TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠMTÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠM Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thàng LỜI NÓI ĐẦU Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm là h
Trang 1TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠM
TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠM
Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thàng
LỜI NÓI ĐẦU
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm là hai chuyên ngành tâm lýhọc góp phần trực tiếp hình thành quan điểm sư phạm và bồi dưỡng trình độnghiệm vụ cho sinh viên các trường sư phạm
Tài liệu này được viết theo chương trình giáo dục cốt lõi chuyên nghiệp
đã được “Chương trình giáo dục đại học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiệmthu, nhằm tạo điều kiện cho các trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sưphạm thực hiện tốt quyết định 2677/GD-ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo ngày 3/12/1993
Nội dung tài liệu gồm 2 phần:
Phần tâm lý học lứa tuổi trình bày các hiện tượng và quy luật tâm lý
theo các lứa tuổi, qua đó nêu lên nguyên nhân, động lực của sự phát triểntâm lý cùng những đặc trưng tâm lý qua các giai đoạn phát triển
Phần tâm lý học sư phạm nghiên cứu các hiện tượng và quy luật tâm
lý dưới ảnh hưởng của tác động sư phạm, chủ yếu là dạy học và giáo dục
Để tài liệu được tiếp tục hoàn thiện trong những năm tới, chúng tôimong nhận được ý kiến đóng góp của cán bộ giảng dạy và sinh viên cáctrường
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả
Trang 2Phần 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI
"Các bạn hãy nghiên cứu những quy luật của các hiện tượng tâm lý mà cácbạn muốn điều khiển và các bạn hãy hành động căn cứ trên những quy luậtnày và những hoàn cảnh mà các bạn muốn vận dụng chúng vào đó"
K.D Usinxki
Chương 1: NHẬP MÔN TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ
PHẠM
I - KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
Từ khi tâm lý học phát triển mạnh mẽ với tư cách là một khoa học độclập thì đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi sự nghiên cứu tâm lý cótính chất chuyên biệt, khiến cho các ngành tâm lý học ứng dụng được phátsinh Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm là các chuyên ngành pháttriển sớm nhất của tâm lý học Đó là sự ứng dụng của tâm lý học vào lĩnh vực
sư phạm lứa tuổi
1 Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm cũng nghiên cứu tâm lýngười, nhưng không phải là con người đã trưởng thành mà là con người ởcác giai đoạn phát triển
a Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi là động lực phát triển
tâm lý theo lứa tuổi của con người, sự phát triển cá thể của các quá trình tâm
lý và các phẩm chất tâm lý trong nhân cách của con người đang được pháttriển (tâm lý học Đức gọi chuyên ngành này là tâm lý học phát triển): nó xemxét quá trình con người trở thành nhân cách như thế nào? Tâm lý học lứa tuổinghiên cứu đặc điểm của các quá trình và các phẩm chất tâm lý riêng lẻ của
cá nhân ở các lứa tuổi khác nhau và sự khác biệt của chúng ở mỗi cá nhântrong phạm vi cùng một lứa tuổi; nghiên cứu những khả năng lứa tuổi củaviệc lĩnh hội các tri thức, phương thức hành động
Trang 3Ví dụ, tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu đặc điểm của tri giác nhìn, tri giácnghe và sự tác động qua lại giữa chúng ở từng lứa tuổi ở các cá nhân trongcùng một lứa tuổi
Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu các dạng hoạt động khác nhau của các
cá nhân đang được phát triển Ví dụ: vui chơi, học tập lao động, hoạt động xãhội Mỗi một dạng hoạt động có vai trò, tác dụng khác nhau dối với sự pháttriển nhân cách ở từng lứa tuổi Mỗi một giai đoạn phát triển có một dạng hoạtđộng vừa sức và đặc trưng của nó
b Đối tượng của tâm lý học sư phạm là những quy luật tâm lý của việc
dạy học và giáo dục Tâm lý học sư phạm nghiên cứu những vấn đề tâm lýhọc của việc điều khiển quá trình dạy học, nghiên cứu sự hình thành củanhững quá trình nhận thức, tìm tòi những tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự pháttriển trí tuệ và xác định những điều kiện để đảm bảo phát triển trí tuệ có hiệuquả trong quá trình dạy học, xem xét những vấn đề về mối quan hệ qua lạigiữa giáo viên và học sinh, cũng như mối quan hệ qua lại giữa học sinh vớinhau
Những quan sát hàng ngày cho thấy, trẻ em rung cảm và suy nghĩkhông giống người lớn Trẻ nhỏ không làm được rất nhiều điều Nhưng vấn
đề không phải là ở chỗ trẻ chưa làm được những gì, chưa nắm được nhữnggì mà vấn đề cơ bản là ở chỗ hiểu được đứa trẻ hiện có những gì, có thểlàm được những gì, nó sẽ thay đổi như thế nào và sẽ có được những gì trongquá trình sống và hoạt động theo lứa tuổi Có hiểu những điều đó mới hiểuđược nguyên nhân của những nét, những phẩm chất mới đặc trưng cho nhâncách người lớn Mặt khác, mỗi lứa tuổi có những khó khăn, và thuận lợiriêng Những khó khăn và thuận lợi đó đòi hỏi phải có phương pháp đối xửriêng biệt, thích hợp với lứa tuổi Có thể phương pháp này thích hợp với trẻnhỏ, nhưng lại không thể áp dụng được với thiếu niên
c Từ những nghiên cứu trên, tâm lý học lứa tuổi là tâm lý học sư phạm
có nhiệm vụ rút ra những quy luật chung của sự phát triển nhân cách theo lứatuổi, những nhân tố chỉ đạo sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi, rút ra
Trang 4những quy luật lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình giáo dục và dạyhọc, những biến đổi tâm lý của học sinh do ảnh hưởng của giáo dục và dạyhọc Từ đó cung cấp những kết quả nghiên cứu để tổ chức hợp lý quá trình
sư phạm, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục và giảngdạy
Tất cả những thay đổi từ một đứa bé lọt lòng tới chỗ biết hành độngtheo mục đích đã định không mang tính chất ngẫu nhiên, mà diễn ra có quyluật, có nguyên nhân của chúng Nếu sự thay đổi ở một đứa trẻ nào đó diễn
ra sớm hơn, hoặc muộn hơn, hoặc không bình thường thì bao giờ cũng cónhững nguyên nhân của nó Những kiến thức tâm lý học lứa tuổi và tâm lýhọc sư phạm sẽ giúp ta tìm được những nguyên nhân đó, đưa ra đượcnhững biện pháp tác động hợp lý hơn và có ý thức hơn
2 Quan hệ giữa tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm là những chuyên ngành củatâm lý học, đều dựa trên cơ sở của tâm lý học đại cương Tâm lý học đạicương cung cấp cho hai chuyên ngành này những khái niệm cơ bản về cáchiện tượng tâm lý để hai chuyên ngành này sử dụng khi đi sâu vào đối tượngnghiên cứu của mình Ngược lại, nhờ những sự kiện của hai chuyên ngànhtâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm mà những khái niệm cơ bản củatâm lý học đại cương cũng trở nên phong phú, sâu sắc hơn
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm gắn bó chặt chẽ thống nhấtvới nhau vì chúng có chung khách thể nghiên cứu - những con người bìnhthường ở những giai đoạn phát triển khác nhau Trẻ nhỏ: thiếu niên, thanhniên là khách thể của tâm lý học lứa tuổi nếu nghiên cứu động thái của sựphát triển theo lứa tuổi Chúng là khách thể của tâm lý học sư phạm nếuchúng được nghiên cứu với tư cách là người được dạy và được giáo dụctrong quá trình tác động có mục đích của nhà giáo dục
Tâm lý học lứa tuổi chỉ có thể được nghiên cứu, nếu việc nghiên cứucủa nó không dừng ở mức độ thực nghiệm, mà được tiến hành trong nhưngđiều kiện cụ thể của việc dạy học và giáo dục, trong điều kiện tự nhiên của
Trang 5đời sống của trẻ (vì tách khỏi những điều kiện đó thì trẻ em không thể pháttriển bình thường được) Nhưng đồng thời việc dạy học và giáo dục cũngkhông thể được xem xét như là những hiện lượng độc lập, trừu xuất khỏi đốitượng của dạy học và giáo dục Như vậy cả tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học
sư phạm đều nghiên cứu trẻ em trong quá trình dạy học và giáo dục, và cùngphục vụ đắc lực cho sự phát triển của chính đứa trẻ đó Do đó mà sự phânranh giới giữa hai chuyên ngành chỉ có tính chất tương đối
II - LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRÊN TRẺ EM
1 Khái niệm chung về sự phát triển tâm lý trẻ em
Những nghiên cứu của tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định:Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em là trẻ em, nó vận động vàphát triển theo quy luật của trẻ em Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứatrẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội Việc nuôi nấng, dạy dỗ nóphải khác với con vật Để nó tiếp thu được nền văn hoá xã hội loài người, đòihỏi phải nuôi dạy nó theo kiểu người (trẻ nhỏ phải dược bú sữa mẹ, được ănchín, ủ ấm, nhất là cần được âu yếm, thương yêu) Ngay từ khi ra đời đứa trẻ
đã có nhu cầu đặc trưng của con người - nhu cầu giao tiếp với người lớn
Trang 6Người lớn cần có những hình thức riêng "ngôn ngữ" riêng để giao tiếp vớitrẻ.
Điều kiện sống và hoạt động của các thế hệ người ở các thời kỳ lịch sửkhác nhau là rất khác nhau Do vậy mỗi thời đại khác nhau lại có trẻ em củariêng mình
b Quan niệm sai lầm về sự phát triển tâm lý trẻ em
Quan điểm duy tâm coi sự phát triển tâm lý trẻ em chỉ là sự tăng lênhoặc giảm đi về số lượng các hiện tượng đang phát triển, mà không có sựchuyển biến về chất lượng Ví dụ: họ coi sự phát triển tâm lý trẻ em là sự tăng
số lượng từ của trẻ, tăng tốc độ hình thành kỹ xảo, tăng thời gian tập trungchú ý, hay khối lượng tri thức được giữ lại trong trí nhớ Sự tăng về số lượngcủa các hiện tượng tâm lý có ý nghĩa nhất định trong sự phát triển của trẻ,nhưng không thể giới hạn toàn bộ sự phát triển tâm lý của trẻ em vào nhữngchỉ số ấy
Từ đó, những người theo quan niệm này đã nhìn nhận không kém sailầm về nguồn gốc của sự phát triển lâm lý Quan niệm này xem sự phát triểncủa mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra một cách tự phát Sự pháttriển diễn ra dưới ảnh hưởng của một sức mạnh nào đó mà người ta khôngthể điều khiển được, không thể nghiên cứu được, không nhận thức được
Quan niệm sai lầm này dược biểu hiện rõ ràng ở thuyết tiền định, thuyếtduy cảm, thuyết hội tụ hai yếu tố
- Thuyết tiền định: những người theo thuyết này coi sự phát triển tâm lý
do các tiềm năng sinh vật gây ra và con người có tiềm năng đó ngay từ khi rađời Mọi đặc điểm tâm lý chung và có tính chất cá thể đều là tiền định, đều cósẵn trong các cấu trúc sinh vật là sự phát triển chỉ là quá trình trưởng thành,chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết địnhtrước bằng con đường di truyền này
Gần đây, sinh học đã phát hiện ra cơ chế gen của di truyền, người tabắt đầu liên hệ: những thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng đã được mã
Trang 7hoá, chương trình hoá trong các trang bị gen Cụ thể, nhà di truyền học AnhS.Auerbac cho rằng môi người bắt đầu sống "Khi trong tay có các gen cũngnhư đấu thủ chơi một ván bài khi trong lay có các con bài Đôi khi sự phânphối có thể xấu đến mức thậm chí khó chờ đợi một kết quả vừa phải Cànghiếm có sự phân bố ưu việt đến mức để đạt được kết quả cao lại không đòihỏi một sự cố gắng nào".
