Tất cả các loại vitamin D đều tan trong chất béo, có tinh thể màu trắng và được hấp thụ bởi máy quang phổ tại điểm cực đại ở luồng sóng 265 millimicron khi hòa tan trong hexan hay ethyl
Trang 1BỘ MÔN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Tiểu luận dinh dưỡng
GVHD: Cô Trần Thị Thu Trà SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc 61002137
Hồ Nhã Mai Phương 61002509 Nguyễn Thị Nhài 61002195
Trang 21 Giới thiệu:
1.1 Lịch sử phát hiện:
Vào thế kỉ 16 cuộc cách mạng công nghiệp ở vùng bắc Âu thu hút rất
nhiều công nhân từ các vùng phía nam di cư đến Người ta nhận thấy
rằng con em của những công nhân di cư này thường có chứng còi xương
(xương không cứng được), cơ thể chậm phát triển Năm 1805, Bardsley
tìm thấy dầu lấy từ gan cá tuyết có ảnh hưởng đến bệnh về xương Năm
1890, Palm lại thấy ánh nắng mặt trời có tác dụng chống lại bệnh còi
xương Nhưng mãi đến năm 1922 Mc Collum mới xác định được rõ ràng
là trong dầu gan cá tuyết có hai loại sinh tố khác nhau tan trong chất béo
ảnh hưởng đến sự cứng chắc và phát triển của xương Một chất bị phá
hủy bởi chất oxi hóa là vitamin A, chất không bị phá hủy là vitamin D Tuy
nhiên việc xác định được vitamin D phải mất 8 năm sau khi tìm được
vitamin A Sau đó, người ta một mặt khuyến khích phơi nắng, một mặt
cho ăn dầu cá tuyết và kết quả rất tuyệt vời: chứng còi xương được trị
dứt
1.2 Cấu tạo, tính chất vitamin D:
Vitamin D là những biến chất từ hợp chất steride dưới tác dụng của tia
sáng cực tím có chiều dài bước sóng từ 275 đến 300 millimicron Nhóm
steride được dính bởi nhóm thứ 2 (nhóm R) ở vị trí C17 Tùy thuộc vào
cấu tạo của nhóm thứ 2 này người ta phân biệt ra các loại vitamin D khác
nhau
Vitamin D có nhiều dạng khác nhau, nhưng trong lĩnh vực dinh dưỡng và
y học người chỉ chú ý đến 2 dạng là vitamin D3 còn gọi là hợp chất
cholecanxiferol và vitamin D2 với tên khác là ergocanxiferol Tất cả các
loại vitamin D đều tan trong chất béo, có tinh thể màu trắng và được hấp
thụ bởi máy quang phổ tại điểm cực đại ở luồng sóng 265 millimicron khi
hòa tan trong hexan hay ethyl ether Điểm chảy của vitamin D2 là 115 –
1180C, của D3 là 84 – 850C
Trang 3Hình 1: cấu tạo của vitamin D2 và D3.
1.3 Chất tiền vitamin D:
Mỗi loại vitamin D có một tiền vitamin tương ứng với nó Những chất tiền
vitamin D đều cho tinh thể màu trắng, hòa tan trong chất béo, dễ bị oxy
hóa khi tiếp xúc với không khí Đây là đặc tính của những chất tiền
vitamin D quan trọng:
Vitamin D Tiền vitamin D Điểm chảy ( 0 C) UV tối đa
(millimicron
Ergosterol:
Là tiền vitamin D2 - một steride của thực vật, có nhiều trong nấm và men,
vì vậy trong ngành công nghiệp dược phẩm người ta trích li để đem ra
thương mại Ergosterol là dạng không hoạt động sẽ biến đổi thành vitamin
D2 là dạng hoạt động nếu được chiếu bởi tia cực tím
Trang 4Hình 2: cấu taọ của Ergosterol
7-dehydrocholesterol:
Là chất tiền vitamin D3, có trong thực phẩm gốc động vật Cũng nhờ ảnh
hưởng của ánh sáng mặt trời, nhất là tia cực tím biến đổi tiền vitamin D3
từ dạng không hoạt động sang dạng hoạt động Chất tiền vitamin này
chiếm khoảng 0,15% đến 0,45% tổng số steride có trên da động vật
Hình 3: cấu tạo của 7-dehydrocholesterol
1.4 Hấp thu và dự trữ vitamin D trong cơ thể:
Sự tổng hợp vitamin D ở da:
Hợp chất 7-dehydrocholesterol có trên da khi được chiếu bởi ánh nắng
