhân làm tích lũy kim loại nặng trong đất

Nhiễm bẩn do phân hữu cơ: Khi bón phân hữu cơ làm cho đất giàu mùn,

trước khi bón nếu phân không được ủ hoai mục thì sẽ gây ra ô nhiễm môi trường: Sự hòa tan chất hữu cơ làm cho nước có màu, cản trở sự hấp thụ năng lượng mặt trời, quá trình phân giải hợp chất hữu cơ làm thải ra các khí CH4, NO,

CO, SO2, H2S và nhiều chất độc hữu cơ như: hợp chất hữu cơ clo hóa, methanol, phenol… các chất này đã gây ảnh hưởng mạnh đến môi trường sinh thái Phân bón hữu cơ dùng chủ yếu là phân chuồng, bã thải vệ sinh… mang theo một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh gây hại cho môi trường và sức khỏe con người.[14]

* Ảnh hưởng đến con người

Theo các chuyên gia của Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC), sử dụng phân khoáng đặc biệt là phân lân lâu dài với lượng lớn cho cây trồng, có thể dẫn đến làm tăng hàm lượng độc tố Cd trong đất, khi đi vào trong sản phẩm gây tác động xấu đến sức khỏe con người.[20]

Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho Nitơ

và phospho theo nước xả xuống các thủy vực, đạm dư thừa bị chuyển thành

Trang 11

dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995) Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt

là trẻ em TS Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3-

trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3

ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: gây nên chứng máu Methaemoglobin

và ung thư tiềm tàng Theo Tạ Thị Thu Cúc khi bón phân đạm từ 210kg/ha trở lên thì tồn dư NO3- trong bắp cải từ 680 – 820mg/kg Cùng với đó kết quả nghiên cứu của Bùi Cách Tuyến và cộng sự (1998), khi bón đạm cho bắp cải lần cuối đến lúc thu hoạch cách nhau 20 ngày là an toàn, nếu thời gian cách ly sản phẩm từ 8 – 15 ngày thì tồn dư NO3

cao (632 – 700mg/kg) Vì thế bón phân cân đối, hợp lý là yêu cầu quan trọng đảm bảo an toàn cho môi trường và đặc biệt là sức khỏe của con người[27]

Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong các sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vì chất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt ở phụ

nữ

Phân hữu cơ thường là phân chuồng, phân bồn vệ sinh, nó chứa lượng lớn các VSV gây bệnh, khi bón nó tồn dư trong nông sản, con người sử dụng sẽ rất

Trang 12

có hại cho sức khỏe Để đảm bảo sức khỏe, trước khi bón cần ủ phân để tiêu diệt các mầm bệnh trong phân, giúp giảm tác hại đến sức khỏe con người

2.1.4 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam

2.1.4.1 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón trên Thế Giới

Phân bón hóa học (PBHH) phổ biến được sử dụng trên thế giới là đạm, lân, kali Các dạng của phân đạm là: Urê, Amonisunphat Dạng chủ yếu của lân là Supephotphat (đơn và kép), Tecmophosphat, Phosphorit Phân kali chủ yếu là 2 dạng: Kaliclorua và Kalisunphat Phân bón, đặc biệt là đạm, lân, kali được chế biến là một yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố dinh dưỡng nhằm tăng năng suất cây trồng Để nuôi sống 6 - 7 tỷ người, sản lượng lương thực phải được gia tăng và làm được điều đó phải dựa vào phân bón

Ngày nay với công nghệ tiến bộ nhiều sản phẩm phân bón ra đời, làm cho thị trường phân bón biến động không ngừng cả về chủng loại cũng như giá cả, năm 2010 giá phân bón có xu hướng tăng nhanh, nó ảnh hưởng không nhỏ đến mức đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, với sự ra đời của phân vi sinh mục đích là giảm tác hại đến môi trường và con người, nhưng phân hóa học vẫn là sự lựa chọn không thể thiếu trong nông nghiệp

Theo FAO, IFA trên thế giới lượng sử dụng phân bón cứ tăng dần, từ năm

1991 so với năm 2010 phân đạm ure tăng 18 lần, phân chứa lân tăng 8,5 lần, phân kali tăng 7,5 lần, phân hữu cơ chế biến công nghiệp tăng 3,5 lần.[29]

Viện Lúa quốc tế (IRRI), Tổ chức Nông lương quốc tế (FAO) và Ban lúa gạo quốc tế (IRC) tổng kết nếu bón phân bón đồng bộ, cân đối hợp lý thì phân bón có thể cho tăng năng suất cây trồng bình quân từ 35-40% Trong khi khoa học lai tạo giống mới cây trồng tối đa cũng chỉ đạt trên 10%.[29]

Năm 1995, Hội nghị phân bón quốc tế ở Italia nhiều nhà khoa học đề nghị cần thay thế dần phân bón vô cơ (phân đơn) bằng phân hữu cơ Đây là hướng đúng nhưng những năm gần đây thực hiện chưa được bao nhiêu

Từ nhiều năm qua của các thập kỷ trước, thế giới đã sản xuất phân bón truyền thống chủ yếu phân hóa học (vô cơ) Ure, SA, kali, MOP, DAP ít quan

Trang 13

tâm đến phân hữu cơ, đặc biệt chưa phát triển phân bón công nghệ cao, phân hữu cơ

Sau những năm 2000 đến nay đã chuyển biến thành xu thế phát triển phân bón công nghệ cao hỗn hợp chất lượng cao, phân hữu cơ và phân bón chuyên dùng Hội nghị phân bón quốc tế tại Paris, nhiều tài liệu Mỹ, Trung Quốc, Đức, Nhật, Nam Triều Tiên, Ấn Độ cho thấy các nước đã chuyển biến mạnh dùng công nghệ cao sản xuất phân hỗn hợp chất lượng cao, phân hữu cơ công nghệ cao và phân chuyên dùng chiếm bình quân từ 20-25%, có nước cao hơn 30-35% như Mỹ, Úc, Đức[29]

Theo Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế (IFA) thì dự báo các mức nhu cầuphân bón trong năm 2012/2013 hiện nay mang tính suy đoán cao do bối cảnh kinh tế suy giảm ở nhiều nước phát triển Tuy nhiên, giá cả hàng hóa nông nghiệp toàn cầu vẫn còn hấp dẫn, do nước Mỹ vừa có một vụ thu hoạch thất vọng và do nhu cầu mạnh mẽ về thực phẩm, nhiên liệu và thức ăn chăn nuôi trên toàn thế giới Vì vậy, nhu cầu phân bón toàn cầu vẫn sẽ tăng trưởng khoảng 2,3% đạt mức 182,2 triệu tấn vào năm 2012 Nhưng IFA cũng lưu ý rằng, có những nguy cơ tiêu cực của sự suy thoái kinh tế thế giới có thể tác động đến nhu cầu phân bón trong nửa đầu năm 2012.[30]