Có lúc những người theo thuyết tiền định thường thể hiện dưới hìnhthức mềm dịu hơn, ở chỗ có đề cập đến ý nghĩa của yếu tố môi trường.Nhưng theo họ, môi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh”, “yếu tố thể hiện” mộtnhân tố bất biến nào đó ở trẻ Nhà tâm lý học Mỹ E.Toocdai cho rằng: "Tựnhiên ban cho mỗi người một vốn nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn
đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất" Và "vốn tự nhiên"
đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ rakhông đạt được kết quả nào đó "dù giảng dạy tốt, số khác lại tỏ ra có thànhtích “dù giảng dạy tồi”
Như vậy vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp Giáo dục chỉ là nhân tố bênngoài có khả năng tăng nhanh hoặc kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩmchất tự nhiên, bị ức chế bởi tính di truyền Từ đó, người ta đã rút ra kết luận
sư phạm sai lầm: sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ là sựtuỳ tiện, không thể tha thứ được
- Thuyết duy cảm: Đối lập với thuyết tiền định, thuyết duy cảm giải thích
sự phát triển của trẻ chỉ bằng những tác động của môi trường xung quanh.Theo những người thuộc trường phái này thì môi trường là nhân tố quyết định
sự phát triển của trẻ em, vì thế muốn nghiên cứu con người chỉ cần phân tíchcấu trúc môi trường của họ: môi trường xung quanh như thế nào thì nhâncách của con người, cơ chế hành vi, những con đường phát triển của hành vi
sẽ như thế đó Nhưng các nhà tâm lý học tư sản lại hiểu môi trường xã hộimột cách siêu hình, coi môi trường xã hội là bất biến, quyết định trước sốphận con người, còn con người được xem như là đối tượng thụ động trướcảnh hưởng của môi trường
Trang 8Quan điểm này xuất hiện ở nước Anh, coi trẻ em sinh ra " như tờ giấytrắng" hoặc "tấm bảng sạch sẽ" Sự phát triển tâm lý của trẻ hoàn toàn phụthuộc vào tác động bên ngoài, do vậy người lớn muốn vẽ nên tờ giấy cái gì thì
sự tác động qua lại giữa chúng quyết định trực tiếp tới quá trình phát triển,trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biếnnhững đặc điểm tâm lý đã được định sẵn thành hiện thực
Theo họ, sự phát triển là sự chín muồi của những năng lực, những néttính cách, những hứng thú và sở thích mà trẻ sinh ra đã có Những nét vànhững đặc điểm tính cách do cha mẹ hoặc tổ tiên truyền lại cho thế hệ saudưới dạng có sẵn, bất biến Trong đó nhịp độ và giới hạn của sự phát triển làtiền định
Một số người theo thuyết này có đề cập đến ảnh hưởng của môi trườngđối với tốc độ chín muồi của năng lực và nét tính cách được truyền lại cho trẻ(nhà tâm lý học Đức V.Stecmơ) Nhưng môi trường không phải là toàn bộnhững điều kiện và hoàn cảnh mà đứa trẻ (hay người lớn) sống, mà chỉ là giađình của trẻ "Môi trường" đó được xem như cái gì riêng biệt, tách rời khỏitoàn bộ đời sống xã hội “Môi trường xung quanh” đó thường xuyên ổn định,ảnh hưởng một cách định mệnh tới sự phát triển của trẻ Tác động của môitrường, cũng như ảnh hưởng của yếu tố sinh vật (di truyền) định trước sựphát triển của trẻ, không phụ thuộc vào hoạt động sư phạm của nhà giáo dụcvào tính tích cực ngày càng tăng của trẻ
Thuyết hội tụ hai yếu tố cũng sai lầm không kém gì thuyết tiền định làthuyết duy cảm Tính chất máy móc, siêu hình của các quan niệm này đều đã
bị phê phán
Trang 9Mặc dù quan niệm của những người đại điện cho các thuyết trên bềngoài có vẻ khác nhau, nhưng thực chất đều có những sai lầm giống nhau:
- Họ đều thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến hoặc làtiền định, hoặc là do tiềm năng sinh vật di truyền, hoặc là ảnh hưởng của môitrường bất biến Với quan niệm như vậy thì trong trường hợp nào con em củatầng lớp có đặc quyền, đặc lợi cũng đều có trình độ phát triển tâm lý hơn hẳncon em giai cấp bóc lột (do họ có tố chất di truyền tốt hơn hoặc do họ sốngtrong môi trường trí tuệ có tổ chức cao) Do vậy sự bất bình đẳng trong xã hội
là tất nhiên, là hợp lý
- Các quan niệm này đã đánh giá không đúng vai trò của giáo đục Họxem xét sự phát triển của trẻ em một cách tách rời và không phụ thuộc vàonhững điều kiện cụ thể mà trong do quá trình phát triển tâm lý đang diễn ra
Họ đã phủ nhận tính tích cực riêng của cá nhân, coi thường những mâu thuẫnbiện chứng được hình thành trong quá trình phát triển tâm lý Coi đứa trẻ làmột thực thể tự nhiên, thụ động, cam chịu ảnh hưởng có tính chất được conngười, là thực thể xã hội tích cực, chủ động trước tự nhiên có thể cải tạođược tự nhiên, xã hội và bản thân để phát triển nhân cách Vì phủ nhận tínhtích cực của trẻ, nên không hiểu được vì sao trong những điều kiện cùng mộtmôi trường xã hội lại hình thành nên những nhân cách khác nhau về nhiều chỉ
số, hoặc vì sao có những người giống nhau về thế giới nội tâm, về nội dung
và hình thức hành vi lại được hình thành trong những môi trường xã hội khácnhau
c Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý
Nguyên lý phát triển trong triết học Mác-lênin thừa nhận sự phát triển làquá trình biến đổi của sự vật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó
là một quá trình tích luỹ dần về số lượng dẫn đến sự thay đổi về chất lượng,
là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặtđối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng
Quan điểm Mác xít này được vận dụng để xem xét sự phát triển tâm lýtrẻ em Bản chất của sự phát triển tâm lý trẻ em không phải là sự tăng hoặc
Trang 10giảm về số lượng, mà là một quá trình biến đổi về chất lượng tâm lý Sự thayđổi về lượng của các chức năng tâm lý dẫn đến sự thay đổi về chất và đưađến sự hình thành cái mới một cách nhảy vọt.
Sự phát triển tâm lý gắn liền với sự xuất hiện những đặc điểm mới vềchất - những cấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứa tuổi nhất định (ví dụ,nhu cầu tự lập ở trẻ lên ba ) Trong các giai đoạn phát triển khác nhau, có sựcải biến về chất của các quá trình tâm lý và toàn bộ nhân cách trẻ
Xét trong toàn cục, phát triển là cả một quá trình kế thừa Sự phát triểntâm lý trẻ em là một quá trình trẻ em lĩnh hội nền văn hoá xã hội của loàingười
Bằng lao động của mình, con người ghi lại kinh nghiệm, năng lực trong các công cụ sản xuất, các đồ dùng hàng ngày, các tác phẩm văn hoánghệ thuật , con người đã tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn xã hội của mìnhtrong các đối tượng do con người tạo ra và các quan hệ con người với conngười Ngay từ khi ra dời đứa trẻ đã sống trong thế giới đối tượng và nhữngquan hệ đó Đứa trẻ không chỉ thích nghi với thế giới đồ vật và hiện tượng docon người tạo ra, mà còn lĩnh hội thế giới đó Đứa trẻ đã tiến hành nhữnghoạt động căn bản tương ứng với hoạt động mà trước đó loài người đã thểhiện vào trong đồ vật, hiện tượng Nhờ cách đó nó lĩnh hội được những nănglực đó cho mình Quá trình đó là quá trình tâm lý trẻ phát triển
Như vậy, phát triển tâm lý là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ vớinhững đối tượng do loài người tạo ra
Những đứa trẻ không tự lớn lên giữa môi trường Nó chỉ có thể lĩnh hộikinh nghiệm xã hội khi có vai trò trung gian của người lớn Nhờ sự tiếp xúcvới người lớn và hướng dẫn của người lớn mà những quá trình nhận thức, kĩnăng, kĩ xảo và cả những nhu cầu xã hội của trẻ được hình thành Người lớngiúp trẻ em nắm được ngôn ngữ, phương thức hoạt động
Những biến đổi về chất trong tâm lý sẽ đưa đứa trẻ từ lứa tuổi này sanglứa tuổi khác Bất cứ một một mức độ nào của trình độ trước cũng là sự
Trang 11chuẩn bị cho trình độ sau Yếu tố tâm lý lúc đầu ở vị trí thứ yếu, sau chuyểnsang vị trí chủ yếu
Tóm lại sự phát triển tâm lý của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kìnhanh chóng Đó là một quá trình không phẳng lặng, mà có khủng hoảng vàđột biến Chính hoạt động của đứa trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làmcho tâm lý của nó được hình thành và phát triển
Nhưng, các nhà tâm lý học Mácxít cũng thừa nhận rằng, sự phát triểntâm lý chỉ có thể xảy ra trên nền của một cơ sở vật chất nhất định (một cơ thểngười với những đặc điểm bẩm sinh di truyền cửa nó) Trẻ em sinh ra vớinhững đặc điểm bẩm sinh, di truyền nhất định Vì vậy sự phát triển tâm lý củamỗi người dựa trên cơ sở vật chất riêng Sự khác nhau này có thể ảnh hưởngtới tốc độ đỉnh cao của các thành tựu của con người cụ thể trong một lĩnhvực nào đó, có thể ảnh hưởng tới con đường và phương thức khác nhau của
sự phát triển các thuộc tính tâm lý Chúng là tiền đề, điều kiện cần thiết đểphát triển tâm lý, những điều kiện đó không quyết định sự phát triển tâm lý, nó
có thể trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào một tổ hợp nhữngyếu tố khác nữa
2 Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em.
a Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý
Trong những điều kiện bất kỳ, thậm chí ngay cả trong những điều kiện thuậnlợi nhất của việc giáo dục thì những biểu hiện tâm lý, những chức năng tâm lýkhác nhau cũng không thể phát triển ở mức độ như nhau Có những thời kỳtối ưu đối với sự phát triển một hình thức hoạt động tâm lý nào đó Ví dụ: giaiđoạn thuận lợi nhất cho sự phát triển ngôn ngữ là thời kỳ từ 1 tuổi đến 5 tuổi;cho sự hình thành nhiều kỹ xảo vận động là tuổi học sinh cấp I, cho sự hìnhthành tư duy toán học là giai đoạn từ 15 - 20 tuổi
b Tính toàn vẹn của tâm lý
Cùng với sự phát triển tâm lý con người ngày càng có tính trọn vẹn,thống nhất và bền vững Sự phát triển tâm lý là sự chuyển biến dần các trạng
Trang 12thái tâm lý thành các đặc điểm tâm lý cá nhân Tâm lý trẻ nhỏ phần lớn là một
tổ hợp thiếu hệ thống những tâm trạng rời rạc khác nhau Sự phát triển thểhiện ở cho những tâm trạng đó dần dần chuyển thành các nét của nhân cách
Ví dụ, tâm trạng vui vẻ, thoải mái nảy sinh trong quá trình lao động chung hợpvới lứa tuổi: nếu được lặp đi lặp lại thường xuyên sẽ chuyển thành lòng yêulao động
Tính trọn vẹn của tâm lý phụ thuộc khá nhiều vào động cơ chỉ đạo hành
vi của trẻ Cùng với giáo dục, cùng với sự mở rộng kinh nghiệm sống, nhữngđộng cơ hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội và ngàycàng bộc lộ rõ trong nhân cách của trẻ Trẻ mẫu giáo thường hành động vìmuốn thoả mãn một điều gì đó và động cơ đó thay đổi luôn trong một ngày.Nhưng thiếu niên và thanh niên thường hành động do động cơ xã hội, do tinhthần nghĩa vụ, do sự phát triển toàn diện của bản thân thúc đẩy
Đó là một số quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lý trẻ em Nhưngnhững quy luật đó chỉ là một số xu thế của sự phát triển tâm lý của trẻ có thểxảy ra Những quy luật đó có sau so với ảnh hưởng của môi trường (trong đó
có giáo dục) Sự phát triển và ngay cả tính độc đáo của những xu thế đó cũngphụ thuộc vào điều kiện sống của trẻ em (trước hết là giáo dục) Sự phát triểntâm lý của trẻ em không tuân theo quy luật sinh học, mà tuân theo quy luật xãhội Dù có bộ óc tinh vi đến đâu chăng nữa, nhưng không sống trong xã hội
Trang 13loài người thì trẻ cũng không thể trở thành thực thể người với đầy đủ tính xãhội.
3 Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý
Trẻ chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội nhờ sự tiếp xúc với người lớn.Nhưng sự tiếp xúc của trẻ với người lớn có hiệu quả tốt với điều kiện là sựtiếp xúc đó được tổ chức đặc biệt và chặt chẽ, nhất là trong quá trình hoạtđộng sư phạm Do vậy, giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm
lý trẻ em Giáo dục và dạy học là con đường đặc biệt để truyền đạt nhữngphương tiện hoạt động của con người (công cụ, kí hiệu), truyền đạt nhữngkinh nghiệm xã hội cho thế hệ sau Khi nói tới vai trò chủ đạo của giáo dục,dạy học, các nhà tâm lý học Mácxít nhấn mạnh, đó là quá trình tác động cómục đích, có ý thức của thế hệ trưởng thành đối với thế hệ trẻ phạm hìnhthành những phẩm chất nhất định của cá nhân đáp ứng được những nhu cầucủa xã hội
Khi khẳng định vai trò chủ đạo của giáo dục, dạy học đối với sự pháttriển tâm lý trẻ em chúng ta cần lưu ý: tâm lý của con người mang tính chủthể, những tác động của điều kiện bên ngoài luôn luôn bị khúc xạ thông quakinh nghiệm sống của con người Do vậy, những học sinh khác nhau có thể
có thái độ khác nhau trước cùng một yêu cầu của cô giáo
Con người là chủ thể hoạt động, chủ thể trước những tác động của môitrường Do vậy, các tác động của bên ngoài quyết định tâm lý của con ngườimột cách gián tiếp thông qua quá trình tác động qua lại của con người với môitrường, thông qua hoạt động của con người trong môi trường đó
Hơn nữa, con người là một chủ thể tích cực có thể tự giác thay đổiđược chính bản thân mình - con người có thể tự giáo dục (ở tuổi thiếu niên,
tự ý thức phát triển mạnh mẽ, các em có thể tự giáo dục một cách có ý thức).Nhưng quá trình tự giáo dục của trẻ không tách khỏi tác động của môi trường
Nó được giáo dục kích thích, hướng dẫn và diễn ra trong quá trình đứa trẻtác động qua lại tích cực với những người xung quanh
Trang 14Do vậy, những tác động như nhau, những điều kiện bên ngoài nhưnhau có thể ảnh hưởng khác nhau đến trẻ em
Giáo dục dạy học có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển Mối quan hệ giữagiáo dục, dạy học và phát triển là mối quan hệ biện chứng Hai quá trình nàykhông phải là hai quá trình diễn ra song song, mà chúng thống nhất với nhau,
có quan hệ tương hỗ nhau Sự phát triển tâm lý của trẻ chỉ có thể diễn ra mộtcách tốt đẹp trong những điều kiện của giáo dục và dạy học Nhưng để giữđược vai trò chủ đạo, giáo dục và dạy học phải kích thích, dẫn dắt sự pháttriển chứ không chờ đợi sự phát triển Giáo dục phải đi trước một bước, phảiđón trước sự phát triển, tạo nên ở trẻ quá trình giải quyết mâu thuẫn liên tục
để thúc đẩy sự phát triển
Tuy vậy, trong khi kích thích sự phát triển, đi trước sự phát triển mộtbước, giáo dục và dạy học cần tính đến những đặc điểm của mức độ đã đạtđược ở trẻ, tính đến đặc điểm lứa tuổi và quy luật bên trong của sự phát triển
Do vậy, khả năng của giáo dục và dạy học rất rộng lớn, nhưng không vô hạn.Muốn tâm lý của trẻ phát triển đúng đắn rất cần có sự tự giáo dục của trẻtrong tất cả các thời kỳ của cuộc đời
III - SỰ PHÂN CHIA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
1 Quan niệm về giai đoạn phát triển của tâm lý
Có thể nói quan niệm bản chất của sự phát triển tâm lý con người nhưthế nào thì quan niệm về lứa tuổi tương ứng như vậy
Quan niệm sinh vật coi sự phát triển tâm lý như là một quá trình sinhvật tự nhiên, đã khẳng định tính bất biến, tính tuyệt đối của các giai đoạn lứatuổi Quan niệm đối lập lại phủ nhận khái niệm lứa tuổi Họ coi sự phát triểnnhư là sự tích luỹ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách đơn giản
Tâm lý học Mácxít, đại diện là L.X.Vưgôtxki, coi lứa tuổi là một thời kỳphát triển nhất định đóng kín một cách tương đối, mà ý nghĩa của nó đượcquyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung, và ở đó
Trang 15những quy luật phát triển chung bao giờ cũng được thể hiện một cách độcđáo về chất Khi chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác bao giờ cũng xuấthiện những cấu tạo tâm lý mới chưa từng có trong các thời kỳ trước Nhữngcấu tạo mới này cải tổ lại và làm biến đổi chính tiến trình phát triển.
Mỗi giai đoạn được quyết định bởi một tổ hợp nhiều điều kiện Đó làđặc điểm của những điều kiện sống và hoạt động của trẻ cùng với hệ thốngcác yêu cầu đề ra cho trẻ trong giai đoạn đó; đặc điểm của các mối quan hệcủa trẻ với môi trường xung quanh; kiểu tri thức và hoạt động mà trẻ đã nắmđược cùng với phương thức lĩnh hội các tri thức đó và một yếu tố cần thiếtnữa là những đặc điểm của sự phát triền cơ thể trẻ ở giai đoạn đó Nhữngđặc điểm lứa tuổi là đặc điểm chung đặc trưng điển hình nhất: chỉ ra hướngphát triển chung Nhưng lứa tuổi không phải là phạm trù tuyệt đối, bất biến.Giai đoạn lứa tuổi chỉ có ý nghĩa tương đối
Tuổi chỉ có ý nghĩa là yếu tố thời gian trong quá trình phát triển của trẻ.Trẻ cần thời gian chuẩn bị về mọi mặt để chuyển sang một giai đoạn pháttriển mới (để lớn lên về cơ thể, mở rộng quan hệ xã hội, tích luỹ tri thức,phương thức hành động ) Nhưng tuổi không quyết định trực tiếp sự pháttriển nhân cách Tuổi có thể phù hợp với trình độ phát triển tâm lý của trẻhoặc có thể đi nhanh hay chậm hơn là do ta biết vận dụng thời gian và điềukiện giáo dục để tổ chức cuộc sống của trẻ, tổ chức sự tiếp xúc của trẻ vớithế giới xung quanh có tốt hay không
2 Phân chia giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em
Căn cứ vào những thay đổi cơ bản trong điều kiện sống và hoạt độngcủa trẻ, căn cứ vào những thay đổi trong cấu trúc tâm lý của trẻ mà cả vào sựtrưởng thành của cơ thể trẻ em, người ta chia ra một số thời kỳ chủ yếu trong
sự phát triển tâm lý trẻ em:
- Giai đoạn trước tuổi học:
+ Tuổi sơ sinh: Thời kỳ 2 tháng đầu sau khi sinh
+ Tuổi hài nhi: Thời kỳ 2 tháng đến 12 tháng
Trang 16+ Tuổi vườn trẻ: Từ 1 đến hết 3 năm
+ Tuổi mẫu giáo: Từ 3 đến hết 5 năm
- Giai đoạn tuổi học sinh:
+ Thời kỳ đầu tuổi học hay nhi đồng: Từ 6 đến 11, 12 tuổi
+ Thời kỳ giữa tuổi học hay thiếu niên: Từ 11, 12 đến 14, 15 tuổi
+ Thời kỳ cuối tuổi học hay đầu tuổi thanh niên: Từ 14, 15 đến 17, 18tuổi
Mỗi thời kỳ có một vị trí, vai trò nhất định trong quá trình chuyển từ đứatrẻ mới sinh sang một nhân cách trưởng thành Mỗi thời kỳ phát triển cónhững nét tâm lý đặc trưng của mình, mà đứa trẻ phải trải qua Sự chuyển từthời kỳ này sang thời kỳ khác bao giờ cũng gắn với sự xuất hiện những cấutạo tâm lý mới về chất
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Tóm tắt quan điểm cơ bản của thuyết tiền định, thuyết duy cảm,thuyết hội tụ hai yếu tố về nguồn gốc sự phát triển tâm lý trẻ em Nhữngthuyết đó có đặc điểm gì cần phê phán?
