Một trong những chính sách kinh tế đó là chính sách tài chính có vai trò dặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, dặc biệt sau khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á tất cả các quốc
Trang 1I Vai trò của Chính phủ nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô 4
1 Những quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ 4
2.Cơ sở cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế 5
II.Chính sách tài chính trong hệ thống chính sách vĩ mô 5
1.Chính sách tài chính và công cụ của chính sách tài chính 5
1.2 Vai trò của chính sách tài chính với tăng trưởng kinh tế: 6
1.3 Vai trò của chính sách tài chính thực hiện công bằng xã hội 7
1.4 Vai trò của chính sách tài chính trong ổn định nền kinh tế 7
III Kinh nghiệm thức thi chính sách tài chính ở một số quốc gia trên thế giới
1.Chính sách tài chính của liên bang Nga: 13
1.1 Bối cảnh nước Nga sau khi Liên xô sụp đổ đến nay: 13
1.2.Chính sách tài chính của Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay 14
Đánh giá tác động của chính sách tài chính trong 17
I Đánh giá các giai đoạn lựa chọn chính sách tài chính ở Việt nam 17
1 chính sách tài khoá giai đoạn 1986-1991 17
1.1 Thực trạng về ngân sách tài chính giai đoạn 1986-1991 17
1.2 Đánh giá sự lựa chọn chính sách tài chính trong giai đoạn
2 Chính sách tài khoá giai đoạn 1991-1997 20
2.1 Thực trạng ngân sách Nhà nước giai đoạn 1991-1997 20
2 Đánh giá chính sách tài chính trong giai đoạn 1991-1997: 20
2.1 Đánh giá về chính sách thu ngân sách Nhà nước 20
2.2 Đánh giá chính sách chi ngân sách Nhà nước: 21
3 Chính sách tài khoá giai đoạn 1998-2004 24
Trang 23.1 Thực trạng ngân sách Nhà nước giai đoạn 1998-2004 24
3.2 Đánh giá chính sách tài chính trong giai đoạn 1998-2004 25
3.2.1 Đánh giá chính sách thu ngân sách Nhà nước 25 3.2.2 Đánh giá chính sách chi ngân sách Nhà nước 26
Phương hướng và giải pháp đối với chính sách tài chính nhằm mục tiêu ổn định
I Định hướng chính sách tài chính giai đoạn 2001-2010 29
1 Quan điểm của Đảng đối với chính sách tài chính giai đoạn 2001-2010 29
II Giải pháp của chính sách tài chính giai đoạn 2001-2010 31
1.Các giải pháp nhằm huy động thuế, phí vào ngân sách nhà nước 31
2 Các giải pháp về chi ngân sách nhằm thực hiện nhiệm vụ của chính sách
Trang 3
Sau đại hội 6 năm 1986 Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng nền kinh tế mới định
hướng XHCN Để có một nền kinh tế vững mạnh và ổn định, cần vai trò của chính
phủ huy động nguồn lực của tất cả các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong xã hội
Một trong những chính sách kinh tế đó là chính sách tài chính có vai trò dặc biệt
quan trọng trong nền kinh tế, dặc biệt sau khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu á tất cả các quốc gia đều xem xét và nhìn nhận lại chính sách kinh tế đã thực
thi và khẳng định một quốc gia có nền tài chính ổn định phải dựa vào nguồn nội lực
là chính, đồng thời có chính sách thu hút nguồn vốn nước ngoài đảm bảo nguồn thu
cho ngân sách quốc gia Trong những năm gần đây, do có những biến động của nền
kinh tế thế giới cũng như trong khu vực, đặc biệt là gần đây có đại dịch SARS, cúm
gà đã ảnh hưởng đến nền kinh tế trên thị trường thế giới mức giá nguyên liệu tăng
làm những tháng đầu năm 2004 tình hình thị trường tài chính có những dấu hiệu
bất ổn định Vấn đề đối với chính sách tài chính phải làm sao phải ổn định nền tài
chính quốc gia, tạo nguồn thu vững chắc và ổn định, đồng thời thực thi các chính
sách chi tiêu sao cho hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế đảm bảo ổn định môi
trường vĩ mô và thực hiện công bằng xã hội
Là một sinh viên năm thứ tư chuyên ngành kinh tế phát triển, với những kiến thức
đã được tích luỹ của thầy cô truyền đạt, nhìn thấy tâm quan trọng đặt ra cho nền
kinh tế, em quyết định lựa chọn đề tài “Chính sách tài chính trong ổn định nền
kinh tế vĩ mô” Với thời gian có hạn không cho phép, em chỉ đi sâu vào phân tích
nguồn ngân sách quốc gia mà tiêu biểu là chính tài khoá với thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và công bẵng xã hội Với thời gian và vốn hiểu biết