Dự báo, công suất urê toàn cầu sẽ tăng 46,8 triệu tấn trong thời gian 2008

- 2013, đạt 210,3 triệu tấn trong năm 2013 Trong khi đó, tiêu thụ urê dự kiến sẽ tăng trong cả hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, từ mức tổng cộng 146 triệu tấn năm 2008 lên đến 174,5 triệu tấn năm 2013, với tốc độ 3,7%/năm Cung cầu urê trong thời gian 2010 - 2011 tương đối cân bằng nhưng từ năm

2012 sẽ chuyển sang dư thừa ngày càng tăng.[31]

Dự báo, công suất quặng phốtphat trên thế giới năm 2013 sẽ đạt 248 triệu tấn, tăng 30% so với năm 2008 Nguồn cung axit phốtphoric toàn cầu (tính theo

P2O5) ước đạt 38,2 triệu tấn năm 2008, 39,8 triệu tấn năm 2009 và sẽ tăng đến

47 triệu tấn vào năm 2013 Trong khi đó, tổng nhu cầu axit phốtphoric toàn cầu

dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ 5,5%/năm, đạt 44 triệu tấn vào năm 2013 Vì vậy, trong thời gian 2009 - 2013 cung cầu axit phốtphoric toàn cầu sẽ có mức dư

Trang 14

thừa 3,0 - 3,8 triệu tấn/năm Đến năm 2013, có thể sẽ có dư thừa khoảng 7% nguồn cung.[31]

Nguồn cung phân kali trên thế giới dự kiến sẽ tăng từ 38 triệu tấn K2O năm 2009 lên đến 47 triệu tấn K2O năm 2013, với tốc độ tăng trưởng 5,9%/ năm Nhưng phần lớn mức tăng này sẽ chỉ được thực hiện sau năm 2011 Nhu cầu toàn cầu về phân kali ước đạt 28,4 triệu tấn năm 2008, 28,5 triệu tấn năm

2009 và dự kiến đến năm 2013 sẽ đạt 35 triệu tấn, tăng trung bình 5,6%/ năm.[31]

Trong 5 năm tới, cán cân cung cầu phân kali sẽ có tình trạng dư thừa, trước mắt do nhu cầu giảm cho đến năm 2011 Từ năm 2011, tuy nhu cầu sẽ tăng trở lại nhưng đồng thời các nhà máy mới cũng sẽ tăng cường cung cấp sản phẩm ra thị trường Vì vậy, sau năm 2011 cán cân cung cầu phân kali vẫn sẽ có mức dư thừa ngày càng tăng, có thể lên đến 25% tổng nguồn cung thế giới vào năm 2013.[31]

2.1.4.2 Tình hình sử dụng phân bón tại Việt Nam

Tính từ năm 1985 tới nay, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%, nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517% Theo tính toán, lượng phân vô cơ

sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với lượng

sử dụng của năm 1985 Ngoài phân bón vô cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại

Bảng 2.1:Lƣợng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm

(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P 2 O 5 , K 2 O)

Trang 15

1995 831,7 322,0 88,0 116,6 1223,7

Xét về tỷ lệ sử dụng phân bón cho các nhóm cây trồng khác nhau cho thấy

tỷ lệ phân bón sử dụng cho lúa chiếm cao nhất đạt trên 65%, các cây công nghiệp lâu năm chiếm gần 15%, ngô khoảng 9% phần còn lại là các cây trồng khác Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và trên thế giới, lượng phân bón

sử dụng trên một đơn vị diện tích gieo trồng ở nước ta vẫn còn thấp, năm cao nhất mới chỉ đạt khoảng 195 kgNPK/ha (Trương Hợp Tác,2009)[27]

2.2.Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật

2.2.1 Khái niệm và vai trò của hóa chất bảo vệ thực vật

*Định nghĩa

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác[26]

Theo Trần Văn Chiến, Phan Trung Quý: thuốc BVTV bao gồm các loại thuốc trừ sâu (Insecticides), thuốc trừ bệnh (gồm thuốc trừ vi khuẩn – Bactericides và thuốc trừ nấm – Fungicides) thuốc trừ cỏ( Herbicides), thuốc trừ côn trùng; gặm nhấm (Radicides) và một số loại thuốc khác[16] Ngoài ra, có thể chia thuốc BVTV theo nguồn gốc của chúng: Thuốc có nguồn gốc thảo mộc, thuốc có nguồn gốc vô cơ, thuốc có nguồn gốc hữu cơ Trên thế giới ngày nay

có khoảng 900 – 1000 loại thuốc BVTV chính, với khoảng 5000 chế phẩm, dẫn xuất khác nhau[16]

Để sử dụng thuốc BVTV được hiệu quả và an toàn, chúng ta phải hiểu

đúng và thực hiện đúng nguyên tắc bốn đúng:

• Đúng thuốc

Trang 16

• Đúng lúc

• Đúng nồng độ liều lượng

• Đúng cách Muốn thực hiện tốt được các nguyên tắc trên, chúng ta phải hiểu thấu đáo mối quan hệ qua lại giữa chất độc, dịch hại và điều kiện ngoại cảnh Phải kết hợp hài hòa giữa biện pháp hóa học với các biện pháp BVTV khác trong hệ thống phòng trừ tổng hợp

* Vai trò của thuốc BVTV

Thuốc BVTVcùng với phân bón là những công cụ đắc lực trong sản xuất nông nghiệp BVTV có vị trí quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp Khi nền nông nghiệp càng phát triển, đi vào thâm canh sản xuất hang hóa thì vai trò của công tác bảo vệ thực vật, đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV càng trở lên quan trọng Thuốc BVTV góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm năng suất cây trồng, giảm thiểu thiệt hại cho người sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm

Nghiên cứu của Viện Lúa quốc tế (IRRI) từ năm 1964 – 1971, qua thí nghiệm sử dụng thuốc BVTV, năng suất lúa đã bội thu 2,7 tấn/ha[20] Vào năm