2 Nêu quan điểm của tâm lý học duy vật biện chứng về sự phát triểntâm lý trẻ em Từ đó rút ra kết luận gì cho công tác sư phạm?
3 Tâm lý học duy vật biện chứng quan niệm như thế nào về quan hệgiữa giáo dục, dạy học và sự phát triển tâm lý?
4 Tại sao nói giai đoạn phát triển tâm lý chỉ có ý nghĩa tương đối?
CÂU HỎI THẢO LUẬN
Quan điểm của tâm lý học duy vật biện chứng về trẻ em và sự pháttriển tâm lý trẻ em Từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho công tác sưphạm
Trang 17Nội dung chỉnh cần đề cập
- Quan niệm về sự phát triển tâm lý của trẻ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý trẻ em
- Vai trò của các yếu tố và mối tương quan của chúng trong sự pháttriển tâm lý của trẻ
BÀI TẬP THỰC HÀNH
Anh (chị) hãy sưu tầm ca dao, tục ngữ phản ánh quan điểm của nhândân nước ta xoay quanh các vấn đề:
- Di truyền và sự phát triển tâm lý của trẻ em
- Hoàn cảnh và sự phát triển tâm lý của trẻ em
- Giáo dục và sự phát triển tâm lý của trẻ em
- Tính tích cực hoạt động của trẻ và sự phát triển tâm lý của chúng.Vận dụng quan điểm tâm lý học Mácxít phân tích những quan niệmđúng, sai, chưa đầy đủ của các câu ca dao tục ngữ được sưu tầm
Chương 2: TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Thiếu niên)
“Thiếu niên không còn là trẻ con Nhưng chưa hẳn là người lớn”
I – VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở LỨA TUỔI
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở bao gồm những em có độ tuổi từ 11,
12 tuổi đến 14, 15 tuổi Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ởtrường trung học cơ sở
Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệttrong thời kỳ phát triển của trẻ em Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằngnhững tên gọi khác nhau của nó: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng
Trang 18hoảng”, “tuổi bất trị” Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quantrọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ em.
Đây là thời kỳ chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành
Nội dung cơ bản của sự khác biệt ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sởvới các em ở lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về các mặttrí tuệ, đạo đức Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kếtquả của sự biến đổi cơ thể, của sự tự ý thức, của các kiểu quan hệ với ngườilớn, với bạn bè, của hoạt động học tập, hoạt động xã hội
Yếu tố đầu tiên của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi học sinh trunghọc cơ sở là tính tích cực xã hội mạnh mẽ của bản thân các em nhằm lĩnh hộinhững giá trị, những chuẩn mực nhất định, nhằm xây dựng những quan hệthoả đáng với người lớn, bạn bè, và cuối cùng nhằm vào bản thân, thiết kếnhân cách của mình, thiết kế tương lai của mình với ý đồ thực hiện những ýđịnh, mục đích, nhiệm vụ một cách độc lập
Tuy nhiên quá trình hình thành cái mới thường kéo dài về thời gian vàphụ thuộc vào điều kiện sống, hoạt động của các em Do đó, sự phát triểntâm lý ở lứa tuổi này diễn ra không đồng đều về mọi mặt Điều đó quyết định
sự tồn tại song song "vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn" ở lứa tuổi này Mặtkhác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển cáckhía cạnh khác nhau của tính người lớn Sự khác nhau đó do hoàn cảnhsống, hoạt động khác nhau của các em Hoàn cảnh đó có hai mặt:
1 Những yếu tố của hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn
Trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậccha mẹ có xu thể không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khácnhau của gia đình, của xã hội
2 Những yếu tố hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn
Nguồn thông tin phong phú, sự gia tăng về thể chất, về phát dục, nhiềubậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, đòi hỏi
Trang 19đứa trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tínhđộc lập, tự chủ hơn
Tất cả những điều kiện khác nhau của cuộc sống tạo ra sự khác biệtcăn bản trong sự phát triển những khía cạnh khác nhau của tính người lớn ởlứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ratheo các hướng sau:
- Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều,nhưng còn có nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì như trẻ con, các emhiểu biết rất ít
- Có những em rất ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường; những trithức cơ bản mà nhà trường giảng dạy thì các em ít chú ý đến, mà chỉ quantâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giaotiếp với người lớn, với bạn bè lớn tuổi, để bàn bạc, trao đổi với họ các vấn đềtrong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn
- Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài,nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có đức tính ở người lớn như tínhdũng cảm, tự chủ, độc lập còn quan hệ với bạn bè khác giới như trẻ con
Những hướng trên phát triển tính người lớn nêu trên có khác nhau,nhưng đều có một tham số chung, đó là mong muốn thớ thành "người lớn",nhưng lại biểu hiện tính người lớn khác nhau, vì thế mà hình thành những giátrị của cuộc sống có nội dung khác nhau
II – NHỮNG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở LỨA TUỔI HỌC SINH
Trang 20lên được 5, 6 cm Các em nữ ở độ tuổi 12, 13 phát triển chiều cao nhanh hơncác em nam cùng độ tuổi, nhưng đến 18, 20 tuổi thì sự phát triển chiều caodừng lại Các em nam ở độ tuổi 15, 16 tuổi thì cao đột biến, vượt các em nữ
và đến 24, 25 tuổi mới dừng lại
Trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng từ 2,4 kg đến 6 kg
- Sự phát triển của hệ xương, mà chủ yếu là sự phát triển các xươngtay, xương chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triểnchậm Vì thế ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gầy thiếu cânđối, các em có vẻ lóng ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thậntrọng hay làm đổ vỡ Điều đó gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu.Các em ý thức được sự lóng ngóng vụng về của mình, mà cố che giấu nóbằng điệu bộ không tự nhiên cầu kỳ, tỏ ra mạnh bạo, can đảm để người kháckhông chú ý tới vẻ bề ngoài của mình Chỉ một sự mỉa mai chế giễu nhẹnhàng về hình thể, tư thế đi đứng của các em đều gây cho các em nhữngphản ứng mạnh mẽ
- Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối Thể tích củatim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thước củamạch máu lại phát triển chậm Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuầnhoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay gây nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏikhi làm việc
- Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến giáp trạng),thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Do đó, các em dễ xúcđộng, dễ bực tức, nổi khùng Vì thế, ta thấy ở các em thường có những phảnứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động
- Hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa có khả năng chịu đựng nhữngkích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài Do tác động của những kích thích nhưthế, thường gây cho các em tình trạng bị ức chế hay ngược lại xảy ra tìnhtrạng bị kích động mạnh Vì vậy sự phong phú của các ấn tượng, những chấnđộng thần kinh mạnh, hoặc sự chờ đợi lâu dài về những biến cố gây xúcđộng đều có tác động mạnh mẽ tới lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, có thể
Trang 21làm cho một số em bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, tản mạn, số khác làmnhững hành vi xấu, không đúng bản chất của các em.
- Sự thay đổi về thể chất ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở đã làm chocác em có những đặc điểm nhân cách khác với các em ở lứa tuổi trước Lứatuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao, có nhiều dự địnhlớn lao Là phụ huynh, là các nhà giáo dục cần thấy được đặc điểm này, để tổchức công tác dạy học là giáo dục các em có hiệu quả, tránh định kiến
Một đặc điểm nữa cần phải chú ý dấn ở lứa tuổi này, đó là thời kỳ phátdục Sự phát dục ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là một hiện tượng bìnhthường, diễn ra theo quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường tựnhiên và môi trường xã hội
Sự phát dục ở các em trai vào khoảng 15, 16 tuổi, ở các em nữ vàokhoảng 13, 14 tuổi Biểu hiện ở thời kỳ này là cơ quan sinh dục phát triển vàxuất hiện những dấu biểu phụ của giới tính Thời kỳ phát dục sớm hay muộnphụ thuộc vào yếu tố dân tộc và yếu tố khí hậu Các em sống ở miền Namthường phát dục sớm hơn các em ở miền Bắc Sự phát dục còn phụ thuộcvào chế độ sinh hoạt cá nhân, sức khoẻ, bệnh tật, ăn uống, lao động, nghỉngơi, đời sống tinh thần của các em nữa Hiện nay do điều kiện xã hội cónhiều thay đổi, nên có sự gia tốc phát triển thể chất và phát dục
Đến 15, 16 tuổi, giai đoạn phát dục đã kết thúc, có thể sinh đẻ được tuynhiên các em chưa trưởng thành về mặt cơ thể và đặc biệt là sự trưởng thành
về mặt xã hội Chính vì thế mà một số nhà khoa học cho rằng ở lứa tuổi họcsinh trung học cơ sở không có sự cân đối giữa phát dục, giữa bản năngtương ứng, những tình cảm và ham muốn đượm màu sắc tình dục với mức
độ trưởng thành về mãi xã hội và tâm lý Nhiều khó khăn trở ngại ở lứa tuổinày chính ở chỗ các em chưa biết đánh giá, chưa biết kìm hãm và hướng dẫnbản năng, ham muốn của mình một cách đúng đắn; chưa biết kiểm tra tìnhcảm và hành vi, chưa biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với người bạnkhác giới Vì thế mà các nhà giáo dục cần phải giúp đỡ các em một cách tế
Trang 22nhị, khéo léo để các em hiểu đúng vấn đề, đừng làm cho các em băn khoăn longại.
