- Kinh tế học vĩ mô Macroeconomics: Nghiên cứu, phân tích nền kinh tế một cách tổng thể, thông qua các biến số: tổng sản phẩm quốc gia GNP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lượng cung
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
I Khái niệm và đặc trưng của kinh tế học
1 Khái niệm về kinh tế học
1.1 Khái niệm
* Lịch sử hình thành:
Khoa học kinh tế hình thành từ cuối thế kỷ XVIII Tác phẩm mở đường
“Bàn về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia” của Adam Smith xuất
bản năm 1776 đánh dấu sự hình thành khoa học kinh tế
Năm 1936, John Maynard Keynes - nhà kinh tế học người Anh đã đưa ra
lý thuyết chống lại lý thuyết của Adam Smith Đây cũng là năm đánh dấu sự hình thành kinh tế học vĩ mô Keynes đã đưa ra 2 quy luật: trật tự của tự nhiên
và trật tự kinh tế - xã hội Theo ông, hai trật tự kinh tế này hoàn toàn tồn tại khách quan Khác với quan điểm bàn tay vô hình của Adam Smith, Keynes đưa
ra quan điểm bàn tay hữu hình Theo ông sự vận động của nền kinh tế cần có sự can thiệp của Nhà nước, của Chính phủ
Các vấn đề kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với cái
mà chúng ta có thể nhận được Chúng ta muốn một thế giới an toàn và hoà bình Chúng ta muốn có không khí trong lành và nguồn nước sạch Chúng ta muốn sống lâu, sống khoẻ Chúng ta muốn sống trong một căn hộ rộng rãi và đầy đủ tiện nghi Chúng ta muốn có thật nhiều thời gian để thưởng thức âm nhạc, chơi thể thao, đi du lịch, giao lưu với bạn bè,…
Nhưng mỗi thứ mà chúng ta nhận được lại bị hạn chế bởi thời gian và thu nhập hiện có Kết quả là mọi người luôn có những mong muốn không được thoả mãn Việc chúng ta thất bại trong việc thoả mãn mọi mong muốn được gọi là khan hiếm Cả người giàu và người nghèo đều đối mặt với khan hiếm Một nhà triệu phú muốn chơi golf vào cuối tuần và ông ta cũng muốn tham dự buổi hội thảo kinh doanh cũng vào cuối tuần Nhà triệu phú cũng đối mặt với sự khan hiếm Một xã hội muốn xây dựng nhiều đường giao thông, cung cấp dịch vụ y tế tốt hơn, làm sạch các dòng sông bị ô nhiễm,…Xã hội cũng đối mặt với sự khan hiếm Đứng trước sự khan hiếm, chúng ta phải lựa chọn Chúng ta phải lựa chọn giữa các phương án sẵn có Em bé trong ví dụ trên phải lựa chọn hoặc ăn kem,
Trang 2hội thảo Với tư cách là xã hội, chúng ta phải lựa chọn giữa đầu tư vào cơ sở hạ tầng với chăm sóc sức khoẻ, quốc phòng, môi trường,…
Kinh tế học ra đời xuất phát từ sự khan hiếm
* Khái niệm: Có thể nói kinh tế học từ khi ra đời cho đến nay đã trải qua nhiều phát
triển và cũng đã xuất hiện khá nhiều định nghĩa Theo Paul A Samuelson và William
D Nordhaus: “Kinh tế học là khoa học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá cần thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội”
Từ khái niệm trên, chúng ta cần chú ý:
+ Kinh tế học là một môn khoa học nên trước hết đòi hỏi phải đảm bảo tính khách quan Tuy nhiên, cũng như các môn khoa học xã hội khác, kinh tế học không phải là môn khoa học chính xác nên nó không thể tách rời hoàn toàn quan điểm chủ quan trong nội dung nghiên cứu
+ Nội dung cơ bản của kinh tế học là nghiên cứu cách thức sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra một số loại hàng hoá và dịch vụ cần thiết đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế
+ Mục tiêu cuối cùng của khoa học kinh tế là nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế Muốn thoả mãn được nhu cầu đòi hỏi sản xuất phải được tăng trưởng Do đó, nghiên cứu tăng trưởng kinh tế là một nội dung quan trọng của kinh tế học Tuy nhiên, trong quá trình tăng trưởng kinh tế dài hạn lại nảy sinh vấn
đề cân bằng và mất cân bằng, tạo nên sự dao động ngắn hạn của nền kinh tế Sự dao động này làm cho nền kinh tế kém hiệu quả và tăng trưởng chậm Muốn có hiệu quả cao và tăng trưởng nhanh đòi hỏi phải hạn chế mức độ dao động đó Song nền kinh tế ổn định, hiệu quả cao và tăng trưởng nhanh chưa chắc đảm bảo thoả mãn tốt nhất nhu cầu của dân chúng, khi mà sự phân phối những thành quả đó còn bất hợp lý Chính vì vậy, kinh tế học phải giải quyết vấn đề phân phối thu nhập nhằm tạo ra sự công bằng trong việc hưởng thụ những sản phẩm mà nền kinh tế tạo ra
Kinh tế học thường được chia thành hai phân ngành lớn là kinh tế học vi
mô và kinh tế học vĩ mô
1.2 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
- Kinh tế học vi mô (Microeconomics): Nghiên cứu, phân tích nền kinh tế ở
giác độ chi tiết, bộ phận riêng lẽ, nghiên cứu hành vi ứng xử của người tiêu dùng
và người sản xuất nhằm lý giải sự hình thành và vận động của giá cả từng sản phẩm trong từng loại thị trường khác nhau
Trang 3+ Quan tâm đến người bán và người mua
+ Quan tâm đến thị trường hàng hoá cá biệt
- Kinh tế học vĩ mô (Macroeconomics): Nghiên cứu, phân tích nền kinh tế
một cách tổng thể, thông qua các biến số: tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lượng cung tiền trong nền kinh tế, cán cân thanh toán,
tỷ giá hối đoái,…Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
+ Quan tâm đến vấn đề chung của nền kinh tế (sản lượng)
+ Quan tâm đến vấn đề tổng thể, không đi sâu vào hành vi của người bán, người mua, không đi sâu vào cung cầu cụ thể
Nếu kinh tế học vi mô quan tâm đến lượng cung, lượng cầu thì kinh tế học
vĩ mô quan tâm đến tổng cung, tổng cầu
Cả kinh tế hcọ vi mô và kinh tế học vĩ mô đều quan tâm đến:
- Sản lượng: Vi mô: Ký hiệu sản lượng là Q: đo lường bằng hiện vật hay giá trị
Vĩ mô: Ký hiệu sản lượng là Y: chỉ định bằng giá trị → Vì sao??
Do sản lượng trong nền kinh tế vô cùng phong phú và đa dạng, khác nhau quá xa
về hình thức nên chỉ tính bằng giá trị ( Không thể cộng xe máy với trâu, bò,…)
- Giá: Cả vi mô và vĩ mô đều ký hiệu giá là P
Nhưng trong vi mô: đơn giá (bao nhiêu đồng/1 sản phẩm)
Vĩ mô: mức giá chung
Tên giống, ký hiệu giống nhưng bản chất khác nhau
So sánh kinh tế vi mô và vĩ mô:
dung
Chính phủ hay chính quyền ở các địa phương
2 Đối tượng Thị trường hàng hoá cá
biệt (cung, cầu 1 sản phẩm)
Thị trường của quốc gia, địa phương (tổng cung, tổng cầu)
3 Chỉ tiêu đánh giá kết quả - Lợi nhuận (DN, người
Trang 4kinh tế đơn lẽ hay từng đơn vị hành chính Các câu hỏi lớn của đời sống kinh tế được kinh tế vĩ mô tìm cách giải đáp như: Điều gì làm cho một nước giàu hơn hay nghèo đi theo thời gian? Các công dân của một nước sẽ tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai? Tại sao mức giá ở một số nước có xu hướng tăng nhanh trong khi ở các nước khác giá cả lại ổn định hoặc tăng chậm?,…
Một nội dung lớn trong kinh tế học vĩ mô là nghiên cứu các chính sách của Chính phủ có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động chung của nền kinh tế Đa số các nhà kinh tế vĩ mô cho rằng những thay đổi trong các chính sách kinh tế vĩ mô
có ảnh hưởng rộng khắp và có thể dự tính được chiều hướng chung trong mức sản xuất, việc làm, mức giá chung và thương mại quốc tế Nhiều nhà kinh tế cho rằng chính phủ cần chủ động sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để cải thiện thành tựu kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, một số nhà kinh tế khác lại cho rằng mối liên kết giữa các chính sách này với nền kinh tế là không ổn định và không dự tính được nên không thể sử dụng để quản lý nền kinh tế
Kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Vì những thay đổi trong toàn bộ nền kinh tế phát sinh từ các quyết định của hàng triệu cá nhân, nên chúng ta không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ
mô nếu không tính đến các quyết định kinh tế vi mô Chẳng hạn, một nhà kinh tế
vĩ mô có thể nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế thu nhập đối với mức sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế Để phân tích vấn đề này, nhà kinh tế vĩ mô phải xem xét ảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế đối với quyết định chi mua hàng hoá và dịch vụ của các hộ gia đình
Mặc dù có mối liên kết chặt chẽ giữa kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi
mô, hai lĩnh vực nghiên cứu này vẫn có sự khác biệt Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô xử lý các vấn đề khác nhau, đôi khi họ sử dụng những phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác nhau
Tuỳ theo cách sử dụng mà kinh tế học được chia thành hai dạng: kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
1.3 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
- Kinh tế học thực chứng (Positive economics): Mô tả và giải thích các hiện
tượng kinh tế một cách khách quan và khoa học
Mục tiêu của kinh tế học thực chứng là giải thích xã hội quyết định như thế nào về sản xuất, tiêu thụ và trao đổi hàng hoá Sự khảo sát này nhằm hai mục đích:
+ Giải thích cơ chế vận hành của nền kinh tế
Trang 5+ Dự đoán những phản ứng của nền kinh tế và dự đoán sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai
Nó trả lời cho các câu hỏi dưới dạng: “là gì”, “là bao nhiêu”, “tại sao”,
“như thế nào”,…
- Kinh tế học chuẩn tắc (Normative economics): Đưa ra những chỉ dẫn,
những quan điểm đánh giá hoặc lựa chọn cách thức giải quyết các vấn đề kinh tế của từng cá nhân hay từng nhóm cá nhân (không có tính khoa học)
Nó giải đáp các câu hỏi dưới dạng: “tốt hay xấu”, “nên hay không nên”,
“phải làm gì”,…
Trong thực tế, thực chứng và chuẩn tắc luôn đi kèm với nhau
Ví dụ: Người già phải chi nhiều cho bệnh tật → thực chứng (thực tế như vậy)
Chính phủ nên trợ cấp đơn thuốc cho người già → chuẩn tắc (có thể trợ cấp hoặc không: nên)
Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam vào những năm 1985 - 1988 là rất nghiêm trọng
→ chuẩn tắc (có thể có đối tượng cho là nghiêm trọng, có đối tượng cho là không nghiêm trọng)
2 Những đặc trƣng của kinh tế học
2.1 Tiền đề nghiên cứu và phát triển của kinh tế học
Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm các nguồn lực một cách tương đối so với nhu cầu của nền kinh tế, xã hội
Nếu có thể sản xuất với một số lượng vô hạn về mọi loại hàng hoá và thoả mãn đầy đủ được mọi nhu cầu của con người thì sẽ không có hàng hoá kinh tế và cũng không cần thiết phải tiết kiệm hay nghiên cứu kinh tế học
Kinh tế học ra đời bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa một bên là nguồn tài nguyên có hạn với một bên là nhu cầu có khuynh hướng tăng vô hạn và tăng nhanh hơn sản xuất của con người
2.2 Tính hợp lý của kinh tế học
Đặc trưng này thể hiện ở chỗ khi phân tích hoặc lý giải một sự kiện kinh tế nào đó, cần phải dựa trên những giả thiết nhất định (hợp lý) phù hợp với các mối quan hệ kinh tế mà ta đang quan tâm
Ví dụ: Khi muốn phân tích xem người tiêu dùng muốn mua thứ gì, với số lượng
bao nhiêu, kinh tế học đưa ra giả định là họ tìm cách mua được nhiều hàng hoá và dịch
vụ nhất, với số thu nhập có hạn của mình Hay để giải thích xem doanh nghiệp sản xuất
Trang 6cái gì, bao nhiêu và bằng cách nào, kinh tế học giả định là họ tìm cách tối đa hoá thu nhập của mình với những ràng buộc nhất định về các yếu tố sản xuất
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính chất hợp lý của những giả thiết này chỉ có
ý nghĩa tương đối
2.3 Kinh tế học là bộ môn nghiên cứu mặt lượng
Việc thể hiện các kết quả nghiên cứu kinh tế bằng những con số có tầm quan trọng đặc biệt Khi phân tích kết quả của các hoạt động kinh tế, nếu chỉ nhận định nó tăng lên hay giảm xuống là chưa đủ, mà còn phải xác định xem sự thay đổi đó là bao nhiêu
2.4 Tính toàn diện và tính tổng hợp của kinh tế học
Khi xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động và sự kiện kinh tế khác trên phương diện một nước, thậm chí trên phương diện nền kinh tế thế giới
Ví dụ: Để chống lạm phát, Ngân hàng Trung ương của một nước nào đó
quyết định giảm mức cung về tiền Kết quả là tổng cầu giảm và cả giá cả, sản lượng và việc làm đều giảm Mặt khác, đồng tiền nước này lại tăng giá, hàng xuất khẩu của họ trở nên đắt tương đối và hàng nhập khẩu của họ lại giảm tương đối
Do đó, xuất khẩu ròng giảm, dẫn đến sản lượng và việc làm của nước này tiếp tục giảm, còn các nước có quan hệ buôn bán với nước này lại tăng được xuất khẩu, nên khuyến khích sản lượng và việc làm của nước họ,…
2.5 Các kết quả nghiên cứu kinh tế chỉ xác định được ở mức độ trung bình
Vì những kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau và không thể xác định được chính xác tất cả các yếu tố này
3 Phương pháp luận nghiên cứu của kinh tế học
Tính khoa học của một môn học được quyết định bởi cách tiếp cận vấn đề chứ không phải bởi công cụ sử dụng, nghĩa là phải phát triển và kiểm định các lý thuyết về phương thức vận hành của thế giới một cách khách quan và vô tư Các nhà kinh tế tìm cách nghiên cứu đối tượng của mình với tính khách quan của một nhà khoa học, họ đưa ra các giả thiết thích hợp và thiết lập các mô hình để giải thích sự vận hành của thế giới kinh tế xung quanh chúng ta
Khác với khoa học tự nhiên, khi nghiên cứu các hiện tượng kinh tế, người
ta thường áp dụng phương pháp quan sát Sỡ dĩ như vậy là do các hiện tượng kinh
tế hết sức phức tạp, thường xuyên biến động và chịu nhiều yếu tố tác động
Trang 7Do đó, trong quá trình nghiên cứu cần phải thu thập các số liệu, tiến hành phân tích bằng các phương pháp phân tích thích hợp
Một phương pháp vô cùng quan trọng trong kinh tế là phương pháp trừu tượng hoá, bóc tách các nhân tố không định nghiên cứu (cố định lại) để xem xét các mối quan hệ kinh tế giữa những biến số cơ bản Khi phân tích trừu tượng như vậy, việc sử dụng các phương pháp thống kê có ý nghĩa rất lớn
Cuối cùng cần rút ra những kết luận, đối chiếu với thực tế, phát hiện những điểm bất hợp lý, đề ra những giả thiết mới rồi kiểm nghiệm lại bằng thực tế để rút
ra những kết luận sát thực hơn với đời sống kinh tế
II Một số khái niệm cơ bản của kinh tế học
1 Các yếu tố sản xuất, giới hạn khả năng sản xuất và chi phí cơ hội
1.1 Các yếu tố sản xuất (Đầu vào - Inputs)
Các yếu tố sản xuất là các đầu vào của quá trình sản xuất, bao gồm:
+ Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất do thiên nhiên mang lại như: đất đai, sông ngòi, khoáng sản,…
kỷ luật lao động cao làm cho năng suất lao động tăng
+ Khoa học công nghệ
Trang 8Nhận xét: Trong 4 yếu tố này, hãy sắp xếp thứ tự ưu tiên lựa chọn quan trọng nhất?? → Khó xác định, tuỳ ý kiến, quan điểm của từng cá nhân, doanh nghiệp, từng quốc gia → Games: Bịt mắt, xé giấy
1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF: Production Possibility Frontier)
Đường giới hạn khả năng sản xuất PPF là tập hợp các mứcphối hợp tối đa khối lượng các loại sản phẩm mà nền kinh tế có thể đạt được khi sử dụng toàn bộ các nguồn lực của nền kinh tế (Còn gọi là đường cong năng lực sản xuất)
- Điều kiện:
+ 100% các yếu tố đầu vào được sử dụng
+ Phạm vi áp dụng: cho một doanh nghiệp hay cho một quốc gia
Ví dụ: Giả sử chỉ có hai loại mặt hàng được sản xuất là lương thực và quần áo
Bảng 1 thể hiện một số khả năng lựa chọn các tổ hợp hai loại hàng hoá trên khi sử dụng hết các yếu tố sản xuất với công nghệ hiện có
Bảng 1: Những khả năng sản xuất thay thế nhau Khả năng sản xuất Lương thực (tấn) Quần áo (1000 bộ)
0 Bảng trên cho thấy nếu nền kinh tế chỉ sản xuất quần áo thì lượng quần áo thu được là 7,5 nghìn bộ Nếu sản xuất 7 nghìn bộ quần áo thì phần năng lực còn lại sẽ sản xuất được 1 tấn lương thực Tương tự, nếu giảm sản xuất quần áo thì sẽ
có khả năng tăng lương thực lên Lượng quần áo giảm đến 0 thì lương thực đạt được là 5 tấn Biểu diễn những khả năng này trên đồ thị và nối những điểm này lại
Trang 9Dọc theo đường cong từ A đến F, xã hội ngày càng có ít quần áo nhưng nhiều lương thực hơn Việc chuyển quần áo thành lương thực được thực hiện qua việc chuyển tài nguyên sang sản xuất lương thực
Trên thực tế, do tồn tại quy luật “năng suất cận biên giảm dần” nên đường PPF có dạng cong
Các điểm nằm trên đường PPF là những điểm hiệu quả, tận dụng hết khả năng sản xuất của nền kinh tế
Các điểm nằm phía trong đường PPF (ví dụ: điểm M) là những điểm không hiệu quả, còn lãng phí nguồn tài nguyên
Các điểm nằm phía ngoài đường PPF (ví dụ: điểm N) là những điểm mà nền kinh tế hay doanh nghiệp không thể đạt được vì đòi hỏi đầu tư vượt quá nguồn lực hiện có
Khi nằm trên đường PPF, muốn tăng loại sản phẩm này lên đòi hỏi phải giảm bớt loại sản phẩm khác Theo thời gian, các nguồn lực sản xuất của mỗi quốc gia có khuynh hướng gia tăng Do đó, đường PPF sẽ dịch chuyển ra ngoài
Hệ quả: Lựa chọn và quyết định khả năng sản xuất tối ưu:
Gọi PL và PA là đơn giá của lương thực và quần áo
QL và QA là sản lượng của lương thực và quần áo
TR là tổng doanh thu
Khả năng sản xuất tối ưu là khả năng sản xuất có tổng doanh thu cao nhất:
TR = PL.QL + PA.QA = Max
1.3 Chi phí cơ hội - Opportunity cost (Chi phí tương đối)
Do các nguồn tài nguyên là khan hiếm nên xã hội hay từng cá nhân luôn luôn phải lựa chọn xem sẽ tiến hành những hoạt động cụ thể gì trong số những hoạt động
có thể được tiến hành Phương án thay thế tốt nhất hay có giá trị nhất mà chúng ta từ
bỏ để nhận được một thứ gọi là chi phí cơ hội của thứ được lựa chọn Một trong những bài học cơ bản của kinh tế học là tất cả các lựa chọn của chúng ta đều chứa
đựng chi phí Đúng như câu ngạn ngữ Anh: “Chẳng có gì là cho không cả”
Như vậy, chi phí cơ hội của một quyết định là lượng hàng hoá và dịch vụ phải bỏ qua khi ta lựa chọn và thực hiện quyết định đó mà không lựa chọn thực hiện quyết định khác trong điều kiện khan hiếm các yếu tố thực hiện quyết định
Đó là một sự đánh đổi, nghĩa là trao đổi (hy sinh) một thứ để nhận được thứ khác
- Chi phí cơ hội không phải là chi cho các yếu tố đầu vào (chi phí kế toán)
Trang 10- Chi phí cơ hội là quan hệ trao đổi của các loại hàng hoá dịch vụ khác nhau hay là giá trị của phương án tốt nhất phải bỏ qua
