1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN về giáo duc đạo đức

29 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 313 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN:"Một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở Trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ -Thị xã Đông Triều – Quảng Ninh Năm học 2016 - 2017"

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là hết sức cần thiết và cần được tiếnhành một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống Công tác này càng đặc biệt quantrọng đối với học sinh tiểu học vì các em dễ tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ, luônbắt chước theo mọi người xung quanh về lối sống, phong cách đạo đức như tínhtrung thực, tính hồn nhiên, tính khiêm tốn, tính dũng cảm… và những phẩm chất đóluôn biểu lộ thông qua các hành vi, các quan hệ hàng ngày giữa các em với gia đình,nhà trường và mọi người xung quanh

Trong nhiều năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâusắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tếnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Vớicông cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triểnkinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục

Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệpgiáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đếnđại đa số thanh - thiếu niên, nhi đồng Trong các nhà trường hiện tượng vô lễ, nóitục, nói bậy tăng lên, học sinh có lối sống thực dụng, ỷ lại, thiếu ước mơ và hoàibão, những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích, truyền thống tôn sưtrọng đạo bị chà đạp Ngoài xã hội xuất hiện nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gia tăng vàtràn lan khắp mọi nơi đó là, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua cácphương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quanđiểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các emchưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này Có cha mẹ mải chạy theo cơnlốc xoáy của kinh tế thị trường, bị cuốn theo tiền tài, danh vọng mà quên đi tráchnhiệm giáo dục con cái và chính sự thiếu quan tâm giáo dục của gia đình làm chochúng trở thành những đứa con bất hiếu, đạo đức bị giảm sút Nghị quyết lần thứ 2BCH TW Đảng khóa VIII đã nhận định: “Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phậnhọc sinh, sinh viên… mờ nhạt về lý tưởng theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bãolập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” Trước thực trạng đó đạođức càng trở nên cần thiết và quan trọng Thế hệ trẻ hôm nay là tương lai của đất

nước ngày mai, nếu chỉ chú trọng vào giáo dục “trí dục” mà xem nhẹ giáo dục “đức dục” thì xã hội sẽ ra sao Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói:

“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở

Trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ -Thị xã Đông Triều – Quảng Ninh

Năm học 2016 - 2017

Trang 2

Chính vì vậy, mọi nhà trường tiến bộ, nhân đạo, dân chủ, hướng về tương

lai nhất thiết phải coi trọng và ngày càng làm tốt hơn công tác bồi dưỡng đạo đứcmới cho thế hệ trẻ đang lớn lên và tiến hành ngay từ bậc Tiểu học, phải đào tạo ranhững con người “phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinhthần, trong sáng về đạo đức”, hình thành ở các em nhận thức đúng đắn trong cáchnhìn nhận về đạo đức, lối sống, về cái thiện, lòng bao dung, tính tự trọng, nhân cáchsống … và trong các mối quan hệ với mọi người Công tác giáo dục đạo đức tốt sẽgóp phần tạo ra những con người có nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt và góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục các môn văn hoá Bởi vậy, trong trường, người cán bộquản lý (CBQL) phải có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của công tácgiáo dục đạo đức

Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, là người làmcông tác quản lý trường Tiểu học, năm học 2015 – 2016, tôi lựa chọn nghiên cứu đề

tài “Một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ”.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

2.1 Mục tiêu:

Qua nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác giáo dục đạo đức họcsinh ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, tôi đềxuất những biện pháp quản lý giáo dục đạo đức, góp phần nâng cao chất lượng giáodục toàn diện cho học sinh của nhà trường

3 Đối tượng nghiên cứu.

Công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn VănCừ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Địa bàn nghiên cứu: trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ, thị xã Đông Triều,tỉnh Quảng Ninh;

Phạm vi nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn,phụ huynh và học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ, thị xã Đông Triều, tỉnhQuảng Ninh;

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016 và tiếp tụcnghiên cứu từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017 hoàn thành đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu.

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích, tổng hợp

hệ thống hóa các tài liệu, văn bản, các tài liệu về giáo dục đạo đức

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, phươngpháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp phỏng vấn; phương pháp thống kê, xử lý

số liệu, phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 3

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

Giáo dục đạo đức là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục, là một bộphận có tính cốt lõi, nền tảng của công tác giáo dục thế hệ trẻ, góp phần bồi dưỡngnhận thức về chuẩn mực đạo đức xã hội nhằm định hình và phát huy những phẩmchất cần thiết của nhân cách con người với những hành vi cao đẹp đầy tính nhânvăn

Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479TCN ) trong các tácphẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.Ởphương Tây, nhà triết học Socrat (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểubiết quy định lẫn nhau Con người có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉsau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức Aristoste (384-322 TCN) cho rằngkhông phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạođức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiệntrong quan hệ đạo đức

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vôdụng” Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trườngnhư: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần

có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”

Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đềnày như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác

1.1 Khái niệm đạo đức:

Theo quan điểm Mácxít, đạo đức là tổng hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩnmực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội,

vì hạnh phúc con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cánhân với tập thể và toàn xã hội Trong đạo đức học, quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức

và thực tiễn đạo đức là những thành tố cấu thành nên đạo đức xã hội

Quan hệ đạo đức là một bộ phận hợp thành của những quan hệ xã hội tạothành hệ thống những quan hệ xác định giữa con người với con người, giữa cá nhânvới xã hội Nó xác định nội dung khách quan của những nhu cầu đạo đức

Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc chuẩn mực, hành vi phùhợp với những quan hệ đạo đức đang tồn tại Trong đó xác định những ranh giới củahành vi con người và những giá trị đạo đức của nó Trong ý thức đạo đức, ngoàinhững nội dung chuẩn mực còn bao hàm những cảm xúc, tình cảm đạo đức của conngười

Thực tiễn đạo đức là quá trình và kết quả hiện thực hóa ý thức đạo đức trongđời sống thực tiễn Đó là quá trình hoạt động của con người trong các lĩnh vực xãhội khác nhau, những cộng đồng xã hội khác nhau dưới ảnh hưởng của những lýtưởng và niềm tin đạo đức

Vậy đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội Nhờ vậy

mà con người tự giác tuân theo những quy tắc, chuẩn mực trong xã hội Đạo đứccòn có vai trò to lớn giúp con người sáng tạo hạnh phúc, giữ gìn bảo vệ cuộc sốngtốt đẹp của toàn xã hội và những phẩm giá cao đẹp của con người

1.2 Giáo dục đạo đức.

Trang 4

“Giáo dục là sự tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất củacon người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”,

có thể hiểu giáo dục đạo đức là quá trình tác động một cách tích cực, có hệ thốngđến nhận thức, thái độ và hành vi của con người nhằm hình thành và phát triển tính

tự giác, ý thức trách nhiệm ở trẻ

Bản chất của giáo dục đạo đức có thể hiểu là một quá trình tổ chức, hướngdẫn, kích thích hoạt động tích cực của người được giáo dục để họ lĩnh hội được nộidung của các giá trị đạo đức, hình thành nên hệ thống thái độ và hành vi của cánhân, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và sự mong đợi của xã hội Giáo dục đạo đứcchính là làm cho người được giáo dục nhận thức được kiến thức văn hóa ứng xử, kỹnăng ứng xử, hành vi ứng xử… Nhận thức được các phẩm chất nhân cách thể hiệntính nhân văn như: lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm, giàu lòng nhân ái, vị tha, biếtquan tâm chia sẻ và giúp đỡ mọi người… là những giá trị đạo đức cao quý trong cácmối quan hệ của con người, có thái độ trân trọng, yêu quý, cố gắng lĩnh hội và thựchiện được các giá trị chân chính, đồng thời không tán thành, không chấp nhận những

gì đi ngược lại hay phản lại các giá trị đạo đức, dám đấu tranh để bảo vệ những giátrị chân chính, đích thực của xã hội và có hành động thực tiễn thể hiện ở việc họctập, nghiên cứu, chiếm lĩnh những tri thức về đạo đức, thể hiện ở sự quan tâm chia

sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, có ý thức, tình cảm, trách nhiệm với bản thân,gia đình và cộng đồng xã hội, đồng thời lên án thái độ, hành vi đi ngược lại vớinhững chuẩn mực đạo đức của dân tộc Công tác giáo dục đạo đức cần được thựchiện theo quy trình đi từ nhận thức, thái độ, hành vi

1.3 Khái niệm về quản lý giáo dục.

Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằmđẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội:

Là hoạt động dạy học có tổ chức, thực hiện được các yêu cầu của nhà trườngphổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng

và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân đân, của đất nước

Là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủthể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lýgiáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩaViệt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáodục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

Là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở cáccấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bìnhthường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và

mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng

1.4 Công tác quản lý nhà trường.

Quản lý nhà trường bao gồm hai loại: tác động của những chủ thể quản lý cấptrên, bên ngoài nhà trường và tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhàtrường

Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáodục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập.Giáo dục của nhà trường gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoàinhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại

Trang 5

diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhàtrường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó dochủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động quản lý giáo viên, quản

lý học sinh, quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý cơ sở vật chất, trang thiếtbị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý lớp học như nhiệm vụ của giáoviên, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng

1.5 Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức.

Nói đến tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu giáo dụcthường nhấn mạnh đến sự đặc sắc trong quan điểm của Người về vấn đề nhân cách,việc học tập, học hành để rèn luyện phát triển nhân cách cho học sinh

Người đã đưa ra hai phạm trù “Thiện – Ác” để từ đó kiến giải vấn đề nhâncách Người viết: “Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc song những công việc

ấy có thể chia làm hai thứ, việc chính và việc tà”

Làm việc Chính, là người Thiện;

Làm việc Tà, là người Ác ;

Cái thiện, cái ác ở mỗi con người không phải là bẩm sinh mà là kết quả của sựgiáo dục Giáo dục tốt đem lại điều thiện, giáo dục không tốt đem đến điều ác làmcho con người bị tha hóa Người xác định: Mỗi con người đều có thiện và ác ở tronglòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân

và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng… Lấy gương ngườitốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xâydựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sốngmới Hồ Chí Minh khẳng định con đường học vấn là lý tưởng cao đẹp ở mỗi conngười để phát triển nhân cách, con đường đó là rộng lớn, muốn đạt được học vấnđích thực thì phải có đạo đức trong sáng, có sự chính tâm, sự thành ý biết đem kếtquả học tập của mình phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân Người đã xác định chothanh niên, học sinh việc rèn luyện nhân cách theo các mục tiêu:

