Sử dụng các loại thuốc BVTV và phân bón là một biện pháp quan trọngtrong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp.Việc sử dụng đúngmục đích và đúng kỹ thuật sẽ mang lại hiệu quả
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN
VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN CÂY VẢI THIỀU TẠI XÃ TRÙ HỰU, HUYỆN LỤC NGẠN,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sựhướng dẫn tận tình từ giảng viên hướng dẫn là ThS Nguyễn Tú Điệp Các nộidung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất cứ công trình nào trước đây Những số liệu trong các bảngbiểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá do chính tôi thu thập từcác nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra đề tài còn
sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của một số tác giả, cơquan, tổ chức khác và cũng được thể hiện trong tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Bích Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lựccủa bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình củacác thầy, cô giáo trong khoa Môi trường, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam và
sự giúp đỡ của cán bộ, nhân dân địa phương Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòngbiết ơn tới những tập thể và cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Tú Điệp đã tận tìnhhướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốtnghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáotrong khoa Môi trường, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên tại UBND xã TrùHựu và toàn bộ người dân trong xã đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôitrong thời gian thực tập tại địa phương và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Bích Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Yêu cầu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về cây vải 3
1.1.1 Nguồn gốc 3
1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của vải 3
1.1.3 Một số sâu bệnh hại trên cây vải 5
1.1.4 Sử dụng phân bón trên cây vải 6
1.2 Tổng quan về phân bón 7
1.2.1 Khái niệm phân bón 7
1.2.2 Phân loại phân bón 7
1.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và con người 11
1.2.4 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam 16
1.3 Tổng quan về thuốc BVTV 18
1.3.1 Khái niệm thuốc BVTV 18
1.3.2 Phân loại thuốc BVTV 19
1.3.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường và con người 23
1.3.4 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và Việt Nam 28
Trang 5Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 30
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31
2.4.3 Phương pháp so sánh 31
2.4.4 Phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu 31
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Trù Hựu 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2 Tình hình phát triển cây vải trên địa bàn xã 38
3.2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng vải 38
3.2.2 Tình hình tiêu thụ vải 40
3.3 Tình hình kinh doanh, quản lý phân bón, thuốc BVTV trên địa bàn xã Trù Hựu 41
3.4 Hiện trạng sử dụng phân bón trên cây vải thiều tại xã Trù Hựu 43
3.4.1 Tình hình sử dụng phân bón 43
3.4.2 Số lần, thời điểm và cách thức bón phân cho vải thiều 51
3.4.3 Xử lý bao bì phân bón và nhận thức của người dân về phân bón 52
3.5 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây vải thiều tại xã Trù Hựu .53 3.5.1 Chủng loại thuốc BVTV được sử dụng phổ biến trên địa bàn xã 53
3.5.2 Cách lựa chọn thuốc BVTV 55
3.5.3 Lý do sử dụng thuốc BVTV 56
3.5.4 Cách thức sử dụng thuốc BVTV 57
3.5.5 Việc sử dụng đồ bảo hộ lao động khi phun thuốc 59
Trang 63.5.6 Các triệu chứng thường gặp sau khi phun thuốc 60
3.5.7 Xử lý bao bì, vỏ thuốc BVTV 61
3.6 So sánh tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV giữa những hộ thông thường và hộ VietGAP 61
3.6.1 So sánh về tình hình sử dụng phân bón 62
3.6.2 So sánh về tình hình sử dụng thuốc BVTV 64
3.7 Đề xuất một số giải pháp sử dụng, kinh doanh và quản lý phân bón, thuốc BVTV hiệu quả 67
3.7.1 Đối với các hộ sử dụng phân bón và thuốc BVTV trên cây vải 68
3.7.2 Đối với các hộ kinh doanh phân bón và thuốc BVTV trên địa bàn xã 69
3.7.3 Đối với chính quyền địa phương 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng 8
Bảng 1.2: Sử dụng phân bón và năng suất cây trồng ở Việt Nam 12
Bảng 1.3: Bón N, P, K cân đối làm tăng năng suất và chất lượng đậu tương 12 Bảng 1.4: Các loại phân bón phổ biến tại Việt Nam 18
Bảng 1.5: Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại 19
Bảng 1.6: Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại tại Việt Nam 20
Bảng 1.7: Phân loại độ bền của thuốc BVTV theo Briggs (1976) 25
Bảng 1.8: Tính tan của thuốc BVTV trong môi trường nước 26
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên xã Trù Hựu năm 2015 34
Bảng 3.2: Diện tích gieo trồng và sản lượng các loại cây trồng năm 2015 36
Bảng 3.3: Số lượng một số loại gia súc gia cầm trên địa bàn xã năm 2015 .36 Bảng 3.4: Diện tích, năng suất, sản lượng của cây vải thiều năm 2012 – 2015 38
Bảng 3.5: Giá bán và doanh thu vải thiều năm 2012 – 2015 40
Bảng 3.6: Cách thức sử dụng phân hữu cơ của các hộ trồng vải 44
Bảng 3.7: Lượng phân hóa học được sử dụng tại địa bàn xã 47
Bảng 3.8: Thời điểm bón phân cho vải thiều của các hộ gia đình 51
Bảng 3.10: Nhận thức của người dân về tác hại của phân bón 53
Bảng 3.11: Loại thuốc BVTV phổ biến được sử dụng trên cây vải thiều tại xã Trù Hựu 53
Bảng 3.12: Cách chọn thời điểm phun thuốc của các hộ gia đình trồng vải 56
Bảng 3.13: Số lượng thuốc BVTV sử dụng trong một lần của các hộ gia đình 56
Bảng 3.14: Số lần phun thuốc trên cây vải của các hộ gia đình 57
Bảng 3.15: Cách lựa chọn nồng độ và liều lượng phun của các hộ 57
Bảng 3.16: Nhận thức về tác hại của phân bón của các hộ thông thường và VietGAP 61
Bảng 3.17: Tình hình sử dụng phân bón của các hộ thông thường và VietGAP .62 Bảng 3.18: Tình hình sử dụng thuốc BVTV của các hộ thông thường và VietGAP 63
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Diễn biến dư lượng thuốc BVTV nhóm Pyrethoid trong môi
