Để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng Hiến pháp và luật quy định của ban thuộc Hội đồng nhân dân được tổ chức và hoạt động như sau: Các ban của Hội đồng nhân dân là hình thức t
Trang 1Câu18: Trình bày tổ chức hoạt động của ban thuộc Hội đồng nhân dân theo Pháp luật hiện hành
Trả lời: Hội đồng nhân dân địa phương do nhân dân địa phương bầu ra
theo nguyên tắc phổ thong bình đẳng ,trực tiếp ,bỏ phiếu kín.Nhiệm kì mỗi khóa của Hội đồng nhân dân là 5 năm từ kì họp thứ nhất của hội đồng nhân dân khóa trươc đến kì họp hội đồng nhân dân khóa sau.Quy định như vậy nhằm :
+ Nhiệm kì không quá dài ,tạo điều kiện cho việc nhân dân có thể bổ sung hêm lựclương vào bộ máy quyền lực nhà nước ở địa phương
+ Đồng thời đây là thời gia thích hợp để không phỉa bầu đi bầu lại nhiều lần,tốn kém về công quỹ khi tổ chức, hơn nữa làm trở ngại trong vấn để lao động sản xuất của nhân dân
Để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng Hiến pháp và luật quy định của ban thuộc Hội đồng nhân dân được tổ chức và hoạt động như sau:
Các ban của Hội đồng nhân dân là hình thức tham gia tập thể của các đại biểu hội đồng nhân dân vào việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng nhân dân.Các ban được hội đồng nhân dan được thành lập theo nhu cầu công tác.Theo điều 54 của luật tổ chức hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003 thì hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập ra 3 ban:Ban kinh tế và ngân sách ,ban văn hóa-n xã hội,ban pháp chế ( nơi nào có nhiều dân tộc thì có ban dân tộc )
Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập 2 ban: Ban kinh tế xã hội,ban pháp chế.Số lương thành viên của mỗi ban là do hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Tành viên của ban không đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp Điểm mới :Trưởng ban của hội đồng nhân dân cấp tỉnh và huyện kông đồng thời là thủ trưởng của các cơ quan chuyện
Trang 2môn của Ủy ban nhân dân,viện trưởng VKSND,chánh án TAND cùng cấp
Trưởng ban và các thanh viên khác của hội đồng nhân dân do hội đồng nhân dân tại kì họp trước bầu ra.đc bầu ra từ các đại biểu có năng lực và chuyên môn vững vàng phù hợp vs từng ban
Nhiện vụ và quyền hạn:
- Tham gia chuẩn bị các kì họp của hội đồng nhân dân
- Thẩm tra các báo cáo ,đề án do hội đồng nhân và thường trực hội đồng nhân dân phân công
- Giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân ; giám sát hoạt động của TAND và VKSND cùng cấp
- Giám sát hoạt động của cơ quan nhân dân , tổ chức kinh tế ,tổ chức
xã hội ,đơn vị vũ trang nhân dân và công nhân trong việc thi hành Hiến pháp ,luật ,các văn ban của cơ quan nhà nước cấp trên ,cung như ngị quyết cảu hội đồng nhân dân cùng cấp
Trong lúc thi hành ,các ban của Hội đồng nhân dân
có quyền yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin,tài liệu cần thiết ch việc hoạt động giám sát Đồng thời các cơ quan đó có trách đáp ứng yêu cầu các ban của Hội đồng nhân dân
- Báo cáo kết quả với thường trực hooij đồng nhân dân khi cần thiết
Câu 2: Phân tích chức năng lập hến và lập pháp của quốc hội theo pháp luật hiện hành.