Yêu Tổ quốc: cái gì trái với quyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyếtchống lại;

Yêu nhân dân: việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân dân,chúng ta kiên quyết chống lại;

Yêu lao động: ai khinh rẻ lao động, chúng ta kiên quyết chống lại;

Yêu đạo đức: chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phát, hăng hái,cần kiệm; xóa bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động;

Người khuyên: “Khi ở nhà, phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về côngviệc Ở trường phải đoàn kết, giúp đỡ anh chị em, thi đua học tập Phải đoàn kếtgiữa thầy và trò, làm cho trường mình luôn luôn tiến bộ Ở xã hội, các cháu có thểgiúp được nhiều việc có ích”

1.6 Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh.

Từ xưa đến nay nhiều nhà giáo dục, nhiều triết gia, nhiều học giả quan tâm vàkhẳng định vị trí, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức: “Đạo đức như gốc của cây,ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức mạnh mới gánh được nặng

và đi được xa” (Hồ Chí Minh) Đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện củacon người Chính vì vậy, giáo dục đạo đức cho mọi người là việc làm có tầm quan

Trang 6

trọng đặc biệt và rất cần thiết, vì đạo đức không tự có, nó chỉ hình thành qua conđường giáo dục và tự giáo dục Nhờ giáo dục đạo đức, con người trau dồi đượcnhững phẩm chất tốt và không ngừng hoàn thiện bản thân mình Thực tế đạo đức đãchứng minh người được rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt, có thể có hoặccũng có thể không hình thành nhân tài, nhưng nhất định sẽ có ích trong cuộc sống.Người có tài nhưng thiếu đức, chẳng những khó thành công trong cuộc sống mà cókhi trở thành kẻ phá hoại Bác Hồ chúng ta từng dạy “Có tài mà không có đức làngười vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Như vậy, giáodục đạo đức cho học sinh nói chung và cho học sinh tiểu học nói riêng là cung cấpbồi dưỡng cho trẻ có cơ sở đạo đức, đó là hình thành con người luôn tôn trọng ngườikhác, con người luôn phấn đấu bảo vệ, xây dựng một nền văn hóa giàu tính conngười, một xã hội và một đất nước giàu mạnh, hạnh phúc và bình đẳng.

2 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ:

2.1 Khái quát tình hình nhà trường:

Để đáp ứng yêu cầu phát triển của cấp học, trường TH Nguyễn Văn Cừ đượctách từ Trường PTCS Nguyễn Văn Cừ ( thành lập năm 1985) theo QĐ số 414/QĐ-UBND ngày 20 tháng 6 năm 2004 của UBND huyện ĐôngTriều

Từ ngày thành lập năm 2004 đến nay, trường TH Nguyễn Văn Cừ luôn vươnlên mạnh mẽ và tự khẳng định mình Tháng 8/2006 trường được UBND tỉnh QuảngNinh công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I Hàng năm, trường đều cógiáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi các cấp Vớiđội ngũ gồm 26 cán bộ, giáo viên, nhân viên, trong đó: trình độ đạt chuẩn 100%,trên chuẩn 25/26 đ/c đạt 96,2%, đảng viên 13 đ/c tỉ lệ 50,0%, đoàn viên 11 đ/c đạt tỉ

lệ 42,3%, nhà trường luôn giữ vững danh hiệu tập thể lao động tiên tiến, lao độngxuất sắc trong nhiều năm Hiện nay, trường có tổng số lớp là 14 với 502 học sinh,trong đó có 9 lớp bán trú và 5 lớp học 10 buổi/tuần

Nhiều năm qua, chất lượng giáo dục học sinh luôn đảm bảo, số học sinh đạt giảitrong các cuộc thi, giao lưu các cấp về các môn văn hóa, thể dục, thể thao, văn nghệngày càng tăng nhiều hơn

Diện tích trường là 13644 m2; khuôn viên trường thoáng đãng, có hệ thốngsân chơi bãi tập 1200m2; vườn cây xanh với diện tích 2000m2, cả trường có 14phòng học và các phòng chức năng phục vụ cho nhu cầu giảng dạy & học tập củathầy và trò Trường có 15 máy tính để bàn và 5 máy tính xách tay, 9 máy in, 01 máyphoto; 08 máy chiếu, lắp đủ phông chiếu ở 14 phòng học, 02 bảng tương tác, 01phòng học thông minh và 18 máy tính bảng, một phòng tin học gồm 10 máy phục

vụ cho công tác giảng dạy và học tập

Nhà trường xác định đúng chủ đề năm học 2016- 2017 “ Tăng cường kỷ luật, kỷcương hành chính, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh; xây dựng nông thôn kiểumẫu, đô thị văn minh" với khẩu hiệu hành động " Văn hóa - Kỷ cương - Nêu gương

- Trách nhiệm" và nhiệm vụ “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấmgương đạo , phong cách Hồ Chí Minh; quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáodục, tăng cường trật tự, kỷ cương, nền nếp trong trường học Tổ chức dạy học vàđánh giá kết quả học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng; tăng cường giáo dục đạođức, pháp luật cho học sinh; tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ sử dụng có hiệu quả lớp học

Trang 7

thông minh đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học; đổi mới mạnh mẽ công tác quản lí,xây dựng đội ngũ giáo viên vững vàng trong chuyên môn, khuyến khích sự sáng tạocủa giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thôngtin trong dạy học và quản lí Trường phấn đấu giữ vững danh hiệu trường đạt chuẩnQuốc gia mức độ I và tích cực hoàn thiện các tiêu chí trường TH đạt chuẩn Quốc giamức độ II vào năm học 2017- 2018.

