- Tỷ lệ giữa các thành phần sinh năng lượng nên là: đạm 15%, béo 20%, đường bột 65% Protein: Ðặc điểm của protein được cấu thành bởi nhiều chất axít - amin khác nhau, trong đó có 8 axít
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
GVHD: Cô Trần Thị Thu Trà
SVTH : 1 Trần Vũ Phương Trang 60902874
2 Nguyễn Thị Hồng Nhung 60901866
Trang 2Tháng 5 ,năm 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
GVHD: Cô Trần Thị Thu Trà
SVTH : 1 Trần Vũ Phương Trang 60902874
2 Nguyễn Thị Hồng Nhung 60901866
Trang 3Tháng 5 ,năm 2011
Bài tập xây dựng thực đơn
Đối tượng: em bé gái 2 tuổi
1 Các thông số của đối tượng cần xây dựng thực đơn
Tuổi : 2
Giới tính : Nữ
Cân nặng : 12 kg
Chiều cao : 86 cm
Vùng sinh sống : TPHCM, khí hậu nóng ẩm
Thói quen và công việc thường nhật: hoạt động nhẹ, chủ yếu là nghỉ ngơi, ngủ, chơi đùa nhẹ…
Bệnh : không
2 Tính toán các yêu cầu về dinh dưỡng
a) Tính năng lượng cần cung cấp cho 1 ngày
Chuyển hóa cơ bản
E CHCB = 665,09 + 9,56*W + 1,85*H – 4,67*A
= 665,09 + 9,56*12 + 1,85*86 - 4,67*2 = 930 Kcal/ngày
Năng lượng tiêu hóa thức ăn
E tiêuhóa= 10% E CHCB = 0,1*930 = 93 Kcal/ngày
Năng lượng cho vận động
E hoạtđộng = 300 Kcal/ngày
Tổng năng lượng cần cho 1 ngày:
E = E CHCB + E tiêuhóa + E hoạtđộng
= 930 + 93 + 300 = 1323 Kcal/ngày
b) Xác định số lượng bữa ăn và phân bố năng lượng giữa các bữa ăn
Trang 4Bữa tối(18 g) 25% 330,8 Kcal
Xác định tỉ lệ Protein : Lipid : Glucid theo khối lượng
a) Protein
- Cung cấp 15 % năng lượng / ngày
EProtein = 15 % E = 198 ( kcal / ngày )
MProtein = EProtein / 4 = 49,5 ( g )
MProtein động vật = 60 % MProtein = 29,7 ( g )
b) Lipid
- Cung cấp 25 % năng lượng / ngày
ELipid = 25 % E = 331 ( kcal / ngày )
MLipid = ELipid / 9 = 36,8 ( g )
MLipid thực vật = 60 % MLipid = 22,08 ( g )
c) Glucid
- Cung cấp 60 % năng lượng / ngày
EGlucid = 60 % E = 794 ( kcal / ngày )
MGlucid = EGlucid / 4 = 198,5 ( g )
3 Đưa ra lời khuyên dinh dưỡng cho trẻ 2 tuổi
Bữa ăn hợp lý phải bảo đảm đủ các thành phần dinh dưỡng Đạm, béo, đường, vitamin và muối khoáng phải ở tỷ lệ cân đối Giai đoạn này, mỗi tháng trẻ tăng 150-250g và cao thêm 0,5-0,7cm, chính vì vậy, chế độ ăn uống của trẻ phải được cân nhắc kĩ lưỡng và cẩn thận
Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng thực đơn cho trẻ 2 tuổi:
Đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm
- Ăn đủ số lượng và chất lượng thực phẩm để trẻ nhận đủ năng lượng, đạm, các vitamin và khoáng chất mỗi ngày: năng lượng 1.300-1.400Kcal, gạo 150-250g (100g gạo tương đương với 200g bún hoặc bánh phở, 140g bánh mì), thịt, cá, tép (nạc) 100g, dầu 20-25g, rau (đã làm sạch) 100-150g