1971, tại Mỹ nếu không dùng thuốc BVTV thì sản lượng rau quả giảm 50% (theo Naishfain, 1971) Ở Việt Nam do có đóng góp của thuốc BVTV mà năng suất các loại cây trồng ngày càng tăng, đặc biệt là đối với lúa Nhưng cũng phải nói đến mặt trái của nó, thuốc BVTV nếu lạm dụng sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người, bởi đặc tính tồn dư trong đất, nước của hóa chất này[16]

2.2.2 Phân loại và đặc tính của một số hóa chất bảo vệ thực vật thông dụng hiện nay

Việc phân loại thuốc BVTV có thể thực hiện theo nhiều cách như phân loại theo đối tượng phòng trừ (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh,…) hoặc phân loại theo gốc hóa học (nhóm clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ,…) Các thuốc trừ sâu có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác nhau:

Trang 17

* Phân loại dựa trên đối tượng sinh vật hại

- Thuốc trừ bệnh - Thuốc trừ nhện

- Thuốc trừ sâu - Thuốc trừ tuyến trùng

- Thuốc trừ cỏ - Thuốc điều hòa sinh trưởng

- Thuốc trừ ốc - Thuốc trừ chuột

*Phân loại theo gốc hóa học

- Nhóm thuốc thảo mộc: có độ độc cấp tính cao nhưng mau phân hủy trong môi trường

- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666, nhóm này có độ độc cấp tính tương đối thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môi trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng

- Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58, độ độc cấp tính của các loại thuốc thuộc nhóm này tương đối cao nhưng mau phân hủy trong cơ thể người và môi trường hơn so với nhóm clo hữu cơ

- Nhóm carbamate: Mipcin, Bassa, Sevin,…đây là thuốc được dùng rộng rãi bởi vì thuốc tương đối rẻ tiền, hiệu lực cao, độ độc cấp tính tương đối cao, khả năng phân hủy tương tư nhóm lân hữu cơ

- Nhóm Pyrethoide (Cúc tổng hợp): Decis, Sherpa, Sumicidine, nhóm này

dễ bay hơi và tương đối mau phân hủy trong môi trường và cơ thể người

- Các hợp chất pheromone: Là những hóa chất đặc biệt do sinh vật tiết ra

để kích thích hành vi của những sinh vật khác cùng loài Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng (Nomolt, Applaud,…): là những chất được dùng để biến đổi sự phát triển của côn trùng Chúng ngăn cản côn trùng biến thái từ tuổi nhỏ sang tuổi lới hoặc ép buộc chúng phải trưởng thành từ rất sớm: Rất ít độc với người

và môi trường[26]

- Nhóm thuốc trừ sâu vi sinh (Dipel, Thuricide, Xentari, NPV, ): Rất ít độc với người và các sinh vật không phải là dịch hại

Bảng 2.2: Phân loại nhóm thuốc theo độc cấp tính của thuốc

Nhóm I: Rất độc Chữ đen trên dải đỏ Đầu lâu xương chéo

Trang 18

trên nền trắngNhóm II: Độc trung bình Chữ đen trên dải

vàng

Chữ thập đen trên nền trắng

Nhóm III: ít độc Chữ đen trên dải

xanh nước biển

Vạch đen không liên tục trên nền trắngNhóm IV: Rất ít độc Chữ đen trên dải

xanh lá cây

Nguồn: Tài liệu tập huấn khuyến nông, 2012

- Ngoài ra còn có nhiều chất có nguồn gốc hóa học khác, một số sản phẩm

từ dầu mỏ được dùng làm thuốc trừ sâu

Thuốc ở thể lỏng, trong suốt

Dễ bắt lửa cháy nổ

Dung dịch DD, SL, L,

AS

Bonanza 100 DD, Baythroid 5 SL, Glyphadex 360 AS

Hòa tan đều trong nước, không chứa chất hóa sữa

Dạng bột mịn, phân tán trong nước thành dung

Trang 19

WDG, SP Copper-zinc 85 WP,

Padan 95 SP

dịch huyền phù

Huyền phù HP, FL, SC Appencarb super 50 FL,

Carban 50 SC Lắc đều trước khi sử dụng

Regent 0.3 G Chủ yếu rãi vào đất

Nguồn : Tài liệu tập huấn khuyến nông, 2012

ND: Nhủ Dầu, EC: Emulsifiable Concentrate

DD: Dung Dịch, SL: Solution, L: Liquid, AS: Aqueous Suspension

BTN: Bột Thấm Nước, BHN: Bột Hòa Nước, WP: Wettable Powder, DF: Dry Flowable, WDG: Water Dispersible Granule, SP: Soluble Powder

HP: huyền phù FL: Flowable Liquid, SC: Suspensive Concentrate

*Ảnh hưởng đến môi trường

Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn lưu HCBVTV trong đất, nước, không khí, trong cây trồng và cả trong thực phẩm, hậu quả đã ảnh hưởng xấu đến động vật đặc biệt là con người

Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi HCBVTV dễ bay hơi, thậm chí không bay hơi như DDT sẽ bay hơi rất nhanh vào không khí trong điều kiện khí

Trang 20

hậu thời tiết nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90% HCBVTV phốt pho hữu

cơ có thể bay hơi nhanh hơn Các thuốc diệt cỏ cũng bị bay hơi nhất là trong quá trình phun thuốc Tuy nhiên theo Ewards có rất ít bằng chứng về tiếp xúc với HCBVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe con người trừ những nơi mà HCBVTV được sử dụng trong những khu vực bị quây kín, thông khí không được thông thoáng [10]

Trong đất có tới 50% lượng HCBVTV được phun để bảo vệ mùa màng hoặc được sử dụng diệt cỏ đã phun không đúng vị trí và dải trên mặt đất Một vài HCBVTV như clo hữu cơ có thể tồn tại trong đất nhiều năm mặc dù là một lượng lớn HCBVTV đã bay hơi Theo Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng nghiên cứu

dư lượng HCBVTV trong đất tại Dắk Lắk thấy trong đất canh tác các loại có chứa dư lượng HCBVTV chung là 62,22 % số mẫu và 44,44 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đất trồng cà phê 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,33 % số mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đất trồng rau, màu 66,66 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 60,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đất trồng lúa 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 40,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép [7]