- Chi phí cơ hội là cái giá phải trả cho một quyết định
Chẳng hạn, hiện tại bạn đang là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Phú Xuân, bạn quyết định liệu có nên tiếp tục học hay dừng học Lợi ích của việc học tiếp là làm giàu thêm kiến thức và có được những cơ hội tốt hơn trong tương lai Nhưng chi phí của học tiếp là gì? Nếu dừng học và đi bán hàng tại một công ty kinh doanh nào đó, bạn có thể nhận đủ thu nhập để ổn định cuộc sống, đi du lịch và có nhiều thời gian giao lưu với bạn bè Nếu học tiếp thì bạn không thể có những thứ
đó Bạn có thể có những thứ đó sau này, và đó chính là một trong những sự hy sinh từ việc học tiếp Tuy nhiên, hiện tại mọi chi phí sinh hoạt, đóng học phí và mua tài liệu đều do gia đình bạn chu cấp, và bạn không có tiền để đi du lịch Ôn bài, đọc tài liệu tham khảo, làm bài tập về nhà cũng đồng nghĩa với việc bạn còn ít thời gian hơn để giao lưu với bạn bè Chi phí cơ hội của việc học tiếp là phương
án thay thế có giá trị nhất mà bạn có thể làm nếu bạn dừng học
Khái niệm chi phí cơ hội có thể được minh hoạ thông qua đường PPF (Hình 1.1), giả sử quyết định sản xuất thêm lương thực từ 1 tấn ở điểm B lên 2 tấn ở điểm C, chi phí cơ hội cho quyết định này chính là số quần áo bị mất đi để sản xuất thêm lương thực Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của 1 tấn lương thực là 1 nghìn bộ quần áo Hoàn toàn tương tự, tại một điểm cho trước trên đường PPF, muốn tăng thêm lương thực đòi hỏi phải giảm bớt quần áo, lượng quần áo bị mất đi là chi phí cơ hội của lượng vải tăng thêm
Ví dụ: Hai sinh viên A và B đang lựa chọn giữa 2 phương án: đi máy bay
hoặc đi tàu từ Hà nội vào TP HCMinh để về thăm gia đình
Máy bay: Mất 1h - 1 triệu đồng
Tàu hoả: Mất 30 h - 500.000 đồng
Giả sử nếu không về thăm gia đình thì cả 2 sinh viên này đi làm thêm Lương A: 10000đ/giờ
Lương B: 20000đ/giờ
Vận dụng chi phí cơ hội để chứng minh: A sẽ đi tàu, B đi máy bay
* A: Nếu đi tàu: vé: 500000đ
30 giờ: 300000đ
Tổng: 800000đ
Nếu đi máy bay: Vé 1000000đ
Trang 111 giờ: 10000đ
Tổng: 1010000đ
→ A sẽ đi tàu hoả
* B: Nếu đi tàu: 500000 + 30* 20000 = 1100000đ
Nếu đi máy bay: 1000000 + 20000 = 1020000đ
→ B đi máy bay
2 Quy luật thu nhập giảm dần (Quy luật năng suất cận biên giảm dần)
Quy luật này cho biết số lượng đầu ra có thêm sẽ ngày càng giảm khi liên tiếp đầu tư thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi trong điều kiện các yếu tố đầu vào khác cố định
Quy luật thu nhập giảm dần nói lên mối liên hệ không phải giữa hai loại hàng hoá mà là giữa một đầu vào của quá trình sản xuất với đầu ra do đầu vào đó tạo ra
Ví dụ: Bảng 2 cung cấp các số liệu về số lao động, sản lượng thóc sản xuất
ra trong vòng 1 vụ với điều kiện diện tích gieo trồng cố định là 100 ha
Bảng 2: Quy luật năng suất cận biên giảm dần
∆L, ∆M: Gia tăng lao động và sản lượng lúa
PL*∆L: Chi phí đầu tư thêm
PM*∆M: Giá trị đầu ra có thêm
Nếu PL*∆L > PM*∆M: nên giảm đầu tư
PL*∆L < PM*∆M: nên tăng đầu tư
PL*∆L = PM*∆M: điểm đầu tư tối ưu
∆M/∆L = PL/PM hay MPL = PL/PM
Như vậy, khi diện tích và các yếu tố khác cố định, mỗi đầu vào lao động tăng thêm sẽ có ngày càng ít đầu vào cố định để cùng làm việc Do đó, những đầu vào được bổ sung sẽ tạo ra ngày càng ít đầu ra tăng thêm
Trang 12Quy luật thu nhập giảm dần không phải lúc nào cũng đúng Trong nhiều trường hợp, nó chỉ có hiệu lực khi đã bổ sung một số lượng rất lớn các lượng bằng nhau của đầu vào biến thiên Nói cách khác, lúc đầu đầu vào biến thiên có thể đem lại thu nhập
bổ sung ngày càng tăng nhưng cuối cùng quy luật thu nhập giảm dần sẽ xảy ra
3 Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Quy luật này cho biết để có thêm những số lượng bằng nhau về một mặt hàng,
xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều hơn số lượng mặt hàng khác
Trở lại hình 1, nếu nền kinh tế nằm trên đường PPF, muốn tăng thêm 1 tấn lương thực ta phải hy sinh một lượng quần áo nhất định, nhưng muốn tăng thêm 1 tấn lương thực nữa đòi hỏi phải hy sinh một lượng quần áo lớn hơn trước Ngược lại, khi muốn tăng thêm một lượng quần áo nhất định đòi hỏi phải hy sinh lương thực ngày càng nhiều
Đó cũng chính là lý do giải thích tại sao đường PPF có dạng cong lồi ra ngoài Các đường PPF có dạng thẳng hay lõm vào gốc toạ độ không thể mô tả được xu hướng trên
Vấn đề đặt ra là tại sao lại như vậy và có phải quy luật này lúc nào cũng đúng không? Giả sử việc sản xuất quần áo chủ yếu dùng đến lao động và hầu như không dùng đến đất đai, còn việc sản xuất lương thực cần đến cả lao động và đất đai Nếu đất đai được coi là cố định Tại điểm A ta thấy việc giảm đi từng đơn vị quần áo sẽ cho phép chuyển số lao động ra khỏi ngành sản xuất quần áo để chuyển sang ngành sản xuất lương thực Tuy nhiên, do đất đai cố định nên theo quy luật thu nhập giảm dần, số lao động như nhau được bổ sung cho ngành sản xuất lương thực sẽ tạo ra ngày càng ít lương thực Như vậy, việc hy sinh lần lượt từng đơn vị quần áo sẽ cho ta ngày càng ít lương thực và quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng đã được chứng minh
Từ lập luận trên có thể thấy, điều kiện để tồn tại quy luật này là tỷ lệ sử dụng đầu vào của hai loại hàng hoá phải khác nhau Nếu tỷ lệ này như nhau thì đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ trở thành đường thẳng và quy luật này không đúng nữa
4 Sản lƣợng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Sản lượng tiềm năng (Yp - Potentional output) là mức sản lượng mà nền kinh tế đạt được tương ứng với mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un - natural rate of unemployment) và tỷ lệ lạm phát vừa phải mà nền kinh tế có thể chấp nhận được
Trang 13Lưu ý: Sản lượng tiềm năng (Yp) chưa phải là mức sản lượng tối đa, đồng thời nó có khuynh hướng tăng lên theo thời gian (do khả năng sản xuất của nền kinh tế luôn có khuynh hướng tăng lên)
Trong thực tế, sản lượng thực tế (Ya) luôn biến động xoay quanh sản lượng tiềm năng Yp nên tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát cũng biến động, tạo ra chu kỳ kinh doanh
Khi Ya = Yp: Nền kinh tế đạt trạng thái toàn dụng
Khi Ya < Yp: Nền kinh tế đang trong trạng thái khiếm dụng Nghĩa là lúc này
Ua> Un Phần cao hơn (là thất nghiệp chu kỳ) có thể được ước tính theo định luật Okun
III Mục tiêu và các công cụ trong kinh tế vĩ mô
1 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô
1.1 Mục tiêu tổng quát
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia được đánh giá theo 3 dấu hiệu chủ yếu sau:
- Ổn định nền kinh tế: Là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh
tế cấp bách như: lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong ngắn hạn, hạn chế mức độ dao động của các chu kỳ kinh doanh (Chống lạm phát, chống suy thoái trong ngắn hạn, đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng tối ưu)
- Tăng trưởng kinh tế: Muốn có tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải tăng năng
lực sản xuất của quốc gia, làm cho tốc độ tăng sản lượng quốc gia đạt mức cao nhất mà nền kinh tế đó có thể thực hiện được (Phải làm tăng sản lượng tiềm năng bằng cách xử lý 4 yếu tố tăng trưởng dài hạn trong hàm sản xuất: L - Labour, K - Capital, R - Resource, Te - Technology)
- Công bằng trong phân phối: vừa là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề kinh tế
Phải thực hiện công bằng theo chiều dọc và theo chiều ngang
Công bằng dọc: có chế độ thù lao khác nhau cho những người lao động khác nhau (làm và hưởng theo năng lực)
Công bằng ngang: có chế độ thù lao như nhau cho những người lao động cùng chức năng, nhiệm vụ
1.2 Mục tiêu cụ thể
a Mục tiêu sản lượng:
+ Trong ngắn hạn: cần đạt mức sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng Yp
Trang 14+ Trong dài hạn: đạt tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc, tăng sản lượng tiềm năng Yp
+ Kiểm soát được lạm phát
d Mục tiêu kinh tế đối ngoại:
+ Ổn định tỷ giá hối đoái
+ Cân bằng cán cân thanh toán
e Mục tiêu phân phối công bằng:
Phải phân phối và phân phối lại của cải vật chất sao cho vừa tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất phát triển, vừa đảm bảo công bằng xã hội
2 Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu
Để đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, Chính phủ cần phải có những công cụ nhất định
2.1 Chính sách tài khoá (Fiscal Policy)
Chính sách tài khoá được thực hiện bằng cách thay đổi các khoản thu chi ngân sách của Chính phủ, nhằm hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn
Chính sách tài khoá bao gồm 2 công cụ chủ yếu:
+ Chi tiêu của Chính phủ (G - Government): Chi tiêu của Chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của chi tiêu công cộng, do đó có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lượng
