Từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích tài chính thực sự được phát triển và ngày càng được chú trọng bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của h
Trang 1BÀI 4 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Hướng dẫn học
Phân tích tài chính được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối thế kỷ XIX Từ đầu thế kỷ
XX đến nay, phân tích tài chính thực sự được phát triển và ngày càng được chú trọng bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin Nghiên cứu phân tích tài chính là khâu quan trọng trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp Vậy phân tích tài chính là gì? Chủ thể nào cần phân tích tài chính? Nội dung phân tích và phương pháp phân tích như thế nào? Đó là những nộidung cơ bản được đề cập trong bài này
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Chương 3, sách “Tài chính doanh nghiệp”, PGS.TS Lưu Thị Hương và PGS.TS Vũ Duy Hào đồng chủ biên, Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, 2013
2 Chương 4, sách “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, TS Bùi Văn Vần và TS
Vũ Văn Ninh đồng chủ biên, Nxb Tài chính, 2013
3 Chương 13, sách “Quản trị Tài chính doanh nghiệp”, Nguyễn Hải Sản, Nxb Thống
kê, 2010
4 Các báo cáo phân tích tài chính có thể thu thập được
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Nội dung bài này chủ yếu đề cập tới những kiến thức cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp Nội dung này cấp cho những người quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp có hướng tiếp cận và sử dụng phương pháp để đánh giá trạng thái tài chính của doanh nghiệp
Mục tiêu
Mô tả được mục tiêu của những đối tượng quan tâm khác nhau khi phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trình bày được quy trình phân tích tài chính và các nguồn thông tin cho phân tích
Trình bày được các phương pháp cơ bản sử dụng trong phân tích tài chính
Trình bày được các nội dung cơ bản của phân tích tài chính
Phân được tình hình tài chính cơ bản của một doanh nghiệp bất kỳ ngoài thực tế
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Thông tin về Báo cáo tài chính của Dược Hậu Giang
Công ty CP Dược Hậu Giang là công ty dược phẩm đứng đầu trong số các công ty trong nước cùng ngành tại Việt Nam, với mạng lưới khắp các tỉnh thành cả nước, và doanh số các mặt hàng chính chiếm 57% tổng doanh thu từ sản phẩm tự sản xuất trong nước Trong thời gian qua, công
ty Dược Hậu Giang (DHG) đang là công ty được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm Hàng năm, DHG phải công bố thông tin tài chính giúp các cơ quan quản lý, nhà đầu tư,… nắm được tình hình tài chính của công ty Mặc dù thông tin tài chính công bố là như nhau tới các đối tượng quan tâm, song họ lại ra các quyết định khác nhau, đặc biệt đối với các nhà đầu tư
Tại sao cùng một công ty với các thông tin tài chính công bố là như nhau nhưng các đối tượng khác nhau lại ra các quyết định khác nhau?