2 Sự thay đổi của điều kiện sống
a Đời sống gia đình của học sinh trung học cơ sở
Ở lứa tuổi này địa vị của các em trong gia đình đã thay đổi, được giađình thừa nhận như là một thành viên tích cực của gia đình, được cha mẹ,anh chị giao cho những nhiệm vụ cụ thể như chăm sóc em nhỏ khi cha mẹ đivắng, như nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, chăn nuôi gia súc ở các gia đình neođơn, các em phải tham gia lao động thực sự để góp phần nâng cao thu nhậpcủa gia đình, các em đã ý thức được các nhiệm vụ đó và thực hiện tích cực
Điều quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với các em là đã được tham giabàn bạc một số công việc của gia đình, về những việc của cha mẹ, anh chị,quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín của gia đình hơn các em họcsinh tiểu học Những sự thay đổi đó đã động viên, kích thích học sinh trunghọc cơ sở hoạt động tích cực, độc lập tự chủ
b Đời sống trong nhà trường của học sinh trung học cơ sở
Hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinh trung học cơ sở
có nhiều sự thay đổi, có tác động quan trọng tới sự hình thành những đặcđiểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở như:
+ Bắt đầu thay đổi về nội dung dạy học:
Bắt đầu vào học trường trung học cơ sở, các em được tiếp xúc vớinhiều môn học khác nhau, mỗi môn học bao gồm một hệ thống tri thức vớinhững khái niệm trừu tượng, khái quát, có nội dung phong phú, sâu sắc, do
đó, đòi hỏi thay đổi cách học Các em không thể học thuộc từng bài, mà phảibiết cách lập dàn bài, tóm tắt, nắm bắt ý chính, dựa vào các ý chính mà trìnhbày toàn bộ bài học theo cách hiểu của mình
Sự phong phú về tri thức từng môn học làm cho khối lượng tri thức các
em lĩnh hội dược tăng lên nhiều Tầm hiểu biết của các em được mở rộng
Trang 23+ Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập: Các emđược học nhiều môn, nhiều thầy cô giảng dạy Mỗi môn học có phương phápphù hợp với bộ môn đó, mỗi thầy cô dạy có cách trình bày, có phương phápđộc đáo của riêng mình, sử dụng các hình thức dạy học khác nhau Sự khácnhau này đã ảnh hưởng đến việc lĩnh hội, đến sự phát triển trí tuệ và nhâncách của các em Thái độ say sưa, hứng thú học tập, việc hình thành và pháttriển cách lập luận độc đáo cùng những nét tính cách quý báu của các emđều do ảnh hưởng của cách giảng dạy và nhân cách làm người thầy.
c Đời sống của học sinh trung học cơ sở trong xã hội
Ở lứa tuổi này các em được xã hội thừa nhận như một thành viên tíchcực, và được giao một số công việc nhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhaunhư tuyên truyền cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thươngbinh liệt sĩ, tham gia các tổ chăm sóc trâu bò các tổ kỹ thuật nông nghiệp ởlứa tuổi này các em thích làm công tác xã hội, vì:
+ Có sức lực đã hiểu biết nhiều, muốn được một người thừa nhận mình
là người lớn, muốn làm những công việc được mọi người biết đến, nhất lànhững công việc làm với người lớn
+ Cho rằng công tác xã hội, là việc làm của người lớn, và có ý nghĩalớn lao Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là ngườilớn, và muốn thừa nhận mình là người lớn Đó là một nhu cầu của các em, vìthế nhiều khi các em bỏ công việc gia đình học tập mà tích cực tham gia côngviệc ở ngoài xã hội
+ Hoạt động xã hội là hoạt động có tính chất tập thể Ở lứa tuổi này các
em thích làm những công việc có tính chất tập thể, những công việc liên quanđến nhiều người và có được nhiều người cùng tham gia
Do tham gia công tác xã hội, mà quan hệ của học sinh trung học cơ sởđược mở rộng, các em được tiếp xúc với nhiều người, nhiều vấn đề của xãhội, do đó tầm hiểu biết được mở rộng, kinh nghiệm cuộc sống phong phúlên, nhân cách của các em được phát triển
Trang 24Tóm lại, do có sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của các
em ở trong gia đình, nhà trường, xã hội, mà vị trí các em được nâng lên Các
em ý thức được sự thay đổi này và tích cực hoạt động cho phù hợp với sựthay đổi đó Do đó tâm lý, nhân cách của học sinh trung học cơ sở được hìnhthành và phát triển phong phú hơn ở các lứa tuổi trước
III – MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ "KHỦNG HOẢNG" TRONG SỰ PHÁT TRIỀN
TÂM LÝ Ở LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Trong tâm lý học đã tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề
"khủng hoảng" ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở Một trong những quanđiểm đã tồn tại lâu dài (gần 1/4 thế kỷ) đó là quan niệm sinh vật hóa lứa tuổinày Quan điểm này cho rằng, những đặc điểm phát triển đột biến ở lứa tuổihọc sinh trung học cơ sở là do nguyên nhân sinh vật
Những người đại diện cho quan niệm này là C Khôn và Z Frơt Họ chorằng thời kỳ học sinh trung học cơ sở là thời kỳ "khủng hoảng", thời kỳ cónhững hiện tượng không tránh khỏi như “điên loạn”, “thô bạo”, “vô chínhphủ” Tất cả cái đó là do nguyên nhân sinh vật, do thời kỳ phát dục gây ra
Vào khoảng những năm 20 - 30 của thế kỷ này, các nhà tâm lý học đãbắt đầu tập trung sức lực vào nghiên cứu để chống lại quan niệm trên Ở cácnước khác nhau các nhà khoa học đã tích luỹ được những số liệu nghiên cứu
cụ thể, đã làm sáng tỏ sự phụ thuộc nhân cách của lứa tuổi học sinh trunghọc cơ sở vào nguyên nhân xã hội của nó Về phương hướng này phải kểđến sự đóng góp rất to lớn của các nhà tâm lý học, giáo dục học Liên Xô cũ.Thực tiễn giáo dục của Macarencô là một ví dụ điền hình về nguyên nhân xãhội của các đặc điểm tâm lý của trẻ
Các nhà nhân chủng học cũng góp phần đáng kể vào việc chống lạiquan niệm trên Những công trình nghiên cứu của họ, có ý nghĩa rất lớn bềmặt lý luận Họ đã chứng minh hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống quyết định:
+ Thời gian dài hay ngắn của lứa tuổi này
Trang 25+ Có hay không có "cuộc khủng hoảng", sự xung đột, những khó khăncủa lứa tuổi này.
+ Bản chất của sự chuyển từ trẻ con sang người lớn
Từ những kết quả nghiên cứu của mình, họ đã bác bỏ quan niệm sinhvật của Z Frơt, và cho rằng bản chất tự nhiên trong con người không có thểmâu thuẫn với xã hội, bởi vì cái tự nhiên trong con người đã mang tính chất
xã hội
Lênin đã phát triển những tư tưởng của các nhà nhân chủng học Ông
đã phân tích vị trí của thiếu niên trong xã hội hiện đại và thời kỳ xung đột từtrẻ con đến người lớn Từ đó xác nhận rằng trong xã hội tồn tại hai nhómngười: nhóm trẻ con và nhóm người lớn, và cho rằng lứa tuổi học sinh trunghọc cơ sở là trẻ con vận động từ nhóm trẻ con sang nhóm người lớn Ở lứatuổi này có sự mong muốn chuyển vào nhóm người lớn Nhưng các em chưađược thừa nhận là người lớn, vì các em ở giữa hai nhóm người này Ông chorằng, mức độ khó khăn, xung đột ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở phụthuộc vào sự phân biệt gay gắt những nhóm trẻ con và những nhóm ngườilớn trong xã hội, và thời kỳ này kéo dài, hay ngắn phụ thuộc vào khi trẻ concòn ở giữa hai nhóm này
L.X.Vưgôxki khi nghiên cứu lứa tuổi học sinh trung học cơ sở cũng đặtvấn đề cần thiết phải xem xét những tổ chức mới được hình thành trong nhâncách của lứa tuổi này và làm rõ hoàn cảnh xã hội của sự phát triển của nó.Hoàn cảnh xã hội trong mỗi lứa tuổi có một hệ thống quan hệ không lặp lạigiữa trẻ con và môi trường Sự cải tổ lại hệ thống quan hệ này tạo nên nôidung chính của "cuộc khủng hoảng" ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Tóm lại, sự phát triển những tư tưởng trong sự giải thích "cuộc khủnghoảng" ớ lứa tuổi học sinh trung học cơ sở đã được tích luỹ và khái quát lạidần và cho rằng những đặc điểm biểu hiện và diễn biến của thời kỳ này đượcxác định bởi hoàn cảnh xã hội cụ thể của cuộc sống, bằng vị trí xã hội của các
em trong thế giới người lớn
Trang 26IV – HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ
1 Đặc điểm hoạt động học tập ở nhà trường trung học cơ sở
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh, nhưngđến học sinh trung học cơ sở, hoạt động học tập được xây dựng lại một cách
cơ bản so với lứa tuổi học sinh tiểu học
Các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đã chỉ ra răng, ở thời
kỳ đầu của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở chưa có kỹ năng cơ bản để tổchức tự học (các em chỉ tự học khi có bài tập, nhiệm vụ được giao) sau khichuyển sang mức độ cao hơn (độc lập nắm vững tài liệu mới, những tri thứcmới) Bắt đầu ở lứa tuổi này cũng là bắt đầu hình thành mức độ hoạt đônghọc tập cao nhất Đối với các em ý nghĩa của hoạt động học tập dần dầnđược xem như là hoạt động độc lập hướng vào sự thoả mãn nhu cầu nhậnthức Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy động cơ học tập của học sinhtrung học cơ sở có một cấu trúc phức tạp, trong đó các động cơ xã hội khácnhau được kết hợp thành một khối (học tập để phục vụ xã hội, để lao độngtốt ) Những động cơ nhận thức và những động cơ riêng (ví dụ muốn có uytín, có địa vị trong lớp ) liên quan với lòng mong muốn tiến bộ và lòng tựtrọng Đôi khi ta lại thấy có sự mâu thuẫn giữa sự mong muốn trao đổi tri thứcvới thái độ bàng quan và thậm chí thái độ xấu đối với học tập, thái độ "phớtđời" đối với điểm số
Sở dĩ có tình trạng trên, là do nguyên nhân như sau: Do phản ứng độcđáo của lứa tuổi này đối với thất bại trong học tập; do xung đột với giáo viên.Các em thường xuyên hay xúc động mạnh khi thất bại trong học tập, nhưnglòng tự trọng thường làm các em che dấu, thờ ơ, lãnh đạm đối với thành tíchhọc tập Nhiều lúc chúng ta thấy các em thường nhắc bài cho nhau Việc làmnày của các em có nhiều động cơ khác nhau Nhưng các nhà tâm lý học đãxác nhận rằng, đó là động cơ thuộc về mặt nhận thức, đạo đức của các em.Các em nhắc bài cho bạn là muốn giúp bạn, bởi vì các em quan niệm giúpbạn là giúp bằng mọi phương tiện Có em nhắc bài cho bạn để tỏ rõ sự hiểu
Trang 27biết của mình, muốn khoe khoang sự chăm chỉ học bài của mình Tóm lại,động cơ học tập của học sinh trung học cơ sở rất phong phú đa dạng, nhưngchưa bền vững, nhiều khi còn thể hiện sự mâu thuẫn của nó.