trường đất nông thôn tỉnh Bắc Giang năm 2013 và 2014 25
Hình 3.1: Cơ cấu ngành của xã Trù Hựu 35
Hình 3.2: Tỷ lệ sử dụng phân bón vô cơ và hữu cơ của các hộ trồng vải 43
Hình 3.3: Tỷ lệ cách lựa chọn phân bón của các hộ trồng vải 44
Hình 3.4: Tỷ lệ số lần bón phân của các hộ gia đình trồng vải 51
Hình 3.5: Tỷ lệ cách lựa chọn thuốc BVTV của các hộ 55
Hình 3.6: Tỷ lệ sử dụng các đồ bảo hộ lao động khi phun thuốc 59
Hình 3.7: Tỷ lệ các triệu chứng thường gặp sau khi phun thuốc 60
Hình 3.8: Tỷ lệ sử dụng đồ bảo hộ khi phun thuốc của các hộ thông thường và VietGAP 65
Hình 3.9: Tỷ lệ các triệu chứng thường gặp sau khi phun thuốc ở các hộ thông thường và VietGAP 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam với điều kiện lãnh thổ nằm trọn vẹn trong vùng nội chí tuyếncủa Bắc bán cầu, khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm nóng ẩm mưa nhiều đãtạo nên một nền nông nghiêp rất đa dạng về cơ cấu cây trồng Tuy nhiên, đócũng là một trong những nguyên nhân khiến sâu bệnh, cỏ dại xuất hiện quanhnăm Do đó việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón là mộtbiện pháp chủ yếu mà người dân sử dụng để phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ vànâng cao năng suất cây trồng đồng thời giữ vững an ninh lương thực trong vàngoài nước
Sử dụng các loại thuốc BVTV và phân bón là một biện pháp quan trọngtrong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp.Việc sử dụng đúngmục đích và đúng kỹ thuật sẽ mang lại hiệu quả tốt trong quản lý dịch hại câytrồng Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, người dân đã lạm dụng các loạiphân bón và thuốc BVTV một cách quá mức gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến môi trường, sinh vật và con người Việc sử dụng không đúng đã làm suygiảm cả về số lượng và chất lượng các loại sinh vật có ích sống trong đất, ảnhhưởng xấu đến cây trồng đồng thời gây ô nhiễm môi trường đất, nước, khôngkhí và đặc biệt là tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng Để giải quyếtvấn đề đó cần phải có một hướng quản lý chặt chẽ và thực sự có hiệu quả
Xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang là một xã canh tác khánhiều các loại cây trồng ăn quả tuy nhiên cây vải thiều vẫn giữ vị trí kinh tếquan trọng nhất Vải thiều là sản phẩm chủ lực, có liên quan đến đời sống củahầu hết hộ dân và được coi là cây trồng xóa đói giảm nghèo của xã Hiện naytrong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các mặt hàng nông sản của Việt Namnói chung, vải thiều Lục Ngạn nói riêng có cơ hội mở rộng thị trường giúp cảithiện đời sống một cách đáng kể, tuy nhiên nó cũng gây ra không ít các vấn
đề môi trường Rất nhiều loại thuốc BVTV và phân bón đã được người dân sử
Trang 11dụng nhằm mục đích tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứngđược thị yếu của người tiêu dùng Tuy nhiên do sự thiếu hiểu biết của ngườidân mà các loại hóa chất này đang được sử dụng tràn lan, không đúng liềulượng, kỹ thuật trên phạm vi toàn xã Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật trên cây vải thiều tại xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đối vớicây vải thiều tại xã Trù Hựu, huyện lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất một số biện pháp nhằm sử dụng hợp lý các loại phân bón vàthuốc bảo vệ thực vật trên cây vải thiều góp phần bảo vệ môi trường và sứckhỏe người dân tại xã Trù Hựu
3 Yêu cầu
- Các nội dung nghiên cứu đáp ứng được mục tiêu của đề tài nghiên cứu
- Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan của số liệu thu thậpđược và kết quả nghiên cứu
- Các giải pháp đưa phải phù hợp với điều kiện của địa phương
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về cây vải
1.1.1 Nguồn gốc
Cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis sonn (Nephelium litchiCambess) thuộc họ bồ hòn có nguồn gốc từ phía nam Trung Quốc Hiện nay ởTrung Quốc có những cánh rừng vải dại xanh tốt ở núi Kim Cổ Lĩnh, tỉnhPhúc Kiến có cây vải đã 1200 tuổi và vẫn cho quả (Trần Thế Tục, 2004).Theo FAO (1989) tài liệu đầu tiên viết về cây vải đã ghi lại vào 100 nămtrước công nguyên, hoàng đế Hán Vũ đã đem cây vải vào miền nam TrungQuốc và miền bắc Indonexia Cuối thế kỷ XVII, cây vải từ Trung Quốc đầutiên được đưa sang Mianma, cuối thế kỷ XVIII được đưa sang Ấn Độ, năm
1775 đưa sang quần đảo Tây Ấn, năm 1854 đưa sang Australia (Trần ThịDậu, 2013) Cây vải được đưa sang trồng ở Hawai năm 1873 bởi một thươnggia người Trung Quốc, Floria năm 1883 và đến Isaren năm 1914 Vào khoảngnhững năm 1875 – 1876 cây vải được đưa sang các nước châu Phi làMadagatca và Morihiuyt (Kongsinh Ratsamy, 2009)
Tại Việt Nam theo các tài liệu cũ, cây vải được trồng cách đây 2000năm, sử ghi chép cách đây 10 thế kỷ, lệ chi (quả vải) là một trong những cốngphẩm của Việt Nam phải nộp cho Trung Quốc Theo Vũ Công Hậu (1999) khiđiều tra cây ăn quả tại một số tỉnh miền bắc và miền trung có gặp một số câyvải dại, vải rừng Ở khu vực chân núi Tam Đảo có nhiều cây vải dại giống vảinhà nhưng hương vị kém hơn Do vậy, một số tài liệu nước ngoài cho rằngcây vải có thể có nguồn gốc ở Việt nam (Kongsinh Ratsamy, 2009)
1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của vải
Đặc điểm sinh trưởng của cây theo độ tuổi
Theo Trần Thế Tục (2004) thì cây vải nhân giống bằng phương phápchiết hay ghép từ khi trồng đến 3 năm tuổi chủ yếu là sinh trưởng sinh dưỡng.Thời kỳ này, bộ khung tán phát triển mạnh, một năm có thể ra 4 – 5 đợt lộc
Trang 13Đối với cây từ 4 – 7 năm tuổi, cành chính vẫn hình thành và phát triển mạnhđồng thời những cây trong độ tuổi này rất khó hình thành mầm hoa, tỷ lệ hoacái thấp do tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng Đối vớicây 7 – 20 năm tuổi, bộ khung tán cơ bản ổn định, lượng hoa và quả nhiều,sinh trưởng vẫn khỏe nhưng không quá mạnh Tiếp đó, sinh trưởng bắt đầuchậm dần như cành phát sinh ít và yếu, bộ rễ suy yếu, rễ mới ít và suy yếuxuất hiện ở những cây trên 20 năm tuổi Đây là giai đoạn cây cần có sự chămsóc nên phải có các biện pháp cải tạo thích hợp.