- Ngoài các bữa chính, mỗi ngày, bé cần được ăn thêm khoảng 2-3 bữa phụ vào lúc 9-14 giờ, 20-21 giờ Tuy gọi là bữa phụ nhưng năng lượng tổng cộng cũng phải tương đương 1/2 lít sữa tươi Trong đó, các món chính là sữa và sản phẩm từ sữa, kèm theo trái cây, nước trái cây, 1-2 cái bánh quy
Trang 5- Tỷ lệ giữa các thành phần sinh năng lượng nên là: đạm 15%, béo 20%, đường bột 65%
Protein:
Ðặc điểm của protein được cấu thành bởi nhiều chất axít - amin khác nhau, trong đó có 8 axít - amin cơ thể con người không tự tổng hợp được (hoặc tổng hợp không đủ) cho nên nhất thiết phải được cung cấp từ thức ăn Nhu cầu chất đạm của trẻ từ 1 - 3 tuổi là 28 g/ngày Cần ưu tiên các loại đạm động vật như: thịt, sữa, trứng, cá, tôm vì chúng có giá trị cao, có đủ các chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, ngoài ra còn giúp cho cơ thể trẻ khỏe mạnh, tăng sức chống đỡ với bệnh tật Lượng đạm động vật trong khẩu phần ăn của trẻ nên đạt từ 50 - 60% Tuy nhiên, nếu phối hợp tốt đạm động vật với đạm thực vật (đậu đỗ, vừng, lạc ) sẽ tạo nên sự cân đối giúp hấp thu và sử dụng đạm tốt hơn Protein là chất dinh dưỡng khó tiêu hoá, khó bài tiết các chất chuyển hoá, nên ăn
quá nhiều có thể gây gánh nặng cho cơ thể, nhất là trong trường hợp uông không đủ nước Vì thế, trong nguồn cung cấp năng lượng cho trẻ với tỉ lệ khoảng 14%-15% do protein là tốt Chế độ ăn thiếu đạm sẽ làm trẻ chậm lớn, khi trưởng thành có tầm vóc thấp
bé Ngoài ra, còn làm trẻ giảm sức đề kháng, tăng nhạy cảm với các bệnh nhiễm khuẩn và kém phát triển trí tuệ Tuy nhiên, cho trẻ ăn quá nhiều đạm cũng không tốt Trong quá trình tiêu hóa, chất đạm tạo ra nhiều sản phẩm trung gian thối rữa gây độc hại, mà các sản phẩm chuyển hóa của chất đạm đều phải được xử lý qua gan và thận Do vậy, nếu cho trẻ
ăn quá nhiều đạm sẽ làm tăng gánh nặng cho gan và thận, khiến cơ thể mệt mỏi Đồng thời bé cũng khó hấp thu các loại vitamin, dễ sút cân và đi ngoài phân sống Chất đạm có trong thịt, trứng, thủy hải sản (cá, tôm ); sữa và các sản phẩm từ sữa; các loại hạt thuộc
họ đậu (đậu xanh, đậu tương, đậu Hòa Lan ) Trong các loại ngũ cốc, protein ở gạo là tốt
nhất, tuy vậy trong chế độ ăn hàng ngày của trẻ, ngoài lương thực với gạo là chủ yếu, cần
có thêm các thức ăn giàu protein động vật, có thêm lượng dầu, mỡ cần thiết, các thứ rau quả giàu vitamin và muối khoáng (vì protein và các chất trong cốc dễ mất máu trong qúa trình xay xát chế biến)
Lipit
Ở trẻ em, tỉ lệ phát lipit trong khẩu phần hàng ngày chiếm khoảng 20-30% năng lượng là
đủ Dầu và mỡ cung cấp năng lượng trong bữa ăn của trẻ, làm cho thức ăn lỏng mềm, tạo cảm giác ngon miệng Nó cũng là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như