Trả lời :
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam Quốc hội là
cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước
Trang 3Quốc hội vì vậy thể hiện tính đại diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của mình
Tính đại diện nhân dân của Quốc hội
Bộ máy nhà nước ở nước ta bao gồm nhiều cơ quan, nhưng mỗi
cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau Quốc hội là cơ quan Nhà nước được nhân dân giao nhiệm vụ thay mặt nhân dân quyết định và thực hiện quyền lực thống nhất trong cả nước Với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, tính dại diện của Quốc hội được thể hiện rõ ở các mặt:
- Về cách thức thành lập: Quốc hội là cơ quan Nhà nước duy nhất
do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp
và bỏ phiếu kín Bầu cử đại biểu Quốc hội là kết quả lựa chọn thống nhất của nhân dân cả nước
- Về cơ cấu thành phần đại biểu: Quốc hội gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân, cho các vùng lãnh thổ Quốc hội là sự thể hiện rõ nhất khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, đại diện cho trí tuệ của đất nước
- Về chức năng, nhiệm vụ: Quốc hội có chức năng và nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước.Và trong đó
có chức năng là Lập hiến và lập pháp ,
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội xuất phát từ vị trí, tính chất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Vì vậy, chỉ có Quốc hội mới có quyền định ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất của xã hội ta Các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước khác ban hành phải cụ thể hóa Hiến pháp và luật, không được trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và luật
Trang 4Thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, Quốc hội là cơ quan duy nhất
có quyền thông qua Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, thông qua luật và sửa đổi luật Để bảo đảm cho hoạt động này của Quốc hội được tiến hành thuận lợi và có hiệu quả, pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị
và quy trình thực hiện Tại ĐIều 87 của Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã quy định các cơ quan có quyền trình dự án luật để Quốc hội xem xét là Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội
Cơ quan trình dự án luật phải chuẩn bị, xây dựng, hoàn chỉnh và trình bày trước Quốc hội dự án đó để Quốc hội xem xét Trình tự thảo luận và thông qua dự án luật được quy định và được phân tích kỹ khi giới thiệu về các kỳ họp của Quốc hội
Câu 5: Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp hiện hành năm 1992
Trả lời:Tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản
trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Điều
4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980 và Điều 6 Hiến pháp 1992
“…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” Không những ở nước ta, các nước xã hội chủ nghĩa cũng ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và cũng xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước1
Như vậy, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải là một hoạt động thường xuyên trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Trang 5nói chung và của các cơ quan nhà nước nói riêng Vấn đề đặt ra tưởng rằng như đơn giản nhưng hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, là: hiểu nội dung của nguyên tắc này như thế nào cho đúng?2
Theo chúng tôi, hiện nay có ba loại ý kiến khác nhau về nguyên tắc này
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng nội dung của nguyên tắc này là sự kết hợp hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước “Tập trung dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất, không bao giờ được phép cường điệu hoặc coi nhẹ bất cứ mặt nào Vì như vậy
sẽ dẫn đến những hậu quả như: chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, hạn chế tự do, sáng tạo, coi thường pháp luật v.v…”3 “Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết hợp hài hòa với nhau Nếu thiên
về tập trung mà không chú trọng đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán trái với bản chất của Nhà nước ta Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi nhẹ tập trung sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả”4 “Nghệ thuật của sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỷ lệ kết hợp tối ưu của hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực, ngành cụ thể, trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ thể”5 “Trong từng địa phương, từng thời điểm khác nhau cần định ra liều lượng kết hợp giữa những chế độ tập trung và chế độ dân chủ thích hợp tạo nên sự thống nhất hai mặt của nguyên tắc”6 “Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là
sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt: tập trung (thống nhất) và dân chủ”7
“Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa chế độ tập trung và chế độ dân chủ Do vậy, bất kỳ sự nhấn mạnh hay coi nhẹ một mặt nào của nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự thiếu hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước Nếu quá tập trung sẽ dẫn đến tình trạng tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền,
Trang 6phi dân chủ, còn nếu quá dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng dân chủ quá trớn, lạm dụng dân chủ và vô chính phủ Nói như vậy cũng không có nghĩa là chúng ta dàn đều cả hai nội dung tập trung và dân chủ”8
Loại ý kiến thứ hai cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung “một cách” dân chủ Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ
sở dân chủ chân chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao V.I Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự9
Ngoài ra, còn có loại ý kiến thứ ba cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn quyền quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân viên Hay nói một cách khác, việc đóng góp ý kiến của cán bộ, công nhân viên, các thành viên trong cơ quan, đơn vị chỉ có ý nghĩa tham khảo và việc quyết định thuộc thẩm quyền của thủ trưởng
Như vậy, có thể thấy đa số các tác giả cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước là sự kết hợp giữa hai yếu tố (hai mặt) tập trung và dân chủ Sự kết hợp giữa các mặt này là không giống nhau, điều đó phụ thuộc vào tính chất của các cơ quan, phụ thuộc vào trình độ quản lý, vào điều kiện cụ thể về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước
Chúng tôi cho rằng để hiểu một cách chính xác nội dung của nguyên tắc này, trước hết cần xem xét về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp của thuật ngữ này Chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng thuật ngữ “tập trung dân chủ” thì “tập trung” là danh từ, “dân chủ” là tính từ; tính từ bổ nghĩa cho danh từ10 Như vậy, “tập trung dân chủ” không phải là tập hợp của hai danh từ [cũng cần nhắc lại rằng Điều 6 Hiến pháp 1992 qui định “…Quốc hội,
Trang 7Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức va hoạt động theo “nguyên tắc tập trung dân chủ” chứ không phải là nguyên tắc tập trung, (phẩy) dân chủ hoặc cũng không phải là tập trung - (gạch ngang) dân chủ]11 Do đó, dễ dàng có thể nhận thấy rằng nội dung của nguyên tắc này không phải là hai vế, hai mặt của một vấn đề Tập trung dân chủ là “tập trung” trên cơ sở “dân chủ” (tập trung một cách dân chủ) Tập trung là một thuộc tính quản lý quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, song nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và nhà nước ta nói riêng không áp dụng sự tập trung độc đoán hay tập trung quan liêu mà là tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính Sự tập trung đó rất xa lạ với tập trung quan liêu, tách rời bộ máy nhà nước với nhân dân Đúng như V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự Tập trung trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải mang tính dân chủ chứ không phải tập trung độc đoán, tập trung quan liêu Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng nguyên tắc này được Lênin nêu ra trước Cách mạng tháng 10 Nga trong bối cảnh nội bộ Đảng Cộng sản Nga xuất hiện nhiều
tư tưởng có khuynh hướng cản trở việc thống nhất đường lối, thống nhất hành động cách mạng Nội dung của nguyên tắc này, theo Lênin là thống nhất nhận thức, thống nhất hành động để giữ vững đường lối cách mạng
và tiến hành cách mạng thắng lợi Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Nga12
Ở nước ta, nguyên tắc này không những được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước mà tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số các tổ chức chính trị – xã hội cũng vận dụng nguyên tắc này13
Trang 8Bất kỳ xã hội và bất kỳ kiểu nhà nước nào, việc quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước (quản lý nhà nước) đều phải có sự tập trung quyền lực Đây là yếu tố bắt buộc và mang tính tất yếu nhằm điều khiển (quản lý) được toàn bộ các hoạt động xã hội, thiết lập và duy trì một trật
tự xã hội phù hợp với ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội Tuy nhiên, nội dung (tính chất) của sự tập trung trong các chế độ xã hội
và chế độ nhà nước hoàn toàn không giống nhau Điều đó trước hết phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, chế độ nhà nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội Trong xã hội phong kiến, quyền lực nhà nước tập trung trong tay giai cấp thống trị phong kiến mà đại diện là nhà vua; đặc biệt ở các nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, chế độ cai trị thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, phản dân chủ (hoặc có dân chủ nhưng rất hạn chế) Đến chế độ tư bản chủ nghĩa, tập trung, quan liêu
là đặc trưng điển hình của việc tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Các cơ quan cai trị với những quan lại cai trị được bổ nhiệm từ trên xuống luôn kiêu căng, lấn át, xa rời thực tế; chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên mà không chịu trách nhiệm trước nhân dân và không chịu sự giám sát của nhân dân Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kịch liệt phê phán cơ chế tập trung quan liêu đó Đối với bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa thì một nguyên tắc mới đã được vận dụng, đó là nguyên tắc tập trung dân chủ Nội dung của nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước có biểu hiện rất phong phú và đa dạng, nhưng thể hiện một cách khái quát ở việc phân công công việc, mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước (ở trung ương cũng như ở các cấp địa phương), sự phân cấp về thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), mối quan hệ giữa trung ương với địa phương, giữa các cấp địa phương với nhau Trong từng cơ quan nhà nước, những vấn đề nào do tập thể quyết định; những vấn đề nào do người đứng đầu quyết định; qui định cách thức quyết định những vấn đề đó
Trang 9Trên bình diện toàn bộ bộ máy nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung cơ bản:
- Toàn bộ các cơ quan nhà nước phải có một trung tâm quyền lực chỉ đạo một cách mạnh mẽ và thống nhất, mỗi cơ quan nhà nước đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên
hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân Nếu không còn được sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm
- Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, nhưng những vấn đề quan trọng nhất của đất nước trước khi quyết định phải lấy ý kiến của nhân dân hoặc phải do nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc trưng cầu ý kiến của nhân dân Ở địa phương, những vấn đề quan trọng ở địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp quyết định
- Trên cơ sở qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lý của điạ phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết
Trang 10định đối với địa phương (và cấp dưới) Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các qui định của trung ương (và cấp trên )
- Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn
đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình Những vấn đề cá nhân có quyền quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
- Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra (và do cấp trên phê chuẩn) và phải thực hiện các quyết nghị của cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp
Nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng trong tổ chức và hoạt động trong các cơ quan nhà nước khác nhau thì khác nhau Có thể phác họa hình thức thể hiện của nguyên tắc này trong từng loại cơ quan nhà nước như sau:
- Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân Các đại biểu dân cử có thể bị nhân dân bãi nhiệm nếu không còn sự tín nhiệm của nhân dân Các văn bản của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan cùng cấp
và cấp dưới Tất cả các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp đều được thảo luận một cách dân chủ,