1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Chuyên đề béo phì trẻ em

26 801 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 52,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, một nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mắc bệnh béo phì tăng lên ở trẻ 3 tuổi ăn thức ăn đặc từ lúc 4 tháng tuổi 4 Rối loạn con đường chuyển hóa hoóc môn Grhelin/Leptin Ở những người béo

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh béo phì là một trong những rối loạn dinh dưỡng phổ biến nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay Việt Nam hiện có 300.000 trẻ dưới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì trong đó tỷ lệ trẻ em ở một số đô thị như Thành phố Hồ Chí Minh đã ở mức báo động, cao hơn so với mức trung bình của toàn cầu rất nhiều.Tại hội thảo, báo cáo về “Tình hình dinh dưỡng trẻ em đô thị Việt Nam” do tiến sỹ Trương Hồng Sơn-Giám đốc nghiên cứu dinh dưỡng, Viện nghiên cứu Y-Xã hội học công bố cho thấy, hiện nay, tỷ lệ thừa cân béo phì dưới 5 tuổi tại các đô thị lớn là 6%, với tổng số 86.000 trẻ

Trẻ mắc béo phì sẽ dễ mắc tiểu đường type 2, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, các bệnh gan thận và rối loạn chức năng sinh sản Tình trạng này cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì và các bệnh tim mạch ở người lớn.(1)

Béo phì ở trẻ em là một rối loạn dinh dưỡng phức tạp Tỷ lệ mắc bệnh béo phì tăng nhanh trong những năm gần đây và nhiều nước coi đây là một vấn đề sức khỏe mang tính quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển Theo Viện khảo sát sức khỏe và dinh dưỡng Quốc Gia Mỹ ( NHANES) tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng ở tất cả các lứa tuổi, cả hai giới, các nhóm sắc tộc và chủng tộc Nhiều yếu tố bao gồm di truyền, môi trường, lối sống và thói quen ăn uống, chuyển hóa được cho

là có vai trò trong sự phát triển của bệnh béo phì Tuy nhiên có tới 90% trường hợp béo phì là không tự phát và chỉ có dưới 10% là do di truyền hay hormone.NỘI DUNG CHÍNH

1 Định nghĩa

Thừa cân, béo phì là tình trạng cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ do sự mất cân bằng năng lượng, có nghĩa là năng lượng cơ thể vượt quá năng lượng tiêu hao

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO:

- Thừa cân là tình trạng năng lượng cơ thể vượt quá năng lượng “nên có” so với chiều cao

- Béo phì là tình trạng cơ thể tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cơ thể.(2)

2 Đánh giá thừa cân béo phì

Trang 2

Có nhiều phương pháp để xác định lượng mỡ trong cơ thể như: đo tỷ trọng cơ thể, độ dẫn điện của cơ thể, độ khuếch tán các chất khí tan trong chất béo, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân Tuy nhiên những phương pháp trên đều đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và rất tốn kém Vì thế, trong nghiên cứu cộng đồng người ta thướngử dụng các tiêu chí cân nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng thừa cân béo phì.

Việc đánh giá thừa cân béo phì ở trẻ em còn gặp nhiều khó khăn do tỷ lệ tăng trưởng và trưởng thành khác nhau Lượng mỡ có liên quan đến giai đoạn trưởng thành của trẻ và có sự tăng lượng mỡ ở hai giai đoạn, đó là lúc trẻ 5-7 tuổi và lúc tiền dậy thì và dậy thì Mặc dù có một điểm ngưỡng được sử dụng để xác định béo phì ở người lớn, ở trẻ em điểm ngưỡng này cần được điều chỉnh theo tuổi của trẻ Ở một số quốc gia, có biểu đồ tăng trưởng riêng để tính cân nặng, chiều cao và thừa cân, béo phì theo tuổi Tuy nhiên, gần đây người ta đã đạt được sự thống nhất về các biện pháp phù hợp đo lượng mỡ trong cơ thể, điều này cho phép phân loại và so sánh béo phì Biểu đồ chỉ số khối cơ thể (BMI) đã được khuyến cáo

Theo WHO (1995):

Đối với trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ từ 5-9 tuổi:

- Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD

- Béo phì: Cân nặng/ Chiều cao >+2SD và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xuong bả vai đều > 90th percentile

Đối với trẻ 10-19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể ( BMI: Body Mass Index) theo tuổi và giới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này

BMI=

Cân nặng (kg)

(Chiều cao)2 (m)

- Thừa cân: BMI ≥ 85th percentile

- Béo phì: BMI ≥ 95th percentile hoặc BMI ≥ 85th percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều ≥ 90th percentile

Theo WHO (2007) : tuổi 5 -19 tuổi, thừa cân khi BMI ≥ 85th percentile và béo phì khi BMI ≥ 97th percentile (2)

Trang 3

Theo hướng dẫn Hiệp hội Nội tiết Quốc tế 2017:

Trẻ em từ 2 tuổi trở lên coi là thừa cân nếu chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 85th percentile và <95 percentile theo tuổi và giới tính; Béo phì nếu BMI ≥95%; Cực kỳ béo phì nếu BMI là ≥ 120% của 95th percentile, hoặc ≥35 kg / m2.Trẻ em dưới 2 tuổi bị béo phì nếu cân nặng/chiều cao ≥97.7 percentile dựa vào bảng tăng trưởng của WHO (3)

3 Phân loại béo phì

Theo cơ chế bệnh sinh, béo phì được phân loại như sau:

- Béo phì đơn thuần do dinh dưỡng chiếm đa số trong cộng đồng

- Béo phì do bệnh lý nội tiết, di truyền hiếm gặp hơn

4 Nguyên nhân và sinh lý bệnh

Các hội chứng di truyền liên quan đến chứng béo phì ở trẻ em bao gồm:

• Hội chứng Prader-Willi

• Suy tuyến giáp

• Hội chứng Laurence-Moon-Biedl (Bardet-Biedl)

• Hội chứng Cohen

• Hội chứng Down

• Hội chứng Turner

Các rối loạn nội tiết liên quan đến chứng béo phì ở trẻ em bao gồm:

• Thiếu hóc môn tăng trưởng

• Kháng hormone tăng trưởng

• Suy giáp

• Thiếu Leptin hoặc kháng hoạt động Leptin

• Thừa Glucocorticoid (hội chứng Cushing)

• Dậy thì sớm

Trang 4

• Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS)

• Các khối u tiết prolactin

Thuốc có thể gây tăng cân ở trẻ em và vị thành niên bao gồm:

• Cortisol và các glucocorticoids khác

• Megace

• Sulfonylureas

• Thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs)

• Thuốc ức chế monoamin oxidase (MAOIs), chẳng hạn như phenelzine

• Trránh thai đường uống

• Insulin (trong trường hợp quá liều)

• Thiazolidinediones

• Risperidone

• Clozapine

Mất cân bằng năng lượng

Ở trẻ em và thanh thiếu niên, mỡ dư thừa tích tụ khi tổng lượng năng lượng nạp vào vượt quá số năng lượng tiêu hao Mất cân bằng năng lượng này có thể là kết quả của năng lượng nạp vào quá mức hoặc giảm tiêu hao năng lượng thường là hậu quả của lối sống ít vận động Điều này đặc biệt liên quan đến việc xem truyền hình quá mức, sử dụng máy tính quá mức và hoạt động thể lực không đủ Trong giai đoạn nhũ nhi, sự lắng đọng chất béo dư thừa xảy ra khi năng lượng

dư thừa được cung cấp, đặc biệt là khi tỷ lệ protein thành năng lượng bị thay đổi Điều này thường thấy khi cho bé ăn được bổ sung tinh bột hay chất béo và hàm lượng protein vẫn giữ nguyên Ngoài ra, một nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mắc bệnh béo phì tăng lên ở trẻ 3 tuổi ăn thức ăn đặc từ lúc 4 tháng tuổi (4)

Rối loạn con đường chuyển hóa hoóc môn Grhelin/Leptin

Ở những người béo phì, sự rối loạn chức năng hoóc môn Grhelin/Leptin chuyển hóa theo con đường ruột-não ( trục dưới đồi) được cho rằng có ảnh hưởng đến việc kiểm soát sự thèm ăn bất thường và tiêu thụ năng lượng dư thừa