của một sinh viên còn có hạn, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong sự đóng góp ý kiến của cô để đề tài được hoàn thiện và có tính khả thi hơn
Trang 4Đề tài em ngiên cứu chia làm 3 phần chính:
Phần I: Những lí luận chung về chính sách tài chính và vai trò của chính sách tài
chính nhằm ổn định kinh tế vĩ mô
Phần II: Đánh giá tác động của chính sách tài chính trong điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Việt Nam
Phần III: Phương hướng và giải pháp đối với chính sách tài chính nhằm mục tiêu
ổn định nền kinh tế vĩ mô giai đoạn 2001-2010
Trang 5NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ NHẰM ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ
I VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ NHẰM ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ
1 Những quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ
Chính phủ là một tổ chức được thiết lập để thực thi những quỳyn lục nhất định,
điều tiết hành vi của cá nhân nhằm phục vị cho lợi ích chung của xã hội đó và tài
trợ cho việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ thiết yếu mà xã hội đó có nhu cầu
Không phải chính phủ ở tất cả các quốc gia đều có vai trò như nhau trong nền kinh
tế Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của chính phủ qua các thời kì
Vào thế kỉ 18, trường phái trọng thương cho rằng chính phủ cần đóng vai trò trong
xúc tiền thương mại và ngoại thương Đối lập với quan điểm trên trong tác phẩm
“của cải của các dân tộc”, Adam Smith cho rằng chính phủ không có vai trò gì
trong nền kinh tế, mỗi cá nhân khi theo đuổi lợi ích của riêng mình trong môi
trường cạnh tranh, thì cũng sẽ phục vụ luôn lợi ích xã hội Điều này sẽ đảm bảo
người này cung cấp hàng hoá cho người khác, chỉ có những hàng hoá chất lượng
cao giá thành rẻ mới có thể tồn tại Nhờ cơ chế bàn tay vô hình sẽ dẫn dắt thị
trường mà không cần sự điều tiết của chính phủ Quan điểm này cho ra đời nền
kinh tế thị trường thuần tuý và dần dần đã bộc lộ những hạn chế và lý thuyết này
không còn đứng vững Thế kỷ 19 Karl Mar đã vạch trần nguyên nhân sâu xa cảu
những hiện tượng kinh tế xã hội như khung hoảng kinh tế, thất nghiệp… ông đề
cao vai trò của Nhà nước coi Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong điều hành nền
kinh tế Nhưng do việc thực hiện dập khuôn máy móc mô hình này nên dẫn đến sự
sụp đổ của các nước Đông Âu và Liên Xô Hiện nay, hầu hết các nước đang thực
hiện nền kinh tế hỗn hợp, đề cao cả vai trò của thị trường và chính phủ, tương tác
và hỗ trợ nhau Tuỳ từng quốc gia sẽ đề cao vai trò của chính phủ hay thị trường
Trang 62.Cơ sở cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế
Độc quyền là trường hợp khi thị trường chỉ do một hay một số ít hãng thống trị,
điều này sẽ dẫn đến nguy cơ thị trường sẽ bị các hãng độc quyền chi phối, tạo ra lợi
nhuận siêu ngạch thông qua việc tăng giá không theo quy luật thị trường
Hàng hoá ngoại ứng là trường hợp xảy ra khi tác động của một giao dịch trên thị
trường có ảnh hưởng đến một đối tượng thứ ba, ngoài người mua và người bán
Trong những trường hợp như vậy nền kinh tế sẽ không đạt hiệu quả xã hội vì lợi
ích biên của tư nhân không nhất quán với lợi ích mà xã hội chấp nhận
Hàng hoá công cộng cũng gây ra những thất bại thị trường vì nó không có tính loại
bỏ hoặc loại bỏ khó các thành viên trong xã hội Các hãng tư nhân nếu sản xuất và
cung cấp hàng hoá công cộng sẽ gặp khó khăn rất lớn trong việc tạo ra doanh thu
để bù đắp chi phí Đây cũng là một luận cứ quan trọng cho sự can thiệp của chính
phủ vào nền kinh tế
Một nguyên nhân nữa là do thông tin không đối xứng về các hàng hoá hay các đối
tác…nên buộc chính phủ phải can thiệp vào thị trường Việc thông tin không đối
xứng sẽ làm cho các nguồn lực phân bổ quá nhiều hoặc quá ít cho thị trường so với
mức hiệu quả xã hội Sự can thiệp của chính phủ sẽ giúp thị trường hoạt động hiệu
quả hơn
Những nguyên nhân trên là cơ sở cho sự can thiệp của chính phủ, và chính phủ sẽ
dùng những công cụ của các chính sách để can thiệp vào nền kinh tế, trong phạm
