1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tâm lý học Đinh Phương Duy

179 1,7K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 848 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế đổi mới phương pháp nghiên cứu tâm lí và đổi mới cách thức phổ biến kiến thức Tâm lí học cho đông đảo bạn đọc với nhiều đối tượng đa dạng, tập sách Tâm lí học này được biên

Trang 1

TÂM LÝ HỌC

TÂM LÝ HỌC

Tác giả: TS Đinh Phương Duy

LỜI NÓI ĐẦU

Khoa học Tâm lí đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trong các hoạt động đa dạng của xã hội Đặc biệt trong hoạt động giáo dục và kinh doanh, việc ứng dụng các thành quả nghiên cứu tâm lí đang được khai thác rất thành công

và hiệu quả Nhiều trường chuyên nghiệp chọn lựa học phần Tâm lí học cho sinh viên nghiên cứu, học tập, đã được đông đảo sinh viên thích thú và ủng hộ

Trong xu thế đổi mới phương pháp nghiên cứu tâm lí và đổi mới cách thức phổ biến kiến thức Tâm lí học cho đông đảo bạn đọc với nhiều đối tượng

đa dạng, tập sách Tâm lí học này được biên soạn lại trên cơ sở nội dung chính của học phần Tâm lí học đại cương nhằm giúp các bạn sinh viên, những người quan tâm đến khoa học Tâm lí có tài liệu tham khảo, nghiên cứu và ứng dụng Tác giả tập sách này có ý thức chú trọng nhiều đến những vấn đề thực tiễn, do

đó có nhiều câu chuyện được trích lại để dẫn dắt và giải thích vấn đề

Tác giả đã hết sức cố gắng để biên soạn tập sách này nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc gần xa

Xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi

để tập sách này được xuất bản

Trang 2

Khi người ta cố gắng để tìm hiểu tâm lí của một ai đó nghĩa là họ đang muốn biết điều gì của người ấy? Tâm lí có phải là một thuật ngữ chỉ những vấn

đề huyền bí của con người? Phải chăng chúng ta không thể nào hiểu được tâm

lí của một con người cụ thể? Hãy lưu ý đến những từ có chữ "TÂM" sau đây

và có vài nhận xét:

Tâm hồn, tâm linh, tâm trí, tâm trạng, tâm địa, tâm can, tâm thần, tâm sự, tâm tình, tâm tính, tâm tưởng, tâm thành, tâm bịnh, tâm giao, tâm đắc, tâm thức, tâm tư,…

Nhân tâm, thiện tâm, ác tâm, bình tâm, an tâm, khổ tâm, lưu tâm, quyết tâm, thành tâm, đan tâm, can tâm, đồng tâm, dã tâm, tà tâm, mĩ tâm, hảo tâm, kiên tâm, từ tâm, tịnh tâm, thương tâm, lao tâm, vô tâm, nhẫn tâm, bận tâm

Những từ trên đây có liên quan gì đến tâm lí không? Phải chăng đó là những khái niệm của Tâm lí học?

Người ta đã yêu như thế nào, tại sao mình nhớ người này mà không nhớ người kia? Những giấc mơ hãi hùng hoặc đầy chất lãng mạn có liên quan gì với nhau? Tại sao có lúc con người lại thấy mênh mông buồn mà chẳng rõ nguyên nhân, có lúc căng thẳng hay nhiều khi hết sức hiền hoà và nhẫn nại? Trong thực tế đã có nhiều trường hợp con người rơi vào tình trạng mất cảm giác, mất trí nhớ hoặc mất hết lí trí, tại sao như thế? Có lúc chúng ta đã không làm chủ được mình, đã có những hành vi không nên làm nhưng lại biết mình sai ngay sau đó, tại sao họ cố tình làm những điều biết chắc có thể mang lại sự phiền phức cho mình?

Cũng có lúc người ta tự hỏi về thân phận của mình, tự hỏi về tương lai của mình nhưng rồi họ hoàn toàn tuyệt vọng Với bạn, bạn có bao giờ cho rằng, trong cuộc sống, người Nữ và Nam sẽ có những phản ứng khác nhau trước những hoàn cảnh hay trước những kích thích giống nhau? Bạn có cho rằng những thông tin người ta có thể ghi nhớ được lại tuỳ thuộc vào tâm trạng của con người hay phụ thuộc vào trạng thái tinh thần của con người lúc ấy không? Bạn là người hướng nội hay hướng ngoại, là người duy cảm hay duy lí ?

Trang 3

Thuật ngữ "tâm lí", "tâm hồn" đã có từ lâu trong tiếng Việt Từ điển tiếng Việt năm 1988 đã định nghĩa một cách tổng quát rằng "tâm lí" là ý nghĩ tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, ý chí, thái độ, sở thích làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người Nói một cách chung nhất, tâm lí bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành một hành động, hoạt động của con người Tìm hiểu tâm lí của con người nghĩa là tìm hiểu về suy nghĩ tình cảm, ước muốn, nguyện vọng của họ Các hiện tượng tâm lí, các hiện tượng tinh thần đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người cũng như giữa con người và xã hội loài người Một số người cho rằng "tâm lí" là lí lẽ của trái tim, là những vấn đề liên quan đến tình cảm nhưng thật ra không chỉ là của trái tim

mà còn là của "khối óc" nữa

1.2 Tâm lí học

Những vấn đề trên đây sẽ được khoa học tâm lí giải thích và giúp chúng

ta phần nào trong việc lí giải những hiện tượng, sự kiện như đã mô tả trong cuộc sống thực tế Khoa học tâm lí hay Tâm lí học là một ngành khoa học nghiên cứu về tâm lí, trong đó đặc biệt là nghiên cứu tâm lí Người Mục tiêu lớn của Tâm lí học là đem lại một cái nhìn sâu sắc và khái quát về những vấn đề đã được khám phá về hoạt động của não bộ, của trí tuệ, của hành vi Sau đó, Tâm

lí học cố gắng tìm cách để phác thảo, đề nghị phương cách vận dụng tri thức Tâm lí học trong cuộc sống

Có thể nói rằng, Tâm lí học là một khoa học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lí, về hành vi và đời sống tinh thần của con người Tâm lí học có liên quan đến rất nhiều ngành khoa học khác Là một môn khoa học xã hội nhưng không hoàn toàn chỉ là những vấn đề "xã hội" đơn thuần mà Tâm lí học có liên quan mật thiết với Sinh lí học, Thần kinh học, Kinh tế học, Chính trị học, Nhân học, Vật lí học Nhiều ngành khoa học hành vi, nhiều ngành khoa học xã hội đã dựa vào tri thức tâm lí để đưa ra các nguyên tắc ứng dụng của họ Ngày nay, Tâm

lí học là khoa học xuyên văn hoá, nó có liên quan đến các ứng xử giống nhau và khác nhau từ các vùng trên thế giới, nó có những quy tắc thích ứng chung cho nhiều vấn đề đối với con người "Tâm lí học nắm giữ chiếc chìa khoá để hiểu

Trang 4

một cách tổng quát sự vận hành con người (function) như thế nào Khi khám phá ra những điều nhà Tâm lí học biết về con người nói chung thì ta có thể ứng dụng sự hiểu biết đó để thay đối ứng xử của bản thân và ứng xử của người khác theo chiều hướng tốt hơn".

1.2.1 Đối tượng của Tâm lí học:

Bàn về đối tượng của Tâm lí học nghĩa là trả lời các câu hỏi: Con người nghiên cứu tâm lí người khác thông qua cái gì; Điều gì là phương tiện để nghiên cứu tâm lí người; Tâm lí người được bộc lộ thông qua các hình thức nào?

Trước hết, tâm lí (tâm tư, tình cảm, thái độ ) của con người luôn bộc lộ ra ngoài bằng hành vi Có thể quan sát hành vi cụ thể của một người trong một tình huống cụ thể nào đó để nhận dạng về diễn biến tâm lí của họ lúc đó Đời sống tâm lí của con người luôn luôn được bộc lộ ra ngoài bằng hành vi và các dấu hiệu nhất định Hành vi là gì! Theo nghĩa hẹp, hành vi là cử chỉ, ngôn ngữ, động tác Theo nghĩa rộng, hành vi là tất cả các hoạt động trí tuệ, tình cảm có ý thức

và không ý thức Khi xem xét hành vi của một cá nhân, cần chú ý đến ba khía cạnh của nó, đó là cơ thể, tinh thần và xã hội Hành vi là tất cả các dấu hiệu có thể quan sát được của con người, được xem xét trong một tổng thể các phản ứng của con người trước tác động của môi trường

Như vậy, trước hết Tâm lí học xem hành vi của con người là đối tượng nghiên cứu của mình, thông qua hành vi, các chủ thể sẽ có thể phát hiện được những dấu hiệu, những diễn biến, những đặc điểm tâm lí của một khách thể nào đó

Mặt khác, Tâm lí học là một trong các khoa học trung gian tức là nghiên cứu các dạng vận động chuyển tiếp từ dạng vận động này sang dạng vận động khác Tâm lí học nghiên cứu dạng vận động chuyển tiếp từ vận động sinh vật sang vận động xã hội, từ thế giới khách quan vào não người sinh ra hiện tượng tâm lí, với tư cách là một hiện tượng tinh thần Ở khía cạnh này, đối tượng của Tâm lí học là các hiện tượng tâm lí với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não người sinh ra, gọi chung là các hoạt động tâm lí Tâm lí học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt

Trang 5

động tâm lí thông qua những hiện tượng tâm lí Hiện tượng tâm lí là những hiện tượng phản ánh đời sống tinh thần của con người, phản ánh tâm hồn con người Những hiện tượng tâm lí nói lên suy nghĩ, tình cảm của một cá nhân hay của một nhóm xã hội nào đó Các hiện tượng tâm lí người có thể chứa đựng, chuyển tải ý nguyện của một cá nhân hay cộng đồng, bộc lộ ý tưởng, nhận thức của một chủ thể nào đó Có thể nói đối tượng của Tâm lí học rất đa dạng, từ những điều quan sát được trong thực tiễn đến những ý tưởng còn ẩn chứa trong tâm thức của họ, còn bị che khuất bởi các thói quen của họ nhưng đều có khuynh hướng bộc lộ ra ngoài và hình thành nên những hiện tượng tâm lí chung hay đặc biệt.