Trang 5

Các nghiên cứu chỉ ra rằng rối loạn chức năng trong trục hoocmon này có thể là nguyên nhân gây ra cho khoảng 10% các đối tượng béo phì, đặc biệt những đối tượng béo phì có yếu tố gia đình Ở những gia đình này, một số báo cáo đã cho thấy có sự giảm cân rõ rệt khi dùng liệu pháp hoóc môn để điều trị thiếu hụt Leptin Giảm tiêu hao năng lượng thường gặp trong các trường hợp thiếu hoóc môn khác, bao gồm suy giáp và thiếu hụt hormon tăng trưởng Tăng lượng tiêu hao năng lượng thường gặp trong các hội chứng di truyền, như hội chứng

Prader-Willi, hội chứng Cushing, và chứng béo phì do thuốc gây ra

Các yếu tố tăng cân

Mặc dù đã có các nghiên cứu quan sát về vai trò sinh lý của rối loạn gen và hoóc môn, nhưng các yếu tố này không giải thích được sự tăng cân thừa ở hầu hết các bệnh nhân bị béo phì được giới thiệu đến bác sĩ để đánh giá và điều trị Mặc dù hầu hết trẻ em thừa cân đều có yếu tố gia đình, với 1 hoặc cả 2 cha mẹ béo phì, tăng cân quá mức ở trẻ em béo phì rõ ràng phụ thuộc vào cả yếu tố di truyền và môi trường Sự tương quan giữa thói quen của bố mẹ và đứa trẻ có thể phản ánh ít nhất một phần các mô hình ăn uống, tập thể dục và lựa chọn các hoạt động giải trí (bao gồm cả số lần xem truyền hình), cũng như các mô hình lựa chọn thực phẩm gia đình và văn hoá Tuy nhiên, bằng chứng từ nghiên cứu gia đình có con sinh đôi, nhận con nuôi và các gia đình bình thường cho thấy các yếu tố di truyền cũng đóng một vai trò đáng kể trong sự phát triển của béo phì ở trẻ em

Yếu tố di truyền

Tỷ lệ béo phì ở các cặp song sinh cùng trứng cao hơn so với các cặp song sinh khác trứng và tổng lượng mỡ trong cơ thể ( Total body fat: TBF ) ở những cặp sinh đôi cùng trứng cao hơn Tuy nhiên cho đến tận bây giờ, yếu tố di truyền vẫn không thể giải thích được nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ béo phì ở trẻ em

và thanh thiếu niên gần đây tại Mỹ

Kháng insulin, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp

Sự tích tụ mỡ trong cơ thể, đặc biệt trong sự phân bố nội tạng, làm giảm sự nhạy cảm với insulin trong cơ xương, mô gan và mô mỡ; "Kháng insulin" có khuynh hướng không dung nạp glucose và tăng triglycerid máu Hàm lượng lipoprotein mật độ cao (HDL) thấp, quan sát thấy cả về di truyền và liên quan đến lối sống

ít vận động, có thể góp phần làm tăng chứng bệnh động mạch vành sớm ở người lớn bị béo phì Tăng nồng độ insulin và yếu tố tăng trưởng giống Insulin I có thể

Trang 6

làm tăng huyết áp (HA) và có thể kích thích sản xuất androgen từ buồng trứng

và vỏ thượng thận, gây đau bụng kinh và hậu quả nam hóa ở nữ giới Tăng tiết estrogene dẫn đến tật vú to ở trẻ nam Kháng insulin, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp có khuynh hướng dẫn đến bệnh đái tháo đường týp 2 và bệnh tim

mạch, làm giảm tuổi thọ

Trong một nghiên cứu của D'Adamo và cộng sự đã đánh giá vai trò của gan nhiễm mỡ trong sự thay đổi độ nhạy insulin và chức năng tế bào β ở bệnh nhân béo phì, các nhà nghiên cứu kết luận rằng gan nhiễm mỡ , không phụ thuộc vào

sự nhiễm mỡ ở các nội tạng khác và hàm lượng chất béo trong tế bào cơ

(ICML: intramyocellular lipid content ) có vai trò trung tâm trong sự đề kháng insulin ở thanh thiếu niên béo phì.(5)