mặt trời hoặc tia cực tím UV có độ dài sóng từ 275 – 300 milimicron sẽ
chuyển thành vitamin D3 Vitamin này sẽ đi vào máu đến gan và bị
hydroxy hóa ở vị trí C25 tạo chất 25-hydroxycholecanxiferol Chất này sẽ
rời gan theo đường máu đến thận và bị hydroxy hóa lần nữa tại vị trí C1
để cho ra hợp chất 1,25 dihydrocholecanxiferol Chất này sẽ rời máu qua
màng ruột non và kết nối với canxi rồi lại được tái hấp thu qua màng ruột
Một phần chất này đến xương có tác dụng dẫn dắt sự tạo xương như vai
trò kích thích sự biến dưỡng
Sự hấp thu và dự trữ vitamin từ thực phẩm:
Nhiều thí nghiệm cho thấy vitamin D trong cơ thể động vật không thay đổi
trong quá trình hấp thu và dự trữ, nghĩa là vitamin D2 không biến đổi
thành D3 và ngược lại Sự hấp thụ vitamin D cũng tương tự như vitamin A
xày ra ở ruột non dưới tác dụng của muối mật Ở đoạn đầu ruột non này
vitamin D được kết hợp với ion Ca, sự kết hợp này có thể có sự giúp đỡ
của acid lactic, hỗn hợp mới được hấp thụ qua màng ruột non
Trang 5Khi vitamin D được tiêm thẳng vào máu hay bắp thịt, trong máu nó sẽ kết
hợp với hợp chất đạm alfa-1 và alfa-2 globumin rồi mới theo đường máu
đến gan và dự trữ tại đó Tuy nhiên vitamin D không được dự trữ ở gan
lâu dài và nhiều như vitamin A mà bị phân tách ở gan để đưa vào mật,
mật lại cho vào ruột non để hấp thu trở lại chẳng hạn khi tiêm vitaminn D
vào chuột, sau 5 giờ người ta thấy ở gan có khoảng 10% và ở khắp cơ
thể khoảng 50%, một số ít ở thận, nang thượng thận và xương…
2 Vai trò :
Từ năm 1930 khoa học đã biết rõ cấu tạo hóa học của vitamin D cũng
như xác nhận được vai trò của nó trong sự tạo lập bình thường bộ xương
của động vật Tuy nhiên giải thích những diễn tiến của vitamin D trong
những phản ứng sinh hóa biến dưỡng cũng như tất cả vai trò của nó
trong các phản ứng đó của đời sống động vật vẫn còn là vấn đề mà khoa
học chưa biết tường tận sau đây là một số nhiệm vụ chính và quan trọng
của vitamin D trong cơ thể
2.1 Hấp thụ canxi và photpho :
Vitamin D giúp cho việc hấp thụ canxi ở ruột non Sự hấp thụ này
là một diễn tiến hoạt động vì canxi di chuyển qua màng ruột nhờ động lực điện hóa - electrochemical xảy ra trong màng tế bào ruột, cần cung cấp năng lượng để chuyên chở canxi qua màng ruột Khi
có vitamin D hiện diện màng tế bào ruột sẽ bị kích động làm cho enzym ATPase hoạt động để phá vỡ phân tử ATP sinh năng lượng cần thiết cho canxi được hấp thụ Sự hấp thụ của phospho xảy ra sau canxi, canxi sẽ kết hợp với phospho để sinh ra canxiphosphate
và nhờ đó phospho được hấp thụ để phục vụ cho việc tạo xương
Nhiều thí nghiệm cũng cho biết rằng vitamin D còn đóng vai trò làm gia tăng hấp thụ các ion kim loại hóa trị 2 như Mg, Co Tuy nhiên
nó không ảnh hưởng đến sự hấp thụ các ion kim loại hóa trị 1 như
Na, K… Tác dụng của vitamin D trong sự hấp thụ những thành phần trên không chỉ xảy ra ở phần đầu ruột non mà kéo dài cả đường tiêu hóa dạ dày và ruột
2.2 Sự canxi hóa:
Sau khi canxi và phospho được hấp thụ qua màng ruột, vitamin D vẫn đóng vai trò giúp đỡ sự canxi hóa để tạo nên bộ xương của động vật Những thí nghiệm dùng nguyên tố phóng xạ đã cho thấy vitamin D tác dụng trực tiếp vào tốc độ hấp thụ khoáng chất trong
sự tạo xương cũng như duy trì sự cứng chắc của xương Trong trường hợp sự canxi hóa của xương bị bất thường do thiếu vitamin