+ Thuế (T - Tax): Thuế làm giảm các khoản thu nhập, do đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân, từ đó tác động tới tổng cầu và sản lượng
Trong ngắn hạn, chính sách tài khoá có tác động đến sản lượng thực tế và lạm phát, phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế
Trong dài hạn, chính sách tài khoá có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài
Trang 152.2 Chính sách tiền tệ (Monetary Policy)
Chính sách tiền tệ do Ngân hàng Trung ương thực hiện, trên cơ sở thay đổi lượng cung tiền ứng trên thị trường, nhằm tác động đến lãi suất và từ đó ảnh hưởng tới đầu tư
Chính sách tiền tệ bao gồm 2 công cụ chủ yếu là:
+ Cung về tiền (MS - Money Supply)
+ Lãi suất (r - interest rate)
Khi Ngân hàng trung ương thay đổi lượng cung về tiền, lãi suất sẽ tăng hoặc giảm, tác động đến đầu tư tư nhân, do đó ảnh hưởng đến tổng cầu và sản lượng
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến GDP thực tế trong ngắn hạn, song do tác động đến đầu tư nên nó cũng có ảnh hưởng lớn đến GDP tiềm năng trong dài hạn
2.3 Chính sách thu nhập (Incomes Policy)
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các biện pháp mà Chính phủ sử dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát
Chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ, từ những công cụ mềm dẻo như định hướng tiền lương theo ý muốn cho đến những công cụ có tính chất cứng rắn như kiểm soát có tính chất bắt buộc đối với tiền lương,…
2.4 Chính sách kinh tế đối ngoại (Foreign Policy)
Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm việc can thiệp của Chính phủ nhằm
ổn định tỷ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được
Chính sách này bao gồm các biện pháp giữ cho thị trường hối đoái cân bằng, các quy định về hàng rào thuế quan, bảo hộ mậu dịch và cả những biện pháp tài chính và tiền tệ khác, tác động vào hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 16CHƯƠNG II
ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG VÀ MỨC GIÁ
Trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm tổng sản phẩm trong nước GDP, các phương pháp xác định GDP, chỉ số điều chỉnh GDP, chỉ số giá tiêu dùng CPI và một số tài khoản quốc dân cơ bản Và chúng ta sẽ nghiên cứu xem các nhà kinh tế sử dụng những đại lượng này như thế nào để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát qua thời gian Và trong một chừng mực nhất định cho phép chúng ta có thể so sánh hoạt động kinh tế vĩ mô giữa các quốc gia với nhau
I Tổng sản phẩm trong nước GDP
1 Khái niệm
Tổng sản phẩm trong nước (GDP - Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay một địa phương trong một thời kỳ nhất định
Để hiểu thấu đáo định nghĩa này, chúng ta cần lưu ý đến nội dung chuyển tải của từng cụm từ một:
+ “Giá trị thị trường” là giá trị tính bằng tiền hay tính theo giá cả của hàng
hoá được người mua và người bán chấp nhận trên thị trường hàng hoá và dịch vụ Nói một cách nôm na là thuận mua, vừa bán
+ Cụm từ “của tất cả” ý nói GDP tìm cách tính toán hết tất cả các hàng
hoá và dịch vụ được sản xuất và bán hợp pháp trên thị trường
Nó bao gồm giá trị thị trường không chỉ của các sản phẩm nông nghiệp như gạo, ngô, khoai, sắn, thịt bò, thịt lợn,… các sản phẩm công nghiệp như quần
áo, giày dép,… mà còn của các loại dịch vụ như du lịch, giáo dục, y tế,…
Tuy nhiên, một số sản phẩm không được tính trong GDP do việc đo lường chúng quá khó khăn như: các sản phẩm tự sản tự tiêu (tự cấp tự túc) trong các hộ gia đình (ví dụ: rau quả trong vườn nhà, các dịch vụ sữa chữa nhỏ,…) GDP cũng không tính tới giá trị giao dịch của một số sản phẩm lưu thông bất hợp pháp hay thuộc kinh tế ngầm như ma tuý,…
Trang 17Hàng hoá, dịch vụ cuối cùng là những sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất và được người mua sử dụng dưới dạng sản phẩm hoàn chỉnh Nói cách khác, một sản phẩm được xem là hàng hoá, dịch vụ cuối cùng khi thoả mãn 2 điều kiện:
- Kết thúc quá trình sản xuất, phải là thành phẩm
- Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của nền kinh tế như: ăn, mặc, đầu
tư, xuất khẩu,…
Ngược lại, những hàng hoá, dịch vụ nào không thoả mãn 2 điều kiện nói trên là hàng hoá, dịch vụ trung gian (Đó là những sản phẩm đóng vai trò là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và được sử dụng hết trong quá trình đó)
Cần phân biệt hàng hoá, dịch vụ cuối cùng và hàng hoá, dịch vụ trung gian
vì đôi khi cùng một hàng hoá có thể là hàng hoá cuối cùng của ngành này nhưng
lại là hàng hoá trung gian của ngành khác Ví dụ: Vải là sản phẩm cuối cùng của
ngành dệt nhưng lại là sản phẩm trung gian của ngành may
Hay các loại nông sản: Thịt lợn: Nếu phục vụ cho mục đích ăn, xuất khẩu: hàng hoá cuối cùng → được tính vào GDP
Nhưng nếu cũng thịt lợn thành phẩm đó được sử dụng làm nguyên liệu chế biến cho một dây chuyền thịt hộp chẳng hạn → hàng hoá trung gian: không được tính vào GDP
Phân biệt hàng hoá, dịch vụ cuối cùng và hàng hoá, dịch vụ trung gian nhằm khắc phục hiện tượng tính trùng trong đo lường GDP
Ví dụ: Trong ngành sản xuất xe máy Khi tính GDP, nếu chúng ta cộng tất
cả giá trị sản lượng của cao su, lốp xe và xe máy được tạo ra trong một nền kinh tế lại với nhau thì sẽ là vô nghĩa vì giá trị của lốp xe đã tính đến giá trị của cao su dùng để sản xuất ra lốp xe đưa vào xe máy Ở đây, cao su và lốp xe là những hàng hoá trung gian
+ “trong phạm vi một nước” có nghĩa là giá trị của tất các hàng hoá được
sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ nước nào thì tính vào GDP nước đó, bất kể hàng hoá đó được tạo ra bởi công dân nước nào và doanh nghiệp thuộc sở hữu trong nước hay nước ngoài Như vậy, GDP xác định theo phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay một địa phương được xác định theo 2 phần:
- Phần hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà công dân của một quốc gia hay địa phương đó tạo ra
- Phần hàng hoá và dịch vụ cuối cùng do người nước ngoài hay người địa
Trang 18Ví dụ: Các tập đoàn nước ngoài đến Việt Nam đầu tư, chẳng hạn tập đoàn
Intel của Mỹ đến Việt Nam đầu tư: mọi giá trị mà Intel tạo ra trên phạm vi lãnh thổ
Việt Nam được tính vào GDP của Việt Nam
Hay một doanh nhân người Huế ra Hà Nội làm ăn: toàn bộ giá trị sản lượng
hàng hoá và dịch vụ mà doanh nhân đó tạo ra trên phạm vi lãnh thổ Hà nội sẽ được
tính vào GDP của Hà nội chứ không phải GDP của Huế (tính vào GNP của Huế) Ở
phần sau chúng ta sẽ nghiên cứu thêm khái niệm GNP và phân biệt nó với GDP
+ “trong một thời kỳ nhất định” nghĩa là GDP phản ánh giá trị sản lượng
tạo ra trong một khoảng thời gian cụ thể (năm, quý)
2 GDP danh nghĩa, GDP thực tế và chỉ số điều chỉnh GDP
2.1 GDP danh nghĩa (GDPn - Nominal GDP)
GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ tính theo giá hiện
hành, hay là tổng của lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm
nhân với giá của hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm đó
Công thức:
t i t i t
p : giá hiện hành của hàng hóa, dịch vụ cuối cùng i ở năm t
Lưu ý: Ở đây, tính theo giá hiện hành khác với giá thời điểm
Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường, một năm có hàng nghìn mức giá
biến động lên xuống khác nhau Vậy, chọn mức giá nào để tính? → mức giá
chung (phần sau chúng ta sẽ được học cụ thể hơn: DGDP và CPI)
Ví dụ: Có 10 con gà bán ở 3 thời điểm khác nhau trong năm với 3 mức giá khác
nhau: Con đầu tiên: bán giá 50.000đ, 4 con tiếp: bán giá 70.000đ, 5 con cuối: bán giá
100.000đ → Chọn giá nào để tính? Giá cao nhất? Giá thấp nhất hay như thế nào?
Ở đây chúng ta phải sử dụng phương pháp bình quân gia quyền như trong
lý thuyết thống kê đã học:
P = (50.000*1 + 70000*4 + 100000*5)/10 = 83300 (đ/con)
Hay: lấy ví dụ 10 tấn cà phê bán ở 3 thời điểm khác nhau với 3 mức giá
khác nhau (đầu vụ, giữa vụ, cuối vụ)
2.2 GDP thực tế (GDPr - Real GDP)
GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ hiện hành của nền
kinh tế được đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc) hay là tổng
Trang 19của lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của các hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm gốc
Công thức:
o i t i t
GDP (i = 1,m) ( o
i
p giá cố định của hàng hoá, dịch vụ i ở năm cơ sở hay năm gốc)
Trong thực tế, nếu quan sát thấy GDP danh nghĩa tăng từ năm này sang năm khác thì chưa thể kết luận sự tăng đó là do sản lượng hàng hoá và dịch vụ tăng hay do mức giá tăng Nhưng nếu quan sát thấy GDP thực tế tăng thì có thể khẳng định rằng sản lượng hàng hoá và dịch vụ đã tăng vì mức giá được tính cố định theo năm gốc Do đó, chỉ tiêu GDP thực tế là thước đo tốt hơn về kết quả sản xuất của nền kinh tế theo thời gian
Pt < P0 Pt = P0 Pt > P0
* Trước Thời điểm gốc Sau
Tại thời điểm gốc: GDPn = GDPr (vì Pt = P0)
Trước thời điểm gốc: GDPn < GDPr (vì Pt < P0)
Sau thời điểm gốc: GDPn > GDPr (vì Pt > P0)
Lưu ý: Khi nào sử dụng GDP n , khi nào sử dụng GDP r ?