Thái độ đối với học tập của học sinh trung học cơ sở cũng rất khácnhau Tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của họctập, nhưng thái độ biểu hiện rất khác nhau Sự khác nhau đó được thể hiệnnhư sau:
- Trong thái độ học tập: Từ thái độ rất tích cực, có trách nhiệm đến thái
độ lười biếng, thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong học tập
- Trong sự hiểu biết chung: Từ mức độ phát triển cao và sự ham hiểubiết nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau ở một số em, nhưng ở một số em khácthì mức độ phát triển rất yếu, tầm hiểu biết rất hạn chế
- Trong phương thức lĩnh hội tài liệu học tập: Từ chỗ có kỹ năng học tậpđộc lập, có nhiều cách học đến mức hoàn toàn chưa có kỹ năng học tập độclập, chỉ biết học thuộc lòng từng bài, từng câu, từng chữ
- Trong hứng thú học tập: Từ hứng thú biểu hiện rõ rệt đối với một lĩnhvực tri thức nào đó và có những việc làm có nội dung cho đến mức độ hoàntoàn không có hứng thú nhận thức, cho việc hoàn toàn gò ép, bắt buộc
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để giúp các em có thái độđúng đắn với việc học tập, thì:
- Tài liệu học tập phải súc tích về nội dung khoa học
- Tài liệu học tập phải gắn với cuộc sống của các em làm cho các emhiểu rõ ý nghĩa của tài liệu học tập
- Tài liệu phải gợi cảm, gây cho học sinh hứng thú học tập
- Trình bày tài liệu, phải gợi cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu tài liệu đó
- Phải giúp đỡ các em biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp
2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở
Trang 28Sự thay đổi tính chất và các hình thức hoạt động học tập cùng với óc tò
mò, ham hiểu biết phát triển đòi hỏi hoạt động trí tuệ của học sinh trung học
cơ sở phát triển cao hơn các lứa tuổi trước
- Học sinh trung học cơ sở có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạphơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lượng trị giác tăng lên, tri giác trởnên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn
Ở lứa tuổi này trí nhớ cũng được thay đổi về chất Đặc tính cơ bản củalứa tuổi này là sự tăng cường tính chất chủ định của các chức năng này Trínhớ dần dần mang tính chất của những quá trình được điều chỉnh, điều khiển
và có tổ chức
Học sinh trung học cơ sở có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệutrừu tượng, từ ngữ Những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy của học sinhtrung học cơ sở nhằm ghi nhớ tài liệu nhất định, kỹ năng nắm vững phươngtiện ghi nhớ được phát triển ở mức độ cao hơn nhiều so với học sinh tiểu học.Học sinh trung học cơ sở bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt
để ghi nhớ và nhớ lại Khi ghi nhớ các em đã biết tiến hành các thao tác như
so sánh, hệ thống hoá, phân loại Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu ghinhớ được tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớlôgic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn
Nếu trước đây các em học sinh tiểu học thường cố gắng ghi nhớ từngchữ, từng bài, thì bây giờ các em học sinh trung học cơ sở thường phản đốiyêu cầu của giáo viên bắt buộc thuộc lòng và có khuynh hướng muốn tái hiệnbằng lời nói của mình Vì thế giáo viên phải:
+ Dạy cho học sinh phương pháp đúng đắn của việc ghi nhớ lôgic (kỹnăng biết phân đoạn theo ý nghĩa, biết tách ra các ý làm điểm tựa để nhớ,biết ôn tập, lập dàn bài sơ lược để ghi nhớ )
+ Cần giải thích cho các em rõ sự cần thiết phải ghi nhớ chính xácnhững định nghĩa, những quy luật Ở dây phải chỉ cho các em thấy nếu ghinhớ thiếu một từ nào đó, thì ý nghĩa của nó không còn chính xác nữa
Trang 29+ Rèn luyện cho các em kỹ năng trình bày chính xác nội dung bài họctheo cách diễn đạt của mình.
+ Khi tổ chức quá trình ghi nhớ, học sinh trung học cơ sở thường kiểmtra hiệu quả ghi nhớ bằng sự nhận lại; nhưng hiệu quả của ghi nhớ khôngphải đo bằng sự nhận lại, mà bằng sự tái hiện Vì thế kiểm tra sự ghi nhớ,phải bằng sự tái hiện thì mới biết được hiệu quả của việc ghi nhớ
Một đặc điểm nữa của trí nhớ học sinh trung học cơ sở là sự thiết lậpcác mối liên tưởng phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu cũ đưa tài liệu cũvào hệ thống tri thức I.A Xamarin và những người cộng tác với ông đã xácđịnh quá trình hình thành hệ thống tri thức đều dựa vào việc thiết lập các mốiliên tưởng ở mức độ khác nhau Từ việc thành lập những liên tưởng riêng lẻ(liên tưởng cục bộ) và liên tưởng hệ thống (tri thức về từng vấn đề tồn tại táchrời nhau) Đó là đặc điểm liên tưởng của học sinh tiểu học nhưng ở học sinhtrung học cơ sở đặc điểm liên tưởng ở mức độ cao hơn, từ mức độ hìnhthành mối liên tưởng bên trong bộ môn (phản ánh hệ thống tri thức bên trongcác môn học) sang mối liên tưởng giữa các môn học (giữa các hệ thống trithức) Điều này giúp cho học sinh trung học cơ sở thấy được mối liên hệ giữatri thức của các môn học khác nhau, hiểu biết về cái chung, sự thống nhất trithức của nhiều khoa học khác nhau
- Sự phát triển chú ý của học sinh trung học cơ sở diễn ra rất phức tạp.Một mặt,chú ý có chủ định bền vững được hình thành; nhưng mặt khác, sựphong phú của những ấn tượng, sự rung động tích cực và xung động mạnh
mẽ của lứa tuổi này thường dẫn đến sự chú ý không bền vững Tất cả nhữngcái đó đều phụ thuộc vào điều kiện làm việc, nội dung tài liệu, tâm trạng, thái
độ của các em đối với công việc học tập
Ở lứa tuổi này tính lựa chọn của chú ý phụ thuộc rất nhiều vào tính chấtcủa đối tượng học tập và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó Vìthế ở giờ học này các em không tập trung, chú ý, đãng trí, nhưng ở giờ họckhác thì lại làm việc rất nghiêm chỉnh, tập trung chú ý rất cao độ
Trang 30Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ở lứa tuổi học sinh trung học cơ
sở, khối lượng chú ý tăng lên rõ rệt; khả năng di chuyển chú ý từ thao tác nàyđến thao tác khác, từ hoạt động này đến hoạt động khác cũng được tăngcường rõ rệt Các em có thể đang học môn này chuyển sang học môn khácvẫn tập trung chú ý vào việc học tập dễ dàng
Biện pháp tốt nhất để tổ chức sự chú ý của học sinh trung học cơ sở là
tổ chức hoạt động học tập sao cho các em ít có thời gian nhàn rỗi, cũngkhông có ý muốn và khả năng bị thu hút vào một đối tượng nào đó trong thờigian lâu dài Những công việc hứng thú, giờ học hứng thú có tác dụng gây sựsay mê, tập trung chú ý của các em Nhưng cần lưu ý, không phải bao giờcác em cũng thích cái vui, cái dễ hiểu; mà chính những giờ học có nội dung,
có sự chuyển tiếp từ hình thức làm việc này đến hình thức làm việc khác, đòihỏi các em phải hoạt động nhận thức tích cực đó chính là hình thức tốt làmcho các em có khả năng tự tổ chức sự chú ý của mình
Những công trình nghiên cứu của N.F Đôbrưnhin và những người khác
đã cho bi,t từ chú ý có chủ định được duy trì bằng nỗ lực ý chí, các em ngàycàng chuyển sang chú ý sau chủ định Nó được xuất hiện do sự lôi cuốn dầndần của công tiệc có tính “phát minh”, và vì vậy không đòi hỏi các em phải cónhững nỗ lực ý chí để duy trì sự chú ý của mình
Hoạt động tư duy của học sinh trung học cơ sở cũng có những biến đổi
cơ bản Do nội dung các môn học phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi tínhchất mới mẻ của công việc lĩnh hội tri thức: đòi hỏi phải dựa vào tư duy độclập, khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá, so sánh, phán đoán mới rút rađược kết luận, mới hiểu được tài liệu học Vì thế tư duy của học sinh trunghọc cơ sở đã phát triển ở mức độ cao hơn học sinh tiểu học
Việc học tập môn toán là điều kiện quan trọng đối với quá trình pháttriển tư duy khái quát và tư duy luận Sự bắt đầu học tập có hệ thống môn đại
số cũng kích thích quá trình chuyển sang trình độ khái quát cao hơn, và điềunày liên quan đến quá trình khái quát hoá cái đã khái quát hay trừu tượng cái
đã trừu tượng (số học là sự trừu tượng hoá từ các đồ vật; đại số là sự trừu
Trang 31tượng hoá các số từ các số cụ thể) Việc học tập hình học làm phát triển kỹnăng phán đoán, chứng minh lý giải các vấn đề một cách chặt chẽ logic.