5 Dịch tễ học

Ở Việt Nam

Theo Tiến sỹ Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự thuộc Trung tâm dinh dưỡng TP

Hồ Chí Minh tỷ lệ béo phì ở trẻ em năm 2012 như sau:

• 1.404 học sinh trung học phổ thông

Theo nghiên cứu năm 2015 của Đỗ Mai Loan

• Hà nội (2015): TC-BP của trẻ ở trường mầm non thuộc quận Đống Đa 21,1%

Thừa cân béo phì ở trẻ 4-6 tuổi 2,5% và học sinh tiểu học 7,6%

• TPHCM: thừa cân: 17,8%, béo phì: 3,2%

Trang 7

Trẻ em và đặc biệt là béo phì vị thành niên tăng nguy cơ béo phì ở người lớn

và có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường, cao huyết áp, sỏi mật và tăng cholesterol máu[6] Các biến chứng phổi ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm tăng tần số hoạt động hô hấp, khả năng chịu đựng tập thể dục kém, tăng công thì thở vào và tăng tiêu thụ oxy Một số người có hội chứng béo phì - giảm thông khí bị suy tim có phì đại thất phải

Từ một phân tích của 4 nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu , dữ liệu cho thấy người lớn thừa cân hoặc béo phì cũng béo phì như trẻ em có nguy cơ cao bị đái tháo đường týp 2, cao huyết áp, rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch cảnh Tuy nhiên, trẻ béo phì đạt được chỉ số BMI bình thường khi trưởng thành cũng có

tỷ lệ nguy cơ tương tự so với những người chưa từng mắc béo phì [7]

Kết quả từ một nghiên cứu cho thấy hành vi kiểm soát cân nặng và không kiểm soát cân nặng ở thanh thiếu niên có liên quan đến trọng lượng và BMI tăng lên khi trẻ trưởng thành [8]

Một nghiên cứu của Parker và cộng sự cho thấy rằng so với những người duy trì cân nặng khỏe mạnh, trẻ em và vị thành niên trở nên béo phì hoặc duy trì béo phì có nguy cơ tăng huyết áp lên gấp ba lần [9, 10]

Các biến chứng cấp tính của chứng béo phì ở trẻ em

Các biến chứng cấp tính của chứng béo phì ở trẻ em bao gồm đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp, tăng lipid máu, tăng trưởng nhanh và cốt hóa sớm, tăng u buồng trứng buồng trứng và chứng vú to, viêm túi mật, viêm tuỵ, và u giả não

bộ Gan nhiễm mỡ là hay gặp nhất Hiếm khi bệnh nhân bị xơ gan và bệnh thận (xơ vữa mạch thận) Ngưng thở khi ngủ và rối loạn giấc ngủ là vấn đề phổ biến

ở trẻ em và thanh thiếu niên có chứng béo phì Trong một số trường hợp, cơn ngưng thở đi kèm với rối loạn chức năng nhận thức thần kinh Phẫu thuật cắt bỏ amiđan và phẫu thuật cắt nạo VA , thông khí nhân tạo áp lực dương hai pha/ thông khí nhân tạo áp lực dương liên tục (BIPAP / CPAP) có thể có lợi cho bệnh nhân giảm oxy hóa hoặc ứ đọng CO2

Biến chứng cơ xương khớp

Nhiều biến chưng cơ xương khớp, bao gồm thoái hóa khớp, vôi hóa xương đùi,

và xương chày cong vào, được quan sát thấy nhiều hơn ở trẻ bị béo phì Cân nặng quá mức ở trẻ nhỏ có thể gây cong xương chày và xương đùi Sự tăng trưởng quá mức của sự xơ vữa gần xương chày có thể gây nên một bệnh gọi là bệnh Blount