- Khi so sánh quan hệ tài chính, so sánh kết quả hoạt động của các nền kinh
tế với nhau, của các địa phương hoặc các ngành trong nền kinh tế với nhau thì nên dùng GDP danh nghĩa
- Khi so sánh GDP qua các năm, để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế thì phải dùng GDP thực tế
Trang 20Nên dùng: có thể dùng cả 2 chỉ tiêu nhưng nên dùng GDPn thì tốt hơn Phải dùng: chỉ dùng GDPr, không dùng GDPn
Ví dụ 1: Nên dùng: Giả sử, khi so sánh Việt Nam với một quốc gia siêu
cường về kinh tế như Nhật Bản:
2007: GDPn: Nhật: 4350 tỷ $ sử dụng cái này tốt hơn
Việt Nam: 71,3 tỷ $
Nếu dùng GDPr: chúng ta phải lấy thời giá cuủa1 năm nào đó làm gốc để
so sánh, chẳng hạn lấy giá năm 2000 làm gốc
GDPr/00: Nhật: 3850 tỷ $
Việt Nam: 51 tỷ $
Sử dụng cách này vẫn có thể so sánh được nhưng không tốt bằng cách trên
vì đòi hỏi chúng ta phải liên tưởng đến chỉ giá đồng $ năm 2000
So sánh GDPn sẽ phản ánh sát tình hình thực tế hơn
→ Do đó nên dùng GPP n trong những trường hợp này
Ví dụ 2: Phải dùng GDPr: (dùng GDPn không được)
t i t i t
r
t n GDP
p q
p q GDP
GDP D
Trang 21DGDP đo lường sự biến động của các hàng hoá, dịch vụ nói chung tính vào GDP hay nói cách khác nó phản ánh sự tăng giảm về mặt giá cả nói chung của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế
Do đó, một số tài liệu còn gọi là chỉ số giá cả hay chỉ số giảm phát
DGDP > 100: giá cả tăng lên → GDPn > GDPr (sau năm gốc)
DGDP < 100: giá cả giảm xuống → GDPn < GDPr (trước năm gốc)
DGDP = 100: giá cả không thay đổi → GDPn = GDPr (tại thời điểm gốc) Trong công thức trên:
Do GDP danh nghĩa phải bằng GDP thực tế ở năm cơ sở nên chỉ số điều chỉnh GDP ở năm cơ sở luôn bằng 1 Tuy nhiên, để tiện lợi trong việc đọc, các nhà thống kê kinh tế thường thể hiện giá trị của chỉ số điều chỉnh GDP hay chỉ số giảm phát ở năm cơ sở là 100 thay vì là 1 Do đó, tỷ số giữa giữa giá trị của GDP danh nghĩa và GDP thực tế được nhân với 100 (Nhân 100 ở công thức này là để
dễ đọc chứ không phải để tính %)
Ví dụ: Thay vì đọc 1,15 hay 0,95 người ta đọc 115 hay 95 dễ hơn
Ý nghĩa của chỉ số điều chỉnh GDP: (D GDP sử dụng để làm gì??)
+ Dùng để qui đổi GDPn thành GDPr và ngược lại
GDP t
D
D D
(%)
Nhân 100 ở công thức này để tính %, khác với công thức tính DGDP
Ví dụ: Để tính tỷ lệ lạm phát năm 2007 của Việt Nam:
Π07 = (DGDP07 - DGDP06)/D06GDP *100 (%)
Không so sánh tương đối 2 số % để ra số % thứ 3 → Đó là lý do tại sao
DGDP không tính bằng %
Nhìn vào công thức tính tỷ lệ lạm phát, chúng ta cần lưu ý:
Nếu DGDPt > DGDPt-1 → πt > 0 → lạm phát ( là tình trạng mức giá chúng của nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định - chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn trong chương VI)
Nếu DGDP < DGDPt-1 → πt < 0 → giảm phát (là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống trong một thời gian nhất định - chương VI)
Nếu DGDP = DGDPt-1 → Về mặt toán học: πt = 0 Nhưng trên thực tế không xảy ra trường hợp này
Trang 22Lạm phát gây ra nhiều tác hại Nhưng những tác hại mà giảm phát gây ra lớn gấp 10, 20 lần lạm phát
Không có giải pháp để chống giảm phát → buộc phải phòng: không để cho giảm phát xảy ra Nếu xảy ra giảm phát có thể làm mất nền kinh tế, mất chính trị
Do đó, không một chính phủ nào để giảm phát xảy ra: Khi có dấu hiệu giảm phát phải dập ngay
Lưu ý: Trong công thức tính tỷ lệ lạm phát trên chỉ tính cho hai mốc thời
gian liền nhau (năm t và năm (t-1)) Trường hợp hai mốc thời gian so sánh cách nhau thì công thức trên được gọi là tốc độ tăng giá, lấy tốc độ tăng giá này chia cho khoảng cách thời gian chúng ta được tỷ lệ lạm phát trung bình trong khoảng thời gian đó
2.4 Tăng trưởng kinh tế và quy tắc 70
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian, đó là sự gia tăng của GDP thực tế theo thời gian
Tăng trưởng bền vững là sự tăng trưởng của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại (ảnh hưởng) đến sự tăng trưởng của thế hệ tương lai
Từ các chỉ tiêu GDP, chúng ta tính được các loại tốc độ tăng trưởng kinh tế:
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên hoàn: gt = 1 * 100 (%)
t r t
r
GDP
GDP GDP
Dạng khác của công thức trên:
gt = ((GDPrt /GDPrt-1) -1)*100 (%)
-1 thể hiện trừ gốc của nó
Nhìn vào công thức này, nhận xét:
GDPrt > GDPrt-1: gt > 0: nền kinh tế tiến về phía trước
GDPrt < GDPrt-1: gt < 0: nền kinh tế tăng trưởng âm
GDPrt = GDPrt-1: gt = 0: nền kinh tế đứng im tại chỗ
Trang 23Về lý thuyết: có 3 trường hợp này
Nhưng trên thực tế, bao nhiêu năm nay trên thế giới chưa có nước nào xảy
ra trường hợp nền kinh tế đứng im tại chỗ: gt = 0
Thông thường: gt > 0
Một số nước gặp bất trắc, rủi ro, khủng hoảng,…: gt < 0
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế định gốc:
1 2
t r
t r t
t r
GDP GDP
Trong đó: t1: năm gốc
t2 - t1 = 2,3,4,… (hiệu số của t2 và t1 được tính từ 2,3,… trở lên)
Về mặt số học, 2 công thức gt và g0 không khác nhau Nhưng trong kinh tế,
2 công thức này có sự khác biệt khá tinh vi
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: (2 1 1)*100(%)
t r GDP
GDP g
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân phản ánh tốc độ tăng của năm sau so với năm trước, tính bình quân cho một giai đoạn nhiều năm (từ t1 đến t2)
Ví dụ: Có dãy số liệu GDPr của 2 nước trong khoảng thời gian sau:
Hãy tính tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của 2 nước này?