D, người ta tìm thấy nguyên nhân do mất cân đối của phosphate hơn là bởi canxi Có thể vitamin D ảnh hưởng mạnh trong sự hấp thụ lại phosphate tại những búi thận chính vì thế nếu thiếu vitamin
D người ta thấy lượng phosphate trong nước tiểu và trong máu gia
Trang 6tăng vì không được tái hấp thụ bởi thận, kết quả là làm giảm sự canxi hóa
2.3 Sự biến dưỡng citrate:
Citrate hợp chất quan trọng trong sự biến dưỡng Nhờ vitamin D làm gia tăng lượng citate trong các mô như mô xương, máu, thận, tim… Citrate là chất có tác dụng chống lại sự cô đọng trong máu và huyết thanh, nhờ đó sự di chuyển của chất khoáng để tạo xương
dễ dàng hơn
2.4 Một số vai trò khác:
Ngăn ngừa bệnh tiểu đường:
Một nghiên cứu được thực hiện tại nước Mĩ năm 2004 với mẫu là người da trắng đã phát hiện sự giảm 75% nguy cơ đái tháo đường
ở những người có lượng vitamin D trong máu cao
Giảm nguy cơ cao huyết áp:
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy các cư dân ở vùng vĩ tuyến cao thường bị cao huyết áp Khi bệnh nhân được tắm nắng thì lượng vitamin D tăng 180% và huyết áp giảm 6 mmHg
Nâng cao hệ thống miễn dịch:
Bác sĩ John Cannel có một kinh nghiệm thú vị trong nhà tù ở Los Angeles (Mĩ) Khoảng 10 năm trước, nhà tù trải qua một trận dịch, rất nhiều tù nhân bị cảm cúm Tuy nhiên, có hai khu mà không tù nhân nào bị cảm cả, và khi kiểm tra thì mới biết hai khu này các tù nhân được cho uống vitamin D 2000 IU/ngày trước đó vài tháng
Trong một nghiên cứu lâm sàng trên 67 bệnh nhân lao, khi họ được bổ sung vitamin D với liều lượng 4.000 IU/ngày sau 6 tuần,
họ không có bất cứ triệu chứng đàm trong phổi Ngược lại, nhóm không uống vitamin D thì có 77% có đàm trong phổi Một quan sát tương tự ở London cũng đi đến kết luận rằng bổ sung vitamin D có khả năng điều trị bệnh lao phổi
Ngăn chặn các bệnh ung thư:
Các nhà nghiên cứu ở đại học Creighton ở Omaha đã tiến hành một thử nghiệm ngẫu nhiên, có giả dược (dạng nghiên cứu lâm sàng đáng tin cậy nhất) ở 1179 phụ nữ sau mãn kinh khoẻ mạnh Báo cáo của họ trên tờ "The American Journal of Clinical Nutrition"
nói rằng trong 4 năm, những người dùng 1100IU vitamin D3 mỗi ngày đã phát triển ung thu ít hơn 80% so với những người chỉ dùng calcium hay giả dược
Trang 73 Nhu cầu :
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Nội tiết Hoa Kỳ, nhu cầu vitamin D hằng
ngày để phát triển tốt cho xương, tùy theo lứa tuổi như sau:
• Trẻ sơ sinh đến 1 tuổi: ít nhất là 400 IU /ngày (không được vượt
quá 1.000 IU/ngày đối với trẻ sơ sinh đến 6 tháng, và 1.500 IU/ngày ở trẻ 6 tháng đến 1 tuổi)
• Trẻ 1-18 tuổi: ít nhất là 600 IU, tốt nhất là khoảng 1.000 IU/ngày
(không được vượt quá 2.500 IU/ngày đối với trẻ 1-3 tuổi; 3.000 IU/ngày ở trẻ 4-8 tuổi và 4.000 IU/ngày những trẻ trên 8 tuổi)
• Những người từ 19-70 tuổi: ít nhất là 600 IU/ngày, tốt nhất là
1.500-2.000 IU/ngày (nhưng không được vượt quá 4.000 IU/ngày)
• Những người trên 70 tuổi: ít nhất là 800 IU/ngày, tốt nhất là
1.500-2.000 IU/ngày (nhưng không vượt quá 4.000 IU/ngày)
• Những người đang có thai hoặc cho con bú: ít nhất là 700 IU/ngày,
tốt nhất là 1.500 IU/ngày (nhưng không được vượt quá 4.000 IU/ngày)
• Trẻ em, người lớn béo phì và những người đang sử dụng thuốc