vitamin A, D, E, K Các vitamin này chỉ hấp thu được khi chế độ ăn có đủ dầu mỡ Ở lứa tuổi 1-3, trẻ cần khoảng 30-40 g dầu mỡ một ngày, cụ thể một bát bột hoặc cháo cần cho 1-2 thìa cà phê dầu hoặc mỡ Nếu trẻ đã ăn cơm thì cho dầu và mỡ vào xào, rán thức ăn.Nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ, nhất là mỡ các loại gia cầm như gà, ngan, vịt vì chúng chứa nhiều axit béo chưa no cần thiết cho sự phát triển của trẻ, nhất là các tế bào não
Chất béo có trong dầu thực vật như dầu lạc, dầu đậu nành, dầu ô-liu ; mỡ động vật như
bơ, mỡ lợn, mỡ gà, dầu cá ; các hạt chứa dầu như lạc, vừng, đậu tương Mỡ lợn, mỡ gà rất tốt cho trẻ vì trong thành phần các loại mỡ đó có các axit béo không no cần thiết như:
axit lioleic, axit liolemc, axit arachidonic rất cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ Với
trẻ ăn cháo: cũng như nấu với bột, sau khi cháo được mới cho dầu hoặc mỡ vào, quấy đều, đun chín lại Với trẻ ăn cơm: có thể dùng dầu rán, xào thức ăn cho trẻ, hoặc dùng dầu (bảo đảm chất lượng) trộn trực tiếp vào cơm, rau mỗi ngày với liều lượng từ
Trang 65g-25g Nếu trẻ ăn bột hoặc cháo nấu với thịt thì nên chọn thịt nạc lẫn mỡ (thịt nạc vai)
Hoặc với trẻ ăn cơm nên thêm vào khẩu phần của trẻ 1-2 thìa bột vừng trộn lạc Trong
khẩu phần của trẻ thường xuyên không có hoặc có quá ít nhất béo, cơ thể sẽ gián tiếp thiếu một số loại vitamin chỉ tan trong dầu mỡ, cũng như thiếu calo vì khối lượng protein
và gluxít ăn vào quá lớn do vậy trẻ nhanh no nhưng lại chóng đói, sinh mệt mỏi hay quấy
khóc Khẩu phần thiếu lipít là một trong những nguyên nhân gây bệnh suy dinh dưỡng
Protein - năng lượng ở trẻ em
Gluxit
Trẻ 2 tuổi cần khoảng 195 gam chất đường bột (Gluxit) 1 ngày ở trẻ, nhu cầu chất gluxít tương đối cao Nếu tính trong ba chất sinh nhiệt (đạm, béo, ngọt) thì trong khẩu phần hàng ngày của trẻ tỉ lệ các chất gluxít, chiếm khoảng 50 - 60% Cơ thể nếu thiếu chất ngọt dễ sinh chứng hạ đường huyết và ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng khác, vì thế trẻ gày yếu, mệt mỏi, chậm lớn Tinh bột có chứa chất xơ (hỗ trợ
hệ thống tiêu hoá) và các loại đường phức (cung cấp năng lượng kéo dài) Hơn nữa, tinh bột còn chứa các loại vitamin B và một số loại ngũ cốc chế biến sẵn sẽ cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết Chất gluxít không phải chỉ là những chất có khẩu vị ngọt như chất ngọt từ mía, tử củ cải đường, mật kẹo, bánh ngọt, mà còn có trong ngũ cốc với gạo, mì, ngô, kê các loại bột gạo (nếp, tẻ), bột mì, bột ngô các loại khoai củ, bột khoai
củ mì sợi, miến và các loại quả tươi
Chất xơ