Qua mỗi năm học ở nhà trường trung học cơ sở, khả năng tư duy trừutượng được phát triển Sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng cụthể sang tư duy trừu tượng, khái quát mà sự chiếm ưu thế của tư duy trừutượng là đặc điểm cơ bản về hoạt động tư duy của lứa tuổi học sinh trung học
cơ sở Tuy nhiên những thành phần hình tượng - cụ thể của tư duy bộ phậnkhông giảm xuống, không mất đi mà vẫn tồn tại và được phát triển Nó vẫngiữ một vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Sự coi thường những đặcđiểm của tư duy trực quan - hình tượng của lứa tuổi này sẽ dẫn đến tình trạngkhi phân tích những dấu hiệu bản chất trừu tượng này một cách hình thức
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhiều học sinh trung học cơ
sở hiểu những dấu hiệu bản chất của đối tượng, nhưng không phải bao giờcũng phân biệt được dấu hiệu đó trong tất cả các trường hợp cụ thể Ví dụchưa nhận biết được tam giác vuông, khi góc vuông ở phía trên và cạnhhuyền ở phía đáy của tam giác
Ý nghĩa của thành phần hình tượng - cụ thể của tư duy là ở chỗ trongnhiều trường hợp tác động của những ấn tượng trực tiếp cảm tính mạnh mẽhơn tác động của từ ngữ Kết quả là sẽ thu hẹp hay mở rộng không đúng mộtkhái niệm nào đó Vì thế nếu chỉ dừng ở tư duy trực quan - hình tượng, màkhông quan tâm đến sự phát triển tư duy trừu tượng cho các em thì là một sailầm rất nghiêm trọng Bởi vì, nếu các em không phát triển tư duy trừu tượngthì không thể nào lĩnh hội được các khái niệm khoa học trong chương trìnhhọc tập của các em Do đó dạy học phải tạo điều kiện để phát triển tư duytrừu tượng cho các em
V – HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ
SỞ
1 Sự hình thành kiểu quan hệ mới
Trang 32Học sinh trung học cơ sở có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn
và mong muốn người lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng như người lớn,không muốn người lớn coi nó như trẻ con như trước đây nữa
Kiểu quan hệ của người lớn với trẻ em trước đây (kiểu quan hệ khôngbình đẳng giữa người lớn và trẻ em) không còn thích hợp với lứa tuổi này Vìthế các em mong muốn cải tổ lại mối quan hệ này theo chiều hướng hạn chếquyền hạn của người lớn, mở rộng quyền hạn của mình Các em mong muốnngười lớn tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tin tưởng và mở rộng tính độc lập
Để duy trì sự thay đổi mối quan hệ giữa các em và người lớn, các em
có những hình thức chống cự, không phục tùng xem như là phương tiện đểthay đổi kiểu quan hệ cũ bằng kiểu quan hệ mới Sự nảy sinh ở lứa tuổi nàycảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu được người lớn thừa nhận nó làngười lớn đã đưa đến vấn đề quyền hạn của người lớn và các em trong quan
hệ với nhau cần phải thay đổi
Như vậy, việc chuyển tiếp từ kiểu quan hệ giữa người lớn với trẻ em(đặc thù cho lứa tuổi thơ ấu), sang kiểu quan hệ mới về chất (đặc thù cho sựgiao tiếp của học sinh trung học cơ sở với người lớn), tạo điều kiện phát triểnmức độ trưởng thành ở lứa tuổi này Tất nhiên việc chuyển tiếp này có thểdiễn ra thuận lợi, hoặc khó khăn, điều này phụ thuộc hoàn toàn vào sự hiểubiết và thái độ của người lớn
Tuy nhiên, không phải mọi người lớn đều nhận thức được nhu cầu cầnthay đổi kiểu quan hệ với các em Điều này mâu thuẫn với xu thế "vươn lênlàm người lớn" của các em, với cảm giác trưởng thành của các em, hạn chếchuyển từ trẻ em sang người lớn, là đặc trưng của lứa tuổi này, là nguyênnhân dẫn đến sự xung đột giữa các em với người lớn
Nếu người lớn không chịu thay đổi quan hệ với các em thì các em sẽtrở thành người khởi xướng thay đổi mối quan hệ này Nếu người lớn chốngđối, sẽ gây ra phản ứng của các em với người lớn dưới dạng bướng bỉnh, bấtbình, không vâng lời Nếu người lớn thấy sự phản đối của các em, mà không
Trang 33suy xét về phía mình để thay đổi mối quan hệ với các em thì sự xung đột giữacác em và người lớn còn kéo dài đến hết thời kỳ của lứa tuổi này.
Những quan hệ xung đột giữa các em và người lớn làm nảy sinh nhữnghành vi tương ứng ở các em: xa lánh người lớn, không tin tưởng vào ngườilớn, cho rằng người lớn không hiểu các em, khó chịu một cách có ý thức đốivới những yêu cầu, những đánh giá, nhận xét của người lớn Tác động giáodục của người lớn đối với các em bị giảm sút
Tính độc lập và quyền bình đẳng trong quan hệ của các em với ngườilớn là vấn đề phức tạp và gay gắt nhất trong sự giao tiếp của các em vớingười lớn nói riêng, trong việc giáo dục các em ở lứa tuổi này nói chung.Nhưng khó khăn đặc thù này có thể giải quyết, nếu người lớn và các em xâydựng được mối quan hệ bạn bè, hoặc quan hệ có hình thức hợp tác trên cơ
sở tôn trọng, tin tưởng giúp đỡ lẫn nhau Sự hợp tác này cho phép người lớnđặt các em vào vị trí mới - vị trí của người giúp việc và người bạn trong nhữngcông việc khác nhau, còn bản thân người lớn trở thành người mẫu mực, vàngười bạn tin cậy của các em
2 Hoạt động giao tiếp của học sinh trung học cơ sở với bạn bè
Sự giao tiếp của học sinh trong học cơ sở với bạn bè cùng lứa tuổi Mốiquan hệ của học sinh trung học cơ sở với bạn bè cùng lứa tuổi phức tạp, đadạng hơn nhiều so với học sinh tiểu học Sự giao tiếp giữa các em đã vượt rangoài phạm vi học tập, phạm vi nhà trường, mà còn mở rộng trong nhữnghứng thú mới, những việc làm mới, những quan hệ mới trong đời sống củacác em Các em có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn bè vì một mặt, các emrất khao khát được giao tiếp và cùng hoạt động chung với nhau, các em cónguyện vọng được sống tập thể, có những đồng chí, bạn bè thân thiết, tincậy; mặt khác cũng biểu hiện nguyện vọng không kém phần quan trọng làđược bạn bè công nhận, thừa nhận, tôn trọng mình
Học sinh trung học cơ sở coi quan hệ bạn bè cùng lứa tuổi là quan hệriêng của những cá nhân Các em cho rằng các em có quyền hành động độclập trong quan hệ này và bảo vệ quyền đó của mình Nếu có sự can thiệp thô
Trang 34bạo của người lớn, khiến các em cảm thấy bị xúc phạm, thì các em chống đốilại.
Nếu như quan hệ của các em với người lớn càng không thuận hoà, thì
sự giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi càng tăng và ảnh hưởng của bạn bè đếnvới các em càng mạnh mẽ
Sự bất hoà trong quan hệ bạn bè cùng lớp, sự thiếu thốn bạn thân hoặctình cảm bị phá vỡ đều sinh ra những cảm xúc nặng nề, được xem như là bikịch của cá nhân Tình huống khó chịu nhất đối với các em là sự phê bìnhthẳng thắn của lập thể, của bạn bè; còn hình phạt nặng nề nhất đối với các
em là bị bạn bè tẩy chay, không muốn chơi với mình
- Học sinh tiểu học khi kết bạn thường căn cứ nhiều vào sức học, hành
vi, tính tích cực xã hội của các bạn, tức là vào việc bạn mình thực hiện nhữngyêu cầu của người lớn như thế nào Đối với học sinh trung học cơ sở, điềuquan trọng để kết bạn là những phẩm chất về tình bạn "Bộ luật tình bạn" đốivới các em bao gồm những chuẩn mực quan trọng nhất là sự tôn trọng lẫnnhau, quan hệ bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau, lòng trung thành, tính trungthực Đó là cơ sở để học sinh trung học cơ sở giao tiếp và kết bạn với nhau
- Tình bạn trong đời sống của học sinh trung học cơ sở Các em ở lứatuổi này thích giao tiếp và kết bạn với nhau Nhưng không phải là mọi em ởtrong lớp đều được các em yêu thích giao tiếp như nhau Các em chỉ kết bạnvới những em được mọi người tôn trọng, có uy tín và tiến bộ rõ rệt về một mặtnào đó Lúc đầu phạm vi giao tiếp của các em thường rộng, nhưng khôngđược bền vững, có tính chất tạm thời Đó là thời kỳ lựa chọn tìm kiếm ngườibạn thân Về sau những em có cùng hứng thú, cùng yêu thích một loại hoạtđộng nào đó thì gắn bó với nhau, thích giao tiếp, trò chuyện với nhau Phạm
vi giao tiếp của các em hẹp lại nhưng quan hệ giữa các em gắn bó với nhauhơn Trong giao tiếp, các em chịu ảnh hưởng của nhau Nhiều em lúc đầukhông ưa thích hoạt động nào đó, nhưng vì chơi với bạn, bạn hứng thú vềhoạt động đó, mà làm lây sang em Vì vậy giao tiếp với bạn là nguồn nảy sinhhứng thú mới
Trang 35Những ưu điểm của bạn mà nó yêu thích đã làm cho các em phải suynghĩ về mình một cách nghiêm túc, mong muốn mình cũng có những mặt ưuđiểm như bạn Do đó bạn bè có thể trở thành hình mẫu đối với các em.