chống động kinh, glucocorticoid, chống nấm như ketoconazole và những thuốc điều trị bệnh suy giảm miễn dịch (AIDS) cần ít nhất liều cao hơn 2-3 lần
• Trong những trường hợp đặc biệt, đối với những người thiếu
vitamin D, liều lượng cao hơn (2.000 IU/ngày ở trẻ dưới 1 tuổi, 4.000 IU/ngày ở trẻ 1-18 tuổi, và 10.000 IU/ngày ở những người trên 19 tuổi) là cần thiết để điều chỉnh, điều trị và phòng ngừa tình trạng thiếu vitamin D Cả vitamin D2 lẫn D3 đều có tác dụng tốt như nhau trong việc điều trị và phòng ngừa tình trạng thiếu vitamin D
4 Thiếu và thừa vitamin D:
3.1 Thiếu vitamin D:
3.1.1 Tình trạng thiếu vitamin D:
Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những người sống ở các vùng với độ vĩ
tuyến cao (như các nước bắc Âu, bắc Mĩ) mắc bệnh ung thư, xơ cứng bì,
viêm khớp, đái tháo đường, tim mạch, tai biến, hay bị nhiễm trùng, v.v…
Những vùng này cũng là những vùng thiếu vitamin D trầm trọng Mới đây,
có nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thiếu vitamin D trong dân số ở các nước bắc
Âu và bắc Mĩ lên đến 50-70% Các giới chức y tế ở đây xem đó là một
vấn nạn y tế công cộng, nên họ có chính sách bổ sung vitamin D trong
thực phẩm như bơ sữa, nước cam, và bánh mì
Vì vitamin D được sản xuất từ ánh nắng mặt trời, người ta thường lầm
tưởng rằng ở những nước nhiệt đới như nước ta, không có vấn đề thiếu
vitamin D Sự thật là ngược lại: một tỉ lệ lớn dân số trên thế giới, kể cả
các nước nhiệt đới, thiếu vitamin D Theo ước tính của các chuyên gia,
Trang 840-50% dân số trên thế giới thiếu vitamin D Nghiên cứu ở Thái Lan và
Mã Lai cho thấy cứ 100 người thì có khoảng 50 người thiếu vitamin D
Riêng ở Nhật và Hàn Quốc, tỉ lệ thiếu vitamin D lên đến 80-90%!
Và ở Việt Nam
Ở nước ta, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về tình trạng thiếu
vitamin D trong cộng đồng Ngày nay, nhiều người có lẽ do muốn giữ làn
da trắng, nên người ta thường bao kín mít tay, chân, mặt để … chống
nắng Thói quen này có thể dẫn đến tình trạng thiếu vitamin D trong cơ
thể nghiêm trọng Nếu các nghiên cứu trong vùng là những tín hiệu,
chúng ta có thể đoán rằng tỉ lệ thiếu vitamin trong dân số cũng khoảng
40%
Con người tiến hóa từ Phi châu Thời tiền sử, trong quá trình tiến hóa,
con người không mặc quần áo, và ánh nắng mặt trời là nguồn vitamin D
Nhưng trong vòng hai thế kỉ qua, con người thay đổi môi trường làm việc,
ngồi trong văn phòng tránh ánh nắng mặt trời, indoors, lái xe, và gần đây
nhất là bào chế những loại kem chống nắng Tất cả những phát triển này
có hiệu quả làm giảm hàm lượng vitamin D trong cơ thể Do đó, không
ngạc nhiên khi thấy rất nhiều người hiện nay thiếu vitamin D Không chỉ
“thiếu”, mà còn “rất thiếu”
3.1.2 Nguyên nhân gây thiếu vitamin D:
Thiếu ánh nắng mặt trời:
Không đủ tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, cụ thể hơn, đó là tia cực tím có
bước sóng 290-300nm cần thiết để chuyển đổi 7-dehydrocholesterol tìm
thấy trong các tế bào da thành cholecalciferol là nguyên nhân quan trọng
nhất dẫn tới thiếu vitamin D
Nuôi con bằng sữa mẹ:
Lượng vitamin D trong sữa mẹ phụ thuộc vào lượng vitamin D ở người
mẹ Tuy nhiên, sữa mẹ thường không chứa đủ lượng vitamin D.Nuôi con
bằng sữa mẹ có thể đặt ra một thách thức cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh về
nguy cơ thiếu vitamin D Học viện Nhi khoa Mỹ (AAP) và Hội Nhi khoa