vi đề tài ngiên cứu là các chính sách tài khoá với hai công cụ là thuế và chi tiêu
của chính phủ nhằm khắc phục những hạn chế trên đảm bảo ổn định xã hội
II.CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
1.Chính sách tài chính và công cụ của chính sách tài chính
1.1.Khái niệm chính sách tài chính
Trang 7Chính sách tài chính là một bộ phận của chính sách kinh tế của Nhà nước, là tổng
thể các mục tiêu và các giải pháp tài chính đến hoạt động khai thác, động viên và
sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính của đất nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát
triển kinh tế và xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, ổn định vĩ mô nền kinh
tế,nâng cao tiềm lực tài chính quốc gia
Do đó mà nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô mà
Chính phủ phải thực hiện đảm bảo vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ mô.vai trò của
chính sách tài chính là thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thanh
phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.Một nền kinh tế kém phát
triển tất yếu dẫn đến một nền tài chính ốm yếu, ngân sách thâm hụt kinh niên Vì
vậy, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước là
định hướng cơ bản để xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh và bền
vững.Nguồn thu, chi ngân sách phải đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,phát
triển nguồn thu một cách vững chắc đảm bảo các nhu cầu chi ngân sách ngày càng
cao Chính sách tài chính cần tạo điều kiện hình thành các thị trường đồng bộ nhằm
khai thác nguồn lực và huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế vào phát
triển sản xuất, tăng cường sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính
sách
1.2 Vai trò của chính sách tài chính với tăng trưởng kinh tế:
Quan điểm thứ nhất chấp nhận mô hình tăng trưởng nhanh đầu tư dù phải tăng
gánh nặng nợ nước ngoài, chấp nhận khủng khoảng và thâm hụt ngân sách để có
tốc độ tăng trưởng cao
Quan điểm thứ hai, quan điểm cho rằng cần tăng trưởng ổn định, điều này đòi hỏi
nền kinh tế phải có tốc độ tăng trưởng cao và nền kinh tế phát triển ổn định, không
có những bất ổn lớn ảnh hưởng đến nền kinh tế Theo đó chính sách tài chính nhạy
cảm thường xuyên điều chỉnh phù hợp với chính sách phát triền kinh tế Quan diểm
này được nhiều quốc gia ủng hộ
Trang 8Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài
chính với hai công cụ chủ yếu là thu và chi tiêu ngân sách Nhà nước nhằm điều
chỉnh cơ cấu phù hợp với chính sách phát triển của quốc gia Thông qua chính sách
thuế về đối tượng chịu thuế, cơ cấu và biểu thuế, các chính sách miễn giảm thuế,
Nhà nước khuyến khích những ngành hàng, sản phẩm không khuyến khích tư nhân
phát triển Xây dựng hàng rào thuế quan bảo hộ đối với sản phẩm khuyến khích sản
xuất trong nước, miễn giảm đối với những sản phẩm khuyến khích phát triển Việc
thực hiện chính sách miến giảm thuế đối với các nước đang phát triển sẽ mâu thuẫn
với phát triển nguồn thu ngân sách chi cho các nhu cầu cơ bản như chăm sóc sức
khoẻ cho nhân dân, thực hiện phổ cập giáo dục và các đầu tư khác hạn chế tăng
trưởng
Bên cạnh công cụ thuế, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế Chính phủ còn sử
dụng công cụ chi tiêu ngân sách Đặc biệt là các khoản chi đầu tư phát triển nhằm
xây dựng và mở rộng cơ sở hạ tầng, hệ thống điện nước, giao thông vận tải, bưu
điện và một số công trình kinh tế mũi nhọn dẫn đến sự ra đời của các cơ sở kinh
tế của tư nhân hoặc đầu tư nước ngoài
1.3 Vai trò của chính sách tài chính thực hiện công bằng xã hội
Để thực hiện công bằng xã hội các biện pháp cần thực hiện là phân phối thu nhập
giữa các tầng lớp dân cư và các vùng kinh tế Chính phủ có chính sách chi tiêu cho
người nghèo, đối tượng vùng sâu vùng xa, khu vực nông nghiệp nông thôn và các
vùng khó khăn, đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng cuộc sống, văn hoá, giáo
dục đào tạo, y tế và các nhu cầu khác
Bên cạnh đó chính sách thuế ưu đãi nhằm động viên các ngành nghề, thành phần