Nó kích thích sự co bóp của dạ dày, ruột, tạo điều kiện cho các hoạt động sinh lý về tiêu hóa Nó còn giúp cho sự bài tiết cặn bã ở ruột, thậm chí bài tiết cả các chất gây độc hại Quan trọng của chất xơ là chống táo bón Do đó trong ăn uống cần có một tỉ lệ chất xơ hợp lý Chất xơ có nhiều ở rau Chất xơ không có trong các thức ăn gốc động vật, có ít trong các loại hạt củ quả Việc bảo đảm đủ rau xanh với một lượng chất xơ cần thiết là nguồn cung cấp vitamin và muối khoáng rất quan trọng, giúp tăng cường thể lực, tạo nên
sự tinh nhanh, khỏe mạnh cho con trẻ Nếu chế độ ăn của trẻ chỉ có sữa, nước xúp, trứng mà thiéu hoặc không có rau, củ, quả thì sẽ bị thiếu chất xơ (ảnh hưởng tới tiêu hóa) và thiếu các loại vitamin Thiếu vitamin trẻ sẽ chậm lớn, mệt mỏi.Nếu thiếu nhiều, kéo dài sẽ gây những bệnh đặc hiệu.rau quả giúp chuyển hóa các chất và tăng cường chất đề kháng, cung cấp vitamin và khoáng chất.Rau quả có màu vàng, đỏ, da cam vừa
là nguồn cung cấp caroten (tiền vitamin A) vừa là nguồn cung cấp vitamin C Nguồn sắt tốt có trong thức ǎn thực vật là đậu đỗ và các loại rau có màu xanh sẫm Sắt có trong thức ǎn động vật hấp thu tốt hơn trong thức ǎn thực vật nhưng trong rau quả lại có nhiều vitamin C giúp cơ thể hấp thu và sử dụng sắt có hiệu quả hơn Các chuyên gia dinh
dưỡng trên thế giới đều khuyến cáo nên cho trẻ ăn rau củ quả 5 lần mỗi ngày Ngoài các món rau củ quả trong bữa ăn chính, bố mẹ nên cho con ăn thêm hoa quả hoặc uống sinh
tố, nước cam có thể xác định nhu cầu chất xơ bé trên 2 tuổi cần là: lấy số tuổi + 5 = số gam chất xơ cho bé Để có đủ lượng cung cấp chất xơ cho cơ thể, các bé cần ăn khoảng
200 – 300g rau và 100g quả chín mỗi ngày Các loiạ trái cây và rau củ giàu chất xơ như:
lê, táo, đu đủ,…khoai lang, bí ngô, cải xanh
Trang 7 Vitamin
Nhu cầu vitamin thay đổi tùy theo tuổi, tùy theo bệnh và tùy theo trạng thái hoạt động của cơ thể (cần nhiều hơn bình thường với trẻ em, phụ nữ có thai, với người lao động vất
vả, người mẹ cho con bú ) Với mỗi người, nhu cầu vitamin tuy chỉ cằn một lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ ảnh hnởng rất đến sự phát triển bình thường của cơ thể, đặc biệt đối với trẻ em (ốm đau, chậm phát triển )
Vitamin A
Nhu cầu vitamin A ở trẻ không cao lắm Trẻ 1 - 3 tuổi cần 400 mcg/ngày Cái tốt của vitamin A là, nếu ta ăn nhiều một lần, hai lần, thường không bị lãng phí mà được lưu giữ lại ở gan, để thỏa mãn dần cho nhu cầu trong 5, 6 tháng (khác với B1 - C cần phải được
cung cấp đều đặn, thường xuyên) Trong thức ăn hàng ngày nếu trẻ ăn đủ thịt, cá loại thì
không sợ thiếu vitamin A Tuy vậy, không phải bữa nào trẻ cũng ăn nhiều thịt cá, cho nên trong việc lựa chọn thức ăn cho trẻ cần phải có sự ưu tiên những thức ăn có nhiều vitamin A nhất: lòng đỏ trứng, các loại gan (gà, cá, lợn, bò), cá bơ, sữa ; dầu cá, đậu phụ ; gấc, cà chua, bí, cà rốt, cần tây, hành hoa ; mơ, xoài, muỗm, đu chín thực tế ở Việt Nam, nguồn vitamin A chủ yếu là ở rau, quả Trong rau quả tươi có chất