Canada (CPS) đều đề nghị bổ sung vitamin D cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh
vì lý do này
Chế độ ăn uống không đủ chất béo hoặc khả năng hấp thụ chất
béo kém:
Vitamin D là một vitamin tan trong chất béo, một chế độ ăn uống quá ít
chất béo hoặc sự hiện diện của một số bệnh lý gây giảm khả năng hấp
Trang 9thụ chất có thể gây ra thiếu hụt vitamin D Những bệnh lý bao gồm thiếu
hụt enzyme tuyến tụy, bệnh Crohn, đậu rót celiac, xơ nang, phẫu thuật cắt
bỏ một phần hoặc toàn bộ dạ dày, bệnh túi mật, và bệnh gan Các triệu
chứng của kém hấp thu chất béo bao gồm tiêu chảy và phân nhờn
Điều kiện sức khỏe liên quan đến tuyến cận giáp, gan hoặc thận:
Trong những trường hợp nhất định, quá trình chuyển đổi sang hình thức
hoạt động cùa vitamin D bị ảnh hưởng do các bệnh liên quan đến gan,
thận, tuyến cận giáp
Lão hóa:
Sản xuất tiền chất của vitamin D trong da giảm dần theo tuổi Ngoài ra,
khi về già, thận và hệ thống cơ quan khác và các loại tế bào không thể
chuyển đổi vitamin D dưới dạng hormone hoạt động của nó
Người dùng một số loại thuốc:
• Thuốc steroid Corticosteroid được sử dụng để làm giảm bớt viêm
có thể làm giảm hấp thu canxi và gây ảnh hưởng đến sự chuyển hóa
vitamin D
• Thuốc giảm cân với orlistat và cholestyramine, thuốc hạ
cholesterol có thể làm giảm hấp thu vitamin D và các vitamin tan trong
chất béo khác
• Thuốc được sử dụng để kiểm soát và ổn định chứng động kinh,
đặc biệt là phenobarbital và phenytoin tương tác tới Vitamin D và làm
giảm hấp thu Canxi
3.1.3 Các triệu trứng liên quan tới thiếu vitamin D:
Cơ bắp đau nhức và yếu cơ
Té ngã thường xuyên, đặc biệt là ở những người lớn tuổi
Đau xương, gãy xương thường xuyên, hoặc xương mềm
Chậm phát triển ở trẻ em
Bệnh hen suyễn ở trẻ em (đặc biệt hen suyễn nghiêm trọng )
Suy giảm chức năng nhận thức, đặc biệt là ở những người lớn tuổi
Giảm khả năng miễn dịch
Năng lượng thấp và mệt mỏi mãn tính
Trầm cảm, đặc biệt là ở những người lớn tuổi
Sự hiện diện của rối loạn tự miễn dịch bất kỳ
3.2 Thừa vitamin D:
So với nguy cơ thiếu hụt thì nguy cơ thừa vitamin D gây ngộ độc là vô
cùng nhỏ Cho dù chúng ta phơi nắng cả giờ đồng hồ, và mức độ vitamin
Trang 10D sản xuất tăng trên 50.000 IU thì da vẫn có khả năng đào thải số lượng
không cần thiết; do đó, trong lịch sử chưa có ai ngộ độc vitamin D vì phơi
nắng Mặt khác, hàm lượng vitamin D trong các loại thực phẩm thường
không cao nên khả năng thừa vitamin D do thực phẩm cũng vô cùng nhỏ
Tuy nhiên uống quá liều vitamin D hoặc dùng quá nhiều thực phẩm bổ
sung vitamin D có thể gây ngộ độc
Các triệu chứng ngộ độc vitamin D: chán ăn, giảm cân, buồn nôn, nôn,
huyết áp cao, sỏi thận
5 Thực phẩm giàu vitamin D:
Thực phẩm chúng ta dùng hàng ngày chứa rất ít vitamin D Các thực
phẩm giàu vitamin D là: dầu gan cá, các loại cá béo (cá hồi, cá bạc má, cá
ngừ,…), sữa, phomat, trứng, nấm
Bảng thành phần vitamin D trong một số thực phẩm:
lần sử dụng
Tỉ lệ phần trăm DV Dầu gan cá xứ lạnh (như Na Uy),
1 muỗng canh
Cá ngừ đóng hộp trong nước, 84
Sữa không béo, giảm béo và sữa
tươi, bổ sung vitamin D, 1 ly 115-124 29-31
Dầu thực vật, có bổ sung vitamin
D, 1 muỗng canh
Gan, thịt bò nấu chín, 98 gam 49 12
Cá mòi đóng hộp trong dầu (2 cá) 46 12
Trứng 1 quả (vitamin D có trong
Ngũ cốc chế biến sẵn, bổ sung
10% giá trị hằng ngày vitamin D,
2/3-1 ly