1.2.2 Nhiệm vụ của Tâm lí học

Nhiệm vụ của Tâm lí học có thể xem như các mục tiêu mà khoa học này muốn đạt được thông qua hệ thống tri thức và các phương pháp của chính khoa học này Giải quyết được các nhiệm vụ, các nhà tâm lí sẽ có điều kiện tiếp cận với các vấn đề thực tiễn một cách bài bản hơn, ý nghĩa hơn Tâm lí học có một

số nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Phát hiện các hiện tượng và sự kiện tâm lí xảy ra trong cuộc sống thực

tế Những hiện tượng tâm lí xảy ra đan xen với những hiện tượng khác (hiện tượng Sinh học, Hoá học, Vật lí học, Xã hội học, Kinh tế học, Văn hoá học ) và

có những quy luật hình thành nhất định, các nhà Tâm lí học phải sử dụng các phương pháp thích hợp để xác định vấn đề, phát hiện diễn biến tâm lí nảy sinh

ở các chủ thể Sau khi phát hiện, các nhà tâm lí còn có nhiệm vụ mô tả điều đã xảy ra một cách rất khách quan, tìm kiếm những mối liên quan ý nghĩa giữa các kích thích và các đáp ứng của chủ thể và những thay đổi nếu có của liên quan

ấy Việc mô tả khách quan phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến điều nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy được

- Tìm hiểu các quy luật nảy sinh, hình thành, phát triển và biểu hiện của những hiện tượng và sự kiện ấy để có thể giải thích chúng một cách khoa học

và rõ ràng Những điều được giải thích sẽ là nền tảng của quá trình suy luận logic để đưa ra được những phán đoán khoa học, những nhận định thực tiễn

Trang 6

Dù với những cách giải thích nào, các nhà tâm lí phải tìm cách kiểm chứng với các dữ kiện đã được thu thập một cách hệ thống Trên cơ sở giải thích một cách khoa học các hiện tượng, sự kiện tâm lí, khoa học tâm lí sẽ chứng minh được nguồn gốc của các hiện tượng này và quan trọng hơn là hình thành được một

số cơ sở lí luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống lí thuyết cho ngành khoa học này

- Sau khi đã giải thích được các cơ chế, các quy luật của hành vi hoặc các hiện tượng tâm lí nào đó, các nhà tâm lí có cơ sở để dự báo điều gì sẽ xảy ra, những ứng xử nào có thể xuất hiện trên cơ sở những mối liên hệ đã phân tích

Dự báo chính xác điều xảy ra sau một hành vi hay một ứng xử nào đó sẽ rất có ích cho tiến trình nghiên cứu thực tiễn, nó là cơ sở của những ứng dụng Tâm lí học trong hoạt động thực tiễn cũng như trong cuộc sống thực tế Một trong những kì vọng mà các nhà tâm lí phải tìm mọi cách đáp ứng là Tâm lí học phải

có hàng loạt các phương pháp, các biện pháp thực tế để dự đoán, dự báo các diễn biến tâm lí dây chuyền hoặc độc lập sau một hiện tượng hay một đặc điểm tâm lí nào đó được thể hiện ở chủ thể

- Đưa ra được những giải pháp hữu hiệu để con người nghiên cứu, xem xét và có thể phát triển nhân tố con người một cách hiệu quả nhất Chính điều này làm tăng khả năng của Tâm lí học trong quá trình cải thiện chất lượng cuộc sống, cải thiện tính chất của các mối quan hệ người - người trong xã hội Tâm lí học sẽ làm phong phú thêm cuộc sống từ những phương cách hợp lí mà nó đề xuất để môi trường sống trở nên dễ chịu hơn, do đó kết quả hoạt động có thể sẽ cao hơn nữa Nhiệm vụ này thể hiện một cách rõ ràng nhất tính chất ứng dụng của tâm lí trong thực tiễn, Tâm lí học không phải chỉ là một khoa học với hàng loạt khái niệm lí thuyết mà còn là việc ứng đụng, vận dụng lí thuyết đó vào thực

tế cuộc sống như thế nào nữa

Tâm lí học là một khoa học thực hiện rất nhiều nhiệm vụ trong đó có nhiệm vụ lí giải những hiện tượng rất gần gũi và gắn bó với cuộc sống thực tế, nếu được nghiên cứu với phương pháp phù hợp, Tâm lí học có thể giúp con người nhận rõ mình và người khác để cải thiện chất lượng cuộc sống Chính Tâm lí học đã phát triển thành rất nhiều chuyên ngành đa dạng mang tính ứng

Trang 7

dụng thiết thực trên cơ sở nền tảng phương pháp luận vững chắc là chủ nghĩa Mac - Lênin và Tâm lí học hoạt động Thành quả của Tâm lí học đã được khẳng định trong thực tiễn, đóng góp rất nhiều vào kho tàng tri thức lí luận của xã hội nhưng vẫn còn rất hạn chế so với tính chất và khả năng của nó vốn có.

Có một vấn đề hẳn ai cũng có thể thừa nhận là Tâm lí học có thể được vận dụng trong bất kì lĩnh vực hoạt động nào môi trường sống nào từ khoa học,

kĩ thuật nói chung đến các chuyên ngành cụ thể, chi tiết bởi vì ở bất kì lĩnh vực nào, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường cũng là hiện tượng then chốt và yếu tố tinh thần, yếu tố tâm lí luôn hiện hữu trong các quan hệ đó Nghiên cứu và bổ sung lí luận là điều hết sức cần thiết nhưng cần có định hướng và liều lượng thích hợp vì có thể nói, hệ lí luận của Tâm lí học đã tương đối ổn định như đã thể hiện trong Tâm lí học đại cương, Tâm lí học phát triển, Tâm lí học nhân cách Vấn đề cần quan tâm hiện nay là làm thế nào để các ngành tâm lí cụ thể phát huy được thế mạnh vốn có của mình để góp phần lành mạnh hoá và tích cực hoá cuộc sống Không ai phủ nhận tầm quan trọng của Tâm lí học, của việc tìm kiếm những lĩnh vực tâm lí mới nhưng điều cốt lõi thể hiện tính thiết thực của khoa học này là những kĩ năng tâm lí nào có thể vận dụng và phát huy tác dụng? Kĩ năng tâm lí là sự kết hợp các thao tác chứa đựng "hàm lượng tâm lí nhất định" nhằm thay đổi hành vi theo hướng thuận lợi cho hoạt động của con người, làm cho con người có thể gặt hái được nhiều thành công hơn, kết quả lao động đạt được nhiều hơn Kĩ năng tâm lí là sự chuyển tải lí thuyết tâm lí thành một hệ thống hành vi có chủ đích, có kế hoạch để hiện thực hoá lí tưởng sống của con người

Thành quả của Tâm lí học có nhiều cơ hội để phát huy trong điều kiện thực tế khi chất lượng các mối quan hệ, khi đời sống tinh thần của con người ngày càng được nhấn mạnh và đóng góp rất lớn vào phúc lợi xã hội, vào nền kinh tế đang phát triển vững chắc Nền kinh tế tri thức phát triển và mang tính định hướng cho kinh tế tương lai là một nền tảng vững chắc để các tri thức tâm

lí phát huy sức mạnh cũng như hỗ trợ tích cực cho các chủ nhân của nền kinh tế

ấy Các nhóm chủ thể sẽ không thể phát triển mạnh mẽ nếu đời sống tinh thần

Trang 8

không thuận lợi, không thoải mái để có một môi trường hoàn hảo cho tích lũy tri thức, cho việc biến tri thức thành sức mạnh vật chất.

- Trước hết, hướng nghiên cứu ứng đụng tâm lí trong việc tạo dựng hạnh phúc trong gia đình là một thực tế khi xu thế nảy sinh cơ cấu gia đình mới ngày càng rõ nét trong khi sự chuẩn bị về tinh thần, tâm lí là hết sức hời hợt Do đó, nhiều vấn đề tưởng chừng vô hại nhưng lại rất nguy hiểm đang xuất hiện trong gia đình, trong quan hệ thân thuộc trên nền tảng một hệ giá trị đang dần thay đổi

và khẳng định lại Nơi nuôi dưỡng đội ngũ trí thức, một đội ngũ đầu tàu của nền kinh tê tri thức có vẻ như đang mất dần phương hướng và phát triển một cách ngẫu hứng, tự phát Những nguyên nhân nào dẫn đến việc gia đình không đủ thời gian dành cho "không khí trẻ thơ"? Không khí trẻ thơ ở đây không chỉ là của trẻ em mà còn là sự thanh thản, sự vui tươi và chút lãng mạn riêng tư của mỗi gia đình Nguyên nhân nào dẫn đến việc các cặp vợ chồng khi chưa hết tuần trăng mật đã phải vội vã chia tay ?

- Hướng nghiên cứu ứng dụng Tâm lí học để cải thiện tình trạng học sinh

bỏ học, chán học hay bỏ nhà "đi bụi mỗi khi có sự cố nào đó Áp lực học tập đè nặng lên các em học sinh bắt đầu từ đâu, các áp lực tâm lí ấy có ảnh hưởng như thế nào đến trí lực cũng như thể lực của các em? Công tác tư vấn học đường đang được nhiều người quan tâm có giá trị như thế nào trong thực tiễn, việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh được người lớn, thầy cô giáo định hướng, hướng dẫn như thế nào cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi

- Các nhà quản lí thể hiện quyền lực của mình như thế nào mà ít bị phản ứng hay bằng cách nào để có thể khơi dậy được tiềm năng sáng tạo của người thừa hành

Tâm lí học còn nhiều điều, rất nhiều điều phải làm để nâng cao vị thế của khoa học này, để khẳng định sự hữu ích của khoa học trong hoạt động thực tiễn, để Tâm lí học không chỉ là "kiến thức phổ thông, nhỏ to tâm sự" Phát huy nhân tố con người trên cơ sở vận dụng thành công và có kết quả các thành tựu của khoa học tâm lí chỉ có thể thực hiện khi kết hợp được lí thuyết tâm lí và

Trang 9

những kĩ năng cụ thể trong cuộc sống vốn đã hết sức đa dạng và nhiều biến hoá bất ngờ.

Câu chuyện thứ nhất

"Năm 20 tuổi, tôi là một nữ điều dưỡng đang thực tập tại một Bệnh viện Nhi

So với Viện Tim hoặc Bệnh viện Đa khoa, công việc ở Bệnh viện Nhi có

vẻ dễ như trở bàn tay Tôi vốn có khiếu kết bạn với trẻ con nên chắc chắn tôi sẽ vượt qua dễ dàng và chỉ còn chờ ngày tốt nghiệp

Chris là một cậu bé 8 tuổi vô cùng hiếu động Cậu lén bố mẹ vào thám thính công trường đang xây dựng cạnh nhà và bị té gãy tay trái, tay bị nhiễm trùng và phải cưa bỏ nó đi Tôi được chỉ định làm y tá hậu phẫu cho Chris

Khi sức khoẻ của cậu bé dần dần khá lên cũng là lúc cậu đau khổ nhận ra

sự mất mát của mình Cậu nằm một chỗ, chờ giúp đỡ, không chịu làm vệ sinh

cá nhân Tôi nhẹ nhàng khích lệ: "Cháu đâu có ở mãi trong bệnh viện, cháu phải học cách tự chăm sóc " Cậu bé giận dữ la lên: "Cháu có thể làm gì với một tay Tôi vắt óc tìm một câu trả lời thích hợp, cuối cùng tôi bảo: "Dù sao cháu vẫn còn tay phải" " Nhưng cháu thuận tay trái ", cậu bé kêu lên đầy thất vọng

Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình vô dụng và vô tâm đến thế Sao tôi lại tưởng rằng mọi người đều thuận tay phải cơ chứ! Sáng hôm sau, tôi trở lại với cuộn băng dính Vòng cuộn băng quanh cổ tay, tôi bảo cậu bé: "Cháu thuận tay trái còn cô thuận tay phải Cô sẽ dán tay phải của cô vào hàng nút áo sau lưng cháu Bây giờ mỗi khi cô làm việc gì bằng tay trái cháu phải làm theo bằng tay phải Nào, cháu muốn bắt dầu bằng việc gì? Nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, cậu bé càu nhàu: Cháu mới ngủ dậy, cháu cần đánh răng Tôi xoay xở mở nắp ống kem, đặt bàn chải lên mặt bàn, tìm cách nặn kem lên chiếc bàn chải đang ngả nghiêng Sau gần 10 phút nỗ lực với kem vương vãi đầy trên bàn, tôi mới hoàn tất được công việc "Cháu có thể làm nhanh hơn ", cậu bé tuyên bố, và khi làm nhanh hơn thật, cậu bé mỉm cười chiến thắng

Trang 10

Hai tuần sau đó trôi qua nhanh chóng Chúng tôi biến mọi công việc hằng ngày thành những cuộc đua tài hào hứng Chúng tôi cài nút áo, phết bơ lên bánh mì, cột dây giày Không còn phân biệt tuổi tác, chúng tôi là hai vận động viên đang ra sức đua tài Lúc tôi hết thời gian thực tập cũng là lúc cậu bé rời bệnh viện, tự tin đối mặt với cuộc sống Khi hôn tạm biệt cậu bé, tôi không cầm được nước mắt.

Đã 30 năm trôi qua kể từ ngày ấy, cuộc đời tôi đã bao phen "chìm nổi" Mỗi lần phải đương đầu với thử thách, tôi lại nhớ đến cậu bé Và mỗi khi cảm thấy mệt mỏi, nản lòng, tôi lại lẳng lặng vào phòng tắm Giấu tay phải ra sau, lấy kem và đánh răng bằng tay trái (Trái tim có điều kì diệu - Báo Tuổi Trẻ, NXB Trẻ)

Hãy thử bình luận xem điều cốt lõi nào đã làm cô điều dưỡng dễ thương

và cậu bể đang khủng hoảng niềm tin có được những ngây hồn nhiên, tươi dẹp

để vượt qua thử thách của cả hai người?

1.2.3 Các ngành Tâm lí học

Câu chuyện thứ hai

Trận động đất kinh hoàng làm hàng trăm ngàn người thiệt mạng ở Đông Á năm 2004 đã để lại một dư âm tiêu cực đối với các hiểm hoạ của thiên nhiên Đằng sau trận động đất này có biết bao vấn đề cần quan tâm, cần thực hiện để khôi phục sự thanh thản vốn có của cư dân trong vùng trước đó, làm sao để khách du lịch an tâm và vẫn nuôi ý định trở lại vùng đất "nghiệt ngã" ấy? Các nhà quản lí và khoa học nghĩ gì về điều này? Các nhà Tâm lí học vào cuộc ra sao?

Có rất nhiều ngành khoa học quan tâm để cố gắng khắc phục hậu quả của vấn đề, trong đó có Tâm lí học với nhiều ngành tâm lí có tính chuyên biệt,

có thể kể đến một số ngành tâm lí học ứng dụng để khẳng định sự đa dạng và phong phú của các ngành tâm lí học sau đây:

- Tâm lí học xã hội nghiên cứu những vấn đề tâm lí nảy sinh trong sự tương tác giữa các cá nhân, nghiên cứu diễn biến tâm lí của cộng đồng dân cư đề xuất các phương hướng ổn định tinh thần, phát triển khuynh hướng

Trang 11

dựa vào nhau để tồn tại giúp đỡ nhau và chia sẻ với nhau những trăn trở cũng như những nỗi niềm của sự mất mát Tâm lí học xã hội sẽ tiếp tục nghiên cứu những hiện tượng tâm lí khác phản ánh trí tuệ, tình cảm, tâm trạng, nguyện vọng của các cộng đồng, nghiên cứu các trạng thái tâm lí bất thường vào những thời điểm không bình thường hoặc bình thường nào đó của xã hội

- Tâm lí học phát triển nghiên cứu những khuynh hướng tâm lí mới xuất hiện đối với từng lứa tuổi khác nhau nhằm khái quát sự ảnh hưởng của sự cố khủng khiếp này đến con người ở các lứa tuổi khác nhau như thế nào Kết quả nghiên cứu này giúp các nhà Tâm lí học phát triển, bổ sung các giá trị để khẳng định quá trình phát triển tâm lí của cả đời người

- Tâm lí học y tế tìm cách xem xét, khám phá mối liên hệ giữa sự đau đớn của cơ thể hay bệnh tật, nhận dạng các hành vi có liên quan đến sức khoẻ từ hậu quả của sự cố nhằm giúp các nhà quản lí có điều kiện tham khảo khi đưa ra các quyết định quản lí nào đó

- Tâm lí học lâm sàng chuyên nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị hành vi bất thường từ những cuộc khủng hoảng, từ những điều bất hạnh đã xảy ra, từ

sự thương tiếc những người gặp nạn Tâm lí học lâm sàng tìm cách nhận dạng các rối loạn tâm lí ban đầu để giải thích tính chất của các mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng trong quá trình "bị" rối nhiễu tâm lí như thế nào

Ngoài ra một số ngành tâm lí khác sẽ đóng góp thành quả của mình trong việc lí giải các vấn đề nảy sinh trong quá trình khôi phục, hồi phục và hình thành các hiện tượng phản ánh đời sống tinh thần của cộng đồng

2 CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN TRONG TÂM LÝ HỌC HIỆN ĐẠI

Có Chể xem xét một số quan điểm cơ bản như là những trường phái tâm

lí có giá trị khoa học nhất định và có đóng góp cho một nền Tâm lí học thực nghiệm ngày nay Những trường phái này tiếp cận theo nhiều cách khác nhau với những phương pháp khác nhau nhưng đều có mục tiêu góp phần lí giải các hiện tượng tâm lí của con người và đề xuất các hình thức thích ứng phù hợp

Trang 12

2.1 Tâm lí học hành vi

Tâm lí học hành vi xuất phát từ Mĩ và được nhà Tâm lí học người Mĩ J Watson (1878 - 1958) khởi xướng Trong những năm 1920, J Watson khẳng định rằng có thể thấu hiểu hành vi của con người bằng việc nghiên cứu và thay đổi môi trường mà trong đó con người tiến hành các thao tác, các hoạt động Ông cho rằng, bằng cách kiểm soát chặt chẽ môi trường của con người thì có thể hiểu được bất kì hành vi nào, ông còn cho rằng: "Hãy giao cho tôi chục trẻ

em khoẻ mạnh, có thể hình tốt, thế giới đặc biệt của riêng tôi sẽ nuôi dưỡng chúng và bảo đảm chọn bất kì trẻ nào để đào tạo trở thành bất cứ chuyên gia nào mà tối muốn: Bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ, thương gia, và ngay cả là một gã hành khất hay trộm cắp, không cần biết đến tài năng, khuynh hướng, thiên hướng, khả năng, năng khiếu và chủng tộc của tổ tiên" (Watson 1924) Các nhà Tâm lí học hành vi cho rằng Tâm lí học chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể con người cũng như ở động vật Hành vi, theo các nhà Tâm lí học hành vi lúc ấy, được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó J Watson đã lưu ý đến tính khách quan của tâm lí người, tâm

lí có nguồn gốc bên ngoài và là những biểu hiện có thể quan sát được Các nhà tâm lí học hành vi cũng cho rằng nghiên cứu tâm lí tức là nghiên cứu hành vi và cũng có nghĩa là nghiên cứu những điều quan sát được mà thôi

2.2 Tâm lí học Gestalt

Tâm lí học Gestalt được ra đời ở Đức và còn được gọi là Tâm lí học cấu trúc vì các nhà tâm lí thuộc trường phái này đi sâu nghiên cứu các quy luật về tính ổn định và tính trọn vẹn của tri giác, quy luật bừng sáng của tư duy Bằng hàng loạt các thực nghiệm, các nhà Tâm lí học Gestalt khẳng định rằng các quy luật của tri giác, tư duy và tâm lí của con người do các cấu trúc đã có trước của não quyết định Thành quả nghiên cứu của các nhà Tâm lí học Gestalt đã đóng góp rất nhiều cho lĩnh vực trị liệu và nghệ thuật

2.3 Tâm phân học

Thuyết Tâm phân học do S Freud (1859 - 1939), một bác sĩ người áo xây dựng nên Freud tách con người thành ba khối bao gồm cái ấy (vô thức), cái tôi

Trang 13

và cái siêu tôi Cái ấy bao gồm các bản năng vô thức như ăn uống, tình dục, tự

vệ, trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lí và hành vi của con người Cái ấy tồn tại theo nguyên tắc đòi hỏi và thoả mãn Cái tôi được xem là con người thường ngày, con người có ý thức và tồn tại theo nguyên tắc hiện thực "Cái tôi" bị giằng co bởi những thúc đẩy nguyên khởi và những mệnh lệnh cấm đoán của cái siêu tôi

Theo S Freud thì hành vi của con người được quyết định trong tầng sâu thẳm của nhân cách - bằng con đường vô thức, và đời sống tình cảm của con người được đặt trên nền tảng xung khắc giữa yêu thương - thù hận, thu hút - xô đẩy, khoái lạc - đau khổ, sống - chết

Có thể nói rằng đóng góp lớn nhất của S Freud cho ngành tâm lí là đề cao tầm quan trọng của vô thức

Sau S Freud, A Adler tiếp tục dòng tâm phân với những khía cạnh mới, hướng đến tâm thần kinh trị liệu và xây dựng Tâm lí học cá nhân, nhấn mạnh đến những bản năng thống trị của ý thức Theo A Adler, tất cả những giá trị đều bắt nguồn từ những nhu cầu của đời sống xã hội, cần phải tìm cách hoà hợp những nhu cầu cá nhân và đòi hỏi của xã hội, mỗi cá nhân phải có phương cách điều khiển đời sống

C.G Jung đề xuất một khái niệm mới: Tâm lí học phân tích, ông coi nhân cách là một cái mặt nạ của cá nhân đã được xã hội hoá, như một nhân vật đang đóng vai trên sân khấu và chính C.G Jung đã đưa ra khái niệm vô thức tập thể

2.4 Tâm lí học nhân bản

Trường phái Tâm lí học nhân bản được khởi xướng bởi hai nhà tâm lí C.Rogers (1902 - 1987) và A Maslow Tâm lí học nhân bản đặt trọng tâm nơi phẩm giá con người, trong thế giới riêng tư của con người, trong sự liên hệ với tha nhân và trong sự chủ động tìm tòi ý nghĩa cho cuộc sống

Theo C Rogers thì bản chất của con người là tốt đẹp, con người cần có điều kiện tâm lí để tăng trưởng và để trở thành chính mình trong cuộc sống tràn đầy nghĩa

Trang 14

A Maslow đã nêu ra nhiều mức độ nhu cầu cơ bản của con người xếp thứ tự từ thấp đến cao Đó là nhu cầu sinh lí cơ bản, nhu cầu an toàn, nhu cầu

về quan hệ xã hội, nhu cầu được tôn trọng, và nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt Theo A Maslow, Tâm lí học nhân bản không mang tính chất mô tả hay nghiên cứu thuần tuý, mà nó đề nghi con người hành động và hành động có hiệu quả, nó làm nảy sinh một lối sống cho một người không những trong nội tâm của chính mình mà còn cho chính người đó xét như là một thực thể xã hội, một thành phần của tập thể Cũng theo ông, Tâm lí học nhân bản chỉ là một bước quá độ, một sự chuẩn bị cho Tâm lí học "siêu bản vị" vượt hẳn con người, tập trung vào vũ trụ hơn là vào những nhu cầu hay tiện ích của con người

2.5 Tâm lí học nhận thức

Tâm lí học nhận thức xem hoạt động nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình Đặc điểm nổi bật của trường phái này là nghiên cứu tâm lí con người, nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và não

bộ Theo thuyết nhận thức thì con người hành động vì con người suy nghĩ, con người suy nghĩ vì lí do thiết kế tự nhiên của não bộ trang bị cho con người làm như vậy Mô hình nhận thức cho thấy, một số ứng xử có ý nghĩa nhất xuất hiện

từ cách suy nghĩ hoàn toàn mới mẻ chứ không phải từ các cách có thể dự đoán,

đã được vận dụng trong quá khứ Trong cách tiếp cận này, con người thường khởi sự công việc không tốt và cũng không xấu, tuy nhiên với khả năng tiềm ẩn, với các chương trình của tâm trí, có thể hình thành cái thiện, cái ác Trường phái nhận thức thể hiện ý tưởng, để hiểu được con người, trước hết cần hiểu được nhận thức của người đó

2.6 Tâm lí hoạt động

Trường phái Tâm lí học hoạt động do các nhà Tâm lí học Liên Xô (cũ) khởi xướng mà đứng đầu là L.X Vugoski (1896 - 1934) Trường phái này lấy triết học Mac - Lênin làm cơ sở lí luận và phương pháp luận, xây dựng nên Tâm

lí học lịch sử người Các nhà Tâm lí học hoạt động xem tâm lí người là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người thông qua hoạt động Tâm lí người mang tính chủ thể, có bản chất xã hội, nó được hình thành, phát triển và thể

Trang 15

hiện trong hoạt động và trong các mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội.

3 NHỮNG HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ NGƯỜI

3.1 Cơ sở của tâm lí người

3.1.1 Cơ sở tự nhiên của tâm lí

- Di truyền và tâm lí

Di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống, bảo đảm sự tái tạo ở thế

hệ mới những nét giống về mặt sinh vật đối với thế hệ trước, bảo đảm năng lực đáp ứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế đã định sẵn

Tư chât là một tổ hợp bao gồm cả những đặc điểm giải phẫu vừa là những đặc điểm chức năng tâm sinh lí mà cá thể đã đạt trong một giai đoạn phát triển nhất định dưới ảnh hưởng của môi trường sống và hoạt động

Di truyền đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tâm lí con người, di truyền tham gia vào việc tạo thành những đặc điểm giải phẫu sinh lí của cơ thể, trong đó có những đặc điểm giải phẫu và sinh lí của hệ thần kinh - cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lí Di truyền đóng vai trò tiền

đề trong sự phát triển của cá nhân Trước đây nhiều người nghi ngờ vai trò của

di truyền, cho rằng di truyền không có ảnh hưởng nhiều đến quá trình hình thành những nét tâm lí đặc biệt của con người nhưng gần đây, các công trình nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh tầm quan trọng của di truyền trong việc định hình các đặc điểm tâm lí các đặc điểm nhân cách của con người

Trang 16

chú ý rằng, chỉ khi não hoạt động thì mới có tâm lí Người ta đã chế tạo một loại máy có thể đọc được suy nghĩ của người qua theo dõi hoạt động của não Loại máy cộng hưởng từ (MRI) tại Đại học Illinois (Mĩ) có thể đọc suy nghĩ của con người bằng cách theo dõi các tế bào thần kinh trong não Các nhà khoa học cho biết đây là một trong những máy MRI hiện đại nhất thế giới Với khả năng đọc suy nghĩ của con người, máy có thể mở ra đường hướng mới trong việc chẩn đoán các chứng bệnh như đột quỵ, tự kỉ, Alzheimer và các bệnh rối loạn tinh thần khác Chức năng chính của máy là phát hiện xem con người đang suy nghĩ

gì và có nhiều ứng dụng tích cực khác nhưng nhiều người vẫn lo ngại về cách con người sử dụng máy "Con người ta có thể bị ném vào tù vì bị nghi là khủng

bố dựa trên những gì mà máy đọc được từ não của họ", một nhà khoa học nhận xét

Các chuyên gia thường ghi nhận lòng vị tha dường như làm cho người ta

"hết mình" Thế thì nó phát triển như thế nào và tại sao? Để giúp giải quyết bài toán này, nhóm của giáo sư Huettel đã cho những người tham gia cuộc nghiên cứu chơi nhiều trò chơi khác nhau, và bảo họ rằng nếu thắng, họ sẽ được thưởng tiền cho riêng mình hoặc tiền đó được tặng cho một tổ chức từ thiện Những nhà nghiên cứu sử dụng máy chụp ảnh chức năng kĩ thuật cao (fMRl) để quan sát "những điểm nóng" của hoạt động trong não những người tham gia

Những người tham gia cũng được yêu cầu điền một bản câu hỏi nhằm đánh giá mức độ ích kỉ hoặc vị tha của họ Họ phản ứng khác nhau tuỳ theo họ

Trang 17

được tiền cho riêng mình hoặc món tiền đó dành cho tổ chức từ thiện Trong cuộc nghiên cứu, những người có lòng nhân ái nhất có hoạt động mạnh nhất tại rãnh não thái dương phía trên - phía sau, nơi thường có liên quan đến việc xử lí thông tin đến, đưa ra các mối quan hệ xã hội và kiểm soát cử động

Giáo sư Huettel nói ông rất ngạc nhiên về kết quả nghiên cứu: "Chúng tôi thực hiện thí nghiệm này với ý nghĩ rằng lòng vị tha thật sự là một chức năng của hệ thống tưởng thưởng của não - những người vị tha sẽ đơn giản cảm thấy lòng vị tha được tưởng thưởng nhiều hơn" (theo Sinhua)

- Định khu chức năng tâm lí trong não

Trên vỏ não có các miền nhất định, mỗi miền là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lí tương ứng Một miền có thể tham gia vào nhiều hiện tượng tâm lí Các miền phục vụ cho một hiện tượng tâm lí hợp thành một hệ thống chức năng Hệ thống chức năng này hoạt động một cách cơ động, tuỳ thuộc vào yêu cầu của chủ thể, vào đặc điểm không gian, thời gian và không bất biến

Vỏ não có một số vùng chức năng quan trọng và riêng biệt: Đó là vùng thị giác, vùng thính giác, vùng vị giác, vùng cảm giác cơ thể, vùng vận động, vùng viết ngôn ngữ, vùng nói ngôn ngữ, vùng nghe hiểu tiếng nói, vùng nhìn hiểu chữ viết

Não được phân thành hai phần tương đối giống nhau và đối xứng nhau gọi là bán cầu não trái và bán cầu não phải Nhiều nghiên cứu cho thấy hai bán cầu não này đảm trách các chức năng khác nhau mặc dù có những điểm không tương đồng tuỳ thuộc các đặc điểm cá nhân hoặc giới tính Kết quả nghiên cứu cho biết bán cầu não trái chuyên về các công việc đòi hỏi năng lực ngôn ngữ như các kĩ năng nói, đọc, tư duy Bán cầu não phải điều khiển các loại năng lực chuyên biệt trong các lĩnh vực phi ngôn ngữ như nhận biết các hình dạng vật chất, hiểu biết về không gian, diễn tả cảm xúc, cảm thụ âm nhạc

Câu chuyện thứ tư

Não có thể làm hai việc cùng lúc không?

Trang 18

Những nhà nghiên cứu đã khám phá lí do tại sao con người cảm thấy khó khăn khi làm hai việc cùng một lúc.

Một "thắt nút chai" xuất hiện trong não khi những người tham gia thử nghiệm thực hiện hai nhiệm vụ đồng thời Nghiên cứu tìm thấy não làm việc chậm lại khi cố gắng thực hiện một nhiệm vụ thứ hai khoảng 300 mili giây sau khi "cổ chai" xuất hiện trong não Những phát hiện này dẫn đến việc cấm hoàn toàn nghe điện thoại trong khi lái xe

Những người tham gia được đề nghị nhấn vào một phím máy tính thích hợp phát ra những âm thanh khác nhau để trả lời các nhiệm vụ đề nghị khác nhau Những nhà nghiên cứu từ Trường Đại học Vanderbilt (Mĩ) đã dùng máy siêu âm MRI quét qua não những người tham gia để nhận diện những sự thay đổi thành phần ôxi hoá trong máu Họ tìm thấy vùng não thuỳ trán giữa và hai bên có sự thay đổi không cân xứng Điều này cho thấy não không có khả năng

xử lí hai nhiệm vụ song song, dẫn tới hiện tượng "thắt nút chai" Tiến sĩ S Paul, trưởng nhóm nghiên cứu, cho rằng những nghiên cứu trên cho thấy con người

bị giới hạn trong khả năng làm hai việc cùng một lúc Hiện tượng này được gọi

là "giao thoa nhiệm vụ kép" Nghiên cứu nơi xảy ra hiện tượng "thắt cổ chai" trong não, các nhà khoa học thấy rằng trong khi tế bào thần kinh não trả lời mệnh lệnh thứ nhất thì tế bào khác tiếp nhận một mệnh lệnh mới phải "xếp hàng" chờ Các tế bào thần kinh não không thể hoạt động cùng lúc dẫn đến hiện tượng "thắt cổ chai" nói trên

Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện đối với người lái máy bay Họ thấy khi nghe điện thoại trong lúc lái máy bay, nguy cơ tai nạn cao hơn 4 lần Từ đó, ngành hàng không có quy định tắt điện thoại khi lên máy bay (theo VietNam Net)

Những nghiên cứu mới đã tìm hiểu quá trình xử lí của bộ não ở các cấp

độ cao và thấp Một quyết định tức thì sẽ tốt hơn là nghiền ngẫm vấn đề, khi bạn phải trả lời nhanh các câu hỏi

Những người tham gia được yêu cầu tìm ra một biểu tượng bị đảo lộn trên một màn hình gồm hơn 650 biểu tượng giống nhau Những ai đưa ra quyết

Trang 19

định một cách bản năng, tức thì, đạt kết quả chính xác hơn những ai phải suy nghĩ lâu hơn cho câu trả lời.

"Kết quả này có vẻ như đi ngược lại logic Mọi người nghĩ rằng sẽ đưa ra quyết định chính xác hơn nếu có thêm nhiều thời gian xem xét Nhưng thực tế,

họ lại làm tốt hơn khi hầu như không có thời gian để suy nghĩ", tác giả nghiên cứu Li Zhaoping tại Đại học London nói

Các nhà nghiên cứu nhận biết được khi nào thì người tham gia tìm thấy được biểu tượng mục tiêu, bằng cách theo dõi cử động mắt Một khi mắt của người tham gia định vị được mục tiêu, các nhà nghiên cứu tắt màn hình, giới hạn khoảng thời gian mắt người nán lại trên biểu tượng trong 0 - 1,5 giây Người tham gia sẽ phải trả lời vật thể khác biệt đó ở bên phải hay bên trái màn hình Những ai chỉ có chưa tới một giây để nhìn biểu tượng trả lời chính xác hơn những ai được nhìn hơn 1 giây

Zhaoping lí giải kết quả bắt nguồn từ sự khác biệt trong khả năng mà bộ não tiềm thức và ý thức nhận biết biểu tượng Trong khi tiềm thức có thể nhận

ra sự khác biệt giữa một quả táo bị lộn ngược với quả táo đứng thẳng, thì ý thức chỉ thấy rằng đó là 2 quả táo

Khi được cho thêm thời gian để tham gia vào quá trình xử lí cao cấp của nhận thức, người tham gia đoán sai bởi sự nhận thức đã lấn át quyết định của tiềm thức ở cấp độ thấp hơn

Zhaoping cho rằng:"Nếu như quá trình nhận thức ở cấp cao và thấp đều đưa đến chung một kết luận, thì không có vấn đề gì"; "Nhưng thường thì bản năng và ý thức cấp cao của chúng ta lại mâu thuẫn, và trong trường hợp này, bản năng thường bị che khuất bởi bộ óc lí trí

- Phản xạ và tâm lí

Hoạt động tâm lí vừa có bản chất phản ánh vừa có bản chất phản xạ Toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ

Trang 20

Phản xạ có điều kiện là hoạt động tự tạo của con người dưới tác dụng của giáo dục trên cơ sở tạo mối liên hệ giữa trung khu của phản xạ có điều kiện

và trung khu của phản xạ không điều kiện tương ứng

Hoạt động thần kinh cấp cao, hệ thống các phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lí của các hiện tượng tâm lí Tất cả các thói quen, tập tục, hành vi, hành động, hoạt động đều có cơ sở sinh lí thần kinh là các phản xạ có điều kiện

3.1.2 Cơ sở xã hội của tâm lí

- Quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội và tâm lí

Con người luôn chịu sự tác động của các mối quan hệ xã hội nhất định Chủ nghĩa Marx đã khẳng định rằng các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người Theo Marx thì " bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng, vốn có của từng cá nhân riêng lẻ, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" (Luận cương về Pheubach) Quan hệ

xã hội trước hết là quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, chế độ xã hội - chính trị, quan hệ con người - con người, quan hệ đạo đức, pháp quyền, tôn giáo Quy luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội loài người là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất chứ không phải là quy luật chọn lọc tự nhiên

Các quy luật xã hội tác động đến con người làm biến đổi những hoạt động tâm lí trong đó tác động của giáo dục là cực kì quan trọng

Tâm lí của con người phát triển thông qua sự lĩnh hội nền vãn hoá xã hội

để tái tạo những thuộc tính, năng lực của cá thể mỗi người, tiếp thu năng lực bản chất người

- Hoạt động và tâm lí

Tâm lí con người hình thành và phát triển chủ yếu theo các quy luật lịch

sử - xã hội Cuộc sống của con người là một chuỗi những hoạt động giao tiếp Tâm lí người với đỉnh cao là ý thức được hình thành và phát triển bằng hoạt động và giao tiếp

Trang 21

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Bằng hoạt động và trong các hoạt động này, mỗi cá thể hình thành và phát triển năng lực, tính tình, đạo đức của mình Nói một cách khác, bằng hoạt động và trong hoạt động, mỗi cá thể người tự tạo ra mình, tự tạo ra nhân cách của mình.

Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình và thế giới chung quanh, thế giới tự nhiên và thế giới xã hội Trong sự tác động này ở con người sẽ diễn ra hai quá trình, đó là quá trình khách thể hoá và quá trình chủ thể hoá Có thể giải thích rằng trong hoạt động, nghĩa là trong quan hệ giữa con người và thế giới bên ngoài, con người vừa thay đổi thế giới bên ngoài vừa thay đổi bản thân mình, con người vừa tạo ra sản phẩm lao động, vừa tạo ra nhân cách bản thân

Giao tiếp và tâm lí

Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, ý chí, nguyện vọng, nhận thức để hiểu biết lẫn nhau Giao tiếp làm hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này và chủ thể khác

Giao tiếp có một số chức năng và có thể chia các chức năng này thành hai nhóm Nhóm thứ nhất có chức năng thuần tuý xã hội và nhóm thứ hai có chức năng tâm lí xã hội Nhóm chức năng thứ nhất gồm các chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của con người Trong trường hợp này giao tiếp thực hiện chức năng thông tin, tổ chức, điều khiển, động viên, phối hợp hành động Nhóm chức năng thứ hai gồm các chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu của từng thành viên của xã hội, thực hiện nhu cầu có quan hệ giữa bản thân và người khác

Nhờ giao tiếp giữa các thế hệ, giữa nhóm này và nhóm kia, cũng như nhờ hoạt động vui chơi, lao động, học tập, nghỉ ngơi mà tâm lí người được nảy sinh và phát triển Cùng với hoạt động, giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lí người

Có thể nói rằng tâm lí người là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, tâm lí người là kinh nghiệm của xã hội chuyển thành kinh nghiệm của bản thân thông qua hoạt động và giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò quan trọng Hoạt động

Trang 22

và giao tiếp, mối quan hệ giữa chúng là quy luật tổng quát hình thành và biểu lộ tâm lí người.

3.2 Bản chất của tâm lí người

Tìm hiểu bản chất của tâm lí người nghĩa là tìm cách hiểu rõ thực chất tình cảm, nhận thức, ý chí, nguyện vọng, tâm tư của con người là gì? Tại sao người ta lại thích điều này mà không thích điều kia, yêu người này khinh bỉ người khác ! Việc nghiên cứu bản chất của tâm lí người có ý nghĩa quan trọng đối với việc lí giải các hiện tượng bất thường trong đời sống tinh thần và mang lại giá trị thực tiễn rất lớn trong công tác giáo dục của xã hội Bản chất của tâm lí người thể hiện ở các vấn đề sau đây:

3.2.1 Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người

thông qua chủ thể Một trong những cơ sở tự nhiên của tâm lí người là não và hoạt động của não Trên cơ sở tiếp nhận các kích thích từ môi trường xung quanh, hoạt động của não sẽ là cơ sở hình thành những đặc điểm tâm lí của chủ thể

Các hiện tượng khách quan được phản ánh thông qua lăng kính chủ quan của con người Phản ánh diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hoá lẫn nhau, từ phản ánh cơ, vật lí hoá đến phản ánh sinh vật và phản ánh xã hội, trong đó có phản ánh tâm lí Phản ánh được hiểu là sự tác động từ hệ thống này lên hệ thống kia và để lại những dấu vết nhất định ở cả hai hệ thống đó Phản ánh tâm lí chính là sự tác động từ hệ thống thứ nhất là hiện thực khách quan đến hệ thống thứ hai là con ngươi với tư cách là một chủ thể Như vậy, những dấu vết của sự phản ánh là kết quả của sự tương tác giữa hai hệ thống, trong

đó con người với tư cách là hệ thống thứ nhất tiếp nhận các kích thích từ môi trường, tạo ra hình ảnh tâm lí và rồi chính hình ảnh ấy trở thành một tác nhân mới tác động đến môi trường thông qua các hình thức tồn tại của chính họ Những hiện tượng tâm lí của con người là kết quả của quá trình kích thích, tiếp nhận và phản ứng của chủ thể, tâm lí của con người không phải đã được định sắn, không phải đã được "lập trình" từ lúc thiếu thời và chỉ có biểu lộ trung thành với chương trình đó Con người phải tham gia tích cực vào thế giới xung quanh

Trang 23

thì mới có thể có những phản ánh tâm lí mới có đời sống tâm lí sinh động và tích cực.

Phản ánh tâm lí tạo ra hình ảnh tâm lí về thế giới Hình ảnh tâm lí mang tính sinh động, sáng tạo chứ không phải là sự sao chụp như hình ảnh vật lí Hình ảnh tâm lí mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân mang hình ảnh tâm lí đó bởi vì khi phản ánh, con người đã bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan rất lớn Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kết quả phản ánh (hay hình ảnh phán ánh) có thể là: hoàn cảnh khác nhau, trình độ, giới tính, kinh nghiệm, mục tiêu, phương pháp, văn hoá, điều kiện, môi trường Trên cơ sở những phân tích trên đây, cần lưu ý một số vấn đề có tính phương pháp luận khi nghiên cứu

và vận dụng tâm lí học trong thực tiễn cuộc sống

Tâm lí có nguồn gốc là thế giới khách quan, vì thế khi nghiên cứu cũng như khi giáo dục, thay đổi tâm lí người phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và phát triển Tâm lí của con người không bao giờ tách rời điều kiện sống, sinh hoạt và sự thích ứng của từng người Cần chú ý đến quan điểm lịch

sử - cụ thể trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tâm lí người để tránh sự áp đặt

vô tình hoặc thiếu khách quan

Tâm lí người mang tính chủ thể và có tính chủ quan, vì thế cần chú ý đến cái riêng trong tâm lí mỗi người Mỗi người là một thế giới độc đáo, không ai giống ai về đời sống tinh thần, do đó không thể và sẽ không bao giờ có thể làm người khác hoàn toàn giống một ai đó mà chỉ có thể tìm cách làm cho suy nghĩ, tình cảm, thái độ của họ phù hợp với chuẩn mực nào đó thôi Sẽ không thể có một con người nào là bản sao của người khác (mặc dù đã có sản phẩm của sinh sản vô tính) Trong thực tiễn cần chú ý đến việc chấp nhận sự khác biệt giữa các chủ thể để hoà hợp, hợp tác và chung sống để cả hai bên đều có lợi Trong hoạt động và sinh hoạt, việc chấp nhận giới hạn của mình và chấp nhận người khác, tôn trọng những điều không giống với nhận thức hoặc tình cảm của mình là một trong các phẩm chất cần thiết để chứng minh giá trị của cá nhân, để

có thể vượt qua sự thấp kém của mỗi người

Trang 24

Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì vậy phải tổ chức hoạt động và các quan hệ giao tiếp để nghiên cứu hình thành và phát triển tâm lí người Tuy nhiên, tổ chức hoạt động và giao tiếp phải tôn trọng các nguyên tắc ứng xử mang tính chất văn hoá và phù hợp với yêu cầu nền văn minh.

3.2.2 Tâm lí người có bản chất xã hội, bị ảnh hưởng và quy định bởi các

mối quan hệ xã hội, đặc biệt là các quan hệ giữa người với người Bản chất xã hội của tâm lí người được thể hiện ở những vấn đề sau đây:

- Tâm lí người là kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài người đã biến thành của riêng từng người Nhờ có giao lưu giữa những người trong gia đình, bè ban, tập thể, làng xã và rộng hơn nữa, mỗi hiện tượng tâm lí nảy sinh ra trong “đầu óc” mỗi cá nhân sẽ không "nằm yên" ở đó mà thông qua trao đổi, tiếp xúc, chia vui sẻ buồn, bắt chước sẽ lây lan, ảnh hưởng đến nhiều người khác, chuyển thành hiện tượng tâm lí chung của nhiều người Chính những hiện tượng tâm lí như vậy một khi đã hình thành có thể trở thành một sức mạnh vật chất to lớn, làm biến đổi cả tự nhiên và xã hội Sau khi được sinh ra, con người sống trong môi trường xã hội và dưới ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần ở thời điểm đó sẽ hình thành bản chất xã hội của con người Điều làm cho con người vượt trội các loài vật là họ có thể tự rèn luyện mình, có thể tiếp nhận sự giáo dục và tự giáo đục

- Tâm lí người chịu ảnh hưởng bởi trình độ phát triển của xã hội, bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các thiết chế xã hội, chế độ xã hội Sự ảnh hưởng này được nhận thấy qua biểu hiện của hành vi ứng xử của con người với thế giới chung quanh Nhận thức, tình cảm của con người không bị giới hạn khi con người tiếp cận với các nền văn minh khác nhau, tiếp cận các giá trị văn hoá khác nhau

- Tâm lí người chịu ảnh hưởng bởi các biến cố của xã hội và của cá nhân, những biến cố này có thể làm thay đổi cấu trúc và cả chức năng tâm - sinh lí của con người, có thể làm con người biến thành một người hoàn toàn khác, một người tự "lột xác" mình

3.3 Tinh chất của các hiện tượng tâm lí người

Trang 25

Có thể căn cứ vào nhiều yếu tố để nhận dạng các hiện tượng tâm lí người, trong đó có các tính chất của nó Những tính chất này sẽ làm sáng rõ hơn về bản chất của tâm lí, làm nổi bật hơn sắc màu của đời sống tinh thần của con người trong các hoàn cảnh và môi trường khác nhau.

Những hiện tượng tâm lí người có một số tính chất sau đây:

- Những hiện tượng tâm lí người là những hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần, thuộc về tâm hồn và luôn bộc lộ ra ngoài bằng hành vi, hành động Mọi diễn biến tâm lí của con người đều có thể biểu hiện thông qua hoạt động và những phản ứng khác của các chủ thể Thông thường, nhìn nét mặt, quan sát hành động của ai đó, người ta có thể dự đoán, phát hiện được tâm trạng, cảm xúc hoặc các diễn biến tâm lí khác của con người trong một thời điểm nhất định nào đó Một số trường phái, đặc biệt là các nhà hành vi học đã có nhiều nghiên cứu cho thấy có thể dự đoán tâm hồn, tinh thần của con người thông qua cách thức họ hành xử, thông qua những phản ứng tự nhiên, vô thức Quan sát là một trong những phương pháp nghiên cứu tâm lí người có hiệu quả từ chính đặc điểm này

- Những hiện tượng tâm lí người bị chi phối bởi một số quy luật nhất định, những quy luật này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người Sự hình thành các đặc điểm tâm lí của con người không phải hoàn toàn ngẫu nhiên hoặc

tự nhiên mà theo những thói quen, những hình thức mang tính quy luật Những quy luật tâm lí này có nguồn gốc từ quá trình thích ứng của chủ thể dưới tác động của môi trường văn hoá, của phong tục tập quán hoặc của một kho tàng kinh nghiệm nào đó

- Những hiện tượng tâm lí người vừa có tính cá biệt vừa có tính khái quát, điển hình Tính cá biệt thể hiện ở chỗ, các cá nhân hoặc những chủ thể cố định

có khuynh hướng hình thành và bộc lộ các đặc điểm tâm lí phản ánh sự độc đáo của chính mình, sự riêng biệt của mình Tính khái quát, điển hình được thể hiện

ở các dấu hiệu đặc trưng của cộng đồng được bộc lộ thông qua các hành vi cá nhân mà người đó là thành viên của cộng đồng Tính khái quát có thể nói lên những phong cách sống đặc trưng, những phương cách thích ứng đặc trưng

Trang 26

của một địa bàn dân cư, của một tầng lớp nào đó Chính đặc điểm này giúp quá trình đánh giá, nhận xét cũng như ứng xử với người xung quanh có căn cứ để

có thể đạt hiệu quả cao nhất khi con người biết được, hiểu được những nét đặc trưng của các đối tác

- Những hiện tượng tâm lí người có sức mạnh thần kì, có thể tạo nên nội lực mạnh mẽ Chính sức mạnh này có thể làm chủ thể có những hành vi bất thường hoặc phi thường Người ta có thể "biến đau thương thành sức mạnh" hoặc "dời non lấp bể" nếu họ nhận thức vấn đề rõ ràng và có một tình cảm mạnh mẽ Trong dân gian có câu: "Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mây đèo cũng qua" như một khẳng định cho sức mạnh của tình yêu đôi lứa, sức mạnh của đời sống tâm lí, của tâm hồn

- Những hiện tượng tâm lí người rất phong phú, đa dạng và cũng hết sức phức tạp Con người không phải bao giờ cũng thể hiện tất cả điều mình nghĩ, điều mình muốn mà họ có thể dùng các động tác giả có khi vô tình hoặc có lúc đầy toan tính để thể hiện một nhu cầu, một nguyện vọng hay một ý chí nào đó Hiện tượng "bằng mặt mà không bằng lòng" là một dấu hiệu cụ thể của sự phức tạp trong ứng xử, trong đánh giá con người Mặt khác, những biểu hiện tâm lí, những quá trình tinh thần diễn ra ở con người có thể ở nhiều khía cạnh rất khác nhau, một niềm vui, nỗi buồn có thể được diễn tả ở nhiều góc độ khác nhau với các tính chất khác nhau

- Có sự tác động qua lại lẫn nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau trong một

sự liên hệ rất mật thiết Những hiện tượng tâm lí chi phối lẫn nhau, sinh thành ra nhau, chế ước nhau và hỗ trợ cho nhau Một hành ví nào đó chưa chắc đã phản ánh chính xác tâm lí của một chủ thể dù những quan sát cho thấy những biểu hiện rất rõ ràng, trong quá trình nhận xét, đánh giá con người cần lưu ý đến tính thống nhất giữa các hiện tượng tâm lí Trong thực tiễn, không có bất kì niềm vui hoặc nỗi buồn nào xuất hiện một cách vô cớ mà luôn có những nguyên nhân nhất định

- Những hiện tượng tâm lí người vừa có tính tích cực vừa có tính bảo thủ

Sự tích cực hay bảo thủ sẽ tuỳ thuộc vào cách thức con người tiếp cận và vận

Trang 27

dụng nó trong hoạt động thực tiễn và thực tế cuộc sống Nếu biết phát huy thế mạnh tiềm tàng của hiện tượng tâm lí thì chính nó sẽ trở thành tác nhân tích cực kích thích hoạt động mạnh mẽ của con người và ngược lại.

3.4 Phân loại các hiện tượng tâm lí người

Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với các hiện tượng tâm lí người:

- Phân biệt hiện tượng tâm lí cá nhân và hiện tượng tâm lí xã hội

- Phân biệt hiện tượng tâm lí sống động và hiện tượng tâm lí tiềm tàng

- Phân biệt về phương diện chức năng, vận động, quá trình, với phương diện một cấu tạo, một "sản phẩm" Ví dụ như sự suy nghĩ là một quá trình, một chức năng tâm lí

- Phân biệt hiện tượng tâm lí có ý thức và hiện tượng tâm lí chưa ý thức được, những hiện tượng vô thức

- Phân biệt các hiện tượng tâm lí theo thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách Phân biệt các quá trình tâm lí; các trạng thái tâm lí

và các thuộc tính tâm lí

4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÍ HỌC

Phương pháp của mỗi khoa học phụ thuộc vào đối tượng của nó, tức là vào cái mà nó nghiên cứu Những phương pháp của tâm lí học là những cách thức thu thập và vạch rõ những sự kiện tâm lí, sự hình thành nhân cách, các quy luật và cơ chế của chúng Sau đây là một số phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cơ bản:

Trang 28

hệ thống phức tạp tạo ra thế giới của con người, thế giới loài người Aphannaxev nhận định: "Con người là một tồn tại xã hội thành tố chính của bất

cứ một hệ thống xã hội nào Theo chừng mực nào đó, con người là đại biểu chủ chốt cuối cùng của các đặc điểm hệ thống xã hội." (theo B.Ph Lomov) Cá nhân là một thành tố quan trọng trong rất nhiều tiểu hệ thống của xã hội và có mặt trong nhiều hướng phát triển của nó, trong đó có nhiều hình thức khác nhau Khi xem xét, nghiên cứu tâm lí người, nhà nghiên cứu cần đặt khách thể nghiên cứu trong một hệ thống nhất định, trong một chuỗi các hệ thống để có

cơ hội phát hiện được bản chất thật của vấn đề Theo B.Ph Lomov, tiếp cận

hệ thống trong nghiên cứu một hiện tượng nào đó phải được xem xét ở nhiều bình diện:

- Hiện tượng tâm lí được xem như một đơn vị có chất lượng, một hệ thống có những quy luật đặc trưng

- Một bộ phận của những cấu trúc vĩ mô có những quy luật mà hiện tượng tâm lí phải tuân theo

- Ở phương diện hệ thống vi mô cũng có những quy luật mà hiện tượng tâm lí phải tuân theo

- Ở phương diện tương tác với bên ngoài của nó, nghĩa là cùng với điều kiện tồn tại của các hiện tượng tâm lí được nghiên cứu,

4.1.2 Phương pháp tiếp cận hoạt động - nhân cách

Theo cách tiếp cận hoạt động, việc nghiên cứu tâm lí phải dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và lịch sử Con người là chủ thể của hoạt động, và các thuộc tính nhân cách của con người cũng như các chức năng tâm sinh lí như các cấu tạo tâm lí mới giữ vai trò định hướng và điều khiển điều chỉnh hoạt động Theo tác giả Phạm Minh Hạc, cách tiếp cận hoạt động - nhân cách có những ý nghĩa sâu sắc:

Khẳng định hoạt động là bản thể của tâm lí, ý thức, nghĩa là tâm lí, ý thức nảy sinh từ hoạt động Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lí học người

Sự phát triển phức tạp và các chuyển hoá của hoạt động con người kéo theo sự phát triển phức tạp và chuyển hoá tâm lí người

Trang 29

Phản ánh tâm lí không tách rời hoạt động Hoạt động vừa tạo ra tâm lí vừa sử dụng các phản ánh tâm lí làm khâu trung gian của hoạt động, tác động vào đối tượng.

- Tất cả các chức năng tâm sinh lí, các quá trình và thuộc tính tâm lí trong

đó có ý thức và nhân cách đều được nghiên cứu như là các hoạt động, nghĩa là đặt hiện tượng được nghiên cứu vào cấu trúc tâm lí vĩ mô của hoạt động đó

- Ở cấp hoạt động, con người không còn là một "cá thể người), con người thực hiện các hoạt động, thực hiện các thao tác để làm một hành động nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó

Phương pháp tiếp cận hoạt động - nhân cách là phương pháp tương đồng với nội dung của thế giới tâm lí Nó nghiên cứu tâm lí như là tính chủ thể của nhân cách được quy định một cách khách quan, tức nảy sinh bằng hoạt động có đối tượng, bằng giao tiếp

4.2 Những phương pháp cụ thể

4.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát là quá trình tri giác có chủ định, là quá trình theo dõi, thu thập dấu hiệu của hành động và cả hành động và hoạt động của đối tượng trong điều kiện tự nhiên để phán đoán, nhận xét về cái "tâm lí" đã điều khiển chúng để từ

đó tổng kết được các quy luật, cơ chế vận hành: Quan sát phải được tiến hành trong điều kiện khách quan và kết quả quan sát tuỳ thuộc vào mục tiêu của nhà nghiên cứu Sau đây là một số điều kiện giúp cho quá trình quan sát có chất lượng:

- Nghiệm thể (đối tượng được quan sát) không được biết người khác đang quan sát mình thì những biểu hiện quan sát được mới có tính chất trung thực, nghĩa là việc quan sát được tiến hành một cách tự nhiên, không được sắp đặt hoặc dàn cảnh, không thông báo trước cho các nghiệm thể

- Nếu có nhiều người cùng quan sát và có tính chất độc lập với nhau thì nên thống nhất về mục đích và cách thức ghi nhận thông tin Sự thống nhất này giúp cho các nhà quan sát có điều kiện đưa ra được các kết luận tương đồng và

Trang 30

nhất quán Các nhà quan sát cũng nên thống nhất về những nội dung cần quan sát để có thể có những kết luận cuối cùng hợp lí.

- Lúc chưa thuận tiện thì nên quan sát theo một khía cạnh được lựa chọn nào đó mà thôi trước khi tiến đến quan sát toàn diện

Phương pháp quan sát là một phương pháp khó có thể thay thế để sơ bộ thu thập sự kiện, và đòi hỏi nhiều thời gian, công sức Tuy nhiên bằng quan sát, chúng ta chỉ nhìn thấy những gì chúng ta đã biết, chứ không thể "nhìn thấy" cái chưa biết được, cái không thể tri giác được

4.2.2 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là phương pháp có nhiều hiệu quả trong nghiên cứu tâm lí Thực nghiệm là quá trình chủ động tác động vào hiện thực trong những điều kiện khách quan đã được khống chế để gây ra hiện tượng cần nghiên cứu, lặp

đi lặp lại nhiều lần nhằm tìm ra một quan hệ nhân quả, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu Phương pháp thực nghiệm có nhiều giá trị trong việc khẳng định một giả thuyết khi các nghiệm thể thực hiện các yêu cầu trong hoàn cảnh rất khách quan

Người ta thường sử dụng hai loại thực nghiệm:

- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài để làm nảy sinh một nội dung tâm lí cần nghiên cứu Các nhà du hành vũ trụ trước khi được tuyển chọn để được đào tạo trở thành phi công, họ phải trải qua kì sách hạch thực tế thông qua những thực nghiệm trong phòng thí nghiệm để đo các thông

số sinh học, tâm lí theo yêu cầu của một nhà du hành

Thực nghiệm tự nhiên

Thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống và hoạt động Trong quá trình thực nghiệm, nhà nghiên cứu có thể chủ động tạo ra những biểu hiện và diễn biến tâm lí bằng cách khống chế một

Trang 31

số nhân tố không cần thiết cho việc nghiên cứu làm nổi bật những yếu tố quan trọng cho việc nghiên cứu.

Tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ mà có thể phân biệt thực nghiệm tự nhiên

là thực nghiệm nhận định hay thực nghiệm hình thành:

- Thực nghiệm nhận định hay thực nghiệm mô tả chủ yếu nêu lên thực trạng của vấn đề nghiên cứu ở một thời điểm cụ thể Thông qua thực nghiệm này, nhà nghiên cứu sẽ có số liệu cần thiết để mô tả một sự kiện hay một vấn đề nào đó một cách có căn cứ và có độ tin cậy cao

- Thực nghiệm hình thành là tiến hành các tác động nhằm hình thành một tính chất tâm lí nào đó ở nghiệm thể Thực nghiệm hình thành thường được sử dụng để chứng minh tính khả thi của một biện pháp tâm lí, một hình thức nào đó

có thể hiện những đặc điểm tâm lí cụ thể

4.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm lao động

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm lao động dựa vào các sản phẩm vật chất và tinh thần của đối tượng để nghiên cứu các chức năng tâm lí của họ vì trong sản phẩm ấy chứa đựng một số dấu vết tâm lí, nhân cách của chính đối tượng Sản phẩm lao động là kết quả của quá trình vận động, hoạt động của chủ thể, thông qua sản phẩm này, nhà nghiên cứu sẽ phát hiện được những đặc điểm tâm lí phổ biến hoặc chủ yếu của họ vì các đặc điểm tâm lí được hình thành và thể hiện qua và bằng hoạt động

4.2.4 Phương pháp trắc nghiệm

Trắc nghiệm là một phép thử để "đo lường" tâm lí mà trước đó đã được tiêu chuẩn hoá trên một số lượng người có tính chất tiêu biểu Một phép kiểm tra trắc nghiệm tâm lí, hay còn gọi là test, trọn bộ thường có 4 phần là văn bản test, hướng dẫn cách thức và các bước tiến hành, hướng dẫn đánh giá và bảng chuẩn hoá

Những test thông dụng trên thế giới, nhiều nhất là về lĩnh vực nhận thức, nhờ một quá trình xây dựng công phu và có tính khoa học, đã được quy trình

Trang 32

hoá chặt chẽ nên nếu sử dụng đúng có thể giúp chúng tá phân loại được những vấn đề cần thiết trong nghiên cứu và ứng dụng.

4.2.5 Phương pháp đàm thoại

Đó là cách đặt những câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ để thu thập thêm những thông tin cần thiết Việc tiến hành các cuộc đàm thoại sẽ giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu được nhiều thông tin xác thực và có độ tin cậy cao nhưng cần phải có kĩ thuật nhất định Quá trình đàm thoại sẽ có nhiều giá trị khi nó được tiến hành trong những trạng thái tâm lí phù hợp của nghiệm thể với các yêu cầu khác nhau Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cũng cần chuẩn bị trước các nội dung cần tìm hiểu, cần trò chuyện và những phương án thay thế,

4.2.6 Phương pháp điều tra

Là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một số vấn đề nào

đó, có thể trả lời viết hay trả lời miệng và được ghi lại Phương pháp điều tra được phát huy nhiều trong trường hợp thăm dò nhận thức, thái độ chung của cộng đồng đối với một vấn đề nào đó

Tóm lại, có khá nhiều phương pháp nghiên cứu tâm lí người, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Để có thể nghiên cứu các chức năng tâm lí một cách khoa học, chúng ta cần sử dụng nhiều phương pháp trong sự kết hợp đồng bộ và phù hợp với những điều kiện cụ thể

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới, quá trình này được tổ chức hết sức chặt chẽ và phải chọn lọc sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp Phương pháp gắn liền với hoạt động trong ý thức của con người là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới

Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người những hiểu biết về phương pháp nhận thức Ngày nay, cùng với khoa học, người ta chú ý khá nhiều đến phương pháp luận khoa học trong nghiên cứu Phương pháp

Trang 33

luận được xem như một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo chủ thể xác định con đường và phạm vi nghiên cứu.

Tâm lí học là một khoa học thực chứng Nghiên cứu Tâm lí học đòi hỏi phải có sự tích luỹ thật nhiều sự kiện phong phú, đa dạng để từ đó hệ thống hoá, khái quát hoá các quy luật chung trong rất nhiều trường hợp Có thể nói thực tiễn hoạt động có một giá trị quyết định đến kết quả nghiên cứu Tuy nhiên, giải thích các sự kiện xã hội bao giờ cũng phải tuân theo một quan điểm nhất quán, đặc biệt người nghiên cứu phải lưu ý đến những vấn đề của Triết học

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu Tâm lí học nói riêng

và khoa học xã hội nói chung, trong đó có cách tiếp cận giá trị và quan điểm thực tiễn, theo chúng tôi, có tính phổ biến tương đối trong tương quan với kết quả

Giá trị, hiểu theo nghĩa khách thể là những hiện tượng nhất định của hiện thực có ý nghĩa đối với con người, đối với xã hội và với nền văn hoá Tất cả các đối tượng của hoạt động, các mối quan hệ xã hội, những hiện tượng tự nhiên đều có thể trở thành những đối tượng của quan hệ giá trị nghĩa là đều được đánh giá thật hay giả, đẹp hay xấu, thiện hay ác Phương thức và tiêu chuẩn

để tiến hành việc đánh giá các hiện tượng xã hội được củng cố trong các hành

vi xã hội, trong văn hoá, trong ý thức cá nhân con người và đó là những giá trị chủ quan, đóng vai trò định hướng hành động con người

Giá trị khách thể và giá trị chủ quan là hai cực của quan hệ giá trị và luôn hướng tới sự thống nhất với nhau

Nghiên cứu, phát hiện những hiện tượng xã hội theo cách tiếp cận giá trị

là hướng tới ý nghĩa đích thực của những hiện tượng ấy trong quan hệ biện chứng giữa giá trị chủ quan và giá trị khách thể Các sự kiện, hiện tượng được phơi bày và được các nhóm xã hội nhận thức, đánh giá theo những chuẩn giá trị

có bản chất xã hội Một khi giá trị đã được xác lập, nó phải được tôn trọng và được phán xét đúng mức Giá trị khẳng định tư cách tồn tại của các hiện tượng

xã hội, nó phản ánh xu thế xã hội và một phần tâm trạng, ước muốn, nguyện vọng, tư tưởng của các chủ thể xác lập giá trị

Trang 34

Tiếp cận giá trị hướng chủ thể quan tâm đến sự xuất hiện, hình thành tự nhiên của một hiện tượng xã hội như những hiện tượng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan hay những tác động, những áp lực từ các giá trị nhận thức, giá trị được thừa nhận Giá trị thật và giá trị thừa nhận trùng hợp nhau là điều lí tưởng, nhưng quan trọng hơn là phải hết sức cẩn thận đối diện với những giá trị

hư ảo lại được thừa nhận Giá trị hư ảo được thừa nhận làm con người có thể trở nên phi thực tế, ảo tưởng và không hiểu rõ được mình, không nhận rõ được giá trị thực của mình

Tiếp cận giá trị trong nghiên cứu Tâm lí học, trong nghiên cứu Khoa học

xã hội là tôn trọng sự thật của vấn đề, tôn trọng tính khách quan của quá trình hình thành, phát triển của các hiện tượng xã hội Điều này cho thấy, thực tế, có những sự thật không tương thích với ý chí và kì vọng của chủ thể nhưng nó vẫn

cứ có giá trị nhất định Tôn trọng sự thật, không cường điệu, không đơn giản vấn đề sẽ là một điều kiện hữu ích cho việc nghiên cứu bản chất của vấn đề tìm cách định hướng giá trị phù hợp

Tiếp cận giá trị trong nghiên cứu Tâm lí học và Khoa học xã hội là chú ý tương quan của các chuẩn mực xã hội, đặt đối tượng nghiên cứu trong một tổng thể với giá trị thực của hệ thống Tiếp cận giá trị cũng bộc lộ tính khách quan nghiên cứu khoa học, thừa nhận các giá trị thật, không chấp nhận các giá trị hư ảo

Mặc khác giá trị của một con người, một sự kiện hay hiện tượng xã hội bao giờ cũng được thực tiễn xác minh Tương quan này giúp chủ thể lưu ý đến nguyên tắc thực tiễn trong quá trình nghiên cứu Khoa học xã hội

Diễn biến của hiện thực là những diễn biến khách quan, với những sự kiện đa dạng, phức tạp, có thể phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhu cầu giải quyết những mâu thuẫn của thực tiễn là động lực thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học thực chất là hướng tới sự khai phá các sự kiện để phục vụ trực tiếp cho cuộc sống của con người Điều này thể hiện ở chỗ mọi đề tài nghiên cứu khoa học phải có tính cấp thiết xuất phát từ thực tiễn và công

Trang 35

trình nghiên cứu phải có ý nghĩa thực tiễn Thực tiễn vừa là nguồn gốc, vừa là động lực, vừa là mục.tiêu, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học, đặc biệt là Tâm lí học, hoặc Khoa học xã hội.

Bảo đảm nguyên tắc thực tiễn trong nghiên cứu Tâm lí học và Khoa học

xã hội là phải phân tích, chứng minh những mâu thuẫn, những giá trị thực của vấn đề trong thực tiễn sinh động Nghiên cứu khoa học phải thể hiện được sự gắn bó song hành giữa lí thuyết và hiện thực, phải loại bỏ những giá trị hư ảo ở chủ thể nghiên cứu

Sản phẩm của nghiên cứu khoa học xã hội, dù chỉ là các khái niệm, hay các mô hình nào đó nhưng luôn hướng tới một quy trình hoạt động, một quá trình vận động chủ quan của xã hội Giá trị của sản phẩm sẽ tuỳ thuộc vào tính ứng dụng, tính khả thi của nó Kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội không thể đo được một cách cụ thể như Vật lí học nhưng có thể xác định được dễ dàng thông qua một số phương pháp phù hợp Nhiều công trình nghiên cứu khoa học xã hội được tiến hành rất công phu, độ tin cậy rất cao nhưng không có

ý nghĩa hoặc vô giá trị vì được hoàn chỉnh một cách lí thuyết, minh hoạ cho nhận thức của con người mà không tạo được một cơ hội để thực hành

Xác định nhu cầu của thực tiễn là một yêu cầu của nguyên tắc thực tiễn trong nghiên cứu Tâm lí học và Khoa học xã hội Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu của thực tiễn không phải đơn giản như xác định nhu cầu của bản thân (thậm chí nhu cầu của bản thân nhiều lúc cũng không thể xác định được một cách chính xác) mà là kết quả của một quá trình tìm tòi, đối chiếu Những vấn đề cần được nghiên cứu có phải là điều hệ trọng, là đòi hỏi của cuộc sống sinh động hay chỉ là những mặt nổi của thực tế trong nhận thức chủ quan của chủ thể Nghiên cứu Tâm lí học để hướng tới một sự thay đổi hành vi thích hợp trong tính đa dạng của hiện thực, hướng tới một sự thích ứng chủ động làm cho cuộc sống xã hội ngày càng sinh động và hiệu quả là một quá trình nghiên cứu mang tính thực tiễn cao Nghiên cứu Tâm lí học để giải quyết những bế tắc của tâm hồn, giúp con người vượt qua các trở ngại tinh thần, bộc lộ giá trị thật của mình, đóng góp công sức cho sự phát triển của bản thân và cộng đồng là một

Trang 36

quá trình nghiên cứu triển vọng và có tính thuyết phục đối với yêu cầu chung của xã hội.

Trong nghiên cứu, cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định khoa học của quá trình nghiên cứu, đặc biệt là vấn đề thử nghiệm, mở rộng thử nghiệm, nâng cao trình độ sử dụng phương pháp và phương tiện nghiên cứu để bảo đảm tính khoa học của các kết luận và tính hiệu lực của các biện pháp

Giá trị và thực tiễn là hai vấn đề phụ thuộc nhau Thực tiễn chứng minh giá trị và ngược lại, giá trị thể hiện trong thực tiễn và làm phong phú thực tiễn Kết hợp hai khuynh hướng ấy trong nghiên cứu Tâm lí học và Khoa học xã hội

sẽ rất có ý nghĩa và dĩ nhiên, kết quả cũng rất có giá trị

Công trình nghiên cứu nào cũng sẽ được thực tiễn kiểm nghiệm và đánh giá chính xác giá trị của nó Xuyên suốt quan điểm giá trị và thực tiễn là điều kiện để có thể đạt kết quả cao trong nghiên cứu, thể hiện tính ứng dụng thực sự

từ những vấn đề có tính lí luận sâu sắc

TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1

Tâm lí học là một khoa học nghiên cứu về đời sống tinh thần của con người, nghiên cứu về tâm hồn con người Tâm lí học là một bộ môn khoa học có tính chất ứng dụng rất rõ ràng Những hiện tượng tâm lí của con người luôn được bộc lộ ra ngoài bằng hành vi, hoạt động Tâm lí người được hình thành

và phát triển trong hoạt động

Tâm lí người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội, tâm lí người cũng mang bản chất xã hội

Tuỳ theo đối tượng và điều kiện mà nhà nghiên cứu có thể sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tâm lí thích hợp

Trang 37

Chương 2: "HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC"

Sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con ngươi phải nhận thức, bày tỏ thái độ và hành động với thế giới ấy Nhận thức, tình cảm và hành động

là ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người

Trong quá trình hoạt động, sự nhận thức, phản ánh hiện thực khách quan, những hình ảnh tâm lí sẽ giúp con người hiểu biết hiện thực xung quanh, hiểu biết chính mình một cách sâu sắc nhất Những hiểu biết này sẽ là một nền tảng vững chắc cho việc sống cùng nhau trong cộng đồng và cũng sẽ là cơ sở để con người biểu lộ tình cảm cũng như kiểm nghiệm tình cảm của mình trước thực tại nói chung, trước người khác nói riêng Với sự hiểu biết và tình cảm đã

có, con người sẽ có đủ hành trang để tiến hành các hoạt động có mục đích nhằm mang lại một chất lượng mới cho cuộc sống của chính mình và của cộng đồng Chương này sẽ trình bày các quá trình nhận thức của con người, các điều kiện cần thiết và thích hợp để con người có thể nhận thức chính xác Những chương tiếp sau sẽ trình bày đến đời sống tình cảm của con người, đến những quy luật chung của tình cảm và những biểu hiện đặc biệt của nó Cuối cùng sẽ trình bày về những nỗ lực tiến hành hoạt động của con người trong những hoàn cảnh khác nhau

1 NHẬN THỨC CẢM TÍNH

Cảm tính nghĩa là chỉ "cảm" mà thôi, chỉ lướt qua những dấu hiệu bên ngoài mà chưa tìm hiểu những cội nguồn bên trong Nhận thức cảm tính là quá trình phản ánh các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi sự vật hiện tượng đó đang tác động vào các cơ quan thụ cảm của con người Nhận thức là một quá trình được xảy ra từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ mơ hồ đến sâu sắc

1.1 Cảm giác

1.1.1 Khái niệm

Mỗi sự vật, hiện tượng xung quanh đều được bộc lộ bởi hàng loạt các tính chất bề ngoài như màu sắc, kích thước, hình dáng, trọng lượng Những tính

Trang 38

chất đó được liên hệ với bộ não con người là nhờ cảm giác Những tính chất này tác động vào từng giác quan của chúng ta cho ta những cảm giác cụ thể Thông qua các cơ quan cảm giác, con người nhận được những thông tin hoàn toàn khác hẳn về các hiện tượng của môi trường bên trong và bên ngoài con người

Có thể nhận thấy rằng cảm giác là hình thức đầu tiên mà qua đó mối liên

hệ tâm lí của cơ thể với môi trường được thiết lập Cảm giác là mức độ phản ánh đầu tiên, thấp nhất của con người nói chung và của hoạt động nhận thức nói riêng

Cảm giác là quá trình tâm lí đơn giản nhất phản ánh những thuộc tính riêng lẻ, bên ngoài của các vật thể và các trạng thái bên trong cơ thể được nảy sinh do sự tác động trực tiếp của các kích thích bằng vật chất lên các cơ quan thụ cảm của con người

Sự phản ánh trực tiếp bằng giác quan về các đặc tính khách quan của vật thể và hiện tượng của thế giới xung quanh cho phép con người giải quyết nhiều nhiệm vụ thuộc về nhận thức Cảm giác có những vai trò quan trọng sau:

- Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan Nếu không có cảm giác, con người không thể biết mình đang

ở đâu, đang tiếp xúc với cái gì, đang đối diện với tình trạng nào do đó, họ không thể biết cách thích ứng như thế nào với thực tại Nhờ có cảm giác, con người biết mình đang tồn tại, đang tiếp xúc với thế giới xung quanh

- Cảm giác là nguồn cung cấp các điều kiện cho những hình thức nhận thức cao hơn, cảm giác là nguồn gốc của hiểu biết Có nhận biết được các kích thích dù rất bé, con người mới biết được điều gì đó lớn hơn, nhiều hơn

- Cảm giác là điều kiện quan trọng để bảo đảm trạng thái hoạt động tinh thần của con người được bình thường Khi không có cảm giác hoặc mất cảm giác, con người sẽ không thể thiết lập mối quan hệ giữa hiện thực khách quan

và não bộ, không thể thích ứng được với những biến đổi của môi trường

- Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan, đặc biệt quan trọng đối với người bị khuyết tật

Trang 39

- Không có sự phản ánh bằng cảm giác thì không thể có quá trình so sánh cái tiếp thu được trực tiếp trong thời điểm này với cái đã tiếp thu trước đây, với hình ảnh của sự vật hay hiện tượng.

1.1.2 Các loại cảm giác

Các kích thích từ hiện thực khách quan tác động vào chủ thể thông qua các cơ quan thụ cảm hay là các cơ quan cảm giác Khi cơ quan thụ cảm tiếp nhận kích thích, chúng được truyền lên trung ương thần kinh và được nhận diện

là cảm giác gì Các cảm giác được hình thành sẽ mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn hơn đối với chủ thể nếu nó là kết quả của quá trình phản ánh tích cực từ các kích thích, nghĩa là chủ thể chủ động "đi tìm cảm giác"

1.1.2.1 Những cảm giác bên ngoài

Những cảm giác bên ngoài phản ánh những đặc tính của các sự vật và hiện tượng của môi trường bên ngoài Những cảm giác bên ngoài xuất hiện khi

có các kích thích đến các cơ quan thụ cảm từ bên ngoài cơ thể

- Cảm giác nhìn (thị giác)

Mắt là bộ phận thụ cảm của cơ quan phân tích thị giác và là một trong những cơ quan cảm giác cơ bản của con người Sự tác động của ánh sáng lên mắt luôn luôn kèm theo một quá trình nhất định, gây nên cảm giác về một màu sắc nhất định, một hình thể nhất định Thị giác không chỉ hoạt động trong lúc chủ thể mở mắt mà ngay cả lúc bờ mi khép kín thị giác cũng được phát huy tác dụng Nhờ các cơ quan tư tưởng hỗ trợ (trong kinh nghiệm) nên ngay khi nhắm mắt, con người cũng có thể "thấy" được những hình ảnh sống động trong hiện thực lúc đó

Nhờ cơ quan phân tích thị giác mà con người có thể phân biệt đến 180 sắc điệu của màu sắc và hơn 10.000 sắc thái giữa các sắc điệu đó

Màu sắc và tâm trạng con người

Trang 40

Màu sắc có ảnh hưởng sâu sắc đến cảm xúc và tinh thần của con người Mỗi màu sắc trong 7 dãy sắc màu của ánh sáng trắng có ảnh hưởng khác nhau lên não bộ và tác động đến sức khoẻ của con người.

Ngay từ xa xưa, người ta đã nghiên cứu màu sắc để áp dụng chữa trị một

số bệnh Và ngay trong y học cổ truyền cũng có các nguyên lí pha trộn toa thuốc chữa bệnh liên quan đến màu sắc

Màu đỏ và cam thể hiện sức mạnh và tham vọng Màu đỏ còn thể hiện sự căng thẳng, tức giận Màu này kích thích thần kinh và sẽ gây nhiều tác động lên

cơ thể: tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng cường hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Dùng màu đỏ, cam trong trang trí nội thất sẽ đem lại cảm giác ấm

áp, hưng phấn, giúp người bị cảm lạnh, trầm cảm lấy lại cân bằng

Màu vàng đặc trưng cho hạnh phúc biểu thị cho trí tuệ, thúc đẩy tư duy, xây dựng lòng tự tin và lạc quan Màu này giúp điều trị các chứng bệnh liên quan đến sự buồn phiền, rối loạn của não bộ Căn phòng màu vàng giúp bệnh nhân giảm được đau đớn, kích thích các tuyến ngoại tiết, đồng thời dễ gây buồn nôn Không nên dùng màu vàng cho các phương tiện giao thông

Màu lục hay màu xanh lá là biểu hiện của thiên nhiên có thể giúp con người cảm thông với nhau và gần gũi với thiên nhiên Màu này tạo cảm giác dễ chịu và thoải mái Các nghiên cứu cho thấy màu xanh lá kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể, tăng cường phòng chống bệnh tật, giúp thư giãn thần kinh, làm dịu mắt, tốt cho người bệnh tim mạch

Màu lam hay màu xanh dương chính là màu của biển cả, làm con người cảm thấy an bình và quên đi sức ép của cuộc sống Màu xanh dương được ứng dụng trong chữa trị chứng mất ngủ và một số rối loạn hành vi của trẻ nhỏ Y học

cổ truyền còn áp dụng màu này để chữa chứng đau nửa đầu, chống trầm cảm

(theo Tạp chí Thời Trang Trẻ)

- Cảm giác nghe (thính giác)

Cảm giác nghe do những sóng âm, những dao động của không khí gây nên Cảm giác nghe phản ánh những thuộc tính của âm thanh, tiếng nói: cao độ

Ngày đăng: 28/03/2017, 04:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Robert S. Feldman, Tâm lí học căn bản, NXB VHTT, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học căn bản
Tác giả: Robert S. Feldman
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2004
4. Đặng Phương Kiệt, Cơ sở Tâm lí học ứng dụng, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Tâm lí học ứng dụng
Tác giả: Đặng Phương Kiệt
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
7. Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hưởng, Các lí thuyết phát triển Tâm lí người, NXB ĐHSP Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lí thuyết phát triển Tâm lí người
Tác giả: Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hưởng
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
8. P.A.Rudich, Tâm lí học. NXB TDTT Hà Nội, 19S6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: P.A. Rudich
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 19S6
10. Nguyễn Quang Uẩn, Tâm lí học đại cương, NXB Giáo dục Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
1. Robert S. Feldman, Những điều trọng yếu trong Tâm lí học, NXB Thống kê, 2003 Khác
3. Hoàng Minh Hùng, Tri tâm thuật, NXB Trẻ TP. HCM, 1994 Khác
5. B.Ph. Lomov, Những vấn đề lí luận và phương pháp luận Tâm lí học, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000 Khác
6. Hoàng Thanh Minh, Bạn biết gì về giác quan và cảm xúc, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 1995 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w