kinh tế, các tổ chức, có chính sách miễn giảm thuế cho các đối tượng kinh doanh
các ngành nghề được ưu tiên cho các vùng khó khăn phục vụ cộng đồng đặc biệt là
những vùng nghèo
1.4 Vai trò của chính sách tài chính trong ổn định nền kinh tế
Trang 9Để thực hiện mục tiêu ổn định nền kinh tế chính phủ sử dung đồng bộ các chính
sách tài chính và tiền tệ để chống thất nghiệp, lạm phát và khủng hoảng Khi nền
kinh tế bị khủng hoảng do thiếu cầu chính phủ sẽ có chính sách taì chính nới lỏng,
thực hiện cắt giảm hoặc miễn giảm thuế, tăng chi tiêu cho tiêu dùng, đầu tư phát
triển công trình công cộng nhằm kích cầu đầu tư… Bằng các giải pháp đó kết hợp
với chính sách tiền tệ và các chính sách khác sẽ khặc phục được khủng hoảng
kinh tế do thiếu cầu
2 Các công cụ của chính sách tài chính:
2.1 Hệ thống tài chính quốc gia:
Hệ thống tài chính quốc gia là tổng thể các bộ phận hợp thành cơ cấu tài chính,tuy
có sự độc lập tương đối về mặt tài chính nhưng lại hỗ trợ nhau trong qúa trình phát
triển
Cơ sở của việc hình thành nền tài chính quốc gia là quá trình vận động nền kinh tế
nhằm đảm bảo 2 hình thái giá trị và hiện vật Nếu không đảm bảo được hai mặt này
thì hoạt động kinh tế sẽ gặp khó khăn, không thuận lợi Sự vận động của hình thái
giá trị được thông qua nhiều kênh khác nhau được gọi là tài chính quốc gia
Hoạt động kinh tế gồm sự tham gia của rất nhiều tổ chức trong xã hội như hộ gia
đình, các công ty, doanh nghiệp và các tổ chức đơn vị thuộc Nhà nước Mỗi loại
hình đơn vị tổ chức đó sẽ có bộ phận tài chính riêng, cấu tạo nên hệ thống tài chính
quốc gia gồm:
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tài chính phục vụ cho sản xuất kinh
doanh Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp là thông qua việc huy động và sử
dụng các nguồn vốn của các công ty mà nguồn này ngày càng được mở rộng Đây
là tế bào quan trọng của hệ thống tài chính, tạo sức mạnh cho toàn hệ thống
Tài chính quốc gia hay còn gọi là ngân sách Nhà nước, là hệ thống các quan hệ
kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối thu nhập của đất nước và các nguồn
khác thông qua việc hình thành và sử dụng nguồn tài chính của Nhà nước sẽ đáp
Trang 10ứng nhu cầu phát triển và các nhu cầu khác của xã hội như đảm bảo công bằng xã
hội và tăng trưởng kinh tế
Tài chính trung gian là tổ chức đóng vai trò cầu nối, thực hiện việc trung chuyển
các nguồn tài chính Thông qua việc thu hút và sử dụng nguồn tài chính, các tổ
chức trung gian tài chính sẽ chuyển nguồn vốn vào các kênh đáp ứng mục tiêu của
nên kinh tế
Trang 112.2.Nguồn thu ngân sách Nhà nước
Nguồn thu ngân sách đảm bảo cho các hoạt động chi tiêu cho quốc gia được thực
thi Trong các nguồn thu của ngân sách Nhà nước thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu
dài của Chính phủ Nguồn thu này sẽ được sử dụng cho các hoạt động chi tiêu của
Chính phủ hoặc phân phối lại giữa các cá nhân trong xã hội
Nguồn thu từ thuế có hai đặc điểm cơ bản: thứ nhất, nó mang tính bắt buộc tất cả
các thành viên trong xã hội đều phải nộp thuế, thứ hai, thuế là sự đóng ghóp của cá
nhân cho lợi ích chung của cả cộng đồng và họ sẽ nhận lại lợi ích đó thông qua các
khoản chi tiêu của Chính phủ
Thuế không đánh vào người sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ và người tiêu
dùng Vì tính chất bền vững và cơ bản của thuế nên nó được đánh giá là nguồn thu
có tính chất quyết định đến tính bền vững, ổn định của ngân sách Nhà nước Là
công cụ tác động phân bổ nguồn lực xã hội, thứ nhất nó làm giảm thu nhập mà các
cá nhân có thể sử dụng để mua sắm hàng hoá và dịch vụ, thứ hai doanh thu thuế
Chính phủ lại được dùng để cung cấp các hàng hoá và dịch vụ không cung cấp một
cách hiệu quả
Thuế cũng là công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội thông
qua thuế đánh theo tỉ lệ khác nhau Doanh thu thuế sẽ được chuyển nhượng thông
qua các khoản chi tiêu cho người nghèo từ đó giảm bớt những bất bình đẳng về thu
nhập trong xã hội
Ngoài nguồn thu từ thuế còn các nguồn khác như lệ phí, phí và các khoản vay trong
nước và nước ngoài, các khoản vay của các tổ chức quốc tế, thu nhập từ các doanh