Trong quan hệ giao tiếp của lứa tuổi tuổi này, trò chuyện giữ một vị trí
có ý nghĩa đối với các em Trong chuyện trò, các em đã kể cho nhau về mọimặt sinh hoạt, đời sống và suy nghĩ của mình Các em có thể nói với nhau cảnhững chuyện, những điều "bí mật", mà những điều này nhiều khi các emkhông kể với ai, kể cả với người thân trong gia đình Vì thế mà các em yêucầu rất cao đối với bạn bè Các em hiểu đã là bạn bè của nhau thì phải cởi
mở, hiểu nhau, tế nhị, vị tha, đồng cảm và giữ bí mật cho nhau
Lý tưởng tình bạn của lứa tuổi này là “sống chết có nhau”, “chia ngọt sẻbùi” Điều đó không chỉ là sự tuân theo một cách nghiêm ngặt bộ luật tìnhbạn, mà còn là vấn đề người này thâm nhập vào mọi mặt đời sống của ngườikia, cùng nhau hợp tác hành động Càng lớn lên sự thâm nhập về tâm hồngiữa các em càng được nảy nở, phát triển Đó là sự giống nhau về đời sốngnội tâm, là sự hiểu biết nhau, sự trùng hợp về những giá trị của các nhân, vềnhững hoài bão, về quan điểm trong cuộc sống
Sự hình thành tình bạn như thế, thường đi kèm theo những cuộc thảoluận, tranh luận với nhau về những vấn đề: cuộc sống, đạo đức, thẩm mỹ Trong quá trình tranh luận sẽ hình thành những quan niệm, mà các em ý thứcđược đó là những quan niệm riêng, nghĩa là niềm tin ở các em bắt đầu đượchình thành
Tóm lại, sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là một loạihoạt động đặc biệt, mà đối tượng của hoạt động này là người khác - ngườibạn, người đồng chí Nội dung của hoạt động này là sự xây dựng những quan
hệ qua lại và những hành động trong quan hệ đó Nhờ hoạt động giao tiếp màcác em nhận thức được người khác và bản thân mình; đồng thời qua đó làmphát triển một số kỹ năng như kỹ năng so sánh phân tích, khái quát hành vicủa bản thân và của bạn, làm phong phú thêm những biểu tượng về nhâncách của bạn và của bản thân
Trang 36Đó chính là ý nghĩa to lớn của sự giao tiếp ở lứa tuổi này với sự hìnhthành và phát triển nhân cách Vì thế làm công tác giáo dục phải tạo điều kiện
để các em giao tiếp với nhau, hướng dẫn và kiểm tra sự quan hệ của các em,tránh tình trạng ngăn cấm, hạn chế sự giao tiếp của lứa tuổi này
- Một số đặc điểm quan hệ giữa các em trai và các em gái ở lứa tuổinày
Quan hệ giữa các em trai và em gái ở lứa tuổi này có sự thay đổi cơbản so với lứa tuổi trước Ở đây ta thấy các em đã bắt đầu biểu hiện quantâm lẫn nhau, ưa thích nhau, và do đó quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình
Lúc đầu sự quan tâm tới giới khác, ở các em nam có tính chất tản mạn,
và biểu hiện bằng phương thức đặc thù của trẻ con, như xô đẩy, trêu trọc các
em gái Các em gái nhiều khi rất bực, không hài lòng về những hành vi nhưthế của các em trai, song động cơ của những hành vi đó, các em gái ý thứcđược và không bực tức, giận dỗi các em trai
Về sau những quan hệ này được thay đổi, mất tính trực tiếp, xuất hiệntính ngượng ngùng, nhút nhát, e thẹn, ở một số em điều đó được bộc lộ trựctiếp còn một số khác thì được che giấu bằng thái độ thờ ơ giả tạo, "khinh bỉ"đối với người khác giới Hành vi này mang tính chất hai mặt: sự quan tâm đếnnhau cùng tồn tại với sự phân biệt nam nữ
Có nhiều em học sinh lớp 8 và lớp 9, đặc biệt là các em gái hay để ýđến vấn đề ai yêu ai
Mặc dù điều này các em rất bí mật, nếu có kể cho ai biết, thì chỉ kể chonhững người bạn thật tin cậy, thân thiết Nhưng không hiểu làm sao các emkhác lại biết dược Điều đó chứng tỏ các em theo dõi quan sát nhau, để ý đếnnhau thường xuyên
Ở học sinh các lớp 6 và 7, tình bạn giữa nam và nữ ít nảy sinh, nhưng
ở các học sinh lớp 8 và 9 thì nảy sinh thường xuyên hơn, sự gắn bó giữa haibên rất thắm thiết và nó giữ một vị trí lớn trong cuộc sống của các em Ở cáclớp này đã xuất hiện các nhóm hỗn hợp (cả nam lẫn nữ vao một nhóm bạn)
Trang 37Hứng thú đối với người bạn cùng học khác giới có ý nghĩa không nhỏ đối với
sự phát triển nhân cách của các em Mối cảm tình, thân thiện đã động viênnhau, gợi ý cho nhau, kích thích nhau làm điều tốt, giúp nhau bảo vệ lẫnnhau Đây là một động lực tự hoàn thiện bản thân của từng em
Tất nhiên trong quan hệ nam nữ ở lứa tuổi này cũng có thể lệch lạc.Quan niệm về bạn khác giới không đúng mực, đi đến chỗ đua đòi chơi bời, bỏviệc học tập và những công việc khác Vì thế làm công tác giáo dục phải thấyđược điều đó, để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn giữa nam và nữ ở lứa tuổinày thật lành mạnh, trong sáng và nó là động lực để giúp nhau trong học tập,trong tu dưỡng
VI – SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ
1 Sự hình thành tự ý thức của học sinh trung học cơ sở
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học nguyện vọng tự đánh giá mình như "Tôihơn người ở cái gì"; "Tôi đã có tính như thế nào?"; "Tôi có cái gì tốt?"; "Tôi cónhững khuyết điểm gì?" chưa cao Nhưng ở lứa tuổi học sinh trung học cơ
sở đã bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chấtnhân cách của mình Ở các em đã xuất hiện nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu sosánh mình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch cho mìnhmột nhân cách tương lai, muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cáchcủa mình
Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây nhiều ấn tượngsâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập,đến sự hình thành mối quan hệ qua lại với mọi người Tự ý thức không cónghĩa là tách rời khỏi thực tế, khỏi thế giới cảm xúc bên trong; không phải là
sự thể hiện độc nhất nguyện vọng tự nhận thức, tự mổ xẻ; tự phân tích triềnmiên, vô bổ Nhu cầu tự ý thức tự nảy sinh từ nhu cầu cuộc sống, từ hoạtđộng thực tiễn, từ yêu cầu mong muốn của người lớn, của tập thể quy định
Do sự phát triển mối quan hệ với tập thể, với đời sống xã hội, mà học sinh
Trang 38trung học cơ sở nảy sinh nhu cầu đánh giá khả năng của mình, tìm kiếm vị trícủa mình, hành vi của mình giúp cho các em hoặc ngăn cản các em đạt đượclòng mong muốn trở thành người lớn.
Sự tự ý thức của lứa tuổi này được bắt đầu từ sự tự nhận thức hành vicủa mình Lúc đầu các em tự nhận thức những hành vi riêng lẻ sau đó làtoàn bộ hành vi của mình Cuối cùng các em nhận thức về những phẩm chấtđạo đức, tính cách và khả năng của mình
Sự hình thành tự ý thức của các em là một quá trình diễn ra dần dần
Cơ sở đầu tiên của sự tự ý thức của các em là sự nhận xét đánh giá củangười khác, nhất là người lớn Vì thế các em ở đầu lứa tuổi này hình nhưnhận xét mình bằng con mắt của người khác Tuổi các em càng nhiều, các
em bắt đầu có khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá nhân cách củamình hơn
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy, không phải toàn bộ những néttính cách được các em ý thức cùng một lúc Những phẩm chất được các em
ý thức được trước, đó là những phẩm chất có liên quan đến nhiệm vụ họctập Ví dụ như tính kiên trì, sự chú ý, sự chuyên cần
- Sau đó là thể hiện thái độ với người khác Ví dụ: tình đồng chí, tìnhbạn, tính vị tha, tính nhẫn nại, tính bướng bỉnh
- Tiếp đến là những phẩm chất thể hiện thái độ đối với bản thân Ví dụ:tính khiêm tốn, tính tự cao, tính khoe khoang, tính tự phê
- Cuối cùng là những nét tính cách tổng hợp thể hiện nhiều mặt củanhân cách Ví dụ: tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng, danh dự, tính nguyêntắc, tính mục đích
Sở dĩ quá trình hình thành sự tự ý thức diễn ra như trên vì:
- Hoạt động học tập và thái độ đối với mọi người được các em xác định
là mặt biểu hiện chủ yếu của nhân cách
Trang 39- Những nét tính cách như tính khiêm tốn, tính tự cao, tính khoekhoang là những nét tính cách các em dễ nhận thấy khi giao tiếp với mọingười.
- Còn những nét tính cách như tình cảm trách nhiệm, tính nguyên tắc,tính mục đích là những nét tính cách phức tạp tổng hợp do đó mà các em khónhận thấy ngay
Đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sự mâu thuẫngiữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kĩ năng chưa đầy đủ để phân tích đúngđắn sự biểu lộ của nhân cách Trên cơ sở đó nảy sinh những xung đột domâu thuẫn giữa mức độ kì vọng của các em với địa vị thực tế của chúng trongtập thể, mâu thuẫn giữa thái độ của các em với bản thân, đối với những phẩmchất nhân cách của mình và thái độ của các em đối với người lớn, đối với bạn
bè cùng lứa tuổi Vì thế A.G.Côvaliov nhận xét rằng, sự đánh giá đúng đắnnhân cách của lứa tuổi này quan trọng như thế nào, để đừng gây cho các emhai rung cảm trái ngược nhau: tự cao và kém cỏi
Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi học sinh trunghọc cơ sở là cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trịđúng đắn Mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánhgiá của mình là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động củacác em, nguyện vọng tìm kiếm một vị trí trong hệ thống những mối quan hệ xãhội đúng đắn với các em, cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ýthức của các em
Như vậy trên cơ sở phát triển tự ý thức và thái độ nhận thức thức thực tế;trên cơ sở yêu cầu ngày càng cao đối với chúng Vị trí mới mẻ của các emtrong tập thể, đã làm nảy sinh khát vọng tự tu dưỡng nhằm mục đích pháttriển cho bản thân những nét tính cách tốt, khắc phục những nét tính cách lạchậu, những khuyết điểm, sai lầm của mình
2 Sự hình thành tình cảm ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Trang 40Tình cảm của các em học sinh trung học cơ sở sâu sắc và phức tạphơn các em học sinh tiểu học Một đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúcđộng, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá dễ dàng, tình cảm còn mang tínhbồng bột, hay say Đặc điểm này là do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thayđổi một số cơ quan nội tạng gây nên Nhiều khi còn do hoạt động thần kinhkhông cân bằng, thường quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế, màkhiến các em không tự kìm chế nổi Khi tham gia các hoạt động vui chơi, họctập, lao động, các em đều thể hiện tình cảm rất rõ rệt và mạnh mẽ Đặc biệtnhững lúc xem phim, xem kịch các em đã biểu hiện những cảm xúc rất đadạng, khi thì hồi hộp cảm động, khi thì phấn khởi vui tươi, có khi lại rất omsòm la hét Vì thế một số nghệ sỹ đã cho rằng, các em ở lứa tuổi này lànhững khán giả ồn ào nhất và cũng đáng biết ơn nhất
Tính dễ kích động của các em đôi khi dẫn đến những xúc động rấtmạnh mẽ như vui quá trớn, buồn ủ rũ, lúc thì quá hăng say, lúc thì quá chánnản Nhiều em tâm trạng thay đổi rất nhanh chóng và dễ dàng, có lúc đangvui chỉ vì một cái gì đó lại sinh ra buồn ngay, hoặc đang buồn bực nhưng gặpmột điều gì thích thú thì lại tươi cười ngay Do sự thay đổi tình cảm dễ dàngnhư thế, nên trong tình cảm của các em đôi lúc mâu thuẫn Chẳng hạn, đốivới em nhỏ này rất yêu thương quý mến, nhưng ngay lúc đó đối với em nhỏkhác, em có thể doạ nạt, trêu chọc Đối với người già yếu, tàn tật có khi các
em rất tận tình giúp dỡ, nhưng có lúc các em lại trêu chọc, lấy đó làm trò đùavới nhau
Tóm lại, có thể nói tình cảm ở lứa tuổi này mang tính bồng bột, sôi nổi,
dễ bị kích động, dễ thay đổi, đôi khi còn mâu thuẫn nữa
Tuy vậy, tình cảm của các em học sinh trung học cơ sở đã bắt đầu biếtphục tùng lý trí, tình cảm đạo đức đã phát triển mạnh
Do vốn kinh nghiệm trong cuộc sống của các em ngày càng phong phú,
do thực tế tiếp xúc hoạt động trong tập thể, trong xã hội mà tính bột phát trongtình cảm của các em dần dần bị mất đi nhường chỗ cho tình cảm có ý thứcphát triển