betacaroten (tiền vitamin A), khi vào cơ thể sẽ tạo nên vitamin A Vì thế với chế độ ăn
đủ rau, quả tươi thì nếu có thiếu chút ít thịt, cá cũng không sợ thiếu vitamin A Các loại
rau có màu xanh đậm và các loại quả có màu vàng da cam hay màu đỏ khi chín như đu
đủ, xoài, quả trứng gà, khoai lang nghệ, cà rốt, gấc (màng hạt gấc) đều có nhiều
betacaroten Ðiều đáng chú ý nhất là trong chế độ ăn cùng với rau quả tốt nhất cần có một lượng lipit nhất định thì cơ thể mới hấp thu được betacaroten
Vitamin D
vitamin D có tác dụng thúc đẩy việc hấp thu và chuyển hóa chất canxi (vôi) và chất phốtpho (lân) Trong thức ăn có hai nguồn cung cấp vitamin Nguồn vitamin D trong các thức ăn động vật như thịt, cá, trứng Nguồn vitamin D trong thức ăn thực vật như ngũ cốc, rau quả, các loại khoai thì có Ergostéroc (gọi là tiền vitamin D) khi vào cơ thể, dưới tác dụng ánh nắng (tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời) chuyển thành vitamin D Sẽ không sợ thiếu vitamin D nếu: Bữa ăn của trẻ đủ dầu mỡ, tạo điều kiện dễ hấp thu vitamin D và tiền vitamin D Thường xuyên cho trẻ một chế độ tắm nắng hợp lý Khác với nhiều loại vitamin, vitamimt D khi quá thừa sẽ có những tác hại cho cơ thể mà biểu hiện rõ nhất là rối loạn sự hình thành xương Do vậy ngoài ăn uống và một chế độ tắm nắng hợp lý, việc dùng vitamin D dưới dạng thuốc đều cần phải có sự khám xét với những định cụ thể của thầy thuốc
Vitamin B1
Nhu cầu Vitamin B1 của trẻ là 0,8 mg/ngày Vitamin B1 có nhiệm vụ thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất gluxít (chất ngọt) Ðặc biệt còn có tác dụng bảo vệ và tăng cường sự hoạt động của hệ thần kinh
Trẻ thiếu vitamin B1 thường ăn kém ngon, chậm lớn Thiếu lâu ngày có thể bị bệnh tê
Trang 8phù, đau nhức các chân tay, thậm chí nếu thiếu nặng còn có thể bị suy tim Trong thực tế
có rất nhiều thức ăn chứa vitamin B1: trứmg, thịt nạc, đặc biệt là các hạt ngũ cốc (gạo,
mỳ, ngô) và các loại đậu đỗ rất phong phú nguồn vitamin B1
Tuy nhiên, vitamin B1 là loại dễ bị thiếu nhất vì nó tan trong nước và lại rất dễ bị phân huỷ khi chế biến, nấu nướng Mặt khác, cơ thể con người không dự trữ nhiều vitamin B1 được Bữa ăn thiếu B1 chỉ trong vòng 1 tuần lễ là có thể ảnh hưởng xấu cho sức khỏe của trẻ Vitamin B1 là loại vitamin cần được cung cấp đều đặn hàng ngày
Vitamin C
Nhu cầu Vitamin C của trẻ là 35 mg/ngày Vitamin C là một chất kbông bền, hòa tan trong nước, lại dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, bởi ánh nắng, bởi môi trường kiềm Cho nên, có thể nói: tất cả các thức ăn động vật, các thức ăn chế biến sẵn (kể cả bột ngũ cốc), thức ăn bảo quản lâu ngày đều mất vitamin C Vitamin C không tích luỹ lâu dài trong cơ thể, được đưa vào người bằng thức ăn hàng ngày, hấp thu qua niêm mạc ruột và