Trang 34.1 Khái niệm và ý nghĩa của phân tích tài chính
Phân tích tài chính là việc ứng dụng các công cụ và
kỹ thuật phân tích đối với các báo cáo tài chính tổng
hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đưa ra các dự
báo và các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt
động của doanh nghiệp Phân tích tài chính còn là
việc sử dụng các báo cáo tài chính để phân tích
năng lực và vị thế tài chính của một doanh nghiệp,
từ đó đánh giá và dự báo năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
Phân tích tài chính tạo ra giá trị “khổng lồ” cho các nhà đầu tư, cung cấp số liệu phân tích và đưa ra lời khuyên đầu tư cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư Phân tích tài chính làm giảm bớt các nhận định chủ quan, dự đoán và những trực giác trong kinh doanh, góp phần làm giảm bớt tính không chắc chắn cho các hoạt động kinh doanh Như vậy, mỗi đối tượng sẽ quan tâm tới một khía cạnh khác nhau về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Về cơ bản, tất cả những chủ thể mà lợi ích của họ trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến doanh nghiệp thì đều sẽ có nhu cầu tiến hành việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp đó Họ có thể là các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai, các đối tác kinh doanh, các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp…
Các nhà quản trị doanh nghiệp có thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp nên họ
có nhiều lợi thế để phân tích tài chính doanh nghiệp một cách đầy đủ nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp trên giác độ quản trị nhằm vào nhiều mục tiêu:
Tạo thành chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinh lời cũng như các rủi ro của doanh nghiệp
Làm cơ sở cho các dự báo tài chính như lập kế hoạch đầu tư, kế hoạch ngân quỹ…
Cung cấp thông tin cho các quyết định của giám đốc tài chính cũng như ban giám
đốc, đồng thời là công cụ kiểm soát các hoạt động quản lý
Mục tiêu chính của các nhà đầu tư là gia tăng giá trị tài sản, giá trị doanh nghiệp vì họ
đã bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp và có thể phải chịu nhiều rủi ro Các cổ đông và các nhà đầu đầu tư khi đầu tư vào doanh nghiệp quan tâm tới khả năng sinh lời, rủi ro, diễn
biến giá của cổ phiếu, do đó khi phân tích tài chính họ tập trung vào các nội dung này
Khi cho vay, các chủ nợ quan tâm đến khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên vay ngắn hạn và dài hạn có đặc điểm khác nhau, do đó khi phân tích tài chính cũng cần
Trang 4phải sử dụng các kỹ thuật khác nhau Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, tức là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các khoản nợ đến hạn Đối với các khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời mà việc hoàn trả vốn và lãi phụ thuộc vào khả năng sinh lời này Phân tích tài chính có một vai trò khá quan trọng trong việc cung cấp thông tin giúp cho việc ra các quyết định không chỉ các quyết định kinh doanh mà cả các quyết định quản lý Phân tích tài chính tuy không trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh nhưng nó có tầm ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong môi trường đầy biến động của kinh tế thị trường
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng được các đối tượng khác quan tâm bởi họ có sử dụng các thông tin của phân tích làm cơ sở cho các hoạt động của họ, đó là các cơ
quan thuế, công an, những người hưởng lương trong doanh nghiệp…
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả năng xảy ra rủi
ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động cũng như khả năng sinh lời của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự báo tài chính Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo
vị trí của nhà phân tích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp) Tuy nhiên, trình tự phân tích và dự báo tài chính đều phải tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứng với từng giai đoạn dự báo
4.3.1.1 Thông tin bên trong
Việc thu thập thông tin từ bên trong doanh nghiệp
được thực hiện chủ yếu dựa vào hệ thống báo cáo
tài chính của doanh nghiệp Đây là những báo cáo
quan trọng nhất cung cấp thông tin về quá trình hoạt
động của một doanh nghiệp và là một trong những
cơ sở quan trọng giúp thực hiện quá trình phân tích
tài chính Hệ thống báo cáo tài chính của doanh
nghiệp bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết
quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính
4.3.1.2 Thông tin bên ngoài
Thu thập thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp bao gồm nhiều nguồn khác nhau: thu thập từ nền kinh tế và từ ngành kinh doanh Căn cứ vào nguồn thông tin bên ngoài, doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát tình hình của nền kinh tế nói chung và tình hình của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nói riêng, phát hiện ra những cơ hội kinh
Trang 5doanh hay những hạn chế của nền kinh tế, từ đó cùng với những kết quả phân tích báo cáo tài chính để bổ sung và hoàn thiện cho quá trình dự báo và ra quyết định của các nhà đầu tư hay các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Trong những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập những thông tin chung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh
tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần…) và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp…)
Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau có các phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá và xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được, phục vụ cho quá trình dự báo và ra quyết định
Việc ra quyết định là mục đích chủ yếu của quá
trình phân tích báo cáo tài chính Dù cho đó là nhà
đầu tư cổ phần có tiềm năng, nhà cho vay tiềm
năng, hay một nhà phân tích chiến lược của một
công ty đang được phân tích thì mục tiêu cuối cùng
đều giống nhau – đó là cung cấp cơ sở cho việc ra
quyết định hợp lý Các quyết định đưa ra có thể là
nên mua hay bán cổ phần, nên cho vay hay từ chối hoặc nên lựa chọn giữa việc tiếp tục thực hiện quy trình trước đây hay là chuyển sang một quy trình mới, tất cả sẽ phụ thuộc phần lớn vào kết quả phân tích tài chính có chất lượng Các quyết định đang được xem xét sẽ là yếu tố quan trọng của phạm vi phân tích, nhưng mục tiêu ra quyết định là không thay đổi Chẳng hạn, cả những người mua bán cổ phần lẫn người cho vay đều phân tích các báo cáo tài chính và coi đó như là sự hỗ trợ cho việc ra quyết định, tuy nhiên phạm vi quan tâm trong những phân tích của họ sẽ khác nhau Người cho vay có thể sẽ quan tâm nhiều hơn tới khả năng thanh khoản, tức là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của các loại tài sản trong thời kỳ ngắn hạn Còn các nhà đầu
tư cổ phần tiềm năng có thể sẽ quan tâm hơn đến khả năng sinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính là phương pháp tỷ số Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây
Trang 6là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Bởi lẽ, thứ nhất: nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến
và được cung cấp đầy đủ hơn Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp; thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số; thứ ba, phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số, cần xác định được các ngưỡng, các tỷ số tham chiếu Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu Như vậy, phương pháp so sánh luôn được sử dụng kết hợp với các phương pháp phân tích tài chính khác Khi phân tích, nhà phân tích thường so sánh theo thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, theo không gian (so sánh với mức trung bình ngành) để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành
Phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích, đánh giá sự thay đổi của các khoản mục/chỉ tiêu thông qua việc sử dụng báo cáo tài chính của nhiều năm liên tiếp:
o Phân tích sự thay đổi qua thời gian 2 đến 3 năm cả về số tuyệt đối và số tương đối của các chỉ tiêu trong Báo cáo tài chính
o Phân tích xu hướng dài hạn, trên cơ sở so sánh số liệu của các năm sau so với năm gốc
Từ đó đưa ra nhận định về chiều hướng, tốc độ, khuynh hướng/xu hướng của các khoản mục/chỉ tiêu qua các năm so với năm gốc
Ưu điểm của phương pháp so sánh là đơn giản, dễ vận dụng, có thể rút ra được tính
xu thế của các chỉ tiêu; tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là không đánh giá được chất lượng của thông tin sử dụng để phân tích
Phương pháp so sánh được chia làm 2 phương
pháp: So sánh theo chuỗi thời điểm (time – series) và so sánh chéo (cross – sectional) thời gian (time – series) và so sánh theo thời điểm (cross – sectional)
Phương pháp so sánh theo thời gian là phương pháp sử dụng các chỉ tiêu của doanh nghiệp tính tại thời điểm phân tích so sánh với chính chỉ tiêu đó trong quá khứ theo năm hoặc theo tháng Việc lựa chọn các thời điểm để so sánh phụ thuộc vào mục đích phân tích báo cáo tài chính của các nhà phân tích