nghiệp quốc doanh Các khoản thu này cũn đóng ghóp vào nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước đảm bảo cho các hoạt động chi tiêu của chính phủ
Trang 122.3.Nguồn chi ngân sách Nhà nước:
2.3.1 khái niệm về chi tiêu công:
Chi tiên công phản ánh những lựa chọn chính sách của Chính phủ, chi tiêu công
phản ánh chi phí để thực hiện các quyết định đó, có rất nhiều tranh cãi về chi phí để
thực hiện chi tiêu công do vậy có hai cách hiểu về chi tiêu công
Theo nghĩa hẹp, chi tiêu công là tất cả các khoản chi được thực hiện thông qua
ngân sách Nhà nước, khái niệm này cho rằng chỉ những khoản thu nào được thực
hiện qua ngân sách Nhà nước thì mới được gọi là khoản chi tiêu công do vậy mà
chưa phản ánh được đầy đủ chi phí xã hội của các hoạt động của Chính phủ
Theo nghĩa hẹp chi tiêu công là tất cả các khoản chi của chính quyền trung ương,
địa phương, các doanh nghiệp Nhà nước và của toàn xã hội cùng trang trải kinh phí
chi các hoạt động do Chính phủ quản lý
Trong giới hạn của đề tài chỉ xem xét chi tiêu công theo nghĩa hẹp là các khoản chi
được thực hiện thông qua ngân sách Nhà nước
2.3.2 Chi tiêu ngân sách Nhà nước:
a) Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư là các khoản chi có giá trị nhất và được sử dụng hơn 1 năm trong qúa
trình sản xuất, chi đầu tư có vai trò quan trọng và to lớn trong nền kinh tế đặc biệt ở
các nước đang phát triển, nó bảo đảm nền tảng cơ bản về cơ sở hạ tầng, vốn cho
phát triển kinh tế, hình thành các nghành kinh tế then chốt hết sức to lớn mở đường
và định hướng phát triển cho toàn bộ nền kinh tế Thực tế cho thấy hiện tượng ở
một số nước đang phát triển, nền kinh tế kém phát triển, vốn đầu tư của Nhà nước
càng bị phân tán và hướng vào các lĩnh vực cần nhiều vốn Khoản chi đầu tư cần
tập trung đầu tư cho cơ sở hạ tầng tạo cơ sở ban đầu cho các hoạt động đầu tư phát
triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tạo tiền đề cho sự phát
triển chung của xã hội
Trang 13b) Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là khoản chi để mua hang hoá và dịch vụ không lâu bền, lặp đi
lặp lại thường xuyên qua các năm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi sau:
Chi quản lý hành chính, khoản chi này bao gồm các khoản chi cho trả lương cho
bộ máy hành chính, luật pháp và hiến pháp, các khoản chi này không liên quan trực
tiếp đến sản xuất, nhưng cần thiết cho xã hội
Chi cho khu vực sự nghiệp gồm chi cho văn hoá, giáo dục, y tế: Đây được coi là
khoản chi đầu tư cho phát triển con người, nâng cao trình độ văn hoá và sức khoẻ
cho cộng đồng Các khoản chi này nhu cầu ngày càng tăng nhưng sự đáp ứng của
Chính phủ thường rất hạn chế do những khó khăn về nguồn thu Đặc biệt là các
nguồn chi về y tế cho bảo vệ sức khoẻ, phòng chống các dịch bệnh chăm sóc sức
khoẻ và các hoạt động giáo dục đào tạo nhu cầu ngày càng tăng Các khoản chi
này cần được xác định phù hợp với chính sách xã hội của Nhà nước, đảm bảo kinh
phí cho công tác giáo dục, một số lĩnh vực y tế và sức khoẻ, trợ cấp cho người
nghèo, các đối tượng xã hội nhằm mục tiêu công bằng xã hội
Chi quốc phòng bao gồm các khoản chi trả lương cho quân đội, đầu tư các căn cứ
quân sự, mua sắm và bảo dưỡng các trang thiết bị cho quốc phòng Khoản chi này
hiện còn đang tranh cãi trong chính sách chi tiêu của các nước đang phát triển
Quan điểm cho rằng phải củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh quốc gia nhằm
mục tiêu ổn định xã hội và ổn định sản xuất Quan điểm cho rằng đất nước còn
nghèo, nếu dốc hết tiền cho mục đích quốc phòng sẽ không phát triển được kinh tế
và sự nghèo đói sẽ ngày một gia tăng Do đó cần căn cứ vào tình hình thực tế, cần
có tỉ lệ chi tiêu thích hợp với điều kiện và tình hình quốc gia với ngân sách Nhà
nước
c) Chi trợ cấp, dự trữ, trả lãi các khoản tiền vay và trả nợ
Trang 14Chi dự trữ là những khoản chi nhằm mục đích điều chỉnh hoạt động thị trường, ổn
định giá cả và phòng ngừa những rủi ro xảy ra với nền kinh tế Chi dự trữ quốc gia
bao gồm các khoản chi về bù lỗ, bù giá và chi dự trữ quốc gia
Chi bù lỗ thường áp dụng cho khu vực kinh tế quốc dân, khoản chi này nhằm ổn