Nước có thể bị ô nhiễm bởi việc đổ các HCBVTV thừa sau khi phun xong Đổ nước rửa dụng cụ sau khi phun xuống hồ ao Cây trồng được phun HCBVTV ở ngay cạnh mép nước, sự rò rỉ, xói mòn từ đất đã xử lý bằng HCBVTV hoặc HCBVTV rơi xuống từ không khí bị ô nhiễm Sử dụng HCBVTV cho xuống các sông hồ để giết cá và vớt cá để ăn Nghiên cứu của Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng dư lượng HCBVTV tại Dắk Lắk chung là 58,33%

số mẫu và 20,0% mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước giếng đào có 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 20,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước hồ thủy lợi 53,33 % số mẫu có dư lưọng HCBVTV và 26,66 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước ruộng có 66,66% số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,33% vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước sông, suối có 53,33% số mẫu có dư lượng HCBVTV và không

có mẫu nào vượt quá tiêu chuẩn cho phép [7]

Trang 21

Trong thực phẩm và nông sản, nghiên cứu của Nguyễn Văn Nguyên và

CS, dư lượng HCBVTV trên chè cho thấy 13/13 mẫu chè khô có dư lượng cao gấp 2 4,5 lần so với tiêu chuẩn của FAO [23] Các kết quả nghiên cứu của Cục Bảo vệ thực vật liên tục trong 4 năm từ năm 2000 - 2004 cho thấy có 29,4% 37,3% mẫu rau muống có dư lượng HCBVTV nhưng chỉ có 2,8% đến 8,5% là

có mức lớn hơn tiêu chuẩn cho phép Trong rau cải còn tồn dư HCBVTV cao hơn từ 38,2% đến 63,9% Trong nhóm đậu đỗ tỷ lệ nhiễm HCBVTV từ 30,6% - 51,5%; trong chè khô tìm thấy dư lượng HCBVTV tồn tại giảm dần theo các năm từ 67,1% giảm xuống còn 40%

Theo Trần Văn Chiến và Phan Trung Quý, hóa chất BVTV tồn tại trong đất ở trạng thái di động và thấm sâu Tính di động của nó chịu ảnh hưởng lớn nhất của nước và lực dòng chảy của nước, khả năng di động của nó được quyết định bởi độ tan, độ hấp phụ trong keo đất, cường độ hấp phụ, vận tốc hấp phụ của đất với nhóm thuốc BVTV Khả năng thấm sâu của hóa chất BVTV phụ thuộc vào nước, lực thấm sâu của dòng nước, tính linh động của hóa chất BVTV

Bảng 2.4: Độ bền vững của một số hóa chất BVTV trong đất

Hóa chất BVTV Thời gian tồn lưu trong đất

Trang 22

Trên thực tế hiện tượng sử dụng HCBVTV không theo chỉ dẫn ở nhiều nơi hiện nay đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Kếtquả định lượng HCBVTV ở một số địa phương cho thấy dư lượng HCBVTV trong đất, nước và thực phẩm đang ở mức báo động và có nguy cơ gia tăng[12] Chính

vì vậy nhiễm độc HCBVTV đang là vấn đề đáng lưu tâm trong công tác bảo vệ

và chăm sc sức khoẻ người lao động nông nghiệp

*Ảnh hưởng đến con người

Sử dụng hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp với nồng độ cao, số lượng lớn, thời gian cách ly không đảm bảo, làm cho dư lượng thuốc trong sản phẩm lớn, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người tiêu dùng Theo Cục Y tế dự phòng và Môi trường (Bộ Y Tế) cho biết, trong năm 2009 các bệnh viện đã tiếp nhận cho 4.515 người bị nhiễm độc thuốc BVTV, trong đó đã có 138 trường hợp

tử vong do nhiễm độc quá nặng.[24]

Nhiễm độc cấp thường gặp là: các vụ tự tử, các vụ nhiễm độc hàng loạt

do thức ăn bị nhiễm HCBVTV, các vụ tai nạn hóa chất trong công nghiệp và sự tiếp xúc nghề nghiệp trong nông nghiệp là nguyên nhân của phần lớn các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có liên quan tới HCBVTV

Các ảnh hưởng mạn tính do sự tiếp xúc với HCBVTV với liều lượng nhỏ trong thời gian dài có liên quan tới nhiều sự rối loạn và các bệnh khác nhau Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa HCBVTV với bệnh ung thư não, ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang, thận Các hậu quả sinh sản: đẻ non,vô sinh, thai dị dạng, quái thai, ảnh hưởng chất lượng tinh dịch, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi, tổn thương chức năng miễn dịch và dị ứng, tăng cảm giác da

Việt Nam có nhiều nghiên cứu về KAP của người tiếp xúc HCBVTV Nhiều nghiên cứu đã chứng minh kiến thức, thực hành của người sử dụng HCBVTV rất kém, theo Phạm Bích Ngân và CS nguyên nhân chính dẫn tới các triệu chứng nhiễm độc chủ yếu là do: không mang trang bị phòng hộ 89,5 %, hoá chất dính vào da khi pha 75,5 %, do bình phun bị rò rỉ 35,0 % và phun

Trang 23

không đúng theo kỹ thuật 54,7 %, do phun với liều lượng cao và sử dụng một

số loại thuốc đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng [22]

Chương trình VTN/OCH, cho thấy trong tổng số 1988 người trực tiếp phun HCBVTV ở 4 tỉnh, những yếu tố nguy cơ được phát hiện là: 86,3% phun nhiều lần trong ngày, 70% phun khi trời nắng, 64,6% phun trộn nhiều loại hoá chất, 44% pha thuốc đậm đặc hơn, 57% pha trộn thuốc bằng tay, 48,9% không che miệng, 37,6% mặc quần cộc phun thuốc, 43% không bảo vệ mắt, 41% bị dính HCBVTV vào người, 48,9 % phun ngược gió, 21% bình phun bị rò rỉ, 21,7% lắp bình phun không kín, 91% quần áo bị thấm ướt, 35% hút thuốc khi phun [3]

Nghiên cứu của Phạm Huy Dũng, Nguyễn Văn Thường về KAP của những người sử dụng HCBVTV trong 1400 hộ, kết quả cho thấy kiến thức VSATLĐ của người sử dụng rất thấp, người phun HCBVTV rất coi thường việc tiếp xúc với chất độc: pha thuốc bằng tay không 57,0%, cơ thể tiếp xúc với HCBVTV 41%, phun thuốc nhiều lần trong ngày 86,3% Một số nghiên cứu

đã chỉ ra phụ nữ và trẻ em là đối tượng tiếp xúc nhiều với HCBVTV, kết quả từ điều tra 100 hộ thuần nông ở xã Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cho thấy: phụ nữ tiếp xúc với HCBTV nhiều hơn nam giới, phụ nữ phải tiếp xúc với HCBVTV 2 tiếng/ngày nhiều gấp 2 lần nam giới và 3 tiếng/ngày nhiều gấp 3 lần nam giới