Ví dụ: Các nhà phân tích muốn biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp A
tại thời điểm cuối quý nào trong năm là tốt nhất, thì cần phải xem xét các tỷ số trong nhóm khả năng thanh toán tại thời điểm cuối mỗi quý trong 4 quý của năm Dựa vào kết quả tìm được, chúng ta có thể dễ dàng xác định được khả
Trang 7năng thanh toán của doanh nghiệp tại quý nào là tốt nhất Tương tự như vậy đối với trường hợp phân tích theo năm, khi muốn biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp năm 2010 so với các năm trước, chỉ cần lấy số liệu khả năng thanh toán năm 2008, 2009 và từ đó so sánh
Trong phương pháp này, người ta thường xuyên sử dụng kết quả các chỉ tiêu tỷ
số của doanh nghiệp đang xem xét để so sánh với chính chỉ tiêu đó của trung bình ngành hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh tại cùng một thời điểm
Sau khi so sánh tỷ số theo thời gian và trung bình ngành, các nhà phân tích thường kết hợp hai phương pháp trên để đưa ra kết luận về các tỷ số phân tích
Mô hình Dupont là kỹ thuật có thể được sử dụng để
phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp
bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống
Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của Báo cáo
kết quả kinh doanh với Bảng cân đối kế toán Với
phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết
được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt,
xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ
số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Ứng dụng mô hình Dupont
o Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROA
o So sánh với những hãng khác cùng ngành kinh doanh
o Phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian
o Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng
Các bước tiến hành trong phương pháp Dupont
o Thu nhập số liệu kinh doanh (từ bộ phận tài chính)
o Tính toán (sử dụng bảng tính)
o Đưa ra kết luận
o Nếu kết luận xem xét không chân thực, kiểm tra số liệu và tính toán lại
Ưu điểm của việc sử dụng phương pháp Dupont
o Tính toán đơn giản Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp những thông tin và đánh giá cơ bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
o Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên
o Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng Đôi khi điều cần làm
Trang 8trước tiên là nên nhìn vào thực trạng của doanh nghiệp, thay vì tìm cách thôn tính doanh nghiệp khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy
mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém
Hạn chế của phương pháp phân tích Dupont
o Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy
o Không bao gồm chi phí vốn
o Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào
Trong phần này sẽ tham khảo Báo cáo phân tích cổ phiếu DHG của Công ty Chứng khoán VPBank (VPBS) vào tháng 5/2014 nhằm có cái nhìn chung về hoạt động phân tích tài chính đối với công ty CP Dược Hậu Giang Báo cáo này có thể được tải về tại: http://images1.cafef.vn/Images/Uploaded/DuLieuDownload/PhanTichBaoCao/DHG_170514_VPBS.pdf
hoặc xem tại:
securities-201405
Trước hết, bằng cách nhìn vào bảng cân đối kế toán hoặc làm một số phép tính toán đơn giản, người phân tích tài chính có thể rút ra những phân tích khái quát về bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, bao gồm:
Phân tích kết cấu tài sản và kết cấu nguồn vốn: Tính tỷ lệ phần trăm từng loại tài sản và từng nguồn vốn trên tổng tài sản hay tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, so sánh các loại tài sản và thành phần nguồn vốn với nhau, so sánh qua các kỳ kinh doanh, hoặc so sánh với doanh nghiệp khác trong ngành
o Phân tích kết cấu tài sản: nhằm rút ra các đánh giá về: Đặc điểm kinh doanh, năng lực hoạt động, chiến lược đầu tư, tiềm năng phát triển… của doanh nghiệp
o Phân tích kết cấu nguồn vốn: nhằm rút ra các đánh giá về: Chiến lược tài trợ, mức độ tự chủ tài chính, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, khả năng trả nợ, khả năng huy động vốn trong tương lai… của doanh nghiệp
Phân tích Vốn lưu động ròng (Net working capital – NWC): NWC được xác định bằng cách lấy hiệu số giữa Tài sản ngắn hạn và Nợ ngắn hạn
Nhằm đánh giá 2 vấn đề quan trọng:
o Một là, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không?
o Hai là, tài sản cố định của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không?