dễ dàng thải trừ qua nước tiểu khi quá thừa Cho nên quan trọng nhất đối với vitami C là phải cung cấp hàng ngày Nguồn cung cấp vitamin C hàng ngày cho trẻ em nhất thiết phải lấy từ rau, củ tươi (khoai tươi cá loại) và hoa quả Vitamin C có nhiều trong rau xanh, củ quả tươi (khoai lang tươi cà chua ) Nước cam rất giàu vitamin C - là nguồn thiên nhiên và dễ hấp thu đối với trẻ Nếu không có nước cam có thể dùng nước quả cà chua Nước quả cà chua không giàu vitamin C bằng nước cam (lượng phải tăng gấp đôi
so với nước cam co thể 100 g mỗi ngày chia làm hai lần) Các loại quả khác như táo, bưởi, chanh, quít, muỗm, xoài, ổi, nhãn Nói chung các loại quả có múi, tép đều giàu vitamin C (lượng vitamin C trong bưởi nhiều gấp 2 lần so với cam)
Các vitamin khác
Trong sự phát triển lành mạnh của cơ thể còn cần rất nhiều vitamin:Loại tan trong dầu như vitamin K, vitamin E Loại tan trong nước như vitamin B2, vitamin P vitamin B6, vitamin H, vitamin B12 v.v Loại nào cũng cần, tuy rất ít, nhưng nếu thiếu sẽ ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển của cơ thể và nếu thiếu trầm trọng có thể gây bệnh, để lại tật nguyền như: mù mắt do thiếu vitamin A, còi xương (chân đi vòng kiềng) do thiếu vitamin D; suy tim thiếu vitamin B1
Chất khoáng
Trong cơ thể con người có đến trên 50 chất khoáng
Ðã có nhiều chất qua nghiên cứu, thực nghiệm được xác định khá cụ thể vai trò của nó Nói chung các chất khoáng có vai trò: Là thành phần của các tổ chức, tế bào, đặc biệt, là
tổ chức xương Là yếu tố duy trì sự cân bằng axít-base trong cơ thể, duy trì áp lực thẩm thấu để giúp cho sự chuyển hóa trong cơ thể Thiếu một chất nào cũng có thể gây bệnh, đặc biệt là sự phát triển kém
Sắt (Fe)
Lượng sắt trong cơ thể rất ít Ở trẻ sơ sinh có khoảng 250 mg sắt, ở cơ thể trưởng thành
có từ 3,5- 4,0g sắt Từ 6 tháng tuổi cho đến 6 tuổi, hàng ngày cơ thể trẻ cần được cung
Trang 9cấp 6-7mg sắt mới đủ cho sự phát triển Sắt có nhiều trong các thức ăn động vật và các loại rau họ đậu - nhất là đậu tương
Rau quả cũng có nhiều sắt, nhưng nguồn sắt thực vật hấp thu kém (chỉ hấp thu khoảng 10%, trong lúc đó ở thức ăn động vật sắt được hấp thu lên đến 20 - 30%)
Sắt có nhiều và dễ hấp thu là sắt có trong gan, tim, bầu dục, thịt, lòng đỏ trứng, đậu đỗ, vừng, lạc, mộc nhĩ Ðáng chú ý là trong mộc nhĩ đen có chứa một lượng sắt nhiều hơn trong gan 7 - 8 lần, do đó có thể dùng mộc nhĩ đen, ngâm rửa sạch, thái nhỏ làm thức ăn hàng ngày cho trẻ rất tốt Ngoài ra sắt còn có trong nước một số hoa quả như nước dứa, nước bưởi, nước chanh, nước quít, nước nho ; trong ngũ cốc; rau xanh (cải xoong, rau muống, mùng tơi)
Canxi ( Ca )