Đặc điểm sinh trưởng thân cành vải
Cây đã cho quả một năm có 2 – 3 đợt lộc vào tháng 2, sau thu hoạchtháng 6 – 7 và tháng 9 –10 Và khi cây già thì một năm chỉ có hai đợt lộc vàotháng 3 và tháng 9 (Trần Thế Tục, Ngô Hồng Bình, 1997) Đối với cây vảichưa cho thu hoạch quả có thể ra 5 – 6 đợt lộc; những cây trưởng thành khỏemạnh cho 2 đợt lộc, ít khi 3 đợt
Số đợt lộc/cành, kích thước của mỗi đợt lộc phụ thuộc vào tuổi cây,tình trạng sinh trưởng của cây, nước, phân bón, nhiệt độ chi phối Nếu chế độchăm sóc đầy đủ và điều kiện nhiệt độ thích hợp thì cây sẽ ra được nhiều đợtlộc và lộc có kích thước lớn
Đặc điểm ra hoa, đậu quả của cây vải (phát triển)
Cây vải ra hoa vào cuối tháng 1 đầu tháng 2, nở hoa vào cuối tháng 3đầu tháng 4 Số lượng hóa có liên quan đến đặc tính giống, tình hình dinhdưỡng của cành mẹ, và điều kiện khí hậu
Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc rất nhiều vào: đặc tính ra hoa, môi giới truyềnphấn, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa hay hàm lượng các chất dinh dưỡng Theocác tác giả Trung Quốc, quả vải phát triển qua ba giai đoạn và cùng xuất hiện
ba lần rụng quả (Trần Thế Tục, 1997)
+ Lần 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi, vở hạt, vỏ quả.Sau hoa cái nở mười ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý lần một
Trang 14+ Lần 2: Khi thịt quả bao kín 1/3 – 2/3 hạt, do dinh dưỡng không đầy
đủ hoặc nguyên tố kích thích bên trong giảm nên xuất hiện rụng quả lần hai
+ Lần 3: Cùi phát triển nhanh và quả chín Hiện tượng rụng quả lần bathường trước thu hoạch một tuần
1.1.3 Một số sâu bệnh hại trên cây vải
Sâu hại cây vải
Trong môi trường khí hậu nóng ẩm nhiệt đới như ở nước ta, các loạisâu hại có điều kiện phát triển mạnh mẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến năngsuất cây vải Theo Trần thế Tục (2004) thì số liệu điều tra của Viện cây ănquả, cây công nghiệp và cây làm thuốc (1970) thống kê được 26 loại sâu hạivải Trong đó bọ xít vải, sâu đục quả và nhện lông nhung là các loài sâu hạithường gặp Ngoài ra còn có sâu kèn, bọ trĩ, sâu đo, sâu cuốn lá nâu chấmđen, câu cấu, sâu đục cành, sâu cuốn lá,
+ Bọ xít nâu (Tessaratoma papillosa Drury): Phát sinh phổ biến trong
những năm qua Bọ xít dùng vòi trích vào nụ, hoa, quả non hút dịch cây gâyrụng nụ, hoa, quả non dẫn đến làm giảm năng suất, chất lượng quả
+ Nhện lông nhung (Eriophyes): Phát sinh quanh năm, gây hại chủ
yếu trên các đợt lộc, nặng nhất vào vụ xuân Sâu non nở ra chích hút biểu bì
mô mặt dưới lá hút nhựa, kích thích mô lá làm cho lá dị dạng có mầu nâu đỏnhư nhung, mặt trên lá xoăn, phồng rộp phát triển không bình thường, làmcho lá quang hợp kém, dễ rụng
+ Sâu đục quả đầu quả (Conopomopha sinensis Bradley): Trưởng
thành đẻ trứng trên lộc non và cuống quả khi quả đang phát triển, sâu non nở
ra đục qua lớp biểu bì ăn sâu vào hạt tập trung gần cuống quả làm rụng quả,tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập gây thối quả
+ Sâu đục thân cành (Apriona germani Hope): Con trưởng thành đẻ
trứng vào các kẽ nứt trên gốc cây, thân và cành chính Sâu non nở ra đục vàophần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra
Trang 15 Bệnh hại cây vải
Trên cây vải có rất nhiều các loại bệnh hại và hiện nay chưa có một sốliệu thống kê đầy đủ về chúng Một số loại bệnh hại điển hình trên cây vảiphải kể đến:
+ Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides Penz): Bệnh do nấm
gây ra tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá và các đốm trên mặt lá, ranh giớigiữa mô khoẻ và mô bệnh phân biệt rõ rệt; vết bệnh thối đen trên nụ, hoa vàquả gây hiện tượng rụng nụ, rụng hoa, rụng quả
+ Bệnh sương mai: Bệnh gây hại trên lá, chùm hoa và quả Trên cành
và cuống hoa, mô bệnh có màu nâu thâm đen và lan rộng ra xung quanh, làm
cành và cuống hoa tóp lại, khô dần rồi gãy Trên quả vải nhiễm bệnh xuất hiện cácđốm mầu thâm đen và một lớp sợi nấm màu trắng phủ từng phần hay cả quả
+ Bệnh mốc sương (Pseudoreronospora sp): Bệnh gây hại trên chùm
hoa, lá đặc biệt là quả sắp chín và chín làm chùm hoa biến màu đen, quả thối
và rụng
1.1.4 Sử dụng phân bón trên cây vải
Trong nhiều năm tiến hành phân tích đất và nghiên cứu khả năng sinhtrưởng và phát triển của cây vải, Menzel (2002) cho thấy: lượng phân bón chovải được xác định phụ thuộc vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng, khả năngcho quả và hàm lượng dinh dưỡng trong đất của từng năm (KongsinhRatsamy, 2009)
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) nên chia làm ba loạisinh trưởng của cây để bón:
- Cây sinh trưởng khỏe, ít quả: bón ít phân hoặc giảm số lần bón
- Cây sinh trưởng trung bình: bón lượng phân cân đối
- Cây sinh trưởng yếu: tăng số lần bón, lượng bón ít cho mỗi lần
Với cây vải thời kỳ chưa ra quả, bón phân chủ yếu tập trung nuôi cây
và thúc đẩy sự sinh trưởng của thân cành Nguyên tắc bón là bón làm nhiềulần, lượng bón ít cho mỗi lần Năm thứ nhất nên bón từ 20 – 25g Ure, 15 –
Trang 1620g KCL và 50 – 70g Lân supe Từ những năm sau, lượng bón tăng lên 40 –60% so với năm thứ nhất tùy thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây, giốngcây và tính chất đất (Kongsinh Ratsamy, 2009)
Thời kỳ cây vải cho quả, việc bón phân nhằm mục đích: giúp cành thukhỏe mạnh vì cành thu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất của cây ở
vụ sau đồng thời thúc đẩy trình phân hóa mầm hoa, thúc cho quả lớn Việcbón phân cần tiến hành vào ba thời kỳ sau:
+ Bón thúc hoa: Mục đích nâng cao mức dinh dưỡng trong cây, làmcho lá thuần thục, thúc đẩy ra hoa, nâng cao tỷ lệ đậu quả, tăng sức chốngchịu thời tiết xấu Bón phối hợp đầy đủ NPK với N và K khoảng 25% lượngbón cả năm, P là 1/3 lượng bón cả năm
+ Bón thúc quả: Mục đích là bổ sung kịp thời dinh dưỡng bị tiêu hao khi
ra hoa, bảo đảm cho quả sinh trưởng phát triển tốt, giảm đợt rụng sinh lý lần hai,tạo cho cây có khả năng tiếp tục ra hoa trong năm sau Lượng K dùng cho đợtbón này là 50% tổng số K cả năm, lượng N và P giống với đợt bón trước
+ Đợt bón trước hoặc sau thu hoạch quả: Nhằm phục hồi sinh trưởng vàphát triển của rễ, lá nên chủ yếu dùng các loại phân giàu đạm, lượng P và Kgiống với đợt bón trước lúc ra hoa
1.2 Tổng quan về phân bón
1.2.1 Khái niệm phân bón
Theo Trần Thị Thu Hà (2009): “Phân bón là những chất hoặc hợp chấthữu cơ hoặc vô cơ có chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu đượcđưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp với mục đích chính là cung cấpchất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm giúp chúng sinh trưởng, phát triển tốt vàcho năng suất cao”
1.2.2 Phân loại phân bón :
1.2.2.1 Phân hữu cơ
Phân hữu cơ là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợpchất hữu cơ như: phân chuồng, phân xanh, phân than bùn, phụ phế phẩm nông
Trang 17nghiệp, phân rác… được vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân và các chỉtiêu chất lượng khác đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định Theo Cụctrồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, phân hữu cơ có thểchia ra làm năm loại:
+ Phân chuồng: là những loại phân có nguồn gốc động, thực vật nhưphân trâu, bò, lợn, gà, gia cầm Phân chuồng có ưu điểm là luôn luôn chứađầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng: đạm, lân, kali, canxi, magie, natri, silic, cácnguyên tố vi lượng như: đồng, kẽm, Mangan, coban, bor, molipden, tuyhàm lượng không cao Phân chuồng được đánh giá tốt thường có thành phầndinh dưỡng như bảng sau:
Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng
+ Phân xanh: là loại phân hữu cơ, sử dụng các loại bộ phận trên mặt đấtcủa cây Phân xanh thường được sử dụng tươi, không qua quá trình ủ Vì vậy,phân xanh chỉ phát huy hiệu quả sau khi được phân huỷ Cây phân xanhthường được dùng là cây họ đậu, cây muồng, bèo hoa dâu…
+ Phân vi sinh vật: Đó là những chế phẩm trong đó có chứa các loàiVSV có ích Có nhiều nhóm VSV có ích bao gồm vi khuẩn, nấm, xạ khuẩnđược sử dụng để làm phân bón Trong số đó quan trọng là các nhóm VSV cốđịnh đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây
Trang 18trồng, Trong những năm gần đây, phân VSV đang được khuyến khích sửdụng do nhiều lợi ích mà nó đem lại.