Tốc độ tăng trưởng bình quân của 2 nước này bằng nhau:
gA,B = ( 5√61/60 - 1)* 100 (%)
Nhận xét: Từ 2003 đến 2006, GDPr của 2 nước này khác nhau, nhưng tốc
độ tăng trưởng bình quân từ 2003 - 2007 của 2 nước này bằng nhau
gA = (5√
Trang 24* Tăng trưởng kép và quy tắc 70:
Ví dụ: Hiện tại, có 100 trđ, gửi Ngân hàng với lãi suất r = 17%/năm, gửi trong thời gian 10 năm Lãi gốc của tháng này trở thành lãi tháng sau (tính lãi kép) Hỏi sau 10 năm (đến lúc đáo hạn) có bao nhiêu tiền?? → Quy tắc 70
Tốc độ tăng trưởng bình quân còn đưa chúng ta đến khái niệm tăng trưởng kép Khái niệm này được dùng để chỉ sự tăng trưởng tích luỹ qua mỗi thời kỳ Tăng trưởng kép làm cho GDP của một nước tăng rất nhanh sau một khoảng thời gian dài Điều này cũng hàm ý nếu các nước có tốc độ tăng trưởng kép khác nhau, thì sự khác biệt nhỏ trong tốc độ tăng trưởng có thể dẫn tới sự khác biệt rất lớn trong GDP sau một thời gian dài
Để tính được tốc độ tăng trưởng kép, chúng ta phải khai căn, lấy logarit và phải thực hiện nhiều phép toán Các nhà kinh tế đã tìm ra một quy tắc đơn giản, gần đúng để nhanh chóng hình dung ra được sau bao lâu GDP thực tế của một nước sẽ tăng gấp đôi khi nó đạt một tốc độ tăng trưởng kép nào đó Quá trình tìm kiếm đã dẫn các nhà kinh tế tới quy tắc 70
Quy tắc này nói rằng nếu một biến số tăng với tốc độ bình quân là x phần trăm năm thì nó sẽ tăng gấp đôi sau 70/x năm
Hệ quả: Hiệu ứng đuổi kịp (Catch - up effect)
Thuật ngữ này dùng để chỉ tình huống các nước có điểm xuất phát thấp thường đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn các nước có điểm xuất phát cao và khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa họ sẽ được thu hẹp
Một quốc gia có xuất phát điểm tương đối thấp nhưng có tốc độ tăng trưởng tương đối cao thì quốc gia đó có thể đuổi kịp quốc gia khác có xuất phát điểm cao hơn nhưng tăng trưởng thấp hơn
Ví dụ: 2 ô tô: 1 chiếc chạy trước với vận tốc 40 km/h; 1 chiếc chạy sau với vận tốc 60 km/h Hỏi sau mấy giờ xe 2 vượt xe 1?? → Sau 2 giờ xe thứ 2 vượt xe thứ 1 (Hiệu ứng đuổi kịp)
→ Điều quan trọng (quyết định) là tăng trưởng kinh tế chứ không phải GDP tạo ra là bao nhiêu
Trang 25Hiệu ứng đuổi kịp có tác động đối với nước ta không? Có So với các nước khác trong khu vực, nước ta có điểm xuất phát thấp hơn Số liệu thống kê cho thấy
tỷ lệ tăng trưởng của chúng ta cao hơn hầu hết các nước có trình độ phát triển cao trong khu vực Thực tế này chắc chắn làm cho khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa nước ta và các nước có trình độ phát triển cao sẽ được thu hẹp, chứ không phải “dãn ra” hay “ngày càng tụt hậu” như một số người lầm tưởng
II Phương pháp xác định GDP
1 Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô
Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô là sơ đồ mô tả luồng hàng hoá, dịch vụ và luồng tiền tệ di chuyển giữa các chủ thể kinh tế với nhau Để tìm được bản chất bên trong của các giao dịch và đưa ra được các phương pháp tính toán GDP một cách có cơ sở khoa học, chúng ta xét trường hợp đơn giản nhất: Nền kinh tế khép kín, chỉ bao gồm 2 tác nhân là hộ gia đình và các doanh nghiệp
Trong điều kiện đó, dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô được trình bày ở hình 2.1:
Hình 2.1 : Dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô
Các hộ gia đình cung cấp các yếu tố đầu vào sản xuất cho các doanh nghiệp Các doanh nghiệp dùng yếu tố sản xuất này sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ
và bán hàng hoá, dịch vụ cho hộ gia đình
Các hộ gia đình dùng thu nhập từ các yếu tố sản xuất thanh toán cho doanh nghiệp khi mua hàng hoá và dịch vụ
Như vậy, dòng bên trong là sự luân chuyển các nguồn lực thực sự Hàng hoá, dịch vụ từ các doanh nghiệp sang hộ gia đình và dịch vụ yếu tố sản xuất từ hộ gia đình sang các doanh nghiệp Dòng bên ngoài là các giao dịch thanh toán bằng tiền Các doanh nghiệp trả tiền cho các dịch vụ yếu tố sản xuất, các hộ gia đình thanh toán các khoản chi tiêu về hàng hoá, dịch vụ cho các doanh nghiệp
Trang 26Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô đặt cơ sở cho các phương pháp tính toán tổng sản phẩm trong nước GDP
2 Phương pháp xác định GDP
2.1 Phương pháp chi tiêu (cung trên)
Phương pháp chi tiêu đo lường GDP bằng cách thu thập các dữ liệu về chi tiêu cho tiêu dùng (C - Cosumption), đầu tư (I - Investment), chi mua hàng hoá và dịch vụ của chính phủ hay chi tiêu của chính phủ (G - Government Purchases of goods and services) và xuất khẩu ròng (NX - Net Exports) Đây cũng là bốn bộ phận cấu thành GDP xét về cách thức sử dụng các nguồn lực khan hiếm của xã hội
Do giá trị tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế (Y) phải bằng tổng chi tiêu để mua lượng hàng hoá và dịch vụ đó nên tổng chi tiêu bằng GDP Điều này có thể viết dưới dạng phương trình sau:
Y = GDP = C + I + G + NX
a Tiêu dùng của các hộ gia đình (C - Cosumption)
Tiêu dùng của các hộ gia đình bao gồm tổng giá trị các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình mua được trên thị trường để chi dùng cho mục đích đời sống Bao gồm những khoản chi cho:
+ Hàng hoá vật chất: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng,…( những mặt hàng có thể cân, đong, đo, đếm,…)
+ Giá trị của các hoạt động dịch vụ phục vụ đời sống: du lịch, y tế, giáo dục,…
Nếu chi tiêu nhưng không phục vụ cho gia đình thì không tính vào C → không tính vào GDP
Hộ gia đình tự sản xuất ( không mua từ bên ngoài) → không tính vào C → không tính vào GDP Vì nền kinh tế thị trường không khuyến khích việc tự cung,
tự cấp mà khuyến khích trao đổi, mua bán lẫn nhau
Nội trợ: tự làm → không được tính vào C → không được tính vào GDP
Ví dụ: Giả sử một phụ nữ lấy người quản gia giúp việc cho gia đình cô Sau
khi cưới, anh ta vẫn tiếp tục làm công việc trước đây Theo bạn, thì cuộc hôn nhân này có tác động đến GDP không? Nếu có, nó tác động đến GDP như thế nào?
→ Khi người phụ nữ lấy người quản gia, thì GDP giảm đi một lượng đúng bằng tiền lương trước đây trả cho người quản gia Điều này là do GDP được tính giảm đi một lượng bằng tiền lương mà người quản gia không được hưởng nữa Nếu GDP tính bằng giá trị hiện vật của tất cả các hàng hoá và dịch vụ thì đám
Trang 27cưới trên sẽ không ảnh hưởng đến GDP Tuy nhiên, trên thực tế GDP lại là một chỉ tiêu không hoàn hảo về hoạt động của nền kinh tế, bởi vì giá trị của một số hàng hoá và dịch vụ bị bỏ qua Khi công việc của người quản gia trở thành dịch
vụ tự làm tại gia đình thì hoạt động không còn được tính vào GDP nữa Do đó, đứng về mặt kinh tế, kịch liệt phản đối người chủ lấy người giúp việc
Như vậy, C chỉ bao gồm những hàng hoá dịch vụ mà hộ gia đình mua vào
để phục vụ cho đời sống cá nhân, mà không bao gồm những hàng hoá, dịch vụ mà gia đình tự sản xuất để tiêu dùng Chi xây dựng và mua nhà ở mới không tính vào tiêu dùng mà được hạch toán vào đầu tư tư nhân
b Đầu tư (I - Investment)
Đầu tư I phản ánh tổng đầu tư trong nước của khu vực tư nhân
Nó bao gồm:
+ Nhà xưởng mới xây dựng
+ Trang thiết bị máy móc mới sản xuất
+ Chênh lệch hàng hoá tồn kho
Chênh lệch hàng hoá tồn kho thực chất là loại tài sản lưu động Nó là những hàng hoá được giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này Nó được xem như vốn lưu động sử dụng cho năm sau, vì vậy trong năm đó người ta cộng vào tổng
số vốn đầu tư của nền kinh tế
Chênh lệch tồn kho = Giá trị tồn kho - Giá trị tồn kho
trong năm cuối năm đầu năm
Nếu giá trị hàng tồn kho cuối năm > giá trị hàng tồn kho đầu năm: các doanh nghiệp tiêu thụ không hết sản phẩm sản xuất ra trong năm, do đó làm tăng tài khoản đầu tư I dẫn đến tăng GDP
Nếu giá trị hàng tồn kho cuối năm = giá trị hàng tồn kho đầu năm: các doanh nghiệp tiêu thụ hết sản phẩm sản xuất ra trong năm Do đó, không ảnh hưởng tới đầu tư cũng như GDP
Nếu giá trị hàng tồn kho cuối năm < giá trị hàng tồn kho đầu năm: các doanh nghiệp tiêu thụ hết sản phẩm sản xuất ra trong năm đồng thời tiêu thụ một phần hàng tồn kho năm trước chuyển sang Do đó làm giảm tài khoản đầu tư I, dẫn đến giảm GDP
Như vậy, chỉ được tính vào đầu tư đối với phần tồn kho của năm đang xét, tức là lượng tồn kho tăng thêm hoặc giảm bớt mà thôi Có thể thấy đây là một
Trang 28khoản điều chỉnh rất tinh vi, khoa học và chính xác trong quá trình tính toán GDP,
nó khắc phục hiện tượng tính trùng và bỏ sót trong quá trình tính toán
Ngoài ra, chúng ta cần phân biệt khái niệm tổng đầu tư và đầu tư ròng Tổng đầu tư bao gồm 2 bộ phận:
+ Đầu tư thay thế: là chi tiêu để bù đắp giá trị của bộ phận tư bản hiện vật
đã hao mòn, được gọi là khấu hao (De - Depreciation)
+ Đầu tư ròng (IN - Net Investment): là khoản chi tiêu để mở rộng quy mô của tư bản hiện vật
Do đó, đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi khấu hao
IN = I - De hay I = IN + De
c Chi tiêu của Chính phủ G (Government)
Chi tiêu của Chính phủ bao gồm 2 khoản lớn: Chi mua hàng hoá, dịch vụ
và chi chuyển nhượng (Tr - Transfer payments) Nhưng chỉ tính vào GDP những khoản chi mua hàng hoá, dịch vụ, còn các khoản chi chuyển nhượng không được tính vào GDP Chi chuyển nhượng Tr ví dụ như các khoản trợ cấp cho những người thuộc diện chính sách xã hội (người già, người tàn tật, …), những khoản chi này không thể hiện việc mua sắm hàng hoá và dịch vụ mà chỉ đơn thuần là việc chuyển tiền từ chính phủ sang các hộ gia đình Chuyển giao thu nhập như vậy làm thay đổi thu nhập của các hộ gia đình nhưng không tác động đến giá trị sản xuất của nền kinh tế Do đó, Tr không được tính vào GDP
* Các khoản chi mua hàng hoá, dịch vụ của Chính phủ bao gồm:
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng
+ An ninh, quốc phòng
+ Y tế, giáo dục
+ Trả lương cho bộ máy quản lý nhà nước
Những khoản chi này đều có những hàng hoá, dịch vụ đối ứng nên được tính vào GDP
* Chi chuyển nhượng (Tr) bao gồm:
+ Chi bảo hiểm thất nghiệp
Trang 29Như vậy, những khoản chi nào thuộc ngân sách quốc gia nhưng không có hàng hoá, dịch vụ đối ứng thì không được tính vào GDP
Ví dụ: Nhà nước chi cho môi trường: có đối ứng: môi trường trong sạch
hơn: được tính vào GDP
Nhà nước chi hỗ trợ người tàn tật, mất sức,…: không có đối ứng: không được tính vào GDP
d Xuất khẩu ròng NX (Net Export)
Xuất khẩu ròng về hàng hoá và dịch vụ (NX) là giá trị xuất khẩu (Export - X) trừ đi giá trị nhập khẩu (Import - M) hay bằng khoản chi tiêu của người nước ngoài cho mua hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra ở trong nước trừ đi khoản chi tiêu của người dân trong nước cho mua hàng hoá và dịch vụ tạo ra ở nước ngoài
NX = X - M
2.2 Phương pháp thu nhập (cung dưới)
Theo phương pháp này, GDP tính theo chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất mà các doanh nghiệp phải thanh toán Tổng chi phí mà doanh nghiệp phải thanh toán trở thành thu nhập của công chúng GDP tính theo phương pháp này bao gồm những khoản sau:
- Tiền công, tiền lương (W - Wages): Là lượng thu nhập nhận được từ việc cung cấp sức lao động
- Tiền thuê nhà và đất (R - Rental)
- Lãi suất do công ty trả (i - interest): phụ thuộc vào lãi suất thị trường và lượng vốn vay
- Lợi nhuận công ty (Pr - Profit): là phần thu nhập còn lại của doanh thu sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất
- Khấu hao TSCĐ (De - Depreciation): là khoản tiền dùng để bù đắp sự hao mòn tài sản cố định
- Thuế gián thu (Ti - Indirect Taxes): là những loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập, người chịu thuế và người nộp thuế không phải là một
Do đó, GDP theo phương pháp thu nhập được tính bằng công thức:
GDP = W + R + i + Pr + De + Ti
2.3 Phương pháp sản xuất
Phương pháp này có thể dùng để đo lường đóng góp của từng ngành vào GDP Song để đo lường giá trị sản xuất của mỗi ngành riêng biệt chúng ta phải
Trang 30thận trọng để chỉ tính giá trị gia tăng của ngành đó Do đó, phương pháp sản xuất còn được gọi là phương pháp giá trị gia tăng
GDP theo phương pháp sản xuất được tính bằng công thức:
Trong đó:VA (Value Added) - Giá trị gia tăng
GO (Gross Output) - Tổng giá trị sản xuất
IE (Intermadiate Expenditure) - Chi phí trung gian
Tổng giá trị sản xuất (GO) là giá trị của toàn bộ lượng hàng hoá và dịch vụ
mà doanh nghiệp sản xuất ra trong năm, nó bao gồm cả phần hàng hoá đã tiêu thụ
và hàng tồn kho
Chi phí trung gian (IE) bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ mua bên ngoài được sử dụng một lần trong quá trình sản xuất như: chí phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí vận chuyển,… Chi phí trung gian không bao hàm khấu hao TSCĐ
vì TSCĐ được dùng nhiều lần trong quá trình sản xuất
Phương pháp này loại trừ được sản phẩm trung gian của nền kinh tế trong quá trình tính toán GDP
Ví dụ: Có 3 doanh nghiệp:
DN 1 sản xuất 10 kg gạo bán với giá 6000 đ/kg
DN 2 mua 5 kg gạo làm bột, bán được 40.000 đ
DN 3 mua 30.000 đ bột làm bánh, bán được 40.000 đ
Bỏ qua mọi khoản chi phí khác Hãy tính GDP??