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà có 58,82% phụ nữ trực tiếp đi phun HCBVTV [8] Có 90% phụ nữ có thai dưới 3 tháng vẫn đi phun HCBVTV, chính vì vậy tỷ lệ sảy thai tăng cao ở phụ nữ tiếp xúc với HCBVTV Trong số

579 phụ nữ tiếp xúc với HCBVTV có 29 người bị sảy thai chiếm tỷ lệ 3,8%

Thực tế với số lượng HCBVTV sử dụng ngày càng tăng cùng với việc sử dụng không tuân thủ nguyên tắc VSATLĐ, thiếu hiểu biết, thái độ coi thường chất độc và thực hành kém đã và sẽ còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, gây nhiễm độc cho người và vật nuôi

2.2.4 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới và Việt Nam

Trang 24

2.2.4.1 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới

Trước thế kỷ XX, theo một số triết gia cổ đại cho biết thì việc sử dụng HCBVTV đã có từ xa xưa qua việc dùng lá cây dải xuống chỗ nằm để tránh côn trùng đốt Tài liệu của Hassall mô tả việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệt các loại côn trùng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại, con người cũng đã bt sử dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trong tro núi lửa để trừ sâu bệnh [10] Giữa thế kỷ XVI người Trung Quốc đã biết dùng các chất thạch tín sau đó là Nicotin chiết xuất từ cây thuốc lá để bảo vệ cây trồng [25] Cuối thế kỷ XIX các HCBVTV đã được sử dụng rộng rãi nhưng biện pháp hoá học lúc này vẫn chưa có vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp

Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1960, HCBVTV hữu cơ ra đời làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp Thuốc trừ nấm thuỷ ngân hữu cơ đầu tiên ra đời vào năm 1913; tiếp theo là các thuốc trừ nấm lưu huỳnh rồi đến các nhóm khác DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thuỵ Sỹ năm 1924 [9] Hàng loạt HCBVTV ra đời sau đó: hợp chất phốt pho hữu cơ đã được phát minh năm 1942 [10], clo hữu cơ (1940-1950); các hoá chất lân hữu cơ, các hoá chất cacbamat (1945-1950) Hoá chất trừ cỏ xuất hiện muộn hơn, năm 1995 chất diệt

cỏ carbamat lần đầu tiên được phát hiện ở Anh Biện pháp hoá học bị khai thác ở mức tối đa, từ cuối những năm 1950 những hậu quả xấu của HCBVTV gây ra cho con người và môi trường được phát hiện [9]

Từ năm 1960-1980, việc lạm dụng HCBVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi trường và sức khoẻ cộng đồn Trong nhân dân tư tưởng sợ hãi, không dám dùng HCBVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng cn loại bỏ không dùng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp [9] Chính vì điều này các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu các loại HCBVTV mới an toàn hơn đối với môi trường và sức khoẻ con người Nhiều HCBVTV mới ra đời như hoá chất trừ

cỏ mới; các HCBVTV nhóm perethroid tổng hợp; các HCBVTV bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng Lượng HCBVTV được dùng trên thế giới không những không giảm

mà còn liên tục tăng lên [9]

Trang 25

Từ những năm 1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn, vai trò của biện pháp hoá học vẫn được thừa nhận Tư tưởng sợ HCBVTV cũng bớt dần [9], do hiểu biết tốt hơn về tác động qua lại của côn trùng và cây trồng, các loại HCBVTV đã được phát triển lên một tầm cao mới cũng như đã

có một chiến lược mới về công thức hoá học và các phươngpháp sử dụng Nhiều loại hoá chất mới, trong đó có nhiều HCBVTV sinh học có hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi trường ra đời [24] Sự phát triển mới này đã tạo

ra cơ hội giảm bớt nguy cơ nhiễm độc HCBVTV

Sản lượng HCBVTV thế giới tăng lên theo thời gian, năm 1955 thế giới sản xuất ra gần 400 nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3 triệu tấn mỗi năm Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại HCBVTV [1] Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và

sử dụng HCBVTV đứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ

Tại Trung Quốc để tăng cường tự chủ về HCBVTV, Chính phủ Trung Quốc đã gia tăng đầu tư vào ngành công nghiệp HCBVTV Chính vì vậy ngành công nghiệp sản xuất HCBVTV phát triển mạnh, hiện tại có hơn 2500 nhà máy sản xuất lớn, nhỏ [6] Sản lượng HCBVTV của Trung Quốc đã tăng trưởng nhanh năm 2007 đạt 1731 nghìn tấn, năm 2008 đạt 1902 nghìn tấn

Trung Quốc là nhà sản xuất lớn nhất trong ngành công nghiệp HCBVTV toàn cầu Năm 2007 lần đầu tiên Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ TrungQuốc đứng đầu thế giới về sản xuất, sử dụng HCBVTV và cũng là nước xuất khẩu lượng HCBVTV đứng hàng đầu thế giới Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc tổng lượng xuất khẩu HCBVTV năm 2008 là 485 nghìn tấn với kim ngạch hơn 2

tỷ USD [6]

Tại Hoa Kỳ, từ 1966 đến 1986 nhu cầu đối với HCBVTV của nông dân tăng rất mạnh, diện tích cây trồng được phun HCBVTV và chất diệt cỏ tăng gấp đôi, 75% diện tích canh tác nông nghiệp của Hoa Kỳ đã và đang sử dụng HCBVTV [6] Số HCBVTV nông dân sử dụng tăng từ 353 triệu lên 475 triệu Pound Ở Hoa Kỳ sản lượng HCBVTV được chi phối bởi khoảng 28 công ty

Trang 26

lớn Hoa Kỳ là một quốc gia xuất khẩu HCBVTV lớn, năm 2008 xuất khẩu 115 nghìn tấn kim ngạch hơn 2 tỷ USD [6]

Trên đây là 2 quốc gia hàng đầu thế giới về sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng HCBVTV, ngoài ra một số nước sử dụng nhiều như:Thái Lan, Nhật Bản, Brazil…Tuy vậy, mức đầu tư và cơ cấu tiêu thụ các nhóm hoá chất tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước [9]

Trong 10 năm gần đây đã có những thay đổi trong ngành công nghiệp HCBVTV thế giới là những hoá chất có độc tính cao đã từng bước được loại ra khỏi thị trường và thay vào đó là các loại HCBVTV ít độc hại hơn đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng

2.2.4.2 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam

Giai đoạn trước năm 1957, biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sản xuất nông nghiệp Tháng 1 năm 1956 thành lập tổ hoá bảo vệ thực vật của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá BVTV ở Việt Nam [9] Năm 1961 Cục Bảo vệ thực vật được thành lập, là một cơ quan quản lý nhà nước thuộc Bộ NN & PTNN [11] HCBVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc tại Hưng Yên (vụ đông xuân 1956

- 1957), miền Nam HCBVTV được sử dụng từ năm 1962 [9]

Giai đoạn từ 1957 - 1990, thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu quản lý và phân phối HCBVTV hoàn toàn do nhà nước thực hiện Lượng HCBVTV dùng không nhiều, khoảng 15.000 tấn thành phẩm/năm với hơn 20 chủng loại chủ yếu

là thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh [9] Thời kỳ 1976 - 1980 mỗi năm cả nước

sử dụng 16.000 tấn HCBVTV Thời kỳ 1986 - 1990 trung bình mỗi năm

sử dụng 14.000 tấn HCBVTV, trong đó 55 % là lân hữu cơ, 13 % là clo hữu cơ,

12 % là hợp chất carbamat còn lại là hợp chất thuỷ ngân, asen Đa phần là các hoá chất tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao [25]

Giai đoạn từ 1990 đến nay, kể từ khi có chính sách đổi mới năm 1986, thị trường HCBVTV đã thay đổi cơ bản Nền kinh tế thị trường nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn HCBVTV, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân [9] Lượng hóa chất sử dụng

Trang 27

trong nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng tăng Trong đó phần lớn là hoá chất trừ sâu và còn lại là trừ cỏ, trừ bệnh, nhóm phosphore hữu cơ chiếm khoảng 56

%, phổ biến nhất là Wolfatox và Monitor Đó là những loại thuốc độc hại cho môi trường và con người

Giai đoạn gần đây cơ cấu tỉ lệ các loại HCBVTV đã được thay đổi đáng

kể, nhiều loại hoá chất mới hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập khẩu và sử dụng Năm 1991 hoá chất trừ sâu chiếm 83,3%, hoá chất trừ nấm 9,5%, hoá chất diệt cỏ 4,1%,những loại khác 3,1% [11] Đến năm 2008 tỉ lệ là hoá chất trừ sâu chiếm 37,9%, hoá chất trừ nấm 21,12%, hoá chất diệt cỏ 13,77%, hoá chất diệt côn trùng 23,46% và những loại khác 3,75% Lượng HCBVTV tiêu thụ qua các năm tăng dần, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV tăng mạnh [9], [6] Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV và nguyên liệu năm 2007 là 382.830.015 USD tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008 là 473.760.692 USD tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2007 Nguồn HCBVTV được nhập khẩu về trong năm 2008 chủ yếu từ: Trung Quốc (200.262.568USD), Singapore (91.116.287 USD), Ấn Độ (42.219.807 USD), kế tiếp là Nhật Bản (19.412.585 USD)… Hiện nay số lượng và chủng loại HCBVTV sử dụng ở nước ta tương đối cao so với khu vực [9] Năm 2009 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép 886 hoạt chất

và 2537 thương phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam [1] Trong đó được phép lưu hành sử dụng 365 hoạt chất thuốc trừ sâu, 264 hoạt chất thuốc trừ bệnh, 151 hoạt chất thuốc trừ cỏ, 11 hoạt chất thuốc trừ chuột, 47 hoạt chất điều hòa sinh trưởng, 5 hoạt chất dẫn dụ côn trùng, 18 hoạt chất trừ ốc, 4 hoạt chất hỗ trợ, 11 hoạt chất trừ mối, 5 hoạt chất bảo quản nông sản, 5 hoạt chất khử trùng kho, và

1 số hoạt chất khác Với số lượng lớn nên việc kiểm soát tình hình kinh doanh buôn bán thuốc BVTV còn nhiều bất cập, trong quá trình kiểm tra, giám sát vẫn còn nhiều loại thuốc giả, thuốc lậu, thuốc kém chất lượng vẫn được bày bán trên thị trường ở nước ta

Trang 28

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Thành phần và số lượng các loại phân bón và

thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu địa bàn xã Thọ Nghiệp – huyện Xuân

Trường – tỉnh Nam Định

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Thọ Nghiệp

• Về điều kiện tự nhiên: Mô tả hiện trạng và đánh giá các điều kiện tự

nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu

• Các nguồn tài nguyên

• Điều kiện kinh tế - xã hội: dân số và lao động, thực trạng phát triển kinh

tế, thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

• Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: thuận lợi và khó khăn

3.2.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp tại xã Thọ Nghiệp

• Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Trang 29

3.2.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn

xã Thọ Nghiệp

• Chủng loại thuốc BVTV sử dụng trên địa bàn xã

• Cách thức và mức độ sử dụng thuốc BVTV

3.2.5 Thực trạng quản lý phân bón, thuốc BVTV trên địa bàn xã

• Thực trạng quản lý việc kinh doanh phân bón, thuốc BVTV

• Thực trạng quản lý việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV

3.2.6 Đề xuất một số giải pháp trong sử dụng phân bón và thuốc BVTV hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp tại xã Thọ Nghiệp

• Giải pháp về mặt kỹ thuật

• Giải pháp về kinh tế

• Giải pháp về xã hội

• Giải pháp chính sách, quản lý nhà nước

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập thông tin thứ cấp

• Thu thập số liệu thống kê của cấp xã, huyện

• Thu thập thông tin từ sách, báo, tạp chí khoa học kĩ thuật, các đề tài nghiên cứu đã công bố…

-Thu thập thông tin sơ cấp:

Trang 30

3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Thọ Nghiệp

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Xã Thọ Nghiệp cách trung tâm huyện Xuân Trường khoảng 10 km về phía Đông với vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp xã Xuân Đài, Xuân Phong

- Phía Nam giáp huyện Giao Thuỷ với địa giới qua sông Sò và tỉnh lộ 489

- Phía Đông giáp xã Xuân Phú

- Phía Tây giáp xã Xuân Trung, Xuân Phương

Xã gồm có 23 xóm, với vị trí địa lý của xã rất gần với huyện, thị trấn và giáp trục đường tỉnh lộ 489 nên có điều kiện để phát triển sản xuất, giao thông của xã đi lại dễ dàng, do đó xã có nhiều thuận lợi để phát triển hàng hóa mở rộng giao lưu kinh tế thị trường với các xã, các huyện lân cận

b Đặc điểm địa hình, điạ mạo

Xã Thọ Nghiệp có địa hình tương đối bằng phẳng, cốt đất trung bình, hệ thống thuỷ lợi thuận lợi cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp và các loại cây trồng khác

c Đặc điểm khí hậu

Xã Thọ Nghiệp nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ, nắng ẩm mưa nhiều, có bốn mùa rõ rệt:

- Mùa mưa: bắt đầu từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 9, đặc điểm của mùa này

là nhiệt độ cao, có gió Đông Nam và gió Đông Bắc Mùa này thường xảy ra mưa

Trang 31

rào, gió to, và thường phải hứng chịu các cơn bão lớn gây thiệt hại cho mùa màng , cây cối và nhà cửa

- Mùa khô: bắt đầu từ tháng 10 năm trước và kết thúc vào tháng 3 năm sau

Theo số liệu thống kê cho biết: ở xã Thọ Nghiệp có nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,950C, nhiệt độ cao nhất là 290C, nhiệt độ thấp nhất là 150

C Lượng mưa trung bình hàng năm là 2700 - 2800mm Mưa thường tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 1.780 giờ

Độ ẩm trung bình cả năm là 89,5%

4.1.2 Các nguồn tài nguyên

a Tài nguyên đất

Đất đai xã Thọ Nghiệp là vùng đất trẻ được bồi tụ bởi hệ thống phù sa sông

Hồng được bồi đắp hàng năm Đất đai có đặc điểm trung tính, ít chua thuận lợi cho phát triển nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa nước Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp 522,89 ha chiếm 73,80% diện tích đất tự nhiên toàn xã

b Tài nguyên nước

- Mặt nước: Xã Thọ Nghiệp có sông Sò dài gần 3 km, sông Cát Xuyên, sông Thanh Quan và nguồn nước mặt bổ sung đây là điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống dân sinh

- Nước ngầm: Qua khoan thăm dò khảo sát, nguồn nước ngầm có trữ lượng rất lớn Song qua phân tích có nhiễm mặn và sắt 3 hoà tan nên không dùng cho sinh hoạt được

4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Dân số và lao động

Theo kết quả thống kê dân số năm 2012, tổng dân số xã Thọ nghiệp có 12.889 người với 2961 hộ, trong đó số hộ nông nghiệp chiếm đa số với 2742 hộ (chiếm tỷ lệ 92,6%), số hộ phi nông nghiệp là 219 hộ (chiếm tỷ lệ 7,45%) Tổng

số lao động của xã là 6894 lao động với 4608 lao động nông nghiệp (chiếm tỷ lệ 66,84%), lao động phi nông nghiệp với 2286 lao động (chiếm tỷ lệ 33,16%) Số

Trang 32

lao động được đào tạo chiêm tỷ lệ nhỏ với 1005 lao động chiếm tỷ lệ 14,58% Tình hình dân số xã Thọ Nghiệp qua các năm được thể hiện ở bảng 4.1

Bảng 4.1 Tình hình dân số qua các năm của xã Thọ Nghiệp

Trang 33

Trong giai đoạn 2010 - 2012 xã Thọ Nghiệp đã đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế đáng kể Tổng giá trị sản xuất năm 2012 của xã Thọ Nghiệp đạt 108913,95 triệu đồng tăng 14787,62 triệu đồng so với năm 2010, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 49014,03 triệu đồng giảm 437,89 triệu đồng; giá trị sản xuất ngành CN, TTCN, XD đạt 41048,31 triệu đồng tăng 6850,80 triệu đồng so với năm 2010; giá trị sản xuất ngành thương mại dịch vụ đạt 19751,61 triệu đồng tăng 8374,71 triệu đồng so với năm 2010 Thu nhập bình quân đầu người đạt 8,5 triệu đồng/một người/ một năm Trong đó tỷ trọng cụ thể các ngành năm

2012 là:

+ Nông nghiệp chiếm 44,63% giảm 7,41% so với năm 2010

+ Công nghiệp – TTCN chiếm 37,38% tăng 1,39% so với năm 2010

+ Dịch vụ, thương mại chiếm 17,99% tăng 6,02 so với năm 2010

Bảng 4.2 Tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội xã Thọ

Nghiệp giai đoạn 2010 – 2012

Qua bảng 4.2 ta có biều đồ sau:

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu kinh tế xã Thọ Nghiệp qua các năm 2010 - 2012

Trang 34

( Nguồn Báo cáo kinh tế xã hội xã Thọ Nghiệp năm 2012)

Qua biểu đồ 4.1 cho thấy tỷ trọng ngành nông nghiệp của xã giảm trong giai đoạn 2010 - 2012, trong khi đó tỷ trọng ngành CN, TTCN, XD và thương mại - dịch vụ tăng dần qua các năm Qua đó ta cũng thấy được sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương

Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

* Ngành nông nghiệp

Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong năm 2012 của Thọ Nghiệp đạt 49014,03 triệu đồng, giảm 281,43 triệu đồng so với năm 2011 Trong đó ngành trồng trọt đạt 39211,22 triệu đồng, chiếm 80% giá trị sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi đạt 9802,81 triệu đồng chiếm 20% giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2012

Trong các năm từ năm 2010 - 2012 ngành nông nghiệp nhìn chung có xu hướng giảm và cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng tang sản xuất cây lương thực, đồng thời giảm tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp

* Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Với hơn 1689 lao động riêng

năm 2012 đã tạo ra giá trị sản xuất41048,31 triệu đồng

Về xây dựng xã có khoảng 40 hộ tham gia vào sản xuất xây dựng, đạt giá trị sản xuất khoảng 2367,19 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,77% giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng là ngành có tỷ trọng lớn thứ 2 trong năm 2012 (37,38%), với giá trị sản xuất đạt 41048,31 triệu đồng, tăng 3844,61 triệu đồng so với năm 2011