+ Các loại phân hữu cơ khác: có rất nhiều các loại chất hữu cơ có thể sửdụng làm phân bón cho cây trồng điển hình như than bùn, tro, phân dơi
1.2.2.2 Phân vô cơ
Phân vô cơ còn gọi là phân khoáng, phân hoá học trong thành phần cóchứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ cần thiết cho cây trồng Thôngthường để sinh trưởng và phát triển cây cần có 13 chất dinh dưỡng khoángthiết yếu trong đó có 3 nguyên tố đa lượng là: N, P, K; 3 nguyên tố trunglượng là: Ca, Mg, S và 7 nguyên tố vi lượng: Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, B, Cl.Ngoài ra, còn một số nguyên tố khác cần thiết cho từng loại cây như: Na, Si,
Co, Al…Theo Cục trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, phân
vô cơ có thể chia ra thành các loại sau:
+ Phân vô cơ đa lượng
- Phân đạm: đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đốivới cây tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin,các enzym và nhiều loại vitamin trong cây Một số loại phân đạm phổ biếnnhư phân urê CO(NH)2, nitrat amon NH4NO3, sunphat amoni (NH4)SO4,clorua amoni NH4Cl
- Phân lân: có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng Lân kíchthích sự phát triển của rễ cây, quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây rahoa kết quả sớm và nhiều đồng thời làm tăng đặc tính chống chịu của cây đốivới các yếu tố không thuận lợi Các loại phân lân bao gồm phân lân nungchảy, supephosphat đơn, supephosphat kép, supe phosphat giàu, canxiphosphat
- Phân kali: kali làm tăng khả năng chống chịu của cây với các điềukiện không thuận lợi, tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năngsuất cây trồng Các loại phân kali bao gồm phân kali clorua, kali sulphat, kaliclorat
Trang 19+ Phân tổng hợp và phân phức hợp
- Phân tổng hợp là các loại phân đã được sản xuất thông qua các phảnứng hoá học để tạo thành một thể phân bón gồm nhiều nguyên tố dinh dưỡng.Phân này còn được gọi là phân phức hợp
- Phân hỗn hợp là các loại phân tạo được do quá trình trộn lẫn 2 hoặcnhiều loại phân đơn với nhau một cách cơ giới và đều đặn
+ Phân trung lượng
Trong thành phần chính chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trunglượng gồm có Can xi (được tính bằng Ca hoặc CaO), Magiê (được tính bằng
Mg hoặc MgO), Lưu huỳnh (được tính bằng S) và Silic (được tính bằng Sihoặc SiO2 hoà tan) dạng dễ tiêu cây trồng có thể dễ dàng hấp thu được Cácloại phân trung lượng phổ biến phải kể đến: vôi bón ruộng, vôi nghiền, vôinung, thạch cao…
+ Phân vi lượng
Trong thành phần chính chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng vi lượnggồm có Bo (được tính bằng B), Co ban (được tính bằng Co), Đồng (được tínhbằng Cu hoặc CuO), Sắt (được tính bằng Fe), Mangan (được tính bằng Mnhoặc MnO), Molipđen (được tính bằng Mo) và Kẽm (được tính bằng Zn hoặcZnO) dạng dễ tiêu cây trồng có thể dễ dàng hấp thu được
1.2.2.3 Phân bón lá
Theo Cẩm Hà (2013), phân bón lá là những hợp chất dinh dưỡng, cóthể là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vi lượng, được hòa tan trongnước và phun lên cây để cây hấp thụ
Phân bón lá có thể là các loại phân đơn như N, P, K, Cu, Zn,… Tuynhiên phần lớn các loại phân bón qua lá là những hỗn hợp các chất dinhdưỡng đa lượng và vi lượng ở dạng hòa tan trong nước
1.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và con người
1.2.3.1 Ảnh hưởng tích cực
Trang 20Phân bón được đánh giá là một trong những biện pháp quan trọng trongsản xuất nông nghiệp do những lợi ích to lớn mà nó đem lại
Vai trò của phân bón với năng suất cây trồng
Ông cha ta thường có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” thểhiện vai trò quan trọng của phân bón với cây trồng Phân bón cung cấp cácchất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Cây trồng
có thể sinh trưởng và phát triển bình thường ngay cả khi không được bónphân Nhưng để đạt được năng suất cây trồng cao, ổn định thì sử dụng phânbón được xem là giải pháp hữu hiệu nhất Điều này đã được chứng minh ởnhiều quốc gia trên thế giới như ở Pháp năm 1850, phân bón chưa sử dụngnhiều thì năng suất chỉ đạt 1 tấn/ha, đến năm 1960, khi sử dụng 1,1 triệu tấn N
- P2O5 - K2O đã đưa năng suất lên đến 1,6 tấn/ha và năm 1973, tiêu thụ 5,8triệu tấn N - P2O5 - K2O thì năng suất tăng lên đến 4,5 tấn/ha (IFA, 1998).Viyas (1983, dẫn theo Heisey và Mwangi, 1996) cho rằng từ giữa những năm
1960 phân bón đóng góp vào việc gia tăng năng suất ở các nước đang pháttriển tại châu Á từ 50 – 75% Theo FAO (1980), phân bón làm gia tăng năngsuất đến 55% ở những nước đang phát triển trong giai đoạn 1965 đến 1975 vàđầu tư 1 kg N - P2O5 - K2O sẽ thu được 10 kg hạt ngũ cốc (Lê Quốc Phong,2011)
Ở Việt Nam, việc sử dụng phân bón cũng làm tăng một cách đáng kểnăng suất các loại cây trồng qua từng năm
Trang 21Bảng 1.2: Sử dụng phân bón và năng suất cây trồng ở Việt Nam
Ngoài ra, phân bón còn có ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống biện pháp
kỹ thuật trồng trọt: sử dụng phân bón có liên quan đến hiệu lực của các biệnpháp kỹ thuật khác như: sử dụng giống mới cần kết hợp với bón phân hợp lý
và đầy đủ Ngược lại, các biện pháp kỹ thuật khác cũng ảnh hưởng đến hiệulực của phân bón như: chế độ nước không thích hợp hoặc kỹ thuật làm đấtkém có thể làm giảm 10 – 20% hiệu lực phân bón Hệ thống kỹ thuật nàycũng là một yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng tăng hay giảm
Vai trò của phân bón tới chất lượng nông sản
Phân bón không chỉ được đánh giá là một trong các yếu tố quyết địnhtới năng suất cây trồng mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nôngsản Bón phân cân đối và hợp lý sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng nông sản.Chất lượng nông sản do nhiều loại hợp chất hữu cơ chi phối, và sự hình thànhcác hợp chất hữu cơ đó là kết quả của những quá trinh sinh hóa do nhiều loạimen điều khiển Phân bón (nhất là kali và phân vi lượng) có tác động mạnhđến tính chất và hàm lượng của các loại men này
Bảng 1.3: Bón N, P, K cân đối làm tăng năng suất và chất lượng đậu tương
hạt (tấn/ha)
Năng suất protein (kg/ha)
Năng suất dầu (kg/ha)
Trang 22Nguồn: Nguyễn Như Hà và Lê Thị Bích Đào, 2010
+ Phân kali: ảnh hưởng tới hàm lượng đường, bột và chất lượng sợi, từ
đó ảnh hưởng nhiều tới chất lượng nông sản
+ Phân vi lượng: vai trò là hình thành và kích thích hoạt động của các
hệ thống men trong cây cho nên nó xúc tiến và điều tiết toàn bộ các hoạt độngsống của cây
+ Phân đạm: làm tăng hàm lượng protein và caroten trong sản phẩm vàlàm hàm lượng xenlulo giảm xuống (Nguyễn Như Hà và Lê Thị Bích Đào,2010)
Vai trò của phân bón với thu nhập của con người
Khi sử dụng phân bón hợp lý năng suất và chất lượng sản phẩm sẽ tănglên đáng kể từ đó người nông dân có thể thu được lợi nhuận cao hơn giúpcải thiện đời sống của mình Mặt khác ngành công nghiệp phân bón ngàycàng được mở rộng và phát triển đã và đang đem lại những lợi nhuận chonhiều nước trên thế giới Trong năm 2012, Việt Nam xuất khẩu phân bónđến 40 quốc gia khác nhau trên toàn thế giới, với thị trường chính làCampuchia (192 triệu đô la), Philippines (59 triệu đô la), và Malaysia (52triệu đô la) Doanh thu đạt được là 33,8 nghìn tỷ đồng và lợi nhuận thuđược sau thuế 3,83 nghìn tỷ (Đoàn Minh Tin, 2015)
Vai trò tích cực của phân bón tới môi trường