Nếu lấy: 60.000 + 40.000 + 40.000 = 140.000 đ → Tính trùng!!
Chi phí trung gian của DN 1 = 0
Chi phí trung gian của DN 2 = 30.000 đ
Chi phí trung gian của DN 3 = 30.000 đ
Tổng chi phí trung gian: 60.000 đ
GDP = 140.000 - 60.000 = 80.000 đ
Lưu ý: Về nguyên tắc, việc tính GDP theo các phương pháp khác nhau phải
cho cùng kết quả như nhau Tuy nhiên, trên thực tế GDP tính theo 3 phương pháp trên có thể cho kết quả khác nhau do sai số thống kê và tính phức tạp của GDP
Trang 31III Một số tài khoản quốc dân cơ bản
1 Tổng sản phẩm quốc dân GNP - Gross National Product
Tổng sản phẩm quốc dân GNP đo lường tổng giá trị của các loại hàng hoá
và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia hay một địa phương tạo ra trong một thời
kỳ nhất định, thường là một năm
Như vậy, cũng giống với GDP, GNP cũng chỉ tính giá trị của các loại hàng hoá
và dịch vụ cuối cùng, không tính đến giá trị của các loại hàng hoá và dịch vụ trung gian
GNP khác với GDP là nó xét theo quyền sở hữu về tư liệu sản xuất nên GNP bao gồm 2 phần:
+ Phần do người trong nước hay trong địa phương tạo ra từ trong nước hay địa phương của họ
+ Phần do người trong nước hay người địa phương tạo ra ở nước ngoài hay
ở địa phương khác
Nói cách khác, GNP bằng GDP cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NIA - Net factor Income from Abroad) hay chênh lệch giữa thu nhập được dân cư trong nước tạo ra ở nước ngoài và thu nhập của người nước ngoài tạo ra ở trong nước
GNP = GDP + NIA
NIA = Thu từ nước ngoài - Chi cho nước ngoài
Thu từ nước ngoài bao gồm các khoản như:
+ Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, sức lao động
+ Lợi tức cổ phần do mua cổ phần ở nước ngoài
+ Lợi nhuận do đầu tư ra nước ngoài,…
Chi cho nước ngoài bao gồm các khoản như:
+ Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, sức lao động
+ Lợi tức cổ phần do người nước ngoài mua cổ phần ở trong nước
+ Lợi nhuận do đầu tư nước ngoài vào trong nước,…
NIA có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn 0
Nếu NIA > 0 thì GNP > GDP và ngược lại
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay mặc dù thu nhập của người Việt Nam kiếm được từ nước ngoài có tăng lên nhưng do khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khá lớn nên GDP của Việt Nam thường lớn hơn GNP (nghĩa là NIA < 0) Tỷ lệ GDP so với GNP của Việt Nam phổ biến khoảng 98%
2 Sản phẩm quốc nội ròng NDP - Net Domestic Product
Trang 323 Sản phẩm quốc dân ròng NNP - Net National Product
Sản phẩm quốc dân ròng là phần GNP còn lại sau khi trừ khấu hao:
NNP = GNP - De
4 Thu nhập quốc dân NI - National Income
Thu nhập quốc dân là phần NNP còn lại sau khi trừ thuế gián thu:
NI = NNP - Ti
NI phản ánh thu nhập từ các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hay đồng thời cũng là thu nhập của các hộ gia đình trong nền kinh tế
5 Thu nhập cá nhân PI - Personal Income
Thu nhập cá nhân là khoản thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp phi công ty (non - corporate businesses) nhận được từ các doanh nghiệp cho các dịch vụ yếu tố và từ các chương trình trợ cấp của chính phủ về phúc lợi và bảo hiểm xã hội
PI = NI - Lợi nhuận nộp, không chia + Tr
Tr (Transfer payment): Trợ cấp của Chính phủ
6 Thu nhập khả dụng Y d - Disposible Income
Yd = PI - Tcá nhânThu nhập khả dụng bằng thu nhập cá nhân trừ thuế thu nhập cá nhân và các khoản phí ngoài thuế phải nộp cho Chính phủ (như lệ phí giao thông,…)
Các chỉ tiêu đo lường thu nhập của nền kinh tế kể trên tuy ít nhiều có khác nhau Song nhìn chung, chúng có mối liên hệ chặt chẽ và tăng, giảm cùng chiều với GDP tuy không nhất thiết theo cùng một tỷ lệ
Mối quan hệ đó được tổng hợp qua sơ đồ sau:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hoá
và dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá bán lẽ hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ dùng trong sinh hoạt của
Trang 33dân cư và các hộ gia đình Do đó, nó được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian
Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng Kết quả là người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để có thể mua được một lượng hàng hoá
và dịch vụ như cũ nhằm duy trì mức sống trước đó của họ
Ở Việt Nam, hàng tháng tổng cục Thống kê tính toán và công bố những số liệu mới về CPI Trên cơ sở những con số thống kê này các nhà phân tích nhanh chóng đưa ra những bình luận về nguyên nhân thay đổi giá cả, đồng thời dự báo triển vọng thay đổi giá cả trong tương lai trên các mặt báo hằng ngày hoặc đưa lên tivi Chúng ta có thể đọc thấy những con số thống kê này trong các Niên giám thống kê do Tổng Cục Thống kê phát hành hằng năm
Công thức tính chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Chúng ta có thể sử dụng 2 công thức sau để tính chỉ số giá tiêu dùng CPI:
i i
o i t i t
q p
q p
p t
d i CPI 0(%)
Trong đó: i i p:gọi là chỉ số giá cá biệt của hàng hoá i
p
p i
d0i: gọi là tỷ trọng hàng hoá i ở năm gốc
0
i i
i i i
q p
q p d
Nhận xét:
Đối với công thức 1:
+ Ưu điểm: Nhìn vào công thức 1 cho chúng ta biết được tổng chi tiêu mà người tiêu dùng bỏ ra là bao nhiêu
+ Nhược điểm: Không cho chúng ta biết sự biến động giá cả từng mặt hàng Đối với công thức 2:
+ Ưu điểm: Cho chúng ta biết được biến động tỷ trọng của từng mặt hàng
cá biệt
+ Nhược điểm: Không cho biết tổng chi tiêu mà người tiêu dùng bỏ ra là bao nhiêu
Trang 342 Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng CPI
Để xây dựng chỉ số giá tiêu dùng, trước hết các nhà thống kê kinh tế chọn năm cơ sở (năm gốc) Tiếp đó, họ tiến hành các cuộc điều tra tiêu dùng trên khắp các vùng của đất nước để xác định “giỏ” hàng hoá và dịch vụ điển hình mà dân cư mua trong năm cơ sở
Hiện nay, giỏ hàng đặc trưng để tính CPI của Việt Nam được hình thành bởi 10 nhóm hàng cấp 1; 34 nhóm hàng cấp 2 và 86 nhóm hàng cấp 3
Các bước tính CPI:
Bước 1: Chọn năm cơ sở và xác định giỏ hàng cho năm cơ sở (qi) với t biểu thị năm hay thời kỳ thứ t, t = 0 ở năm cơ sở và i là mặt hàng tiêu dùng thứ i trong giỏ hàng cơ sở: 0
i t
i q
q
Bước 2: Xác định giá của từng mặt hàng trong giỏ hàng cố định cho các
năm (pi)
Bước 3: Tính chi phí mua giỏ hàng cố định theo giá thay đổi ở các năm
Chi phí cho giỏ hàng của mỗi năm được tính bằng cách nhân giá của từng mặt hàng của năm tương ứng với lượng cố định của các mặt hàng ấy ở năm cơ sở, sau đó cộng các giá trị tìm được với nhau
Chi phí giỏ hàng ở năm t = 0
i t
i q p
i i
o i t i t
q p
q p CPI
Trong đó: лt là tỷ lệ lạm phát ở năm t
CPIt là chỉ số giá tiêu dùng ở năm t
CPIt-1là chỉ số giá tiêu dùng ở năm (t -1)
Bên cạnh việc tính chỉ số giá tiêu dùng, các nhà thống kê kinh tế còn tính chỉ số giá sản xuất PPI (Producer Price Index)
Trang 35Chỉ số giá sản xuất PPI là giá trung bình của hàng hoá do người sản xuất bán ra bao gồm một số hàng bán ra cho những người sản xuất khác chứ không phải bán cho các hộ gia đình PPI phản ánh sự biến động giá cả đầu vào, thực chất
là biến động giá cả chi phí sản xuất Xu hướng biến động giá cả chi phí tất yếu sẽ tác động đến xu hướng biến động giá cả hàng hoá trên thị trường Cách tính PPI hoàn toàn giống cách tính CPI
P 1 (1000đ/kg) Q 1 (kg) P 1 Q 0 P 0 Q 0
3.2 Lệch do chất lượng hàng hoá thay đổi