2.2.Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường:

2.2.1.Thực trạng về nhận thức giáo dục đạo đức học sinh của cán bộ quản

lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh ở trường:

Ngay từ đầu năm học 2016- 2017, tôi đã tiến hành khảo sát, kết quả đạt:

Thái độ với các hành vi đạo đức

SL TL(%)

SL T(%)

SL TL(%)

SL TL(%)

SL TL(%)Khối

1

50 45 90,0 5 10,0 43 86,

0

7 14,0

40 80,0

42 84,0

23 9,2 22

1

88, 4

Giáo dục đạo đức đểhình thành đức tínhtốt đẹp cho học sinh

Trang 8

2.2.2.1.Ý thức thực hiện nội quy của học sinh:

Qua tìm hiểu CBQL, đội ngũ giáo viên, nhân viên và học sinh, tôi thấy ýthức thực hiện nội quy trường, lớp của một số học sinh chưa tốt như: học sinh chưa

có ý thức tổ chức kỷ luật (nghỉ học không xin phép), chưa chăm chỉ trong học tập,lao động; Học bài, làm bài không đầy đủ, còn nhìn bài của bạn khi làm bài kiểm tra;

Ăn mặc quần áo còn lôi thôi, chưa hợp vệ sinh; thực hiện chưa nghiêm túc nội quy,quy định của trường: đi học muộn giờ, đội viên chưa đeo khăn quàng, vẽ bậy bạ lêntường, trong lớp đôi khi chưa chú ý nghe giảng, còn nói chuyện riêng; thực hiệnchưa tốt 5 điều Bác Hồ dạy và 5 nhiệm vụ của người học sinh, đi chưa xin phép vềnhà chưa chào hỏi, thích đi đâu thì đi; một số em chưa lễ phép với thầy cô giáo, vớicha mẹ, người lớn; một số học sinh chưa biết giữ gìn tài sản của lớp, trường, củabạn, của bản thân; hay gây gổ chêu chọc bạn bè trong lớp, trong trường, ăn quà vặt Một bộ phận không nhỏ các em hay nói trống không, có lối sống chỉ biết hưởng thụđòi hỏi cha mẹ phải đáp ứng những nhu cầu của bản thân mà chưa biết quan tâmgiúp đỡ người khác

2.2.2.2 Nguyên nhân vi phạm nội quy của học sinh

Nguyên nhân dẫn tới việc học sinh vi phạm đạo đức là do:

Thiếu sự quan tâm của gia đình (90,0%);

Bản thân HS không có sự rèn luyện tốt (78,0% );

Tác động tiêu cực của bạn bè (60,0%);

Sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ: điện thoại, internet, games…

Ngoài xã hội xuất hiện nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gia tăng và tràn lan khắpmọi nơi đó là sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương tiện nhưphim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến tư tưởng, ước mơ và thờigian học tập của một số học sinh (50,0%)…

Các bài giảng của giáo viên chưa hấp dẫn để nhiều học sinh nói chuyện riêngtrong giờ học (80,0%)

Đây là vấn đề cần quan tâm của CBQL về các các biện pháp giáo dục đạo đứchọc sinh của nhà trường

2.2.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng

Qua khảo sát CBQL, các thầy cô trong trường, tôi thấy các yếu tố tác độngđến rèn luyện đạo đức học sinh ở mức độ rất quan trọng (RQT), quan trọng (QT) vàkhông quan trọng (KQT) như:

Sự động viên khích lệ của bạn bè (86,9 % - 13,1% - 0%);

Khen thưởng, kỷ luật kịp thời (100% - 0% - 0%);

Nội dung giáo dục phù hợp (100 % - 0% - 0%);

Sự quan tâm thường xuyên của các thầy cô giáo (86,9 % - 13,1% - 0%);

Không bị định kiến của xã hội (95,5 % - 4,5% - 0%);

Trang 9

Được gia đình thông hiểu, tạo điều kiện (82,6 % - 17,4% - 0%);

Được tự do trong mọi hoạt động (69,6% - 21,2% - 9,20%)

Các nhà quản lý cần xem xét cụ thể các yếu tố tác động ở trên để đưa ra các nộidung, hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức cho phù hợp

Về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức:Thiếu sự phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội ở địa phương; sự phối hợp giữanhà trường và gia đình; Tác động tiêu cực của môi trường xã hội; Phẩm chất, lốisống của thầy, cô, cha mẹ, bạn bè chưa là tấm gương cho học sinh…

2.2.3.Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh.