Bón phân hợp lý sẽ tạo một môi trường dinh dưỡng cần thiết đầy đủ vàphù hợp để cây trồng sinh trưởng và phát triển đồng thời nó cũng đóng gópđáng kể vào việc cải tạo và ổn định tính chất đất làm cho môi trường đất tốthơn Phân hóa học và phân hữu cơ đều có những tác dụng nhất định đối vớiđất Phân hóa học với liều lượng hợp lý sẽ tăng cường khả năng khoáng hóa
Trang 23các chất hữu cơ do làm tăng hoạt động của các vi sinh vật có ích trong đất.Phân hữu cơ tạo mùn cho đất dự trữ các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây,cải thiện và ổn định kết cấu đất làm cho đất tơi xốp thoáng khí tăng khả nănggiữ nước Bón vôi giúp cải tạo tính chất lý hóa của đất, tạo môi trường pHthích hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Trong sản xuất nông nghiệp
để đạt được hiệu quả cao nhất nên kết hợp bón phân hóa học và hữu cơ mộtcách thích hợp và hợp lý
1.2.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Phân bón vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, giúp làm tăng độmàu mỡ của đất, tăng năng suất cho cây trồng Tuy nhiên, nó cũng có thể gâytác động xấu tới môi trường và sức khoẻ con người nếu không có biện pháp
Trong các loại phân vô cơ, đáng chú ý nhất là phân N, một loại phânmang lại hiệu quả quan trọng nhất cho năng suất cây trồng, tuy nhiên nó cũngrất dễ gây ô nhiễm cho môi trường đất do tồn dư của nó do sử dụng với liềulượng cao Phân super lân thường có 5% axít tự do (H2SO4), làm cho môitrường đất chua Trong các loại phân lân cũng còn chứa một lượng các kimloại nặng khác như As, Cd, Pb cũng là nguyên nhân làm tích luỹ các kim loạinày trong đất
Trang 24Phân hữu cơ chưa qua xử lý gây ô nhiễm đất nghiêm trọng do trongphân có chưa một số lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn E.Coligây bệnh đường ruột, các ấu trùng sán lá, thương hàn, ký sinh trùng giun, sán,
… các kim loại nặng còn được lưu giữ trong đất nếu đất dược bón phân hữu
cơ có nguồn gốc từ các bùn cống, …
Môi trường nước
Một lượng lớn phân bón bị rửa trôi từ đất vào nước làm nước bị ônhiễm gây ô nhiễm môi trường nước Phân bón đi vào nguồn nước mặt gâyảnh hưởng xấu như: Gây phì hóa nước và tăng nồng độ nitrat trong nước.Hiện tượng tăng độ phì trong nước (còn gọi là phú dưỡng) làm cho tảo vàthực vật cấp thấp sống trong nước phát triển với tốc độ nhanh cản trở quátrình quang hợp của phía dưới dẫn tới hiện tượng cạn kiệt ôxy hòa tan trongnước, làm giảm số lượng các thể cá và các quần thể động vật khác
Môi trường không khí
Khi bón phân vào môi trường đất, chỉ một phần được cây trồng sửdụng, phần còn lại chúng tích lũy trong môi trường nước, đất hoặc bay hơivào khí quyển Phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình phảnnitrat hóa gây ô nhiễm bầu khí quyển Theo Trần Văn Chiến và Phan TrungQuý (2006) riêng khí Metan, hàng năm thế giới thải ra khoảng 250 triệu tấn,trong đó các hoạt động nông lâm nghiệp chiếm khoảng 46 – 60 %, ngoài ratrong quá trình sản xuất phân bón làm phát thải ra một lượng lớn các khí thải(NH3, CH4, CO2, ), hệ quả của nó là tạo ra hiên tượng hiệu ứng nhà kính
Đối với sức khỏe con người
Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại rất lớntới sức khoẻ con người Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-)hoặc Nitrit (NO2-) sẽ gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụngcác nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi
có hàm lượng dư thừa Nitrat Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước
và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối
Trang 25nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt làtrẻ em (Trương Hợp Tác, 2013)
Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trongcác sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vìchất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan
và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy độngnhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt
ở phụ nữ (Lê Văn, 2013)
Phân hữu cơ thường là phân chuồng có chứa lượng lớn các vi sinh vậtgây bệnh, có thể tồn dư trong nông sản, con người sử dụng sẽ rất có hại chosức khỏe Để đảm bảo sức khỏe, trước khi bón cần ủ phân để tiêu diệt cácmầm bệnh trong phân, giúp giảm tác hại đến con người
1.2.4 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam
2013 và đạt 85% công suất của các nhà máy toàn cầu (Đoàn Minh Tin, 2015)
Trong giai đoạn 2004 – 2014, nhu cầu phân bón tăng trưởng liên tụcvới tốc độ bình quân là 2,08% Tỷ trọng nhu cầu phân đạm, phân lân và phânkali của thế giới không có nhiều biến động trong năm 2014 Cụ thể, nhu cầuphân loại mặt hàng này giữ quanh mức 60% (phân đạm), 23% (phân lân) và16% (phân kali) Trong năm 2014, tốc độ tăng trưởng lượng cầu của từng mặthàng phân bón: phân đạm, phân lân, phân kali lần lượt là 1,3%, 1,8%, 4,7%
Trang 26Theo dự báo của Hiệp hội Phân bón quốc tế IFA, nhu cầu phân bón toàn cầutrong năm tài chính 2015/2016 sẽ tăng 2%, đạt 187,4 triệu tấn, trong đó cáclĩnh vực phân đạm, phân lân và phân kali sẽ đạt tốc độ tăng trưởng tươngđương như nhau Trong các nước tiêu thụ phân bón trên thế giới, Trung Quốc
là nước tiêu thụ phân bón lớn nhất, tiếp đến là Ấn Độ, Mỹ… với tỷ trọng lầnlượt là 28%, 14% và 11% (Đoàn Minh Tin, 2015)
1.2.4.2 Tại Việt Nam
Nông nghiệp là một những ngành kinh tế có vai trò quan trọng trongnền kinh tế Việt Nam, với 70% dân số sống bằng nghề nông Vì vậy nhu cầuphân bón cho nông nghiệp rất lớn Từ năm 1990, sản xuất nông nghiệp nước
ta tăng trưởng nhanh và liên tục, cùng với đó là tiêu dùng phân bón vô cơcũng tăng liên tục Nếu năm 1990, tổng lượng phân đạm ure tiêu dùng khoảng0,8 triệu tấn thì năm 2003 lên tới 2,3 triệu tấn Lượng NPK trên mỗi ha cũngtăng liên tục, năm 2003 với 12,97 triệu ha đất canh tác đạt 179,7 kg/ha tănggấp 3 lần so với năm 1990; trong đó đạm tăng 2,1 lần; lân tăng 4,7 lần và kalităng 14,3 lần (Đoàn Minh Tin, 2015)
Trang 27Bảng 1.4: Các loại phân bón phổ biến tại Việt Nam
STT Loại phân Năm 2002 Năm 2007 Số loại Năm 2010
Nguồn: Nguyễn Văn Bộ và Phạm Quang Hà, 2013
Theo FAO (2012), mật độ sử dụng phân bón của Việt Nam là ở mứccao lên đến 297 kg/ha so với mức 156 kg/ha của các quốc gia lân cận điều nàylàm năng suất lúa Việt Nam cao hơn so với các quốc gia lân cận (55 tạ/ha sovới 38 tạ/ha, 2011) nhưng do tình trạng ô nhiễm môi trường vì lạm dụng loạiphân bón hóa học nên mật độ sử dụng phân bón đang giảm dần trong nhữngnăm gần đây Trong năm 2014, Việt Nam tiêu thụ khoảng 10,8 triệu tấn phânbón, tăng trưởng khoảng 4% trong đó nhu cầu tiêu thụ phân NPK là lớn nhấtkhi chiếm đến 37% tổng nhu cầu, với giá trị khoảng 110 nghìn tỷ đồng/năm.Lúa, ngô, cao su là ba loại cây trồng có nhu cầu phân bón lớn nhất khi chiếm
tỷ lệ lần lượt là 65%, 9%, 8% trong nhu cầu tiêu thụ phân bón Việt Nam(Đoàn Minh Tin, 2015)
1.3 Tổng quan về thuốc BVTV
1.3.1 Khái niệm thuốc BVTV
Theo Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật (2013): “Thuốc BVTV là chấthoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa,ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thựcvật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng
độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc”
Ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốcBVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởngthực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùamàng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy
Trang 28móc, …) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinhvật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.