Ngày đăng: 16/06/2016, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp - PTNT (2009), “Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam”, Thông tư số 09/2009/TT- BNN ngày 03/3/2009 của BNN & PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp - PTNT
Năm: 2009
3. Bộ Y tế - Vụ YTDP (1998), Điều tra ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp đến sức khoẻ cộng đồng ở Việt Nam, chương trình VTN/OCH/010-96-97, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp đến sức khoẻ cộng đồng ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế - Vụ YTDP
Năm: 1998
4. Bộ Y tế (2000), Quyết định số 5/2000/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục hoá chất chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn được phép đăng kiểm sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong lĩnh vực y tế và gia dụng tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định "số "5/2000/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục hoá chất chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn được phép đăng kiểm sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong lĩnh vực y tế và gia dụng tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2000
5. Chính phủ CHXHCNVN (2003), Nghị định số 26/2003 /ND-CP Qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật, ban hành ngày 19/3/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 26/2003 /ND-CP Qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật
Tác giả: Chính phủ CHXHCNVN
Năm: 2003
6. Trung tâm thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn (2009), Báo cáo ngành thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam qu. II/2009 và triển vọng, Bộ Nông nghiệp – PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ngành thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam qu. II/2009 và triển vọng
Tác giả: Trung tâm thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn
Năm: 2009
7. Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng và CS (2004) “Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong Đất và Nước” Tạp chí Y học thực hành, 2004 tập XIV, số 4 (67), phụ bản, tr.97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong Đất và Nước” "Tạp chí Y học thực hành
8. Nguyễn Thị Hà (2004), Nghiên cứu kiến thức thực hành và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên rau thương phẩm của người dân phường Túc Duyên thành phố Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức thực hành và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên rau thương phẩm của người dân phường Túc Duyên thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2004
9. Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ (2007), Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ
Năm: 2007
10. Đỗ Hàm, Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Ngọc Anh (2007), Hoá chất dùng trong nông nghiệp và sức khoẻ cộng đồng, NXB Lao động & Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá chất dùng trong nông nghiệp và sức khoẻ cộng đồng
Tác giả: Đỗ Hàm, Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Lao động & Xã hội
Năm: 2007
11. Đỗ Văn Hoè (2005), “Thực hiện, Giám sát và chấp nhận Quy tắc ứng xử quốc tế về phân phối và sử dụng Thuốc trừ sâu” Báo cáo trình bày tại hội nghị Hội thảo khu vực Châu Á ngày 26 -28/7/2005, Bangkok, Thái Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện, Giám sát và chấp nhận Quy tắc ứng xử quốc tế về phân phối và sử dụng Thuốc trừ sâu” "Báo cáo trình bày tại hội nghị Hội thảo khu vực Châu Á ngày 26 -28/7/2005
Tác giả: Đỗ Văn Hoè
Năm: 2005
12. Nguyễn Tuấn Khanh (2008), “Thực trạng sử dụng và sự tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật trong đất và rau tại tỉnh Bắc Ninh”, Hội nghị khoa học Quốc tế Y học lao động và Vệ sinh Môi trường lần thứ III, Hội nghị khoa học Y học lao động toàn quốc lần thứ VII, Hà Nội, tr. 241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng và sự tồn lưu hoá chất bảo vệ thực vật trong đất và rau tại tỉnh Bắc Ninh”", Hội nghị khoa học Quốc tế Y học lao động và Vệ sinh Môi trường lần thứ III, Hội nghị khoa học Y học lao động toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh
Năm: 2008
13. Nguyễn Văn Bộ: “những nguy cơ ô nhiễm môi trường đất từ phân bón”. Hội thảo về phân bón tại Hà Nội – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những nguy cơ ô nhiễm môi trường đất từ phân bón”
14. Nguyễn Văn Bộ: “phân bón, an ninh lương thực và môi trường” – báo cáo trình bày tại hội thảo về “Đất nước trong phát triển bền vững” – Trường ĐH Nông Nghiệp I – Hà Nội – 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phân bón, an ninh lương thực và môi trường”" – báo cáo trình bày tại hội thảo về “Đất nước trong phát triển bền vững
15. Nguyễn Văn Bộ: “ Bón phân cân đối hợp lý cho cây trồng” - NXB Nông Nghiệp Hà Nội – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối hợp lý cho cây trồng”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội – 2005
16. Trần Văn Chiến, Phan Trung Quý: “ Giáo trình hóa học môi trường” – NXB Nông Nghiệp – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hóa học môi trường”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp – 2006
17. Tạ Bá Hưng, Cao Minh Điểm, Đinh Xuân Hùng “ sử dụng phân khoáng vào môi trường”. Tổng luận khoa học công nghệ số 1 – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sử dụng phân khoáng vào môi trường”
18. Võ Minh Kha, Nguyễn Như Hà: “Ảnh hưởng của phân bón tới môi trường đất Việt Nam. Những cơ hội phát triển sản xuất, cung ứng và sử dụng phân bón ở Việt Nam” – NXB Nông Nghiệp – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân bón tới môi trường đất Việt Nam. Những cơ hội phát triển sản xuất, cung ứng và sử dụng phân bón ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp – 1995
20. Nguyễn Đình Mạnh: “hóa chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môi trường”– NXB Nông Nghiệp Hà Nội – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hóa chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môi trường”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội – 2000
21. Hội phân bón Việt Nam: “Những cơ hội phát triển sản xuất, cung ứng và sử dụng phân bón ở Việt Nam” – NXB Nông Nghiệp - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ hội phát triển sản xuất, cung ứng và sử dụng phân bón ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp - 1995
31. Tình hình cung ứng phân bón trên thế giới trong những năm qua - Dự báo triển vọng trung hạn. Trực tiếp tại:http://vinachem.com.vn/Desktop.aspx/Xuat-ban-pham/So Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Phân loại nhóm thuốc theo độc cấp tính của thuốc - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 2.2 Phân loại nhóm thuốc theo độc cấp tính của thuốc (Trang 17)
Bảng 2.3: Các dạng thuốc BVTV - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 2.3 Các dạng thuốc BVTV (Trang 18)
Bảng 4.1. Tình hình dân số qua các năm của xã Thọ Nghiệp - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.1. Tình hình dân số qua các năm của xã Thọ Nghiệp (Trang 32)
Bảng 4.2. Tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội xã Thọ - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.2. Tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội xã Thọ (Trang 33)
Bảng 4.4: Diện tích, Năng suất và sản lƣợng một số cây trồng chính - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.4 Diện tích, Năng suất và sản lƣợng một số cây trồng chính (Trang 38)
Bảng 4.5: Mức độ sử dụng phân hữu cơ trên cây lúa - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.5 Mức độ sử dụng phân hữu cơ trên cây lúa (Trang 40)
Bảng 4.6: Một số loại phân vô cơ chính được người dân sử dụng - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.6 Một số loại phân vô cơ chính được người dân sử dụng (Trang 42)
Bảng 4.8: Cách sử dụng một số loại thuốc BVTV của người dân - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.8 Cách sử dụng một số loại thuốc BVTV của người dân (Trang 48)
Bảng 4.9: Ý thức sử dụng thuốc BVTV (n=60) - Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Bảng 4.9 Ý thức sử dụng thuốc BVTV (n=60) (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w