2.2.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức:

Qua khảo sát lấy ý kiến của 22 CBQL và GV nhà trường cho thấy: 90,9% chorằng đã làm tốt việc xác định mục tiêu giáo dục đạo đức, chỉ có 9,1% cho rằng việcxác định mục tiêu giáo dục đạo đức chưa tốt; 95,5% cho rằng việc xây dựng kếhoạch cụ thể của năm học và từng học kỳ được làm tốt, chỉ có 4,5% cho là làm chưatốt

2.2.3.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

Khảo sát 22 CBQL và giáo viên thấy: Tất cả các nội dung công việc của côngtác giáo dục đạo đức đều được tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhưng chỉ ở mức khá.Việc tuyên truyền công tác giáo dục đạo đức đối với phụ huynh đã được nhà trườngthực hiện nhưng chủ yếu là từ Ban Giám hiệu (95,5%) và giáo viên chủ nhiệm lớp(90,9%) qua các cuộc họp phụ huynh đầu năm, hết học kỳ và cuối năm chứ khôngphải từ học sinh hay các phương tiện thông tin đại chúng Do đó những thông tin vềgiáo dục đạo đức của nhà trường chỉ mang tính thời vụ, không thường xuyên và liêntục nên hiệu quả không được cao

- Quản lý nội dung, hình thức hoạt động giáo dục đạo đức:

Kết quả khảo sát cho thấy: 86,4% GV và 90,0% HS đánh giá hình thức: Giáodục thông qua các giờ dạy văn hoá trên lớp có mức độ thường xuyên còn lại cáchình thức khác mức độ thường xuyên rất thấp, thực hiện chưa nhiều

Như vậy nhà trường đã thực sự quan tâm đến việc thực hiện các nội dung,hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh song đôi khi chưa thường xuyên Học sinhthích và rất thích các nội dung và hình thức giáo dục đạo đức của nhà trường như:các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí (90,0%) Tuynhiên có những hình thức giáo dục có số ý kiến học sinh không thích tham gia ởmức cao như: Giáo dục thông qua lao động, vệ sinh (90,0%); Giáo dục thông quahoạt động chính trị xã hội nhân đạo (50,0%); Giáo dục thông qua các buổi tuyêntruyền, giáo dục chính trị, tư tưởng (90,0%) Do đó các nhà quản lý cần hết sức lưu

ý để đưa ra những hình thức giáo dục phù hợp, tuyên truyên, khuyến khích, độngviên các em để học sinh hào hứng khi tham gia đạt kết quả giáo dục cao

- Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức:

Qua khảo sát 22 CBQL và 50 HS, chúng tôi thấy giáo viên nhà trường chưathường xuyên sử dụng các phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh như: Kíchthích tình cảm và hành vi thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt, phê phánhành vi xấu, kỷ luật,… (GV là 21,7%, HS là 18,0%); Tác động vào nhận thức tìnhcảm: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn (GV là 13,1%, HS

là 20,0%); và phương pháp về Tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện,

Trang 10

tập thói quen…(GV là 13,0%, HS là 16,0%) Như vậy việc quản lý thực hiện cácphương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên nhà trường thực hiệntương đối tốt.

2.2.3.3 Kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức

Qua khảo sát giáo viên, tôi thấy: 86,9% cho rằng việc xây dựng được chuẩnkiểm tra đánh giá là tốt; 91,3% cho rằng nội dung, đối tượng, thời gian kiểm trađánh giá cụ thể là tốt và thông báo công khai và xử lý kết quả kiểm tra đánh giá có65,2% cho là tốt

2.2.4 Thực trạng sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường

2.2.4.1 Thực trạng vai trò của các lực lượng giáo dục đạo đức

Qua khảo sát 22 CBQL và GV cho thấy: Ý kiến cho vai trò rất quan trọng củalực lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường đó là giáo viên chủ nhiệm(100%), cán

bộ quản lý (95,5%), giáo viên bộ môn và Đoàn thanh niên là (90,9%), bạn bè thân(95,5%) và tập thể lớp (90,9%) Như vậy có thể thấy là vai trò của các thầy cô giáo,CBQL và bạn bè, tập thể học sinh là những lực lượng rất quan trọng trong giáo dụcđạo đức học sinh

2.2.4.2 Thực trạng sự phối hợp của các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức HS

Qua khảo sát 22 CBQL và GV, tôi thấy: GVCN thường xuyên phối hợp vớitập thể lớp (90,9%), CBQL với GVCN (82,6%), GVCN với GVBM, với TPTĐộiTNTPHCM (82,6%) Còn lại hầu hết đều ở mức độ thỉnh thoảng phối hợp Như vậy

có thể thấy nhà trường đã có cơ chế phối hợp giáo dục giữa các lực lượng để giáodục đạo đức cho học sinh nhưng ở một số lực lượng chưa cao

2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh:

2.3.1 Thuận lợi trong quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường:

Gia đình các em học sinh hầu hết là gia đình lao động nghèo chưa chịu nhiềuảnh hưởng của cơ chế thị trường nên học sinh ít bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội; cócác văn bản của các cấp hướng dẫn cụ thể về đánh giá, xếp loại học sinh, hướng dẫnthực hiện nhiệm vụ năm học; CBQL nhà trường luôn quan tâm đầu tư CSVC, cácthiết bị phục vụ cho việc dạy và học của nhà trường, tập thể hội đồng sư phạm nhàtrường đoàn kết, đồng tâm, hợp lực trong công tác giáo dục đạo đức học sinh; cán

bộ UBND phường Mạo Khê và xã Yên Thọ trong vùng tuyển sinh của trường vàphụ huynh học sinh đều ủng hộ và giúp sức nhà trường trong các hoạt động quản lýgiáo dục đạo đức học sinh