Phân tích diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn
o Nhằm đánh giá khái quát tình hình sử dụng vốn trong 1 kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, và cách thức doanh nghiệp tài trợ vốn cho các hoạt động sử dụng vốn ấy
Trang 9Ví dụ: Trong Báo cáo phân tích cổ phiếu DHG của Công ty Chứng khoán VP Bank,
có đưa ra các phân tích khái quát về cơ cấu tài sản nguồn vốn như sau
Trang 104.5.2 Phân tích Báo cáo kết quả kinh doanh
Bản chất của việc phân tích Báo cáo kết quả kinh doanh là việc phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp
Mục tiêu của việc phân tích: Xác định mối liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liên tiếp và với số liệu trung bình ngành (nếu có) để đánh giá xu hướng thay đổi từng chỉ tiêu, cũng như đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác
Ví dụ: Trong Báo cáo của VPBS, doanh thu của công ty CP Dược Hậu Giang được
phân tích trên nhiều góc độ
Trang 11
Ngoài việc phân tích cơ cấu doanh thu, báo cáo cũng đưa ra so sánh giữa tăng trưởng doanh thu của DHG so với tăng trưởng doanh thu toàn ngành:
Chi phí của DHG cũng được phân tích về cơ cấu như sau:
Nguồn: VPBS và DHG
Đồng thời, một số thành phần chi phí được so sánh với số liệu của các đối thủ cạnh tranh trong ngành như sau:
Trang 12Nguồn: VPBS và DHG
Phân tích lợi nhuận của DHG bao gồm tính toán các chỉ tiêu lợi nhuận (ví dụ, biên lợi nhuận ròng được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận ròng (hay chính là lợi nhuận sau thuế) chi cho doanh thu), phân tích tăng trưởng lợi nhuận thông qua tính toán tốc độ tăng trưởng và so sánh qua các năm liên tiếp, so sánh các chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác cùng ngành (tham khảo kết hợp phần phân tích các
tỷ số về lợi nhuận ở mục sau)
Nguồn: VPBS và DHG
Yêu cầu: Đọc báo cáo gốc của VPBS (theo đường dẫn ở trên) để hiểu rõ nội dung
phân tích
4.5.3.1 Phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn (CR – Current Ratio)
Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn là chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán chung nhất của doanh nghiệp Tỷ số này được tính bằng công thức:
Tài sản ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn Các khoản nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả có thời gian đáo hạn ngắn, thường là dưới 01 năm Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết doanh nghiệp
có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Do đó, tỷ số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Trang 13Khi tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm và đây là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng Khi tỷ số này có giá trị cao, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao Tuy nhiên, khi tỷ số này có giá trị quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác là việc quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp chưa có hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hay có quá nhiều các khoản phải thu từ khách hàng… Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm
Khả năng thanh toán nhanh (QR – Quick Ratio)
Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp và được tính toán dựa trên các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán cần thiết Tỷ số này được tính toán theo công thức sau:
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn Các tài sản lưu động bao gồm tiền, các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao và các khoản phải thu Do các loại hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp bởi việc bán chúng có thể mất khá nhiều thời gian nên không được tính vào tỷ số này
Khả năng thanh toán tức thời
Để xem xét khả năng mà doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thanh toán một cách nhanh nhất, người ta sử dụng tỷ số khả năng thanh toán tức thời, được tính toán dựa vào công thức sau:
Tiền và tương đương tiền Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Tử số là tiền và các khoản tương đương tiền, là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong các loại tài sản Tỷ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền Vì đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất nên tỷ số này sẽ đo lường khả năng trả nợ ngay tức thời của doanh nghiệp Tỷ số này cao cho thấy doanh nghiệp có dòng tiền mặt ổn định
và đáp ứng được nhu cầu thanh toán tức thời, nhưng nếu tỷ số này quá cao chứng
tỏ doanh nghiệp đang dư thừa một lượng tiền mặt lớn mà không sử dụng để đầu tư sinh lời, như vậy cho thấy hiệu quả quản lý và sử dụng tiền mặt của doanh nghiệp chưa cao
Ví dụ: Các chỉ tiêu phản ảnh khả năng thanh toán (hay thanh khoản) của công ty
Dược Hậu Giang
Nguồn: VPBS và DHG