Cơ thể trẻ cần 500 mg/ngày Nguồn cung cấp canxi rất phong phú: 100g sữa bò có 120
mg canxi Nhiều loại rau như rau muống, rau giền, rau ngót, rau đay có đến 100 mg canxi/100g rau ăn được.Các thực phẩm khác như thịt, cá (có khoảng 10-30 mg
canxi/100g), các loại đậu (trên 60 mg/100g), ngũ cốc (20 - 30 mg/100g).Trong nước uống và sữa có nhiều canxi cho nên trong nuôi trẻ cùng với bột lương thực nên có thêm sữa (sữa mẹ, sữa bò tươi, và các chế phẩm từ sữa) Các loại thịt chim, tôm, tép, cua, ốc, hến; đậu đỗ, nhất là quả đậu non - và các chế phẩm từ đậu cũng như cho trẻ ăn uống đủ
nước sẽ giúp cơ thể trẻ được thỏa mãn đủ nhu cầu canxi Trẻ em thiếu canxi, bị còi
xương, chậm lớn, thậm chí bị dị tật thường do những nguyên nhân:Có thể do bữa ăn mất cân đối giữa canxi và phốtpho (vôi và lân) Có thể do ăn quá nhiều protein Có khi gián tiếp do trong chế độ ăn quá ít lipít mà gây thiếu vitamin D
Cho nên việc phòng ngừa tốt nhất bệnh còi xương ở trẻ phải là "bữa ăn cân đối", là cách nuôi trẻ chứ lông chỉ đơn thuần là cho uống cốm canxi
Nước
Trẻ cần nhiều nước hơn người lớn để chuyển hóa và đào thải các chất cặn bã, để điều chỉnh nhiệt độ cơ thể… Vì vậy, nếu thức ăn quá cô đặc hoặc trẻ không được uống đủ nước thì sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ cũng sẽ kém đi Nhu cầu nước của trẻ từ 10 - 15% tính theo trọng lượng cơ thể (Trẻ nặng 10kg cần một lượng nước 1 – 1,5l/ngày).Mùa
nóng, trẻ cần nhiều nước hơn mùa lạnh Sau bữa ăn, trẻ cần nước nhưng không nên cho
trẻ uống nhiều quá làm mệt dạ dày, gây khó chịu vì cảm giác quá no Lại nữa, uống nước nhiều ngay sau bữa ăn thường làm kém tác dụng của tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng Cứ sau 1 giờ nên cho trẻ uống 1 lần nước Không để trẻ quá khát mới cho uống, rồi lại uống một lần quá nhiều, rất không tốt Trẻ nhỏ mỗi lần uống độ 25 - 50ml, trẻ lớn hơn độ 100 - 150ml.Trước khi đi ngủ nên cho trẻ uống nước Không chỉ vì sợ trẻ đái dầm
mà hạn chế uống Uống ít nước trẻ vừa mệt, lại khát Khi quá khát, tỉnh dậy lại uống rất nhiều Ðây là cách uống có hại cho tim mạch và thận của trẻ Cho trẻ ăn thêm quả rau
là cách đưa nước vào cơ thể có tác dụng chống khát lâu, và có lợi cho các hoạt động tiêu
hóa, tuần hoàn và bài tiết của trẻ Không nên cho trẻ uống quá nhiều nước ngọt nhất là
uống trước bữa ăn, trẻ sẽ ăn rất ít cơm và đó là một trong những nguyên nhân gây suy dinh dưỡng ở trẻ em
Trang 10Mùa đông cho trẻ uống nước ấm Mùa hè cần phải chú ý cho trẻ uống đủ nước, uống nước mát, nhất là những khi trẻ sốt hoặc trẻ nô đùa, mất nhiều mồ hôi, hoặc những hôm trời quá nóng bức Nếu có điều kiện nên cho trẻ uống nước nấu các loại lá (sài đất kim ngân hoa, bông mã đề, râu ngô ), nước rau, nước quả vừa có tác dụng phòng bệnh lại vừa tăng dinh dưỡng cho trẻ
Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
Thịt cá, rau quả phải tươi sống, đảm bảo an toàn không thuốc trừ sâu hay hóa chấtThức
ăn chế biến sẵn như xúc xích, cá mòi, ruốc, phô mai, sữa chua… nên lựa chọn thương hiệu uy tín về chất lượng cũng như về an toàn thực phẩm.Thức ăn nấu chín nên ăn ngay Nếu chưa dùng phải đậy nắp và để tủ lạnh, khi dùng phải nấu lại vì có một số vi khuẩn vẫn phát triển ở nhiệt độ 5 - 10 độ C.Thịt, cá và rau quả cần rửa sạch dưới vòi nước chảy, không nên cắt nhỏ và ngâm trong nước vì sẽ làm mất đi một số vitamin tan trong nước (vitamin C, nhóm B, axit folic…) Riêng rau củ như khoai tây, cà rốt thì nên rửa nhẹ nhàng trong chậu nước sau khi đã gọt vỏ để giảm thiểu vitamin hòa tan vào nước vì các vitamin thường nằm ngay dưới lớp vỏ.Thức ǎn của trẻ cần chế biến từ mềm đến cứng, từ
ít đến nhiều để trẻ quen dần Nên thái, bǎm từ rất nhỏ đến nhỏ vừa; nấu từ rất mềm đến mềm vừa đến cứng để tạo cảm giác ngon miệng và giúp rǎng lợi, cơ nhai, cơ tiêu hóa phát triển.Thường xuyên thay đổi cách chế biến để tạo cảm giác ngon miệngHạn chế cho trẻ ǎn đồ ngọt (bánh kẹo) Chỉ nên cho trẻ ǎn bánh, kẹo sau bữa ǎn.Sau khi cai sữa cần có chế độ ǎn riêng cho trẻ, không bắt trẻ ǎn chung quá sớm với người lớn sẽ ảnh hưởng tới tiêu hóa của trẻ
Giờ ăn
Khoảng cách giữa các bữa ăn của trẻ (từ 1 - 3 tuổi) là từ 3 - 4 tiếng Giờ ăn lý tưởng nhất
là bắt đầu lúc 6h sáng và kết thúc lúc 20h, tức là trẻ được ăn 6 bữa một ngày trong đó có
2 bữa chính (11h và 16h30 - 17h) Bữa muộn nhất chỉ nên cho trẻ uống sữa, chứ không nên cho ăn các loại thực phẩm khác vì sẽ khiến dạ dày phải hoạt động, gây khó ngủ.Bữa sáng nên cho bé ăn đủ 3 nhóm: tinh bột (một bát mỳ, phở, bún, súp), sữa và một chút hoa quả.Nếu trẻ không bú mẹ thì bạn nên cho trẻ ăn thêm 200 – 250ml sữa vào mỗi đêm Nếu không muốn bé ăn đêm thì bạn nên lui thời gian cho bé ăn bữa cuối lại hoặc bắt đầu bữa đầu tiên sớm hơn Sáng cần ăn nhiều, thường thì có bánh mặn, bánh ngọt, trứng gà, sữa bò, cháo… có thể kết hợp cùng với các loại thức ăn nhẹ khác, chất dinh dưỡng chiếm khoảng 25% số lượng thức ăn cả ngày Bữa trưa là bữa ăn có chất dinh dưỡng nhiều nhất, nên cho trẻ ăn cơm nát, bánh bao, thịt băm Rau cải, gan động vật, đậu phụ, canh rau… lượng chất dinh dưỡng cần thiết chiếm khoảng 35% số lượng thức ăn của cả ngày Bữa chiều có thể cho trẻ uống sữa bò, sữa đậu nành, hoa quả… chất dinh dưỡng chiếm khoảng 10% tổng số lượng thức ăn của cả ngày Bữa tối nên cho trẻ ăn hơi nhạt,
ví dụ: cơm nát, mì sợi, bánh nhân rau, rau cải, súp…, chất dinh dưỡng chiếm khoảng 30% tổng số lượng thức ăn cả ngày Đồng thời cũng cần phải chú ý không nên cho trẻ