Đa số các em học sinh chăm ngoan học giỏi, biết vâng lời thầy cô ông bà, cha

mẹ và những người lớn tuổi

Ở trường, các em thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy và năm nhiệm vụ của ngườihọc sinh Đa số các em thực hiện tốt các chuẩn mực hành vi đạo đức như: biết cảm

ơn, xin lỗi, đi xin phép về chào hỏi, Giúp đỡ bạn cùng tiến bộ

Biết tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng và chăm sóc, bảo vệ cây xanh,biết phụ giúp cha mẹ những công việc phù hợp với lứa tuổi

Trang 11

Quan tâm giúp đỡ những người khác thể hiện tấm lòng tương thân, tương ái.Ủng hộ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn, chăm sóc để tỏ lòng biết ơnđối với những người có công, các gia đình chính sách, neo đơn, các gia đình

thương binh, liệt sĩ

Đa số học sinh đi học chuyên cần, không ngừng học tập, vượt qua mọi trở

ngại khó khăn trong cuộc sống vươn lên học tốt, đạt nhiều thành tích xuất sắc như:học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp Tỉnh, cấp thị xã, cấp quốc gia,

Hầu hết các em đã biết kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dântộc, biết áp dụng những điều đã học vào thực tế của cuộc sống - thể hiện trong việcứng xử giao tiếp hàng ngày

2.3.2 Khó khăn trong quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường:

Trình độ dân trí của một số gia đình học sinh chưa cao, nhận thức còn nhiềuhạn chế nên nhiều phụ huynh chưa có phương pháp, hình thức giáo dục con; cơ chếthị trường thâm nhập, làm ảnh hưởng đến suy nghĩ, tạo nên những hành vi vi phạmcủa học sinh; Hầu hết giáo viên tập trung vào giáo dục văn hoá để đạt các chỉ tiêuthi đua hàng năm; một số giáo viên chưa thực sự nhận thức và thấy được vài trò củagiáo dục đạo đức cho học sinh

2.3.3 Đánh giá chung thực trạng:

Nhìn chung, công tác quản lý giáo dục đạo đức của trường có những thànhtích đáng khích lệ đặc biệt là ở năm học 2015- 2016, kết quả rèn luyện đạo đức củamột học sinh ngày càng tiến bộ hơn song vẫn còn những tồn tại như: Việc xâydựng kế hoạch giáo dục đạo đức chưa cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình; nộidung các hoạt động giáo dục đạo đức thực hiện ở mức độ chung chung; một sốphương pháp giáo dục đạo đức chưa phù hợp, học sinh chưa thấy được tác dụnghiệu quả của các phương pháp trong việc rèn luyện bản thân; vai trò các lực lượnggiáo dục đã có sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất song đôi khi chưa đồng bộ; việckiểm tra đánh giá đôi lúc còn chiếu lệ, qua loa, chưa động viên, khuyến khích, răn

đe học sinh kịp thời; GVCN xây dựng được kế hoạch cụ thể hàng tuần song đôi khichưa phù hợp với đặc thù riêng của lớp, quan tâm và đầu tư công sức vào công tácchủ nhiệm chưa nhiều; ý thức thực hiện nội quy, quy định của học sinh chưa cao,nhiều em thường xuyên vi phạm Như vậy có thể đánh giá chung việc quản lý giáo dục đạo đức của trường TH Nguyễn Văn Cừ những năm qua ở mức tương đối tốtnhưng năm học 2015- 2016 đạt kết quả cao hơn

2.3.4 Nguyên nhân:

Phụ huynh, giáo viên, học sinh coi việc giáo dục ở các trường là kết quả họctập văn hoá nhiều hơn là chất lượng về đạo đức; do ảnh hưởng của gia đình và môitrường xã hội; phần lớn GVCN là giáo viên trẻ nên kinh nghiệm trong thực hiệnbiện pháp giáo dục của một số giáo viên chưa tốt; giáo viên quan tâm việc dạy kiếnthức toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh, ít quan tâm và đầu tư công sức vào công tác chủnhiệm

Việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức chưa cụ thể; công tác giáo dụcđạo đức chưa được tuyên truyền rộng rãi trong tập thể giáo viên; sự phối hợp của

Trang 12

GVCN với phụ huynh và các lực lượng giáo dục trong trường chưa tốt; hoạt động của Đoàn TN trong giáo dục đạo đức chưa thật sự toàn diện và hiệu quả; thực hiện xã hội hoá giáo dục đạo đức nhà trường làm chưa tốt; việc khen thưởng cònnhiều hạn chế về kinh phí…