định quá trính sản xuất kinh doanh của nền kinh tế do những điều kiện khách quan,
không thể đạt được hiệu quả của kinh tế tức là bị thua lỗ, không có lãi, hoặc tiếp tục
duy trì các xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ Khoản chi này cần được xem xét
một cách chặt chẽ, phạm vi cấp phát cũng cần phải được thu hẹp, không tràn lan nó
mang tính lâu dài và phát sinh do Chính phủ sản xuất ngày càng tăng
Chi bù giá bao gồm chi bù giá cho sản xuất và cho người tiêu dùng, khoản chi này
mang tính chất thời vụ, phụ thuộc vào sự biến động giá cả thị trường hoặc chính
sách xã hội của Nhà nước
Chi dự trữ quốc gia được hình thành bằng nguồn kinh phí cấp phát của ngân sách
Nhà nước nhằm 2 mục đích: xử lý những thiệp hại bất ngờ do thiên tai dịch hoạ gây
ra trong nền kinh tế xã hội (trợ cấp cho đồng bào lũ lụt, hạn hán, cấp phát cho các
nhu cầu đột xuất trong quốc phòng, an ninh ) và xử lý biến động của thị trường,
điều hoà cung cầu tiền tệ, ngoại tệ và một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu đảm
bảo cuộc sống
Trong chi trả nợ và chi vay thì chi trả nợ là khoản cho quan trọng, bắt nguồn từ tình
trạng bội chi ngân sách trong các năm trước do đó phải đi vay
III KINH NGHIỆM THỨC THI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC:
1.Chính sách tài chính của liên bang Nga:
1.1 Bối cảnh nước Nga sau khi Liên xô sụp đổ đến nay:
Giai đoạn trước năm 2000 nền kinh tế nước Nga tăng trưởng âm, năm 1991 tốc độ
tăng trưởng -13%, 1992 là -19% Thâm hụt ngân sách trong những năm đầu giai
đoạn này rất cao năm 1992 thâm hụt ngân sách lên đến 24.7%, đến năm 1999 còn
Trang 151%; lạm phát lên đến 4 con số, năm 1992 lạm phát lên đến 1353%, 1993 là 896%,
điều này dẫn đến tình hình sản xuất của nền kinh tế gặp khó khăn liên tục trong
nhiều năm nguyên nhân của tình trạng này là do nôn nóng và tương đối duy ý chí,
tầm nhìn chiến lược còn hạn chế, các mục tiêu trung và dài hạn không được xác
định rõ ràng Năm 2000, tình hình kinh tế có thay đổi, tốc độ tăng trưởng kinh tế
đạt 7.6%, lạm phát còn 10%, đạt thặng dư ngân sách 2.5% Đó là do những cải cách
chính sách đặc biệt là chính sách tài khoá của Nga trong giai đoạn này đã có hiệu
quả
1.2.Chính sách tài chính của Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay
Giảm chi ngân sách Nhà nước nhằm giảm bớt gánh nặng thuế cho những người nộp
thuế, quản lý thuế cần giảm chi phí thực hiện thuế đối với cả 2 phía Nhà nước và
người nộp thuế.Đảm bảo tính công bằng cho người nộp thuế ở những điều kiện
kinh tế khác nhau, nâng cao tính hài hoà của hệ thống thuế đối với các doanh
nghiệp và người tiêu dùng Giảm gánh nặng về thuế và giải quyết một số các doanh
nghiệp Tăng cường chất lượng công tác quản lý thuế và hạn chế tối đa hiện tượng
trốn lạu thuế, thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ cũng như trừng phạt nghiêm khắc
các hành vi trốn thuế và các hoạt động kinh tế ngầm.Đẩy mạnh công tác tuyên
truyền thuế, sử dụng hiệu quả các công cụ giám sát thuế quan và quản lý trao đổi
hàng hoá trên lãnh thổ góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế nhằm bảo vệ thị
trường trong nước, khuyến khích phát triển kinh tế trong nước góp phần cải cách
nền kinh tế
Nội dung cải cách thuế là tăng mức độ công bằng và hài hoà của hệ thống thuế,
giảm gánh nặng thuế cho người nộp thuế chân chính đồng thời đơn giản hoá hệ
thống thuế Thay đổi hệ thống cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý thuế, cho phép
các cơ quan quản lý thuế được độc lập không chịu ảnh hưởng bởi chính quyền địa
phương, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, hiện đại hoá các cơ quan thuế
nâng cao tính nghiêm minh của hệ thống thuế
Trang 16Hiệu quả kinh tế của chiến lược về ngân sách là đã thiết lập cơ chế khuyến khích
chính quyền địa phương cải cách cơ cấu, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành
mạnh, khuyến khích kinh doanh và đầu tư đảm bảo đầy đủ và ổn định những nghĩa
vụ về tài chính của ngân sách đối với tất cả các cấp ngân sách, hạ thấp chi phí hoạt