Trang 8

Rối loạn chức năng gan mật

Bằng chứng của rối loạn chức năng gan với nồng độ cao của men transaminase trong huyết thanh, được quan sát thấy ở 20% trẻ em bị béo phì Rối loạn chức năng gan thường phản ánh gan nhiễm mỡ ở gan, nhưng đôi khi có thể là xơ gan.Bổ sung vitamin E có thể có hiệu quả trong việc điều trị bệnh viêm gan nhiễm mỡ, cho thấy rối loạn phản ánh tình trạng thiếu vitamin E tương đối [11] Sỏi mật phổ biến ở người lớn bị béo phì hơn ở người lớn có trọng lượng bình thường Mặc dù sỏi mật ít gặp ở trẻ em, nhưng gần một nửa số trường hợp viêm túi mật ở thanh thiếu niên có liên quan đến chứng béo phì Viêm túi mật có thể thậm chí còn hay gặp hơn trong thời gian giảm cân nhanh, đặc biệt với chế độ

ăn kiêng có kiểm soát năng lượng

Các biến chứng về tâm lý

Di chứng về rối loạn cảm xúc và tâm lý xã hội ngày càng phổ biến Một số bằng chứng cho thấy trầm cảm và rối loạn ăn uống hay gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên khi đến khám tại các phòng khám béo phì Định kiến và phân biệt đối

xử với những người bị béo phì hay gặp trong văn hóa Việt Nam ngày nay Thậm chí ngay cả trẻ nhỏ có béo phì cũng bị bạn bè cùng lứa coi thường, bắt nạt Sự cách biệt xã hội, bất bình đẳng và bị phân biệt đối xử ngày càng hay gặp

Các biến chứng tim mạch và nội tiết

Bệnh béo phì trong thời thơ ấu và thanh thiếu niên có liên quan đến nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, bao gồm tăng insulin và kháng insulin, tăng cholesterol máu, tăng triglycerid máu, giảm lipoprotein mật độ cao (HDL) và tăng huyết áp Một dấu hiệu của sự đề kháng insulin là giả chứng gai đen, sự hiện diện của nó cho thấy có nguy cơ tăng tiểu đường týp 2

Nữ vị thành niên có chứng béo phì cũng có biểu hiện tăng tiết androgen , bao gồm tăng nồng độ androstenedione huyết thanh, dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S) và testosterone, cũng như giảm hoóc môn giới tính gắn globulin Hình ảnh lâm sàng tương tự như hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) Các androgens tăng tiết có nguồn gốc thượng thận và buồng trứng và có thể có liên quan, ít nhất một phần, đến tăng nồng độ insulin và yếu tố tăng trưởng giống insulin I (IGF-I) trong huyết thanh

Thanh thiếu niên đã trưởng thành về mặt tính dục, sự thay đổi lipid huyết thanh

và androgens dường như tương quan mạnh hơn với sự phân bố mỡ trong cơ thể

so với trọng lượng tuyệt đối Do đó, thanh thiếu niên có chứng béo phì trung

Trang 9

tâm (béo phì kiểu bụng, béo phì kiểu quả táo) có nhiều khả năng biểu hiện các yếu tố nguy cơ tim mạch hơn so với những người có béo phì toàn thân(ví dụ như béo phì kiểu quả lê: béo phì có mô mỡ quanh đùi và mông) Tuy nhiên, ở trẻ non tháng, các yếu tố nguy cơ tim mạch tương quan tốt hơn với trọng lượng

cơ thể so với phân bố mỡ cơ thể Tỷ lệ hiện mắc tăng của chứng béo phì ở trẻ

em và thanh thiếu niên, kèm theo kháng insulin, dường như giải thích sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 ở thanh thiếu niên.Các nghiên cứu chỉ ra rằng những trẻ em béo phì có bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có thể có nguy

cơ cao bị xơ vữa động mạch. [12]