Do gia đình học sinh: Một số cha mẹ mải chạy theo cơn lốc xoáy của kinh tế

thị trường, bị cuốn theo tiền tài, danh vọng mà quên đi trách nhiệm giáo dục con cái

và chính sự thiếu quan tâm giáo dục của gia đình làm cho chúng trở thành nhữngđứa con bất hiếu, đạo đức bị giảm sút Nghị quyết lần thứ 2 BCH TW Đảng khóaVIII đã nhận định: “Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên…

mờ nhạt về lý tưởng theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão

lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”

Một số phụ huynh cho rằng giáo dục đạo đức là do nhà trường dạy dỗ (họkhoán trắng cho nhà trường) với quan niệm “Trăm sự nhờ thầy”, không bao giờ họquan tâm đến việc học hành của con cái mình Khi được hỏi cũng không biết conmình học lớp mấy, học cô thầy nào, hàng ngày đi học lúc nào, ở đâu và bao giờvề,

Một số gia đình do cha mẹ mắc vào rượu chè, cờ bạc, gia đình mâu thuẫnthường xuyên cãi nhau nên các em chán nản sinh hư, đua đòi, chán nản

Một số em không may bố hoặc mẹ mất hoặc bố mẹ đi làm ở xa, học sinh ởvới một người còn lại hoặc phải ở với gia đình ông bà, cô dì, chú bác nên sự quantâm dạy bảo cũng phần nào bị hạn chế

Do học sinh: Các em đua đòi, mải chơi, chưa chăm chỉ học tập, rèn luyện,

thường xuyên vi phạm đạo đức, hình thành lối sống không tốt

Các em ham hiểu biết, thích bắt chước, hiếu động, chưa tập trung lâu, chỉ chútrọng vào cái gì đó nhất thời

Một số em không thường xuyên được cha mẹ nhắc nhở thúc giục, chưa cónhững biện pháp giáo dục thích hợp còn hay chửi bới, đánh đập, bắt phạt bằng nhiềuhình thức phản giáo dục

Do tác động đến nền kinh tế thị trường, việc các hiện tượng tiêu cực vẫn cònxảy ra nơi các em đang sống đã làm ảnh hưởng đến suy nghĩ và tư duy hiểu biết cònhạn chế của các em, các em chưa tự đánh giá được kết qủa rèn luyện đạo đức củabản thân

Một số em do bạn bè rủ rê nên mải chơi, lười học, tiếp thu bài chậm, khôngchuẩn bị bài trước khi đến lớp

Do giáo viên: Với những thực trạng và những nguyên nhân vừa nêu từ phía

phụ huynh và học sinh Song cũng cần nhìn nhận những nguyên nhân từ phía nhàtrường, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường, các cấp chính quyền địa phương,như:

Một số GV chưa chú trọng việc giáo dục đạo đức học sinh thông qua các mônhọc, chưa có biện pháp động viên, giúp đỡ các đối tượng học sinh còn hạn chế nhiềumặt hoặc từng mặt, việc hình thành cho các em thói quen và hành vi đạo đức chưađược làm thường xuyên liên tục, đôi khi còn ở mức độ hời hợt thiếu sự kiểm tra.Việc thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng: Nhà trường gắn liền với gia đình và xãhội chưa vạch ra chương trình và kế hoạch cụ thể

Trang 13

Một bộ phận giáo viên chưa xác định rõ mục tiêu, vị trí và vai trò của giáo dụcđạo đức trong nhà trường, chưa thực sự quan tâm giáo dục học sinh một cáchthường xuyên, thiếu nhiệt tình, chưa đi sâu đi sát tìm hiểu hoàn cảnh cũng nhưnhững tâm tư tình cảm của các em Còn coi môn học đạo đức là môn phụ nên chưađầu tư đúng mức cho bài dạy, còn dạy qua loa đại khái, mang tính đối phó, chẳnghạn: Bài dạy quy định dạy trong 2 tiết và mỗi tiết dạy trong 35 - 40 phút thế nhưngchỉ dạy khoảng 15 - 20 phút Thậm chí tiết thứ hai của bài không dạy mà giáo viên

giành thời gian để ôn toán, Tiếng Việt hay luyện viết chữ cho học sinh Giáo viên

giảng dạy thì xem nhẹ môn “Đạo đức”, sử dụng phương pháp giảng dạy còn nhồikiến thức, ít thực tế, theo kiểu quan liêu, giáo điều Nội dung giáo dục nào cũng cónhưng lại chưa quan tâm đầy đủ đến phương thức giáo dục, hình thức giáo dục phùhợp Trong giáo dục đạo đức cho học sinh, các em phải được tôn trọng thực sự, phảitừ bỏ cách giáo dục áp đặt, nhồi nhét, khô cứng

Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa ba môi trường: Nhà trường – Gia đình –

Xã hội

Một số cô giáo chưa thực sự tạo được uy tín, niềm tin nơi học sinh; chưathường xuyên quan tâm, thăm hỏi và giúp đỡ học sinh đúng mức, chưa thực sự làtấm gương sáng cho học sinh noi theo

Các cấp quản lý giáo dục và chính quyền địa phương có lúc, có nơi chưa quantâm chỉ đạo sâu sát kịp thời, các đoàn thể chưa có nhiều phong trào, sân chơi lànhmạnh, thực sự mang ý nghĩa giáo dục cao cho học sinh