1.3.2 Phân loại thuốc BVTV
1.3.2.1 Phân loại dựa vào nguồn gốc
Theo Nguyễn Trần Oánh (2007), dựa vào nguồn gốc hóa học, thuốcBVTV được chia thành các loại:
+ Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Bao gồm các thuốc BVTV làm từ câycỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây có khả năng tiêu diệt dịch hại
+ Thuốc có nguồn gốc sinh học: Gồm các loài sinh vật (các loài ký sinhthiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (các loài kháng sinh…) cókhả năng tiêu diệt dịch hại
+ Thuốc có nguồn gốc vô cơ: Bao gồm các hợp chất vô cơ (như dungdịch Boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi…) có khả năng tiêu diệt dịch hại
+ Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khảnăng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat…)
1.3.2.2 Phân loại dựa theo tính độc
Theo WHO thuốc BVTV được chia thành 4 loại căn cứ vào độ độc củathuốc với các quy định như sau:
Bảng 1.5: Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
Nguồn: Nguyễn Trần Oánh (2007)
Trong đó: LD50= MLD Liều gây chết trung bình (medium lethal dose)
là liều lượng chất độc gây chết cho 50% cá thể đem thì nghiệm Giá trị LD50càng nhỏ chứng tỏ chất độc đó càng mạnh
Trang 29Ở Việt Nam, độ độc của thuốc BVTV được phân loại như sau:
Bảng 1.6: Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại tại Việt Nam
Vạch màu
LD50 đối với chuột (mg/kg)
Thể rắn Thể
lỏng Thể rắn
Thểlỏng
Vàng >50-500
>200-2000
1000
>100-4000
Xanhnướcbiển
2000
+ Thuốc trừ sâu (Insecticide)
Thuốc trừ sâu bao gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêudiệt, xua đuổi hay di chuyển bất ký loại côn trùng nào có mặt trong môitrường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùngđến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người Trong thuốc trừsâu, dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng người ta cònchia ra: thuốc trừ trứng (Ovicide), thuốc trừ sâu non (Larvicide)
Trang 30+ Thuốc trừ cỏ (Herbicide)
Thuốc trừ cỏ là các chất dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinhtrưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại trên đồng ruộng, quanh cáccông trình kiến trúc,… và gồm cả thuốc trừ rong rêu trên ruộng, kênh mương.Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất, vì vậy khi dùng các thuốcnhóm này cần đặc biệt thận trọng
+ Thuốc trừ bệnh (Fungicide)
Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học (vô cơ vàhữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thựcvật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho câytrồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bềmặt cây, xử lý giống và xử lý đất…
Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinhvật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trịnhững bệnh do yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất úng, hạn,…) Thuốc trừbệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides)
+ Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide)
Thuốc trừ nhện là những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hại câytrồng và các loại thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết thuốc trừ nhệnthông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc Đại đa số thuốc trong nhóm lànhững thuốc đặc hiệu có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gâyhại cho côn trùng và có ích cho thiên địch
Nhiều loại trong chúng còn có tác dụng trừ trứng và nhện mới nở;một số khác còn diệt nhện trưởng thành Nhiều loại thuốc trừ nhện có thờigian hữu hiệu dài, ít độc với động vật máu nóng Một số thuốc trừ nhệnnhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng có tácdụng trừ nhện
+ Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide)
Trang 31Thuốc trừ tuyến trùng là các chất xông hơi và nội hấp được dùng để
xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cảtrong cây
+ Thuốc trừ chuột (Rodenticde hay Raticide)
Thuốc trừ chuột là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc có nguồn gốcsinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, đượcdùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà, kho tàng và các loài gặmnhấm Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi(ở nơi kín đáo)
1.3.2.4 Phân loại dựa vào con đường xâm nhập
Nguyễn Trần Oánh (2007) thì dựa vào con đường xâm nhập có thểphân loại như sau :
+ Thuốc xâm nhập vào cơ thể dịch hại bằng con đường tiếp xúc (còngọi là thuốc ngoại tác động): Là những thuốc gây độc cho sinh vật khi thuốcxâm nhập vào biểu bì chúng
+ Thuốc xâm nhập vào cơ thể dịch hại bằng con đường vị độc (còn gọi
là thuốc có tác động đường ruột): Là những loại thuốc gây độc cho động vậtkhi thuốc xâm nhập vào con đường tiêu hóa của chúng
+ Thuốc có tác động xông hơi: Là những thuốc có khả năng bayhơi/bụi, đầu độc bầu không khí bao quanh dịch hại và gây độc cho sinh vậtkhi thuốc xâm nhập qua đường hô hấp
+ Thuốc có tác động nội hấp: Là những loại thuốc có khả năng xâmnhập qua biểu bì thực vật, thấm vào các tế bào phía trong, diệt dịch hại sốngtrong cây và các bộ phận của cây Các thuốc này chỉ có tác động theo chiềungang mà không có khả năng di chuyển trong cây
1.3.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường và con người
1.3.3.1 Ảnh hưởng tích cực
Trang 32Ngày nay, nền nông nghiệp càng đi vào thâm canh thì dịch bệnh càng có cơhội phát triển mạnh mẽ Để giải quyết vấn đề đó, thuốc BVTV được đánh giá làmột biện pháp quan trọng do những ưu điểm nổi trội mà nó đem lại
Thuốc BVTV giúp tiêu diệt nhanh và triệt để các loại dịch hại như côntrùng, nấm mốc, sâu bệnh… bảo vệ cây trồng đồng thời có thể ngăn chặn cácđợt dịch trong một thời gian ngắn mà các biện pháp khác không thể xử lýđược Thuốc BVTV còn làm tăng năng suất và chất lượng nông sản lên rõ rệt
từ đó tăng thu nhập cho người nông dân Mặt khác, thuốc BVTV còn được sửdụng rộng rãi ở nhiều quốc gia do biện pháp này dễ áp dụng và thích hợp ởnhiều vùng khác nhau
Theo Cramer (1967) đánh giá thiệt hại năng suất cây trồng do sâu bệnhhại, cỏ dại gây ra hằng năm trên thế giới là 74,9 tỷ đô la Mỹ Peru trung bìnhhàng năm mất khoảng 38% năng suất (Roberts, 1978; Rukavishnikov,1978).Lúa nước là một trong những đối tượng bị tàn phá nặng nề do sâu bệnh hạichỉ tính riêng châu Á tỷ lệ lên tới 51,5% sản lượng tiềm năng Theo ước tínhcủa FAO hằng năm sâu bệnh hại làm mất 15 – 30% tổng sản lượng nôngnghiệp thế giới, ở nhiều nước tỷ lệ này có thể cao hơn lên tới 50% nhưngtrong nhiều năm trở lại đây do sử dụng thuốc BVTV tỷ lệ này đã giảm xuốngcòn khoảng 14% (Phạm Văn Lầm, 2005)
1.3.3.1 Ảnh hưởng tiêu cực
Chúng ta đều không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà thuốc BVTVđem lại đối với nền nông nghiệp tuy nhiên nó lại tồn tại nhiều mặt trái là rấtđộc hại với sức khoẻ cộng đồng và có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trườngsinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách Hiện nay,thuốc BVTV ngày càng được sử dụng một cách rộng rãi tràn lan không đúng
kỹ thuật dẫn đến lượng hóa chất độc hại tồn dư trong đất, nước, không khí đặcbiệt là nông sản ngày càng cao làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏecộng đồng
Ảnh hưởng tới quần thể sinh vật
Trang 33Thuốc BVTV có khả năng tiêu diệt các loài sâu bệnh hại tuy nhiên nócũng là một trong những nguyên nhân gây bùng phát dịch hại trên một phạm
vi rộng và khó kiểm soát Việc sử dụng một số loại thuốc liên tục và kéo dàihay sử dụng các loại thuốc có tính năng gần giống nhau trong khoảng thờigian dài làm phát sinh các loại sâu bệnh kháng thuốc
Tính chống thuốc của dịch hại làm giảm hiệu quả của thuốc BVTVđồng thời gây tổn thất to lớn trong nông nghiệp Theo thống kê, năm 1977 đã
có tới 70% số thuốc kháng sinh và 90% thuốc trù bệnh nội hấp bị nấm và vikhuẩn chống lại Hoàng Trung (2004) đã xác định một số dòng mọt TriboliumCastaneum đã chống lại Phosphin và mọt Rhizopertha Dominica đã kháng lại
cả Phosphin và DDVP (Nguyễn Trần Oánh, 2007)
Các loài sâu bệnh hại kháng lại thuốc đã mất tác dụng của thuốc BVTVlàm dịch bệnh bùng phát mạnh hơn Chính vì lý do đó mà biện pháp đầu tiêncon người sử dụng là phải gia tăng lượng thuốc BVTV khiến cho việc mất cânbằng sinh thái và ô nhiễm môi trường càng trở nên nặng nề
Thuốc BVTV với độc tính cao không chỉ tiêu diệt các loài sâu hại màcòn tiêu diệt luôn cả những sinh vật có ích trong môi trường làm suy giảm cả
về mặt số lượng và chất lượng của những sinh vật này
Theo Pimetel (1971), để chống lại 1000 loài sâu hại, thuốc trừ sâu đãtác động đến 200000 loài động thực vật khác nhau trong đó có nhiều loàikhông những là đối tượng phòng trừ mà còn rất cần thiết cho sự tồn tại vàphát triển của con người Mặt khác, thuốc BVTV còn có thể gây ảnh hưởngtới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng do sử dụng không đúng loạithuốc và liều lượng Một số loại thuốc khi phun ở điều kiện nhiệt độ cao sẽgây ra hiện tượng cháy lá và ảnh hưởng tới chất lượng nông sản sau này(Nguyễn Trần Oánh, 2007)
Ảnh hưởng đến môi trường
Môi trường đất
Trang 34Khi sử dụng thuốc BVTV, chỉ có một phần nhỏ của hóa chất là thực sựđược sử dụng, còn lại phần lớn sẽ bị hòa loãng bởi các vật liệu trong đất vàcác tiến trình chuyển đổi, phân hủy khác nhau Lượng thuốc quá nhiều có thểlàm tổn hại đến cây trồng và có thể để lại dư lượng trong đất cho các vụ trồngtiếp theo Đặc biệt, những nhóm thuốc có độc tính mạnh và thời gian phângiải lâu như DDT, Lindan, Malathion, chúng có độ bền hóa học lớn nênthuốc dễ lưu lại trong đất đai làm đất trở nên chai cứng đi sau nhiều năm đất
sẽ trở thành đất trơ và khó canh tác
Hình 1.1: Diễn biến dư lượng thuốc BVTV nhóm Pyrethoid trong môi
trường đất nông thôn tỉnh Bắc Giang năm 2013 và 2014
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2014
Để đánh giá thời gian tồn tại của thuốc trong đất, người ta thường sửdụng chỉ tiêu thời gian bán phân hủy (half life), được ký hiệu bằng trị số DT50
Trang 35 Môi trường nước
Theo chu trình tuần hoàn của thuốc BVTV, thuốc tồn tại trong môitrường đất sẽ rò rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trìnhrửa trôi, xói mòn khiến nước bị nhiễm các chất độc hại Mặt khác, khi sửdụng thuốc BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân
đổ các chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước vệ sinh bình
Thực tế cho thấy nước ao nuôi tôm và kênh rãnh cấp nước tại 07 điểm
ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bến Tre tất cả các mẫu nước đềutồn tại thuốc BVTV và có 70% mẫu vượt quá mức quy định (Đỗ HoàngOanh, 2007) Thuốc bảo vệ thực vật tan trong nước có thể tồn tại bền vững vàduy trì được đặc tính lý hóa của chúng trong di chuyển và phân bố trong môitrường nước gây nhiễm bẩn và gây hại cho các loài thủy sinh trong nước
Bảng 1.8: Tính tan của thuốc BVTV trong môi trường nước
Loại thuốc Tính tan trong
nước (mg/l) Loại thuốc
Tính tan trong nước (mg/l)
Nguồn: Trần Văn Chiến, Phan Trung Quý 2006
Môi trường không khí
Trong quá trình phun, các loại thuốc BVTV rất dễ dàng đi vào môitrường không khí dưới dạng bụi và hơi Dưới tác dụng của các điều kiệnngoại cảnh đặc biệt là gió sẽ khiến cho quá trình lan truyền của thuốc nhanhhơn và có thể di chuyển xa đến những nơi khác Một số khác có thể bay hơinhanh trong điều kiện nhiệt độ cao như DDT sẽ bay hơi rất nhanh vào khôngkhí trong điều kiện khí hậu thời tiết nóng Chính vì vậy, môi trường không khí
Trang 36dễ dàng bị ô nhiễm do các loại thuốc BVTV từ đó gây ảnh hưởng tới sức khỏecủa cộng đồng
Ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Các loại thuốc BVTV hầu hết đều có độc tính rất cao nên nó có thể ảnhhưởng xấu đến sức khỏe con người Mặt khác, với tình hình hiện nay các loạithuốc BVTV không rõ nguồn gốc được sử dụng tràn lan, không đúng kỹthuật, liều lượng khiến vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng Thuốc BVTV
có thể xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau như qua da,đường hô hấp, qua mắt và đường ăn uống Theo WHO, hàng năm trên toànthế giới có 3 triệu người bị nhiễm độc hóa chất BVTV với gần 500 ngànngười chết Ở nước ta mỗi năm có rất nhiều người ngộ độc do ăn phải thựcphẩm tồn dư thuốc BVTV Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng và môitrường Việt Nam, hằng năm có trên 5000 trường hợp nhiễm độc hóa chất bảo
vệ thực vật phải cấp cứu tại bệnh viện và có trên 300 trường hợp tử vong do
sử dụng không đúng cách thuốc BVTV gây nhiễm độc cấp tính: bỏng mắt cấptính, hủy hoại da, ảnh hưởng thần kinh, gan Khi bị nhiễm độc mãn tính sẽảnh hưởng đến tủy xương (thiếu máu bất sản và loạn tạo máu), ảnh hưởng đếnsinh sản (vô sinh ở nam, sảy thai, thai dị dạng ), gây độc thần kinh, ảnhhưởng đến cơ chế miễn dịch Cơ thể con người bị nhiễm độc thuốc bảo vệthực vật biểu hiện ở nhiều mức độ: giảm sút sức khỏe, gây rối loạn các hoạtđộng ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hóa hô hấp, bài tiết, gây các tổn thươngbệnh lý ở các cơ quan, hệ thống nói trên từ mức độ nhẹ tới nặng, thậm chí tànphế hoặc tử vong (Nguyên Thanh,2014)
1.3.4 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và Việt Nam
1.3.4.1 Trên thế giới
Theo Đỗ Hàm (2007) con người đã biết sử dụng thuốc BVTV từ xa xưabằng việc dùng lá cây dải xuống chỗ nằm để tránh côn trùng đốt Tài liệu củaHassall mô tả việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệt các loại côn trùng đã có
từ thời Hy Lạp cổ đại, con người cũng đã biết sử dụng các loài cây độc và lưu
Trang 37huỳnh trong tro núi lửa để trừ sâu bệnh Năm 1924, Zeidler đã tìm ra loạithuốc trừ sâu DDT tại Thụy Sỹ Năm 1939, Muler tìm ra khả diệt sâu củathuốc DDT điều đó đã thực sự đặt nền móng cho việc sử dụng các hợp chấthữu cơ, hữu cơ – vô cơ vào mục tiêu làm các hóa chất BVTV Năm 1942, hợpchất phot pho hữu cơ trừ sâu HETP đã được phát minh và sử dụng tại Đức doCshoender Đến năm 1958, hợp chất cơphotpho (lân hữu cơ) được ứng dụng,hợp chất nhóm thuốc trừ sâu bệnh có Nitơ (nhóm Cacbamat) được khảonghiệm có hiệu quả và đến năm 1971 – 1972 người ta thành công trong việcsản xuất từ cây cỏ tự nhiên nhóm hoạt chất Pyrethroid
Trong những năm 1970 và 1980 đã có rất nhiều các loại thuốc BVTVđược tìm ra và sản xuất với số lượng lớn đã gây ảnh hưởng rất xấu đến môitrường Hiện nay, vấn đề môi trường đang được quan tâm hơn bao giờ hết thìcon người đang có xu hướng ưu tiên sử dụng những loại thuốc BVTV sinhhọc an toàn và hiệu quả Chính vì thế mà trong những năm gần đây, tổnglượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tănglên không ngừng Nguyên nhân là cơ cấu thay đổi: nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ,dùng với lượng lớn, độc với môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốcmới hiệu quả, an toàn và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao.Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tùythuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước (Nguyễn TrầnOánh, 2007)
1.3.4.2 Tại Việt Nam
Trước năm 1957, biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sảnxuất nông nghiệp ở nước ta Một lượng rất nhỏ sunfat đồng được dùng ở một
số đồn điền do Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê, cao su và một ít DDTđược dùng để trừ sâu hại rau Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuấtnông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên(vụ Đông Xuân 1956 – 1957) (Nguyễn Trần Oánh, 2007)
Trang 38Tuy nhiên trong nhiều năm gần đây, thuốc BVTV được sử dụng rộngrãi, phổ biến và đã trở thành mặt hàng không thể thiếu đối với ngành trồngtrọt của Việt Nam Nhu cầu sử dụng thuốc BVTV thực vật ngày càng tăng bắtđầu từ những năm1970s, đặc biệt tăng nhanh từ cuối những năm1980 đến
2010 (Trần Thị Út, 2002) Trong hai thập niên này số lượng thuốc BVTVnhập khẩu tăng từ 20.300 lên 72.560 tấn (Nguyễn Hữu Huân,2005; Bộ Nôngnghiệp & PTNT, 2010) Trước năm 1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàngnăm ở Việt Nam chỉ khoảng 6.500 - 9.000 tấn thì trong 03 năm gần đây, hàngnămViệt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần(Lê Văn, 2014)
Hiện nay trong số các thuốc BVTV sử dụng tại Việt Nam có khoảng
45 – 47% là thuốc cỏ; 20 – 22% là thuốc trừ bệnh; 22 – 23% là thuốc trừ sâu;còn lại là các thuốc điều hòa sinh trưởng và các thuốc khác như thuốc trừchuột, thuốc trừ ốc Số lượng các loại thuốc BVTV được sử dụng ở nước ta
có xu hướng ngày càng tăng lên từ chỗ chỉ có 77 loại hoạt chất được cho phép
sử dụng năm 1991, đến năm 2015 theo thông tư số 03/2015/TT - BNNPTNT
đã có 769 hoạt chất với 1690 tên thương phẩm thuốc trừ sâu, 607 hoạt chấtvới 1295 tên thương phẩm thuốc trừ bệnh, 223 hoạt chất với 678 tên thươngphẩm thuốc trừ cỏ, 10 hoạt chất với 26 tên thương phẩm thuốc trừ chuột được cho phép sử dụng
Trang 39Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phân bón và thuốc BVTV sử dụng trên cây vải thiều
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã tại xã Trù Hựu, huyện lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian nghiên cứu:1/2016- 5/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn,tỉnh Bắc Giang
- Tình hình phát triển vải tại xã Trù Hựu (diện tích, sản lượng, tình hìnhtiêu thụ…)
- Hiện trạng sử dụng phân bón trên cây vải thiều tại địa bàn xã Trù Hựu
- Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây vải thiều tại địa bàn xã
- So sánh tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV giữa những hộkhông tham gia và tham gia tập huấn VietGAP
- Đề xuất giải pháp nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả các loại phân bón,thuốc bảo vệ thực vật trên cây vải thiều tại xã Trù Hựu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát địa điểm nghiên cứu để từ đó
có cái nhìn tổng quát nhất về tình hình trồng vải và ảnh hưởng của phân bón,thuốc BVTV đến môi trường và con người
- Phương pháp phỏng vấn nông hộ sử dụng bảng hỏi có cấu trúc: Thiết
kế phiếu điều tra để tiến hành phỏng vấn (phụ lục 2) Dựa vào công thứcLinus Yamane (phụ lục 3), số phiếu cần điều tra là 96 phiếu
Đối với hộ gia đình trồng vải, tiến hành điều tra 90 hộ (mẫu) tại 3 thônBình nội, Sậy Mới, Thanh Hùng có diện tích vải lớn mỗi thôn 30 hộ đại diệnnhằm thu được các thông tin về số lượng, nơi cung cấp phân bón và thuốc
Trang 40BVTV, mức sử dụng, cách thức sử dụng, nhận thức của người dân về phânbón và thuốc BVTV…
Đối với cơ sở kinh doanh phân bón và thuốc BVTV tại xã: Tiến hànhđiều tra 6 cơ sở đại diện trên phạm vi toàn xã nhằm thu các thông tin về trình
độ của chủ cửa hàng, các loại phân bón và thuốc BVTV, giấy phép kinhdoanh…
- Phỏng vấn người có kinh nghiệm: Tham khảo ý kiến của cán bộ
khuyến nông xã và người dân có kinh nghiệm về tình hình sử dụng phân bón
và thuốc BVTV tại xã
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, diện tích vàsản lượng vải thiều, tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV… từ các báocáo thống kê và công tác quản lý của xã
- Thu thập số liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu thông qua sáchbáo, internet, báo cáo khoa học, tạp chí…
2.4.3 Phương pháp so sánh
So sánh các loại phân bón và thuốc BVTV mà người dân sử dụng, tạicác cửa hàng kinh doanh với danh mục phân bón và thuốc BVTV được phép
sử dụng và cấm sử dụng thông qua các văn bản pháp luật của nhà nước
2.4.4 Phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu
Tổng hợp lại các thông tin thu được qua điều tra, phỏng vấn và tiếnhành xử lý số liệu bằng Excel