Hầu hết các hàng hoá và dịch vụ đều trải qua sự cải thiện chất lượng không ngừng theo thời gian Khi chất lượng hàng tiêu dùng tăng thì giá trị của đồng tiền cũng tăng theo Đương nhiên, nếu chất lượng hàng hoá nào đó thuộc giỏ hàng tiêu dùng giảm liên tục trong khi giá của hàng hoá ấy không thay đổi thì giá trị của đồng tiền cũng giảm đi Tuy nhiên, CPI chỉ phản ánh được mặt tăng giá chứ không thể hiện được sự thay đổi về chất lượng
3.3 Lệch thay thế
Thay đổi của CPI đo lường phần trăm thay đổi giá cả của một giỏ hàng hoá
và dịch vụ cố định Mặc dù giá hàng hoá và dịch vụ thay đổi từ năm này qua năm
Trang 36Một số hàng hoá có giá tăng nhanh hơn những hàng hoá khác Chính những thay đổi về giá tương đối này khiến người tiêu dùng tìm đến những mặt hàng có giá tăng chậm hơn hay rẻ hơn tương đối thay vì tiêu dùng đúng như cơ cấu của giỏ hàng hoá
và dịch vụ cố định trước đây Sự thay đổi cơ cấu của giỏ hàng hoá và dịch vụ này không được tính đến trong CPI
Để giảm bớt những vấn đề sai lệch, Tổng cục Thống kê đã định kỳ rà soát
và sửa đổi bổ sung giỏ hàng dùng để tính CPI Hiện tại, chúng ta đang dùng giỏ hàng cố định của năm 2000 Tuy nhiên, cho dù giỏ hàng có được cập nhật thì CPI cũng chỉ có giá trị hạn chế trong việc tiến hành các so sánh chi phí sinh hoạt cho những thời kỳ dài và thậm chí nó cũng chưa phải là một thước đo tốt để đo lường
tỷ lệ lạm phát hàng năm
Trang 37CHƯƠNG III TỔNG CUNG VÀ TỔNG CẦU
I Hệ thống kinh tế học vĩ mô
Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế được xem như là một hệ thống, gọi
là hệ thống kinh tế vĩ mô Hệ thống này theo P.A Samuelson được đặc trưng bởi 3 yếu tố sau:
- Đầu vào: bao gồm qui mô các nguồn lực, các nhân tố bên ngoài và các
chính sách kinh sách kinh tế vĩ mô
+ Qui mô các nguồn lực (Tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, nguồn vốn, tri thức công nghệ)
+ Các nhân tố bên ngoài (Khí hậu, thời tiết, quan hệ kinh tế quốc tế)
+ Các chính sách kinh tế vĩ mô (Chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách thu nhập)
- Đầu ra: cho biết kết quả hoạt động của nền kinh tế và cho biết mục tiêu
kinh tế vĩ mô đạt được như thế nào (Sản lượng, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, giá cả và tiền lương, cán cân thanh toán,…)
- Hộp đen kinh tế vĩ mô: Trình bày cơ chế vận hành của nền kinh tế Hoạt
động của hộp đen sẽ quyết định chất lượng của các biến đầu ra Hai lực lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổng cầu
Đầu vào Hộp đen kinh tế vĩ mô Đầu ra
1 Quy mô các nguồn lực
(đầu vào của 1 DN)
+ Thu ngân sách, thuế T
+ Chi ngân sách, chi tiêu G
4 Giá cả và tiền lương
5 Cán cân thanh toán
Trang 383 Các yếu tố bên ngoài:
- Điều kiện thời tiết, khí hậu
- Quan hệ kinh tế quốc tế
II Tổng cung và tổng cầu
1 Khái niệm
1.1 Tổng cung
Tổng cung AS (Aggregate Supply) là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ
mà các doanh nghiệp sản xuất và bán ra trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định, trong điều kiện chi phí giá cả và khả năng sản xuất cho trước
Tổng cung phụ thuộc vào chi phí sản xuất, giá cả và năng lực sản xuất của quốc gia Ngoài ra, tổng cung còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố làm tăng sản lượng tiềm năng, đó là các yếu tố: tài nguyên thiên nhiên, tư bản, nhân lực, tri thức công nghệ
Tổng cung liên quan đến sản lượng tiềm năng
Sản lượng tiềm năng (Yp) không phải là sản lượng tối đa mà là sản lượng cao nhất mà một nền kinh tế có thể duy trì, sản lượng đó ứng với tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên (Un) và không đẩy tỷ lệ lạm phát lên cao Thực chất, sản lượng tiềm năng nhỏ hơn sản lượng tối đa một khoảng, khoảng đó lớn hay bé phụ thuộc vào tình hình mỗi đất nước
Lưu ý:
- Khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp bán ra trên thị trường xác định độ lớn của tổng cung
- Tổng cung tính cho một khoảng thời gian, không tính tại một thời điểm
- Khả năng sản xuất của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng là giới hạn cao nhất của tổng cung
Biểu diễn đường tổng cung trên đồ thị:
Trục tung: giá P; trục hoành: sản lượng Y
Trang 39+ Đường tổng cung dài hạn (đường sản lượng tiềm năng) ASLR (AS long run)
là đường thẳng đứng tại mức sản lượng tiềm năng
ASLR là đường thẳng chạy song song với trục tung
Sản lượng tiềm năng Yp quyết định vị trí của đường tổng cung dài hạn Trong dài hạn, sản lượng độc lập với mức giá
Do đó, trong dài hạn Chính phủ không nên dùng công cụ giá để điều tiết quy mô sản xuất của các doanh nghiệp
Hình 3.1: Đường tổng cung dài hạn và ngắn hạn
+ Đường tổng cung ngắn hạn ASSR (AS short run) là đường dốc lên, cho biết mối quan hệ cùng chiều giữa mức giá và sản lượng
Chúng ta cần chú ý đến độ dốc của đường tổng cung AS:
- Tại mức sản lượng rất thấp so với sản lượng tiềm năng (Ya < YP): đường tổng cung tương đối nằm ngang Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp rất nhạy cảm trước sự thay đổi của giá cả: một thay đổi nhỏ về giá cả đầu ra sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng nhanh sản lượng để đáp ứng nhu cầu đang tăng lên
- Tại mức sản lượng Ya > YP: đường tổng cung dốc ngược lên Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp ít nhạy cảm trước sự thay đổi của giá cả thị trường
Điều này cho thấy, ở dưới mức sản lượng tiềm năng, một sự thay đổi nhỏ
về giá cả đầu ra sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng nhanh sản lượng để đáp ứng nhu cầu đang tăng lên Trong trường hợp này, Chính phủ rất nên dùng công
cụ giá để điều tiết qui mô của các doanh nghiệp
Từ mức sản lượng tiềm năng trở đi, độ dốc của đường AS tăng lên rất cao, khi quốc gia tận dụng hết năng lực sản xuất thì AS thẳng đứng Tại đó, mức giá có tăng thêm bao nhiêu đi nữa thì mức tăng cung cũng không thể tăng thêm
1.2 Tổng cầu
Tổng cầu AD (Aggregate Demand) là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ
mà các tác nhân trong nền kinh tế mua vào tương ứng với mức giá cả, thu nhập và
AS LR AS SR
P
Trang 40Tổng cầu AD cũng chịu tác động của nhiều yếu tố như: giá cả chung của nền kinh tế, thu nhập của hộ gia đình, chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ, khối lượng tiền tệ cung ứng
Biểu diễn đường tổng cầu trên đồ thị:
Trục tung: giá P; trục hoành: sản lượng Y
Tại sao đường tổng cầu AD dốc xuống?
Đường tổng cầu AD dốc xuống phản ánh mức giá ảnh hưởng ngược chiều đến lượng tổng cầu Xét 4 thành tố của tổng cầu:
- Tiêu dùng của nhà nước - G được xem là một yếu tố ngoại sinh, vì mục đích chi tiêu của nhà nước không phụ thuộc vào mức giá, mà nhằm vào mục tiêu kinh tế vĩ mô
- Tiêu dùng của hộ gia đình - C, mức giá giảm sẽ kích thích các hộ gia đình
tiêu dùng nhiều hơn, có nghĩa là lượng tổng cầu về GDP tăng lên và ngược lại (hiệu
ứng của cải - wealth effect)
- Đầu tư - I: mức giá thấp hơn sẽ làm cho dân chúng giữ tiền mặt ít hơn để mua một lượng hàng hoá theo kế hoạch Nhiều hộ gia đình sẽ gửi tiền tiết kiệm nhiều hơn => lãi suất có xu hướng giảm => đầu tư có xu hướng tăng => tăng tổng
cầu (hiệu ứng lãi suất - interest rate effect )
- Xuất khẩu ròng - NX: Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, người tiêu dùng có xu hướng sử dụng nhiều hơn hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước tại một tỷ giá hối đoái => xuất khẩu được khuyến khích và nhập khẩu
B