Các biến chứng lâu dài của chứng béo phì ở trẻ em

Béo phì trong thời kỳ trẻ em và thanh thiếu niên có liên quan đến nguy cơ bị béo phì tăng lên trong thời kỳ trưởng thành, với các nguy cơ về sức khoẻ lâu dài Nguy cơ gia tăng này xuất hiện nhiều nhất ở nam giới vị thành niên với bệnh béo phì vừa đến nặng Những tác động lâu dài của chứng béo phì trong thời kỳ nhũ nhi và trẻ lớn đối với sức khoẻ sau đó không rõ ràng Nhìn chung,

tỷ lệ trẻ béo phì có béo phì khi trưởng thành tăng lên khi tuổi dậy thì tăng lên, như vậy 26-41% trẻ mầm non có chứng béo phì khi trưởng thành, so với 42-63% trẻ ở độ tuổi đi học Ngoài ra, mức độ béo phì càng cao khi còn nhỏ, nguy

cơ béo phì ở người lớn càng cao

Bệnh tiểu đường

Theo các dữ liệu dịch tễ học, mặc dù còn hạn chế, chỉ ra rằng béo phì vị thành niên có liên quan đến tình trạng bệnh tật và tử vong gia tăng trong cuộc sống sau này Theo đó, sự gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 ở thanh thiếu niên bị béo phì có thể kèm theo một loạt các biến chứng liên quan đến đái tháo đường ở tuổi trưởng thành và giảm tuổi thọ Mặc dù béo phì làm tăng nguy cơ bệnh tật liên quan đến hàm lượng glucose nội môi bất thường, dữ liệu gần đây cho thấy tỷ lệ BMI tăng trong tuổi vị thành niên cũng có thể là một yếu tố nguy cơ đáng kể cho bệnh tiểu đường [13]

Bệnh tim mạch

Tăng nguy cơ tử vong do nhiều nguyên nhân và từ bệnh mạch vành (CAD : coronary artery disease ) thường thấy ở nam giới, mà không gặp ở nữ, những người bị béo phì ở tuổi vị thành niên Trong nghiên cứu theo dõi của khoa

Nghiên cứu tăng trưởng Harvard, nguy cơ bệnh tật từ bệnh mạch vành và xơ vữa động mạch tăng lên ở nam giới và phụ nữ đã bị thừa cân (BMI> 75

Trang 10

percentile) khi ở tuổi vị thành niên Giá trị BMI có xu hướng cao hơn ở thanh thiếu niên ở Mỹ có liên quan đến tăng gánh thất trái, khi so sánh với các nhóm tương tự ở các thế hệ trước, cho thấy rằng bệnh béo phì sớm làm tăng nguy cơ lâu dài cho sự tiến triển của bệnh tim [14]

Mangner và cộng sự tiến hành một nghiên cứu để đánh giá sự thay đổi hình dạng và chức năng của tim ở người béo phì so với trẻ và thanh thiếu niên không

bị béo phì Các tác giả nhận thấy có dày thất trái và tăng gánh thất trái cũng như giảm chức năng tâm thu ở những trẻ béo phì khi so sánh với trẻ không béo phì Các tác giả cũng cho biết không có sự khác biệt về phân suất tống máu giữa trẻ

em béo phì và không béo phì, nhưng mức độ biến dạng, tỷ lệ biến dạng của thất trái được đánh giá bởi siêu âm tim 2D cho thấy khiếm khuyết tim mạch ở trẻ em béo phì Các kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng bệnh béo phì ở trẻ em có liên quan đến những thay đổi đáng kể trong hình thái và chức năng của cơ tim, cho thấy có những thay đổi sớm không mong muốn có thể xảy ra trong cơ tim [15, 16]

Bệnh gout và ung thư đại trực tràng

Bệnh gút và ung thư đại trực tràng gia tăng ở những người đàn ông có béo phì ở tuổi vị thành niên, và chứng viêm khớp gia tăng ở phụ nữ bị béo phì ở thời niên thiếu Nhiều kết quả bất lợi về sức khỏe dường như không phụ thuộc vào trọng lượng khi trưởng thành, cho thấy tác động trực tiếp của béo phì vị thành niên đối với sức khoẻ và tử vong của người lớn

Rối loạn tâm lý xã hội

Sự rối loạn chức năng tâm lý xã hội ở những người béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên cần được nghiêm túc quan tâm Trong số thanh thiếu niên được theo dõi sau 7 năm,nữ giới thừa cân gặp các vấn đề như học vấn thấp, ít có khả năng lập gia đình, và có tỷ lệ nghèo đói cao hơnso với những người không béo phì Đối với nam giới thừa cân, kết cục bất lợi duy nhất là giảm khả năng kết hôn.7.Triệu chứng cơ năng và lâm sàng