động của Nhà nước; giảm mạnh gánh nặng nợ đối với nên kinh tế, tăng những yếu
tố mang tín đòn bẩy kinh tế của chính sách ngân sách và loại bỏ các yếu tố không
mang tính khuyến khích sản xuất kinh doanh
Đảm bảo chi ngân sách phục vụ mục đích toàn dân, sử dụng tối đa nguồn thu từ
thuế và các nguồn khác, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo tất cả mọi người đều
có quyền như nhau hưởng mọi dịch vụ từ ngân sách và các đảm bảo xã hội khác
Bằng các chính sách đưa ra, Nga đã đạt được tốc độ tăng trưởng dương, lạm phát
dạt một con số; năm 2001 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức 4.5% , 2002: 5.0%,
2003: 5.5%; mức lạm phát cũng giảm dần từ 10% năm 2001 đến năm 2002 là 8%,
năm 2003 7& Nền kinh tế Nga bắt đầu có mức tăng trưởng khá đảm bảo mục tiêu
đặt ra nhờ có chính sách tài chính đúng đắn đảm bảo ổn định kinh tế thực hiện các
mục tiêu công bằng xã hội khác
2.Chính sách tài chính của Trung Quốc:
Cuối những năm 70 Trung Quốc bắt đầu xu hướng mở cửa nền kinh tế nhằm phù
hợp quy luật sản xuất hiện đại của các nước trên thế giới Đại hội V năm 1997
Đảng cộng sản Trung Quốc đã khẳng định toàn cầu hoá kinh tế là một thể chế quan
hệ quốc tế mới, có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Trước
đó do cuộc cách mạng văn hoá Trung Quốc đất nước đã rơi vào tình trạng khủng
hoảng về đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc đã làm thay đổi
đất nước
Về chính sách thuế, miễn giảm thuế và đưa ra nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn để
thu hút tối đa nguồn vốn nước ngoài, 11/10/1986 thực thi chính sách giảm thuế từ
30% xuống còn 10%, miễn giảm thuế 5 năm đầu cho các doanh nghiệp mới thành
Trang 17lập ở đặc khu, miễn giảm thuế thu nhập khi chuyển lãi ra nước ngoài Từng bước
hạ thấp mức thuế quan theo yêu cầu của hội nhập, chi đầu tư các vùng kinh tế trọng
điểm Song song với việc giảm thuế quan, Trung Quốc tăng thuế tiêu thụ để bù đắp
vào ngân sách Nhà nước gảm do việc thuế quan bị cắt giảm Năm 1994 Trung quốc
áp dụng thống nhất hệ thống thuế thu nhập đối với các xí nghiệp liên doanh,
1/1/1998 bãi bỏ thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng khi cung ứng thiết bị máy
móc cho các công trình được xây dựng với sự hỗ trợ của vốn nước ngoại Chính
sách thuế của Trung Quốc đã thực thi một cách hiệu quả và linh hoạt, thu hút được
lượng vốn đầu tư , khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát
triển
Bên cạnh đó Trung Quốc còn thực thi chính sách chi rất hiệu quả cho kết cấu hạ
tầng đặc biệt là các đặc khu kinh tế, xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, ngành
công nghiệp như năng lượng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp luyện kim,
chế tạo máy, và các công trình công cộng
Ngoài ra Trung Quốc còn thực thi chính sách tài chính giúp giải qyuết tình trạng
xoá đói giảm, đảm bảo công bằng xã hội Trong giai đoạn đầu chính sách đã góp
phần quan trọng giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, các tầng
lớp dân cư trên cơ sở hình thành các đặc khu kinh tế góp phần tạo ra công ăn việc
làm cho người lao động và thực hiện việc liên kết giữa các vùng kinh tế thu hẹp
khoảng cách giữa các vùng trong cả nước chính phủ Trung Quốc đã thực hiên việc
hỗ trợ cho các hộ nông dân có chính sách trợ giá cho khu vực nông nghiệp, chuyền
dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, xây dựng cơ sở
hạ tầng nông nghiệp nông thôn, phát triển các khu đô thị giảm lao động làm việc
trong khu nông nghiệp Năm 2001, ngân sách trung ương đã bố trí 10 tỷ nhân dân
tệ cho hỗ trợ xoá đói giảm nghèo Theo thống kê từ năm 1980-2001, ngân sách
trung ương và các cấp ngân sách của Trung Quốc đã bố trí 84,4 tỷ nhân dân tệ cho
Trang 18công tác xoá đói giảm nghèo, đầu tư cho các vùng nghèo trọng điểm đảm bảo về
mặt tài chính cho việc phát triển các ngành nghề
Nhìn chung những năm qua chính sách tài chính đã được Đảng và Nhà nước Trung
Quốc sử dung như một công cụ nhằm thực hiện công cuộc cải cách mở cửa và xoá
đói giảm nghèo Trong những năm tới trước sức ép của hội nhập nền kinh tế ngày
càng gay gắt, việc thức hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc sẽ