Hình ảnh người thầy ít nhiều bị lu mờ trong nền kinh tế thị trường đầy biếnđộng hết sức phức tạp, nhiều giáo viên xem nhẹ lòng yêu nghề, chưa chú trọng đếnviệc nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo, tấm gương hết lòng vì học sinh thân yêu.Chúng ta chú trọng phòng chống tội phạm nhưng công tác phòng ngừa còn yếu, nhất

là phổ biến pháp luật, về việc nhân các điển hình tốt để lấn át cái xấu Trong trườnghọc chúng ta còn nặng nề dạy chữ, nhẹ về dạy người, nhiều giáo viên lên lớp chỉ lotruyền giảng kiến thức chuyên môn, không có thì giờ để uốn nắn, chỉnh sửa nhữngsai trái của học sinh Chương trình giáo dục đạo đức còn ôm đồm nặng nề, xem nhẹ

kỹ năng sống – kỹ năng ứng xử hàng ngày cho học sinh

3 Biện pháp:

3.1 Các biện pháp đã áp dụng để giáo dục đạo đức học sinh:

Qua khảo sát thực trạng, tìm hiểu những mặt thuận lợi, khó khăn khi thựchiện công tác giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường, là một Phó Hiệu trưởngphụ trách công tác chuyên môn, công tác hoạt động ngoài giờ lên lớp, tôi đã nghiêncứu, đề xuất thực nghiệm một số biện pháp như sau:

3.1.1 Tăng cường quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối giáo dục đạo đức của Đảng, Nhà nước.

3.1.1.1 Mục tiêu của biện pháp:

Giúp cho CBQL, giáo viên, phụ huynh, học sinh hiểu rõ quan điểm của Đảng,Nhà nước, ngành giáo dục về giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm đào tạo conngười mới xã hội chủ nghĩa như mục tiêu giáo dục trong Luật giáo dục đã đề ra

3.1.1.2 Nội dung và cách thức thực hiện:

Trang 14

Tuyên truyền, quán triệt các loại văn kiện của Đảng, Nhà nước, ngành giáodục về giáo dục đạo đức cho học sinh.

CBQL nhà trường căn cứ vào tình hình đặc điểm của nhà trường xây

dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể và trực tiếp truyền đạt các văn bản của Đảng, của Nhà nước, của ngành tới CBQL, GV, HS và phụ huynh đồng thời yêu cầu

GV, HS viết đăng ký vào đầu năm và viết thu hoạch vào cuối năm Hiệutrưởng, Phó Hiệu trưởng trực tiếp kiểm tra, nắm tình hình triển khai thực hiện kếhoạch của các bộ phận để đánh giá, rút kinh nghiệm trong toàn trường Các tổtrưởng, Ban chấp hành Công đoàn, Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản HồChí Minh, GVCN căn cứ vào kế hoạch của nhà trường xây kế hoạch thực hiệnnhiệm vụ của đơn vị, tổ chức mình phụ trách

3.1.1.3 Điều kiện thực hiện giải pháp:

Cán bộ quản lý luôn cập nhật, tìm hiểu nội dung các văn bản của Đảng, củaNhà nước, của ngành về công tác giáo dục đạo đức học sinh và triển khai, thực hiệnkịp thời

CBQL, GV tích cực học tập, vận dụng các văn bản vào công tác giảng dạy

3.1.2 Nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của các thành viên, tổ chức của nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức.

3.1.2.1 Mục tiêu của biện pháp:

Giúp các thành viên nhà trường nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mìnhtrong công tác phối kết hợp các lực lượng giáo dục, rèn đạo đức học sinh

Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh được tiến hành một cách đồng bộ,

chặt chẽ và có hiệu quả

Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh; chủđộng dành nhân lực, tài lực, vật lực cho từng hoạt động để đạt hiệu quả cao

3.1.2.2 Nội dung và cách thức thực hiện:

Tuyên truyền giúp CBQL, GV, nhân viên, phụ huynh, HS nhận thức rõ về vaitrò, trách nhiệm và nhiệm vụ của từng cá nhân, tập thể trong công tác giáo dục vàrèn luyện đạo đức cho học sinh

CBQL nhà trường xây dựng kế hoạch tuyên truyền chi tiết báo cáo chi bộĐảng, chính quyền địa phương, phân công, giao trách nhiệm cụ thể tới CBQL,GVCN, GV bộ môn, Đoàn thanh niên, học sinh và phối hợp với phụ huynh để thựchiện

Xác định mục tiêu, nâng cao kỹ năng xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện vàkiểm tra đánh giá

Phân tích tình hình của trường, ngành, địa phương, những thuận lợi, khókhăn, mặt mạnh, hạn chế, tài chính, nhân lực…; xác định rõ mục tiêu giáo dục chotừng giai đoạn cụ thể; dự thảo kế hoạch giáo dục cho từng tháng, học kỳ, năm để hộiđồng sư phạm, cha mẹ học sinh góp ý

3.1.2.3.Điều kiện thực hiện biện pháp.

Tất cả các thành viên trong hội đồng giáo dục cần nghiên cứu, tham khảo,trao đổi, phân tích những kinh nghiệm, những bài học trong thực tế hay qua cáckênh thông tin để cùng đưa ra kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh

3.1.3.Chỉ đạo thống nhất mục tiêu, kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh.

Ngày đăng: 26/04/2017, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w