Tầm vóc thấp hoặc giảm phát triển chiều cao ở trẻ bị béo phì cho thấy khả năng

bị thiếu hụt hoóc môn tăng trưởng, chứng suy giáp, tăng tiết cortisol, ung thư biểu mô tuyến cận giáp hoặc hội chứng di truyền như hội chứng Prader-Willi

Cơ năng có da khô, táo bón, dễ cảm lạnh, dễ mệt gợi ý bệnh lý tuyến giáp

Trang 11

Đái nhiều và uống nhiều gặp ở trẻ béo phì có tiểu đường nặng.

Tiền sử tổn thương hệ thần kinh trung ương (ví dụ nhiễm trùng, chấn thương, xuất huyết, xạ trị, động kinh) cho thấy chứng béo phì có liên quan vùng dưới đồi, thiếu hụt hoặc không có hormon tăng trưởng tuyến yên, tuyến giáp.Nếu trẻ

có cơn nhức đầu buổi sáng, nôn mửa, rối loạn thị giác, đi tiểu nhiều hoặc uống nhiều cũng cho thấy rằng chứng béo phì có thể là do khối u hoặc khối u trong vùng dưới đồi

Sự tích tụ chất béo ở cổ, thân, và vằn da đỏ tím cho thấy sự thừa cortisol Sự xuất hiện của các dấu hiệu phát triển tình dục sớm cho thấy sự tăng cân là do dậy thì sớm Tuy nhiên, lông mặt, mụn trứng cá, và thời kỳ bất thường ở nữ vị thành niên cho thấy sự tăng cân có thể do tăng tiết cortisol hoặc hội chứng buồng trứng đa nang Bệnh béo phì có thể kèm theo lông mặt, rối loạn kinh nguyệt và cao huyết áp

Các triệu chứng lâm sàng gợi ý bệnh căn của chứng béo phì ở trẻ em có liên quan hoóc môn bao gồm:

• Tăng cân do yếu tố gia đình

• Sự phát triển dậy thì không phù hợp ở tuổi còn trẻ

• Lông mặt, mụn trứng cá và / hoặc rối loạn kinh nguyệt ở nữ vị thành niên

• Nhức đầu, nôn mửa, rối loạn thị giác, hoặc đi tiểu nhiều và uống nhiều

• Điều trị bằng các loại thuốc kéo dài

8 Tiếp cận điều trị

Trang 12

Xác định rối loạn di truyền hoặc hoocmon nào có thể gây ra chứng béo phì ở trẻ.

Trong đánh giá đái tháo đường tuýp II, nên dùng HbA1C và định lượng glucose lúc đói (để đánh giá độ dung nạp glucose và kháng insulin) Để xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao, Maffeis và cộng sự đã báo cáo rằng trẻ em béo phì

có nồng độ glucose huyết lúc đói cao hơn hoặc bằng 86mg / dL có thể làm giảm dung nạp glucose. [17]

Các phương pháp cận lâm sàng sau đây cũng có thể được chỉ định ở bệnh nhân béo phì:

- Xét nghiệm mỡ máu lúc đói

- Đánh giá chức năng tuyến giáp

- Leptin huyết thanh

- Các xét nghiệm chức năng tuyến thượng thận khi nghĩ đến hội chứng Cushing

- Lập bộ nhiễm sắc thể: lai tại chỗ phát huỳnh quang (FISH) phát hiện đoạn mất nhiễm sắc thể số 15 trong hội chứng Prader Willi

- Đánh giá chức năng bài tiết hoóc môn tăng trưởng

- Đánh giá kích thích tố sinh sản (bao gồm cả prolactin)

- Canxi máu, phốt pho máu và nồng độ hoóc môn tuyến cận giáp khi nghĩ tới giảm năng tuyến cận giáp

- MRI sọ não chú ý vùng dưới đồi và tuyến yên

Về mặt lý thuyết, bất kỳ can thiệp điều trị nào ở trẻ bị béo phì phải đạt được sự kiểm soát tăng cân và giảm chỉ số khối cơ thể một cách an toàn và hiệu quả đồng thời nên ngăn ngừa những biến chứng lâu dài của chứng béo phì ở trẻ em

và tuổi trưởng thành

Quản lý các biến chứng cấp tính hoặc mãn tính của béo phì phối hợp các biện pháp tâm lý đối với rối loạn ăn uống bất thường hoặc trầm cảm trầm trọng Xây dựng một kế hoạch chăm sóc nhấn mạnh đến chế độ ăn kiêng dài hạn và tập thể dục cùng với sự hỗ trợ từ gia đình và tránh sự thay đổi quá nhanh về trọng lượng cơ thể Nên có sự tham vấn với bác sỹ chuyên khoa hô hấp, bác sĩ chỉnh

Trang 13

hình và bác sỹ chuyên khoa tiêu hóa Tránh cách tiếp cận trừng phạt và khen thưởng các hành vi tích cực.

Các chuyên gia khuyên rằng, việc giảm được 5-20% tổng trọng lượng cơ thể có thể làm giảm nhiều nguy cơ sức khoẻ liên quan đến chứng béo phì ở người lớn Tuy nhiên, cho dù cân nặng giảm hay BMI giảm nhẹ có thể cải thiện sau này cho bệnh nhi hoặc giảm nguy cơ lâu dài về béo phì ở tuổi trưởng thành mà chưa được biết đến Vì giảm BMI rất khó đạt được và duy trì ở trẻ em và thanh thiếu niên cũng như người lớn, nên tư vấn và điều trị thận trọng với các mục tiêu thực tế nhấn mạnh việc giảm dần lượng mỡ trong cơ thể và BMI và duy trì giảm cân thay vì nhanh chóng đạt được trọng lượng cơ thể lý tưởng Giảm trọng lượng cơ thể đi kèm với việc giảm tiêu hao năng lượng tương đương Do đó, duy trì trọng lượng cho một bệnh nhân béo phì đòi hỏi mức tiêu thụ năng lượng thấp hơn duy trì cân nặng tương đương ở bệnh nhân chưa bao giờ béo phì

Can thiệp thay đổi hành vi

Kalarchian và cộng sự thấy rằng kiểm soát hành vi cân nặng cùng với =gia đình

có hiệu quả đối với trẻ em béo phì nặng (18). Trong một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, có kiểm soát ở 192 trẻ em từ 8-12 tuổi có chỉ số khối cơ thể trung bình (BMI) theo tuổi và giới tính là 99,18 percentile, can thiệp có liên quan đến

sự giảm đáng kể tỷ lệ trẻ thừa cân ở thời điểm 6 tháng so với bình thường Sự cải thiện đáng kể về kết quả y tế đã được quan sát ở thời điểm 6 và 12

tháng(19).Trẻ em tham dự 75% các cuộc can thiệp hoặc nhiều hơn duy trì giảm

tỷ lệ phần trăm thừa cân qua 18 tháng

Wildes và cộng sự thấy rằng ở những trẻ béo phì nặng, chứng ăn uống vô độ (binge eating) sẽ ảnh hưởng đến phản ứng đầu tiên đối với việc điều trị hành vi dựa vào gia đình(20) Trong một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên ở 192 trẻ em

từ 8-12 tuổi, trẻ mắc chứng ăn uống vô độ tự báo cáo đã tăng 2,6% cân nặng trong quá trình điều trị béo phì cấp tính, trong khi đó những trẻ không mắc chứng ăn uống vô độ giảm 8,5% Sự khác biệt này không được duy trì trong thời gian dài theo dõi Trẻ em được báo cáo mắc chứng ăn uống vô độ bao gồm 11,5% các đối tượng nghiên cứu sẽ có thể mắc chứng trầm cảm, lo lắng và ăn nhiều hơn và dễ bị tổn thương tâm lý hơn những người không mắc chứng ăn uống vô độ (21)

Bất kỳ sự can thiệp có thể sẽ thất bại nếu nó không liên quan đến sự tham gia tích cực và hỗ trợ của các thành viên trong gia đình Đứa trẻ có thể chỉ là một trong nhiều thành viên trong gia đình có chứng béo phì, và điều trị thành công

Ngày đăng: 08/04/2017, 18:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w