ngày càng khó khăn, vai trò của chính sách tài chính ngày càng trở nên vô cùng
quan trọng
PHẦN II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG
ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ
I ĐÁNH GIÁ CÁC GIAI ĐOẠN LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
1 Chính sách tài khoá giai đoạn 1986-1991
1.1 Thực trạng về ngân sách tài chính giai đoạn 1986-1991
Có thể thấy rằng trước năm 1986 nền kinh tế nước ta còn trong thời kỳ bao cấp, kế
hoạch tập trung, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, trung bình chỉ đạt 3,7%/năm, ngân
sách thâm hụt nặng nề, tổng thu ngân sách chỉ chiếm 60-80%, còn phụ thuộc vào
nước ngoài Trong giai đoạn trước đổi mới, mục tiêu của chính sách tài khoá là tạo
ra sự ổn định về kinh tế và chính trị, kích cung cầu của nền kinh tế Đứng trước
thực trạng nền kinh tế còn mang nặng tính bao cấp, khép kín, để phù hợp với nền
kinh tế thế giới, Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đánh dấu một bước quan trọng
của Viêt Nam cả về kinh tế, chính trị Từ đó Việt nam bắt đầu công cuộc chuyển
đổi kinh tế định hướng XHCN Đặc trưng thời kỳ này là việc Chính phủ có những
Trang 19sai lầm chủ trương về giá, lượng tiền, nền kinh tế cực kỳ khó khăn Sản xuất tăng
chậm, lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren làm cho nền kinh tế tài chính
đánh mất cân đối nghiêm trọng Mặc dù đã có những biện pháp như từng bước tiến
hành tự do hoá giá cả một số mặt hàng chủ chốt để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
thông qua thị trường, nhưng điều này dẫn đên hậu quả là tình trạng rối loạn trong
lưu thông vốn Tồn tại cơ chế bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước làm cho
tình trạng thâm hụt ngân sách càng trầm trọng hơn
Đặc biệt là hiện tượng siêu lạm phát, năm 1986 lạm phát lên đến 774.7% làm cho
nền kinh tế càng rối ren, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và đời sống của dân cư,
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thấp kém bị chiến tranh tàn phá nặng nề.Thêm vào đó
là sự sụp đổ của các nước XHCN ở Đông âu làm cho nguồn viện trợ đối với Chính
phủ không còn, bị Mỹ bao vây cấm vận, thị trường hàng hoá xuất khẩu truyền
thống của Việt nam bị thu hẹp, các thị trường mới chưa có điều kiện khơi thông
Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn này là ổn định kinh tế xã hội,
phát huy tối đa nguồn nội lực, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tìm mọi cách mở rộng
thị trường Do đó chính sách tài chính trong giai đoạn này là một mặt khai thác
nguồn tài chính thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo nguồn thu ổn định cho
ngân sách nhà nước nhằm ổn định nền kinh tế xã hội, đất nước
1.2 Đánh giá sự lựa chọn chính sách tài chính trong giai đoạn 1986-1991:
Trong giai đoạn này chính sách tài chính đã có sự thay đổi về nhận thức Mục tiêu
của chính sách thu ngân sách là sự động viên sự đóng góp của các thành phần kinh
tế một cách công bằng tạo nguồn lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Thông qua việc thực thi ngân sách theo Nhà nước sẽ nâng cao được vai trò của
mình và nền kinh tế Hệ thống thuế của Việt nam đã bắt đầu cải cách làm cho hệ
thống thuế mới tương đối đồng bộ, cơ cấu tương đối hợp lý, bước đầu đã phát huy
được nhiều tác dụng tích cực như đảm bảo ổn định và phát triển nguồn thu ngân
Trang 20Về chi ngân sách cũng đã có những tác động tích cực, trong giai đoạn này Chính
phủ đã hạn chế nguồn chi tiêu cho DN Nhà nước, tập trung nguồn lực giải quyết
các vấn đề xã hội và ổn định đời sống của dân cư, cắt giảm các khoản chi tiêu bất
hợp lý nhằm khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước Chính điều này đã
làm cho lạm phát ở Việt nam cuối những năm 80 giảm xuống còn 2 con số, tuy còn
cao nhưng đã phản ánh tác động tích cực của chính sách tài chính nhằm ổn định
nền kinh tế, lạm phát từ 774,7% (1986) xuống còn 34,7% (1989), tốc độ tăng
trưởng kinh tế khả quan năm 1986 là 2,8% đến 6,0% vào năm 1988, đến năm 1990
là 5,1%, có thể thấy rõ trong bảng dưới đây: