1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học các PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học lâm SÀNG

80 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Phương Pháp Nghiên Cứu Nhân Cách Trong Tâm Lý Học Lâm Sàng
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân cách là một trong những phạm trù rất lớn của Tâm lý học. Có rất nhiều tiếp cận nghiên cứu nhân cách khác nhau và kéo theo đó là cũng có rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trong Tâm lý lâm sàng, nhiều tác giả chia thành 2 nhóm phương pháp chủ yếu: các phương pháp sử dụng câu hỏi, thường được gọi là các test khách quan hoặc phương pháp giấybút (paper and pencil) và các phương pháp phóng chiếu.

Trang 1

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH

Nhân cách là một trong những phạm trù rất lớn của Tâm lý học Có rấtnhiều tiếp cận nghiên cứu nhân cách khác nhau và kéo theo đó là cũng có rấtnhiều các phương pháp nghiên cứu khác nhau Trong Tâm lý lâm sàng, nhiềutác giả chia thành 2 nhóm phương pháp chủ yếu: các phương pháp sử dụngcâu hỏi, thường được gọi là các test khách quan hoặc phương pháp giấy-bút(paper and pencil) và các phương pháp phóng chiếu

1 CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI

1.1 Trắc nghiệm Eysenck

1.1.1 Mô tả phương pháp

Năm 1947, trên cơ sở phân tích kết quả nghiên cứu ở 700 quân nhân bịsuy nhược thần kinh, H J Eysenck - giáo sư tâm lý học người Anh đã xácđịnh được 2 yếu tố chính từ tổng số 39 biến số: tính thần kinh (dễ bị kíchthích) và yếu tố hướng nội - hướng ngoại Cùng với kết quả nghiên cứu củanhiều tác giả khác, Eysenck cho rằng nhân cách được cấu trúc bởi 2 yếu tốchính đó

Yếu tố hướng nội-hướng ngoại (I)

Người hướng ngoại điển hình là người cởi mở, giao tiếp rộng, có nhiềubạn, người quen Họ hành động dưới ảnh hưởng chốc lát, có tính chất xungđộng, vô tâm, lạc quan, thích vận động và hành động Tình cảm và cảm xúccủa họ không được kiểm soát chặt chẽ

Người hướng nội điển hình là người điềm tĩnh, rụt rè, nội quan, hay giữ

kẽ, ít tiếp xúc, giao tiếp với mọi người, trừ những bạn bè thân Họ có khuynhhướng muốn hoạch định kế hoạch hành động Không thích sự kích động, làmcông việc hàng ngày với tinh thần nghiêm túc, thích trật tự, ngăn nắp Kiểmsoát chặt chẽ cảm xúc tình cảm của mình, không dễ dàng buông thả

Tính thần kinh – tính ổn định về cảm xúc (N)

Trang 2

Người có tính thần kinh ổn định cao là người mềm dẻo/hay thay đổi vềcảm xúc, khá nhạy cảm và dễ nổi nóng, dễ ấn tượng.

Như vậy có thể biểu thị cấu trúc nhân cách bằng một hệ trục toạ độ của

2 yếu tố Để đo 2 yếu tố này, Eysenck đã thiết kế Bảng kiểm nhân cách EPI(Eysenck Personality Inventory) Trắc nghiệm gồm có 57 câu hỏi trong đó 24câu về tính hướng nội-hướng ngoại; 24 câu khảo sát tính ổn định của thầnkinh và 9 câu dành để kiểm tra độ tin cậy của các câu trả lời

Eysenck cũng đã cố gắng đi sâu tìm hiểu và lý giải các yếu tố Ông đãnêu ra giả thuyết cho rằng kiểu thần kinh mạnh và yếu của Pavlov rất gần vớikiểu nhân cách hướng ngoại và hướng nội Cùng với giả thuyết đó, Eysenck

đã tìm kiếm mối tương quan giữa các chỉ số sinh lý với các số đo nhân cách

Ví dụ, đối với người hướng nội: mạch nhanh hơn, ngưỡng thính giác thấphơn, hình thành phản xạ có điều kiện nhanh hơn, trí tuệ cao hơn Ngược laị,đối với người nhân cách hướng ngoại: mạch chậm, ngưỡng cảm giác cao; khóthành lập phản xạ có điều kiện và trí tuệ thấp hơn

1.1.2 Cách tiến hành:

Người hướng dẫn trắc nghiệm giao cho người bệnh phiếu trả lời câuhỏi Sau khi người bệnh ghi đầy đủ phần thủ tục hành chính của phiếu, yêucầu họ lần lượt đọc và trả lời từng câu hỏi trong bản in sẵn (xem phụ lục 10),theo quy định như sau:

- Đánh dấu (+) nếu trả lời là "có", đánh dấu (-) nếu trả lời là "không "vào vị trí tương ứng của từng câu hỏi trong phiếu trả lời

- Sử dụng câu trả lời đầu tiên xuất hiện trong đầu

- Cố gắng trả lời trung thực, liên tục, không bỏ quãng

- Gặp câu trả lời không quen thuộc, cố gắng trả lời theo cách nghĩ củamình

- Tốc độ trả lời trung bình 2 - 3 câu trong 1 phút

Trang 3

1.1.3 Xử lý kết quả:

Xử lý phiếu trả lời:

Đối chiếu kết quả trả lời với bảng khoá của trắc nghiệm để tiến hành:

- Kiểm tra độ tin cậy của các câu trả lời (theo cột "S") Số câu trả lờitrùng với "S" không được quá 4 câu Nếu trên 4 câu, phiếu trả lời không cógiá trị

- Tính điểm đối với yếu tố "Hướng nội - Hướng ngoại" theo cột "HN".Những câu trùng hợp (cùng dấu) được tính 1 điểm, những câu không trùnghợp (khác dấu) tính 0 điểm Sau đó tính tổng số điểm của yếu tố

- Tính điểm yếu tố "Ổn định - Không ổn định" theo cột "KOD" Nhữngcâu trả lời (+) tính 1 điểm, trả lời (- ) tính 0 điểm Sau đó tính tổng số điểmcủa yếu tố

1.2.Trắc nghiệm Cattell

1.2.1 Mô tả phương pháp

Trắc nghiệm nhân cách Cattell 16 PF (16-Personality Factor) được soạnthảo năm 1949, nhằm đo 16 yếu tố của nhân cách Theo Cattell, nhân cách được

Trang 4

cấu thành từ 16 chứ không phải 2 yếu tố như theo Eysenck Tất nhiên quan niệmnày của Cattell hoàn toàn không phải là võ đoán mà dựa trên cơ sở phân tích

Hình 5.1 Sơ đồ diễn giải đặc điểm các kiểu nhân cáchcủa Eysenck

Không ổn định

24

Sợ hãi Tích cực

Bi quan Lạc quan Dịu dàng Nóng nảy Kín đáo Hay thay đổi Đăm chiêu Dễ nổi khùng Hay suy nghĩ Dễ xúc động

Dễ phiền muộn Dễ bị kích độngLàm chủ bản thân Dễ mất bình tĩnh

Ưu tư 12 Nóng nảy

0 24

Hướng nội Bình thản Hăng hái Hướng ngoại

Có lương tri, chín chắn Khuynh hướng lãnh đạo

Hiền, có thiện chí Thích nói chuyện

Biết tự chủ Dễ tiếp xúcThụ động Ít lo lắngĐiềm đạm Tự nhiên Bình tĩnh Hào hiệp

Dè dặt Yêu đời

Cả tin Cởi mở

0

Ổn định

Trang 5

yếu tố và kết quả của những phương pháp khách quan khác.

Trắc nghiệm nhân cách Cattell có 2 phiên bản A, B, mỗi phiên bản gồm

187 câu và phiên bản C rút gọn có 105 câu Mỗi yếu tố bao gồm một số câu nhấtđịnh Khách thể có thể lựa chọn 1 trong 3 câu trả lời đã có Câu trả lời đượcchuyển qua điểm thô (0 hoặc 1 hay 2 điểm) Tổng số điểm thô của từng yếu tốđược quy ra điểm chuẩn (theo thang bậc 10 đối với 2 phiên bản chính) tuỳ theotuổi và giới Dựa vào điểm chuẩn đó mà lý giải từng yếu tố (xem phụ bản 11)

Các yếu tố nhân cách của Cattell là những yếu tố nguyên phát/cấp I,được xác định trên cơ sở của nhiều biến số khởi đầu Tuy nhiên từ những yếu

tố này lại cũng có thể khái quát thành các yếu tố thứ phát/cấp II, khái quáthơn Mặc dù số lượng các yếu tố thứ phát của Cattell nhiều hơn của Eysencksong chính Cattell cũng nhận thấy chỉ có 2 yếu tố có độ tin cậy lớn nhất: sự lo

sợ (tính “thần kinh” của Eysenck) và tính hướng ngoại Ví dụ, yếu tố hướngnội/hướng ngoại là yếu tố thứ phát từ 3 yếu tố :A, F, H

1.2.2 Cách tiến hành

Có thể thực hiện trắc nghiệm với từng khách thể hoặc với nhóm khchsthể Các bước trắc nghiệm như sau:

- Người hướng dẫn nêu lý do, mục đích làm trắc nghiệm

- Giao cho khách thể phiếu trả lời câu hỏi và yêu cầu ghi chép các thủtục hành chính (họ và tên, tuổi ) vào phiếu

- Hướng dẫn khách thể cách trả lời câu hỏi theo nội dung sau:

+ Sau khi nghe xong câu hỏi, anh (chị) lựa chọn trong 3 đáp án lấy 1đáp án hợp với mình nhất và đánh dấu (+) vào vị trí tương ứng của phiếu trảlời

+ Sử dụng câu trả lời đầu tiên xuất hiện trong đầu

+ Nên tránh các câu trả lời trung gian

+ Gặp những câu đề cập đến các vấn đề không quen thuộc thì hãy hìnhdung và trả lời theo suy nghĩ của mình

Trang 6

+ Trả lời lần lượt từng câu, không bỏ cách quãng.

+ Tốc độ trả lời: khoảng 2 - 3 câu trong 1 phút

- Nếu điểm chuẩn từ 1 đến 5 thì tìm yếu tố phía " - "; nếu điểm chuẩn

từ 6 đến 10 thì lấy các thuộc tính phía " + "

B ng 5.1 N i dung c a 16 y u t nhân cách theo Cattellảng 5.1 Nội dung của 16 yếu tố nhân cách theo Cattell ội dung của 16 yếu tố nhân cách theo Cattell ủa 16 yếu tố nhân cách theo Cattell ếu tố nhân cách theo Cattell ố nhân cách theo Cattell

1.Yếu tố A

"A –": Hướng nội

Kín đáo, biệt lập, phê phán, lạnh

nhạt, kiên định

"A +": Hướng ngoạiThân mật, hiền lành, vô tư, giao thiệp rộng

4 - Yếu tố E

"E –": Ngoan ngoãn, phục tùng

Dịu dàng, dễ bảo, hay giúp đỡ, nhã

nhặn

"E +": Thích có ưu thế, quyền lực Kiên trì, tự tin, cứng rắn, bướng bỉnh, hay gây sự

Trang 7

"G –": "Siêu tôi" thấp, thiếu phù

hợp với các chuẩn mực đạo đức

chung

"G +": "Siêu tôi" cao, tính cách mạnh

Có lương tâm, tận tuỵ, kiên trì, hay dạy đời, già dặn, cân bằng

Trang 8

14 - Yếu tố Q2

"Q2 –":

Phụ thuộc vào nhóm, hiểu biết xã

hội ít, cầu cứu sự giúp đỡ của

người khác

"Q2+":

Độc lập, tự chủ, nhanh trí, có thể làm người chỉ huy, không cần sự giúp đỡ

15 - Yếu tố Q3

"Q3 –":

Tự kiểm tra yếu, ý kiến riêng kém,

cẩu thả, không chính xác, dựa vào

cảm tính, thiếu trách nhiệm

"Q3+":

Sĩ diện, ý kiến riêng cao, chính xác, có

ý chí, có thể tự điều khiển bản thân, hành động theo kế hoạch định trước, chỉ huy có hiệu quả

16 Yếu tố Q4

"Q4 –":

Mức độ căng thẳng nội tâm thấp,

yếu đuối; chịu đựng, chậm chạp,

điềm tĩnh, không cáu gắt

"Q4+":

Căng thẳng nội tâm cao, chững chạc, sôi nổi, mạnh mẽ, tích cực, dễ cáu giận, không quen mệt mỏi

Trang 9

Hình 5.2 Một ví dụ về thang đánh giá nhân cách Cattell

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

A- _. _. _. _. _. _. _. _. _ A+B- _. _. _. _. _. _. _. _. _ B+C- _. _. _. _. _. _. _. _. _ C+E- _. _. _. _. _. _. _. _. _ E+F- _. _. _. _. _. _. _. _. _ F+G- _. _. _. _. _. _. _. _. _ G+H- _. _. _. _. _. _. _. _. _ H+I- _. _. _. _. _. _. _. _. _ I+L- _. _. _. _. _. _. _. _. _ L+M- _. _. _. _. _. _. _. _. _ M+N- _. _. _. _. _. _. _. _. _ N+O- _. _. _. _. _. _. _. _. _ O+

Q1- _. _. _. _. _. _. _. _. _ Q1+

Q2- _. _. _. _. _. _. _. _. _ Q2+

Q3- _. _. _. _. _. _. _. _. _ Q3+

Q4- _. _. _. _. _. _. _. _. _ Q4+

Trang 10

1.3 MMPI

1.3.1 Xây dựng trắc nghiệm

Thiết kế MMPI được bắt đầu từ năm 1939 tại ĐHTH Minnesota (HoaKì) Lúc bấy giờ S.R Hathaway và J.C Mc Kinley muốn có được một bộcông cụ nhằm hỗ trợ cho quy trình thăm khám tâm thần, giúp việc đánh giámột cách cẩn thận mức độ rối loạn tâm thần Sau đó các tác giả rất quan tâmđến việc đánh giá những thay đổi do trị liệu tâm lý và trong cuộc sống củangười bệnh

Cơ sở chính để xây dựng MMPI là tiêu chuẩn kinh nghiệm thực tiễn(Empirical criterion) và tiêu chuẩn bên ngoài Trắc nghiệm được thiết kế nhưsau:

- Thu thập các phát biểu về nhân cách từ những nguồn khác nhau: Cácthang đo nhân cách, thái độ xã hội đã có; các thông báo lâm sàng; lịch sử các ca;những hướng dẫn khám tâm thần và kinh nghiệm cá nhân Tất cả được khoảng

Sau khi lựa chọn, bổ sung thêm cho phù hợp với các tỉ lệ của dân cưbang Minnesota về tuổi, giới, tình trạng hôn nhân theo điều tra dân số năm

1930 Tổng số nhóm này là 724 người

Trang 11

Nhóm người bệnh đại diện hầu hết các loại bệnh tâm thần đang có tạicác bệnh viện bang Minnesota Số người bệnh này được chia theo các phânnhóm chẩn đoán, mỗi phân nhóm là 50 người bệnh

Không đưa vào nghiên cứu những trường hợp chưa được chẩn đoán rõràng hoặc có từ 2 chẩn đoán trở lên Kết quả cuối cùng gồm có các nhóm:nghi bệnh; hysteria; rối loạn nhân cách; paranoia; suy nhược tâm thần; tâmthần phân liệt và hưng cảm nhẹ

Sau khi đã có kết quả, Hathaway và Mc Kinley tiến hành phân tích sosánh Họ nhặt ra tất cả các câu có sự trả lời khác nhau giữa nhóm bình thường

và nhóm bệnh Ví dụ, câu 40 Tôi thường xuyên cảm thấy đau tim Có 12% số

người bệnh nghi bệnh trả lời là đúng Ở nhóm bình thường chỉ có 4% trả lờiđúng Câu này được chọn và tính điểm cho nghi bệnh

So sánh từng nhóm lâm sàng với nhóm bình thường và giữa các nhómlâm sàng với nhau

Bước tiếp theo là xây dựng các thang Vấn đề là ở chỗ có những câu lại

có sự trả lời khác nhau ngay trong nhóm 724 người bình thường Do vậy khó

có thể khẳng định rằng những câu này có tác dụng sàng lọc/phân biệt ngườibình thường và người bệnh Và để xác lập lại độ hiệu lực của thang, các tácgiả đã buộc phải lựa chọn một nhóm bình thường khác Cuối cùng thang chỉcòn bao gồm những câu đã được “thử’ một cách kĩ lưỡng

Hai thang: thang 5 Mf (Nam tính – Nữ tính) và thang 0 – hướng nội xãhội là 2 thang được bổ sung sau Lúc thiết kế, các tác giả muốn phân/tách biệtđược những người đàn ông đồng tính Tuy nhiên chỉ có một số câu là đạt yêucầu Sau thang được mở sang hướng phân biệt những nét tính cách của ngườiđàn ông với phụ nữ Còn thang 0 (Si) do Drak thiết kế năm 1946 Lúc đầu ôngcũng nhằm phân biệt giữa những nữ sinh viên tham gia tích cực vào các hoạtđộng ngoại khoá cũng như những hoạt động xã hội với những người ít tham

Trang 12

gia Tuy nhiên sau đó các câu hỏi có hiệu quả phân biệt hướng nội trong cả 2giới.

Các tác giả lại phải phát triển thêm để tăng cường và củng cố độ hiệulực của test

Để khắc phục những thái độ khác nhau trong khi làm test và để đảmbảo tính hiệu lực của nó, các tác giả đã lại phải thiết kế thêm 4 thang phụ:Không rõ (?), Chân thật (L), Tin cậy/ít gặp (Infrequence) và Điều chỉnh

(?) – những câu hỏi khó/không trả lời được Nếu những câu này quánhiều thì sẽ làm giảm độ hiệu lực của test

L (Lie) tăng cao thì có thể hoặc là những câu trả lời quá đơn giản, quá

tự nhiên đến mức độ thô sơ/ngây thơ hoặc là có ý đồ tạo ấn tượng tốt

F - dạng câu trả lời có dưới 10% số người bình thường lựa chọn và cónghĩa là câu trả lời thuộc dạng ít gặp

K - biểu thị mức độ của cơ chế phòng vệ tâm lý và có thể nói đây cũng

là thang phức tạp của nhóm thang hiệu lực Việc lựa chọn những câu chothang này cũng khá phức tạp Đầu tiên các tác giả lấy nhóm người bệnh đãđược chẩn đoán xác định là tâm thần nhưng vẫn cho kết quả MMPI “bìnhthường” và nhóm người hoàn toàn bình thường, sau đó so sánh giữa 2 nhómnày và nhặt ra những câu có sự khác biệt Những câu này được tập trung vàothang K và sau gọi là thang “điều chỉnh” Có thể giải thích một cách ngắn gọnnhư sau: nếu như có một số thang có trị số thấp do cơ chế phòng vệ làm testthì “số đo” cơ chế phòng vệ đó cần được bổ sung vào cho các thang này đểđiều chỉnh

Sau khi MMPI được công bố, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã thiết

kế các thang phụ khác

Một hướng khác khai thác và sử dụng MMPI vào các lĩnh vực khác, ví

dụ, phân biệt bệnh cơ thể với các rối loạn tâm thần (Greene, 1988), tiếp đến là

Trang 13

nghiện rượu, đau mạn tính, khảo sát các nhóm nghề nghiệp khác nhau, đánhgiá sự phát triển

Lập các phần mềm (vi tính hoá) cũng là một hướng rất phát triển

Ngoài ra MMPI còn được dịch ra nhiều thứ tiếng và được sử dụng rộngrãi ở nhiều nước trên thế giới

Những phê phán MMPI tập trung vào các điểm: tính lạc hậu ngày càngtăng; tính phức tạp khi xây dựng các thang ban đầu; nhóm mẫu chuẩn khôngphù hợp; có nhiều câu khó và trở ngại về chủng tộc (Butcher & Pope, 1989)

Các phê phán đó dẫn đến chuẩn hoá lại test Công việc này bắt đầu vàonăm 1982 Mặc dù cần phải có những thay đổi lớn song hội đồng tái chuẩnhoá vẫn giữ lại những nét cơ bản của MMPI Tái chuẩn hoá đã thực hiện:

Sửa đổi những điểm đã lạc hậu

Giữ các thang hiệu lực và thang lâm sàng ban đầu

Mở rộng mẫu chuẩn đại diện

Các chuẩn phản ánh một cách toàn diện hơn những khía cạnh khácnhau của lâm sàng và có thể thể hiện được theo thang điểm bách phân

Thu thập thêm các cứ liệu lâm sàng để giúp cho việc đánh giá lâmsàng

Phát triển các thang mới

1.3.2 Mô tả phương pháp

Toàn bộ MMPI gồm 566 câu, trong đó có 16 câu nhắc lại Đây là nhữngcâu khẳng định, nhằm đánh giá về sức khỏe thể chất, quan hệ xã hội và cáckhía cạnh khác nhau của nhân cách Người bệnh lựa chọn 1 trong 3 câu trả lời

đã cho sẵn: đồng ý, không đồng ý hoặc không rõ Kết quả các câu trả lời đượcquy ra điểm Điểm thô ban đầu sau đó được chuyển thành điểm chuẩn T(điểm chuẩn T trung bình là 50, với độ lệch chuẩn là 10) Như vậy điểmtrong giới hạn hình thường sẽ là 40 - 60 Từ 30 - 40 và 60 - 70 là trạng tháiranh giới Điểm T trên 70 hoặc dưới 30 được xem là có biểu hiện bệnh lý

Trang 14

Toàn bộ kết quả của trắc nghiệm được biểu thị trên thiết đồ nhân cách(profile) gồm 10 thang lâm sàng và 3 thang hiệu lực (không kể thang ?) Cácthang lâm sàng được kí hiệu theo số và chữ cái.

Mười thang lâm sàng là:

1 Hs - Nghi bệnh (Hypochondriasis)

2 D - Trầm cảm (Depression)

3 Hy - Rối loạn phân ly (Hysteria)

4 Pd - Biến đổi nhân cách (Personality deviation)

5 Mf - Bệnh lý giới tính (Masculinity - femininity)

6 Pa - Paranoia

7 Pt - Suy nhược tâm thần (Psychasthenia)

8 Sc - Tâm thần phân liệt (Schizophrenia)

9 Ma - Hưng cảm (Hypomania)

0 Si - Hướng nội xã hội (Social introversion)

Ba thang hiệu lực là:

L - Sự chân thật: kiểm tra xem các câu trả lời có chân thật không

F - Sự tin cậy: kiểm tra độ tin cậy, sự chu đáo, cẩn thận của các câu trảlời

K- Sự điều chỉnh: đánh giá sự định hướng giá trị, thái độ

Kết quả trắc nghiệm được xem xét cùng với những đặc trưng về giớitính, học vấn, bệnh cảnh lâm sàng v.v của người bệnh Có thể sử dụngMMPI cho những người từ độ tuổi 16 với trình độ học vấn từ lớp 8 trở lên.Trong thực tế, theo Groth-Marnat (1990), test có hiệu quả đối với cả nhữngngười dưới 13, 14 tuổi

Trang 15

1.3.3 Độ tin cậy và độ hiệu lực

Các nghiên cứu về độ tin cậy cho thấy MMPI chỉ có độ tin cậy mức độvừa Ví dụ, nghiên cứu phân tích tổng hợp (meta-analysis) của Hunsley,Hanson và Parker (1988) đã đưa ra kết luận rằng các thang MMPI đều có độtin cậy nhất định, dao động từ 0,71 (Ma) đến 0,84 (Thang Pt) Tuy nhiên cũng

có những nghiên cứu khác cho thấy ở một số thang có sự thất thường Thêmvào đó, độ tin cậy tái trắc nghiệm (retest) là khá thấp

Điều gây tranh cãi nhiều nhất chính là nội tương quan: tương quan giữacác thang Hơn thế nữa có một số thang gối lên nhau Tuy nhiên hầu hết cáctác giả đều thừa nhận độ hiệu lực bên ngoài cao, mặc dù điều này đúng vớilâm sàng nhiều hơn Cùng với tên của các thang nặng về lâm sàng, độ hiệulực bên ngoài cao như vậy dễ làm cho người ta nhầm lẫn với tiêu chuẩn chẩnđoán lâm sàng

1.3.4 Cách tiến hành

- Đưa khách thể đọc lần lượt từng câu hỏi (có thể mỗi câu trình bàytrong một phiếu riêng biệt) và yêu cầu họ lựa chọn 1 trong 3 đáp án trả lời:đúng (đồng ý); không đúng (không đồng ý) hoặc không rõ Không khuyếnkhích khách thể trả lời câu "không rõ"

- Gặp những câu không quen, yêu cầu khách thể nếu trong hoàn cảnh

đó họ sẽ lựa chọn như thế nào

- Do lượng câu hỏi nhiều nên sau khoảng 60 phút có thể giải lao 10 - 15phút

Xử lý kết quả

- Sau khi khách thể làm xong, tính điểm thô cho từng thang đánh giá

- Bổ sung điểm từ thang K cho các thang theo chỉ dẫn trên thiết đồ

- Nối các thang phụ và thang lâm sàng thành 2 đường gấp khúc

- Nếu điểm T ở trong giới hạn 50  10 được coi là bình thường Nếu T

> 70 hoặc T < 30 thì được xem là có dấu hiệu bệnh lý

Trang 16

1.3.5 Phân tích các thang

Thang (?)

Thực chất đây không phải là thang được thiết kế mà nó chỉ biểu thị sốlượng câu không trả lời của khách thể Giá trị của thang (?) là ở chỗ nó là mộttrong những điều kiện cần để phân tích kết quả Nếu thang này  30 thì kếtquả không đủ điều kiện để phân tích Để giảm thiểu điểm của thang này, cầnđộng viên khách thể trả lời hết các câu hỏi

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng thang (?) tăng cao có thể do nhữngnguyên nhân khác nhau Đó có thể là do đọc kém, đọc chậm nên khách thể bỏqua một số câu khó đọc, do lưỡng lự tìm câu trả lời hoặc do phòng vệ quámức Cũng có thể là do trầm cảm nặng, trạng thái ám ảnh cưỡng bức hoặc tìmcách lý giải một cách cầu kì câu hỏi Phòng vệ quá mức có thể là do có nhữngvấn đề dính đến pháp luật hoặc do trạng thái paranoid

Thang L

Thang L được xây dựng từ 15 câu hỏi Điểm thang này tăng có thể dokhách thể muốn mô tả bản thân một cách hoàn thiện Ví dụ, trả lời không với

câu Đôi khi tôi cũng nổi nóng Tuy nhiên khi phân tích cũng cần lưu ý đến

nhân thân của khách thể Những người tinh tế về tâm lý, có trí tuệ, học vấn, ởtầng lớp trên (về kinh tế-xã hội) thì thường có điểm L thấp (điểm thô khoảng

từ 0 đến 1)

L cao cũng còn có thể là khách thể muốn thể hiện bản thân một cáchhoàn hảo, song lại kém linh hoạt, không ý thức được ấn tượng họ gây ra chongười khác Họ tiếp nhận thế giới một cách cứng nhắc, tự kỉ trung tâm

L quá cao thể hiện sự quá cứng nhắc, có những khó khăn trong quan

hệ L quá cao còn có thể là do hoang tưởng hoặc do ý đồ nói dối của các nhâncách chống đối xã hội

L thấp nói lên một con người cởi mở, sẵn sàng hợp tác, nói năng rànhmạch Họ cũng có thể là người hay châm biếm, theo chủ nghĩa hoài nghi

Trang 17

Thang F (Infrequency)

Nội dung chính của thang này đề cập đến cách trả lời khác thường củakhách thể Thang không gắn với một phẩm chất nhân cách hoặc một hộichứng nào F cao thường đi đôi với sự tăng cao ở một số thang lâm sàng.Điểm F tăng cao cũng có thể là một chỉ số chung về bệnh lý hoặc phản ánhtình cảm khác thường đối với một sự kiện lớn nào đó của cuộc sống, ví dụ,thất nghiệp, li dị, mất mát người thân…

Điểm F tăng cao cũng còn có thể là sự giả bệnh và điều này có thể làm

cơ sở loại bỏ biên bản mà không cần phải phân tích, lý giải sâu

Điều đáng tiếc là không có điểm chuẩn nào để phân định đâu là biênbản có hiệu lực (tin cậy) và đâu là không Ngay cả điểm T ở khoảng 50 - 70,kết quả cũng không hẳn đã là không đáng tin cậy Những khía cạnh tiếp theocần xem xét ở hiệu số F - K

F cao  100 - thiết đồ nhân cách không hiệu lực Đó có thể là do sự trảlời đại khái, qua loa hoặc do bệnh lý, đặc biệt là do hoang tưởng Tuy nhiênngay cả khi bệnh nặng, nếu khách thể trả lời cẩn thận thì cũng ít khi F  100.Nếu F < 100 có thể có ảo giác, hoang tưởng, thu mình hoặc thích ứng kém

F đạt 80 – 90 – có thể có ý nghĩ kì dị, khác thường, dạng chống đối xãhội

F 70 – 90 còn có thể là sự kêu gọi trợ giúp

65 – 75 nếu không có nghi ngờ bệnh lý thì đó có thể là do tính cầu kì,tinh tế, phức tạp hoá, không ổn định hoặc cảm tính

F thấp Khách thể tiếp nhận thế giới như những người khác Tuy nhiênnếu trong bệnh sử có đặt vấn đề theo dõi bệnh lý thì đây là sự chối từ nhữngkhó khăn, giả bộ tốt (“faking good”) Lưu ý thêm F – K

Thang K

Trang 18

Thang K được thiết kế để nhằm xác định mức độ quá tốt mà khách thể

sử dụng để mô tả bản thân K rất gần với L Tuy nhiên K khác ở chỗ nó tinh

vi và hiệu quả hơn

Những người chất phác, không quá tinh tế có thể có L cao Trong khi

đó, những người có trí tuệ, tinh tế về tâm lý có thể tăng cao thang K (điểm T

55 – 70) mà không có sự tăng cao thang L

K ở mức độ vừa: cái tôi mạnh, cơ chế phòng vệ, cảm xúc tốt, thích ứngvới hiện tại

Thang K có quan hệ mật thiết với các thang 8,7 và 0

Chỉ số F – K (Chỉ số giả bệnh)

Sự chênh lệch giữa F và K được xem như là chỉ số về mức độ giảmhiệu lực của thiết đồ nhân cách Chỉ số này được xác định bởi hiệu số điểmthô của 2 thang F và K

F – K  +11 ở mức độ này đã xuất hiện nguy cơ thiết đồ nhân cách mấthiệu lực do giả bệnh Điều này có thể là do giả hoặc do kêu gọi sự giúp đỡ.Tuy nhiên cũng cần thận trọng bởi không phải trường hợp nào F – K lớn cũngđồng nghĩa với kết quả không tin cậy

F – K cao còn có thể gặp ở người bệnh loạn thần nặng

F – K  -11 Khách thể che giấu, giảm thiểu các khó khăn và cố gắngtạo một hình ảnh tốt về bản thân Vì vậy khi phân tích các thang lâm sàng cầnchú ý đến điều này

F – K  - 20 cơ chế phòng vệ rất cao, họ có thể từ chối hợp tác

Thang 1- Nghi bệnh - (Hs)

Lúc đầu, thang Hs được thiết kế để nhằm phân biệt giữa nghi bệnh vớicác thể bệnh tâm thần khác Tuy nhiên kết quả ứng dụng thực tiễn cho thấy nócòn thể hiện các đặc điểm nhân cách tương đối bền vững, đi cùng song khôngphải là nhất thiết, với nghi bệnh Điểm Hs tăng cao không chỉ lưu ý đến rốinhiễu mà còn có thể là tự kỉ trung tâm, hoài nghi, hay kêu ca, kích động thụ

Trang 19

động Phàn nàn của họ thường liên quan đến rất nhiều các triệu chứng cơ thểkhác nhau Mục đích chính của những phàn nàn này là nhằm thăm dò thái độcũng như thu hút sự chú ý của người khác Những phàn nàn của họ mang tínhchất lan toả, không cố định, hay chuyển chỗ Họ cũng thường là những ngườiquá nhiều lần đi khám bác sĩ và cũng đi khám rất nhiều nơi Tuy nhiên họ

không chấp nhận rằng những triệu chứng của họ chỉ là bệnh tưởng

Thang 1 có thể tăng cao cùng với thang 2, 3 và 7 Đây có thể là sự thểhiện của trầm cảm, lo âu

Những người có điểm Hs ở mức độ trung bình có thể có những dấuhiệu cơ thể thực sự Tuy nhiên nếu điểm tương đối cao thì có thể là dấu hiệutăng bệnh Nếu thang 7 cũng tăng thì đây có thể là chỉ định tốt cho liệu pháptâm lý bởi mức độ lo âu cao sẽ là động cơ thúc đẩy thay đổi

Thang 1 thấp Trước hết cho thấy là không có phàn nàn về cơ thể Cũng

có thể đây là người không quan tâm nhiều tới sức khoẻ Nhìn chung họ có thể

là người có năng lực, thông minh

Thang 2 – Trầm cảm – D

Thang 2 gồm 60 câu về những dấu hiệu có thể có ở trầm cảm: rầu rĩ,suy tư, chậm chạp về cơ thể, cảm giác chủ quan về trầm cảm, suy nhược tâmthần, suy nhược cơ thể

Khi phân tích thang D cần lưu ý đến tuổi của khách thể: thanh, thiếuniên thường có điểm thấp hơn so vớí người lớn khoảng 5 –10 điểm; người giàcòn cao hơn khoảng 5 – 10 điểm nữa Điều này là do con người có nhữngphàn nàn khác nhau, không chỉ là những phàn nàn mang màu sắc trầm cảm

mà cả những phàn nàn về cơ thể, về tính kích thích, những khó khăn trongquan hệ liên nhân cách, những vấn đề liên quan đến lao động, nghề nghiệp,những mong muốn nói chung không được thoả mãn

Nếu thang 7 cũng tăng thì đó có thể là tự lên án, tự trừng phạt của trầmcảm kèm theo kích thích và căng thẳng

Trang 20

Trong một số trường hợp, thang 2 và thang 7 tăng vừa thì có thể đápứng được liệu pháp tâm lý bởi họ có động lực thay đổi Thang 2 và thang 7còn được gọi là các thang distress bởi chúng là chỉ số của những lo âu, đaukhổ, bất toại

Nếu thang 2 tăng cùng với thang 8 thì đó có thể là những dấu hiệu củatrầm cảm kèm theo tư duy dị thường, cách li xã hội

Thang 2 tăng cao có nghĩa là tăng nguy cơ tự sát, đặc biệt nếu kèm theotăng cao các thang 4, 7, 8 và/hoặc 9 Tuy vậy cũng cần thận trọng khi phân

tích bởi chưa có một “thiết đồ tự sát” Mọi giả thiết về hành vi tự sát cần phải

được đặc biệt lưu ý, phải được thăm khám kĩ và kịp thời có các biện phápngăn ngừa

Đỉnh ở thang 2, đặc biệt khi nó nó là duy nhất thì đó có thể là trầm cảmphản ứng Khách thể có thể đang đối đầu với những khó khăn của mìnhnhưng với tinh thần bi quan, vô vọng và cô đơn, không người giúp đỡ Điềunày cũng có thể trở thành đặc điểm nhân cách và nó có thể là một nét tăngbệnh khi khách thể phải đối đầu với những vấn đề hiện tại

Thang 2 thấp không chỉ là dấu hiệu không có trầm cảm mà còn có thể

là của một người vui vẻ, lạc quan, thông thái, lắm sáng kiến và hướng ngoại

Họ cũng có thể là người ích kỉ, tự đánh giá cao bản thân

Thang 3 Rối loạn phân ly– Hy

Về cơ bản, thang 3 được thiết kế để nhằm xác định những người có rốiloạn tâm căn trên nền rối loạn vận động hoặc giác quan Tất cả có 60 câu baogồm những phàn nàn về cơ thể, rất đặc trưng như: rối loạn giấc ngủ, buồnnôn, nôn, đau đầu, đau ngực, đau tim…

Một đặc điểm quan trọng đối với những người có điểm Hy cao là mộtmặt, họ có những phàn nàn về cơ thể, nhưng mặt khác họ cũng từ chối sự trợgiúp với một kiểu cách tăng đậm của tính lạc quan Theo một số tác giả(Groth-Marnat, 1990), cách thức đối phó với lo âu của những người này chính

Trang 21

là họ chuyển những khó khăn của mình lên cơ thể Do vậy những phàn nàn về

cơ thể cũng có thể là sự thể hiện gián tiếp xung đột Những đặc điểm này cóthể khá bền vững và trở thành nét nhân cách đối với nhà người có kiểu nhâncách biểu diễn (nét tính cách hysteria) Họ có thể rất dễ dàng khởi đầu cácmối quan hệ song không sâu sắc và khá hời hợt Họ thường hay thể hiện tínhduy kỉ trung tâm

Khi phân tích cũng cần lưu ý một số điểm như: nữ thường cao điểmhơn nam; người có học vấn cao thuộc tầng lớp trên của xã hội cũng thường cóđiểm cao hơn

Thang 3 ở mức độ trung bình, nếu khách thể thuộc tầng lớp trên thì cóthể có mức độ thích ứng tốt Thang 3 thấp: có thể gặp ở những cá nhân suynghĩ hạn hẹp, cách li xã hội

Thang 4 – Rối loạn nhân cách – Pd

Mục đích chính của thang là đánh giá mức độ thích ứng xã hội Các câuhỏi liên quan đến những vấn đề sự gắn kết gia đình, những khó khăn trong cácmối quan hệ với nhà trường, với các nhà chức trách và gắn kết cá nhân với xãhội

Thang 4 tăng cao có thể là chỉ báo rằng khách thể có những vấn đề rắcrối về xã hội, pháp luật, về hôn nhân hoặc trong công việc Khách thể thườngkhông rút ra được bài học từ những sai lầm của mình Họ cũng là người kémchịu đựng đối với những điều buồn, đau khổ

Nếu thang 4 tăng quá cao, khách thể có thể là người có những hành vikích động, tấn công người khác Họ là những người kém ổn định, thiếu tráchnhiệm, vị kỉ Họ cũng còn có thế là người có nhiều thời gian dính đến phápluật do những hành vi chống đối xã hội của họ

Thang 4 tăng vừa: khách thể có thể được xem như là người thích phiêulưu, săn tìm lạc thú, giao lưu rộng, hay mơ tưởng

Trang 22

Thang 4 thấp dưới 45: khách thể là người quá nghiêm khắc với bảnthân Họ cũng là người có thể vui vẻ, lịch sự, kiên định và khiêm tốn nhưnghơi thụ động.

Ở lứa tuổi thanh thiếu niên, thang 4 thường tăng cao hơn khoảng 4điểm Điều này là do ý định muốn tự khẳng định bản thân

Thang 5 Nam tính – Nữ tính (Mf)

Lúc ban đầu, thang được thiết kế để nhằm phân lập những người tìnhdục đồng giới và rối loạn xác định giới Tuy nhiên kết quả không đã đi theohướng thiết kế mà lại đi theo hướng làm sáng tỏ những hứng thú về vai tròcủa nam giới và nữ giới

Thang 5 không phải là thang lâm sàng theo nghĩa hẹp và nó cũngkhông cung cấp các thông tin về lâm sàng Tuy nhiên nó lại đóng vai trò hỗtrợ cho việc phân tích các thang lâm sàng Ví dụ, thang 4 tăng cao có thể làchỉ báo rằng khách thể là người có những hành động cảm tính, bột phát,không kiểm soát được bản thân khi có stress Nếu đó là nam giới, khách thể

có thể thể hiện những bất mãn của mình bằng hành động Ngược lại, thang 4tăng cùng với thang 5 thì đó có thể là hướng nội nhiều hơn, nhạy cảm hơn và

họ có thể chuyển thái độ chống đối sang cải tạo xã hội

Ở nam giới, không được chẩn đoán là tình dục đồng giới khi có thang 4tăng cao Tuy nhiên cũng cần lưu ý đến học vấn và tầng lớp kinh tế - xã hộicủa khách thể Nam có học vấn thường điểm cao và nữ có học vấn thườngđiểm thấp Những phụ nữ có điểm cao thường là người thực hiện những vaitrò truyền thống dành cho nam giới trong các lĩnh vực nghề nghiệp như cơkhí, khoa học Họ được mô tả là người có tư tưởng cạnh tranh, quyết đoán và

ưa phiêu lưu Phụ nữ có học vấn thấp, điểm thang 5 thấp được xem như làngười tuân theo những vai trò truyền thống dành cho nữ giới Họ thường làngười thụ động, phục tùng, khiêm tốn Cùng với mức điểm như vậy nhưng

Trang 23

nếu là phụ nữ có học vấn thì họ có thể là những người có trí tuệ, mạnh mẽ, cónăng lực.

Ở nam giới, có những thiết đồ tăng cả thang 4 và 5 Một thiết đồ nhưvậy không chỉ là sự thể hiện của những nét tính cách độc đáo, dị thường màcòn có cả tính thích khoa trương về những cái khác thường đó Ngược lại, nếuthang 4 thấp và thang 5 cao (đối với nam) thì đó có thể là người ưa mọichuyện phải rõ ràng, rành mạch, thậm chí đến cứng nhắc và thích thể hiệnnam tính Nếu thang 4 và thang 5 tăng cao ở phụ nữ, họ có thể là nhữngngười nổi loạn chống lại những kiểu nữ tính truyền thống Nếu thang 4 tăngcao đáng kể, sự nổi loạn như vậy gần với bệnh lý

Thang 6 - Paranoia (Pa)

Thang 6 được thiết kế để nhằm phân lập được người có nét tính cáchparanoia với người có trạng thái paranoid Những dấu hiệu mà thang hướngtới đo là: mức độ nhạy cảm liên nhân cách, tự cho mình là đúng và nghi ngờ.Rất nhiều câu tập trung vào các lĩnh vực như ý tưởng hoang tưởng, nghi ngờlan toả, cảm giác bị hành hạ, quấy rầy, sự cứng nhắc trong các mối quan hệ xãhội, trước hết là các quan hệ liên nhân cách

Tăng nhẹ thang 6: người có tình cảm, trái tim mềm yếu, nhạy cảmtrong các mối quan hệ Nếu tăng cao:các nét tính cách có thể trở thành bệnhlý: có thể có hoang tưởng hoặc rối loạn tư duy Ngược lại, thang 6 thấp: đó cóthể là con người tự cân bằng Tuy nhiên cũng có sự khác biệt về giới Nam thìđược mô tả là người nhiệt tình, kỉ tâm (cá nhân mình là trung tâm), dứt khoát,phạm vi hứng thú hẹp Nữ thường được mô tả là người chín chắn, tính toánhợp lý

Điểm quá thấp: cũng có thể là paranoid nhưng khách thể giấu bệnh.Thang 6 và thang 8 tăng cao có thể nghĩ đến tâm thần phân liệt thểparanoid

Thang 7 – Suy nhược tâm thần (Pt)

Trang 24

Thang 7 gồm 48 câu được thiết kế để đo hội chứng suy nhược tâm thần.Mặc dù hiện nay thuật ngữ suy nhược tâm thần không còn chính thức được sửdụng song khi thiết kế, khái niệm này có trong hệ thống thuật ngữ chẩn đoán.Mặt khác, do MMPI không phải là bảng chẩn đoán bệnh nên trong một chừngmực nào đó, đây thuần tuý là tên gọi, còn nội dung của nó được lý giải khiphân tích

Hội chứng suy nhược tâm thần bao gồm trạng thái cưỡng bức, ám ảnh,

sợ vô cớ Có thể nói hội chứng này khá gần với rối loạn ám ảnh cưỡng bức.Tuy nhiên cũng có những điểm khác biệt cơ bản Thang 7 nhằm đo những sự

sợ hãi, lo âu đang diễn ra ở khách thể Ngược lại, người có rối loạn ám ảnhcưỡng bức đang tiềm tàng thì có thể đạt điểm thấp Tuy nhiên khi thang 7tăng cao thì cũng có nghĩa là tăng nguy cơ rối loạn ám ảnh cưỡng bức và cácrối loạn liên quan đến lo âu

Thang 7 cũng nhằm đo lo âu Do vậy, nếu tăng cao cao ở thang 2 thì

đó có thể là chỉ báo về rối loạn stress (distress): sự căng thẳng, khó tập trung,

lo lắng cưỡng bức Ở khía cạnh y học, họ phản ứng quá mức với cả nhữngbiến chứng/tác dụng phụ nhỏ nhất của thuốc Họ thường là những người cứngnhắc, dễ kích động, hay sợ hãi và lo âu Những phàn nàn của họ tập trung chủyếu vào hệ tim mạch, tiêu hoá và sinh dục-tiết niệu

Nếu cả 2 thang 7 và 2 đều tăng thì họ có thể đáp ứng tốt với liệu pháptâm lý Việc trị liệu có thể kéo dài song bù lại, những tiến bộ của họ, dù nhỏ,cũng khá chắc Nếu điểm của họ quá cao, có thể cần dùng thêm thuốc giải lo

âu và những biện pháp thư giãn

Cũng cần phải lưu ý đến sự liên quan giữa thang 7 và thang 8 Nếuthang 7 tăng cao hơn thang 8 thì đó sẽ là chỉ báo rằng khách thể vẫn còn trongtrạng thái lo âu và vẫn đang giằng xé bởi quá trình loạn thần Tuy nhiên nếuthang 7 tương đối thấp so với thang 8 thì điều đó có thể là khách thể từ bỏcuộc đấu tranh với các rối loạn và quá trình đã trở thành mạn tính

Trang 25

Thang 8 – tâm thần phân liệt – Sc

Thang 8 được thiết kế để phân lập người đang trong trạng thái tâm thầnphân liệt hoặc dạng tâm thần phân liệt Tuy nhiên cũng cần lưu ý một lần nữarằng đây không phải là tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt và các câutrong thang này đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau Có những câu đề cậpđến các mối liên hệ, quan hệ xã hội, quan hệ trong gia đình, quá trình tư duy

dị thường, tri giác hoang tưởng, khó tập trung, lo sợ lan toả, không có khảnăng đối phó, kiểm soát được xung động

Nhìn chung nếu thang 8 tăng cao thì có thể là sự chỉ báo rằng khách thểcảm thấy ít gắn bó, thân thiện, cách li xã hội và những hiểu biết lệch lạc Họ

có thể có những huyễn tưởng về cuộc sống và khi phải đối mặt với stress thì

họ có thể thu rút tương lai vào huyễn tưởng Một số khác trở nên tự kỉ, ý nghĩcủa họ đến lộn xộn và họ không có khả năng xắp xếp lại chúng, các kĩ năng

xã hội trở nên nghèo nàn

Lứa tuổi cũng đóng vai trò nhất định Thanh thiếu niên thường có điểmcao hơn

Thang 8 thấp có thể là chỉ báo rằng khách thể là người niềm nở, thânthiện, chân thành và dễ thích ứng Tuy vậy họ cũng có thể dễ bị bắt nạt, dễphục tùng, chậm hiểu (theo kiểu nghèo tưởng tượng), né tránh, không sâu sắctrong các mối quan hệ

Thang 9 - Hưng cảm nhẹ – Ma

Thang 9 gồm 46 câu nhằm phân lập những người có các triệu chứnghưng cảm nhẹ Những triệu chứng này bao gồm khoái cảm bệnh lý mang tínhchu kì, tăng tính kích thích, tăng các hoạt động không hiệu quả Do vậy cáccâu tập trung vào những chủ đề như mức độ sử dụng/tiêu hao năng lượng,tính kích thích, tự kỉ trung tâm…

Tuy nhiên cũng có điểm cần lưu ý là hưng cảm nhẹ thường xuất hiệntheo chu kì Người đang trong trạng thái cấp có thể không làm được test

Trang 26

Điểm thấp có thể là đang ở pha trầm cảm, cũng có thể là hương cảm nhẹ đangtiềm ẩn hoặc trong quá khứ.

Nhìn chung điểm thang 9 tăng rất cao có thể là chỉ báo về một phahưng cảm vừa Khách thể khó tập trung chú ý, tăng động, tư duy dồn dậpnhưng kém hiệu quả, kém kiểm soát bản thân

Thang 9 thấp: có thể là chỉ báo mức độ thấp của năng lượng, hoạt động

Họ cũng có thể được mô tả là người hay phụ thuộc, hay phản ứng, hoặc cũng

có thể là người thu mình, ít giao tiếp Nếu điểm thang 9 quá thấp thì đó có thể

là trầm cảm mức độ nặng thậm chí thang 2 vẫn bình thường

Thang 0 - Hướng nội xã hội - Si

Thang được phát triển từ những câu trả lời của sinh viên về những vấn

đề có liên quan đến tính hướng nội – hướng ngoại Điểm cao chỉ báo kháchthể là người hay rụt rè, e ngại, ít các kĩ năng xã hội Họ thường cảm thấy mất

tự nhiên khi xung quanh là những người khác giới Họ thích ở một mình hoặc

là với nhóm nhỏ bạn bè thân hơn là nhóm đông người

Cũng giống với thang 5, thang 0 nhằm tô đậm, bổ sung các thang lâmsàng khác Do vậy khi phân tích MMPI trước hết cần chú ý đến thang 5 vàthang 0

Thang 0 tăng sẽ là những thông tin bổ sung cho các thang khác theohướng mức độ thoải mái của khách thể trong tương tác liên nhân cách, mức

độ hội nhập và kĩ năng xã hội của họ

Thang 0 giảm cũng làm giảm mức độ bệnh lý Thậm chí ngay cả khi họ

có những vấn đề bệnh lý song mức độ thích ứng xã hội của họ đã làm giảmnhẹ các vấn đề và khả năng tiếp nhận của những người xung quanh cũng kháhơn

Trang 27

    5

   0

15

    10

   

5    

 20

 15

 10

 5

 0

 35

 30

 25

 20

 15

 10

 5

 0

 35

 30

 25

 20

 15

 10

 40

 35

 30

 20

 15

 10

 45

 40

 35

 30

 25

 20

 15

 10

 40

 35

 30

 25

 20

 15

 10

 20

 15

 10

 5

 0

 45

 40

 35

 30

 25

 20

 15

 10

 55

 50

 45

 40

 35

 30

 25

 20

 10

 30

 25

 20

 15

 10

 5

 50

 40

 30

 20

 10

 5

30 29 28 27 26 25 24 23 22 21 20 19 18 17 16 15 14 13 12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0

15 15 14 14 13 13 12 12 11 11 10 10 9 9 8 8 7 7 6 6 5 5 4 4 3 3 2 2 1 1 0

12 12 11 11 10 10 10 9 9 8 8 8 7 7 6 6 6 5 5 4 4 4 3 3 2 2 2 2 1 1 0

6 6 6 5 5 5 5 4 4 4 4 4 3 3 3 3 3 2 2 2 2 2 1 1 1 1 1 0 0 0 0

Trang 28

Nếu thang 0 tăng và các thang 2, 8 cũng tăng thì đó có thể là chỉ báorằng khách thể thường cảm thấy cô đơn, thu mình xã hội,tự phê phán, chỉtrích và có những cách tư duy lạ thường

Ngoài 10 thang lâm sàng chính, MMPI còn có một số thang lâm sàngphụ khác Tuy nhiên những thang này ít được sử dụng nên chúng tôi khôngtrình bày ở đây

1.3.6 MMPI-2

B ng 5.2 Nh ng thang c b n c a MMPIảng 5.1 Nội dung của 16 yếu tố nhân cách theo Cattell ững thang cơ bản của MMPI ơ bản của MMPI ảng 5.1 Nội dung của 16 yếu tố nhân cách theo Cattell ủa 16 yếu tố nhân cách theo Cattell

MMPI

Số lượng câuMMPI 2

MMPI-2 đã được hoàn thiện năm 1989 (Butcher, Dahlstrom, Graham,Tellegen, & Kaemmer, 1989) và có nhiều điểm khác so với MMPI: bên cạnhđiểm T, các thang có thể được tính theo điểm bách phân, bổ sung thêm 15thang phụ…

1.4 NEO-PI-R

Hiện nay ở nhiều nước, Thang NEO-PI-R là thang đo nhân cách đangđược ưa chuộng trong thực hành tâm lý, tâm lý lâm sàng nói riêng Công việc

Trang 29

thiết kế thang đo được Costa và McCrae bắt đầu từ những năm 1970 Lúcđầu thang được xây dựng để đo 3 trong 5 yếu tố: Tính thần kinh, Tính hướngngoại và Tính mở (Neuroticism, Extraversion, Openness - NEO) Năm 1992,các tác giả đã chỉnh sửa lại để đo cả 5 đặc tính theo mô hình cấu trúc nhâncách 5 yếu tố (Five Factor Model - FFM hay còn gọi là Big Five) Mô hình 5yếu tố được xây dựng trên 2 cơ sở:

- Truyền thống phân tích nghĩa từ/từ vựng (lexical)

- Truyền thống phân tích yếu tố

Thang NEO-PI-R đo 5đặc tính / yếu tố (domain) chính, mỗi đặc tính có

6 mặt (facet); để đo mỗi mặt như vậy có 8 câu Như vậy toàn bộ thang gồm

240 câu Dưới đây là 5 đặc tính và các mặt của từng đặc tính đó:

- Tính ổn định thần kinh: Lo âu, Thù địch, Trầm cảm, Tự ý thức, Xung

Trong nước cũng đã có một số nghiên cứu sử dụng thang NEO-PI-R.Tuy nhiên cách xử lí kết quả chưa được công bố rộng nên chúng tôi chưa thểđưa nó vào giáo trình này

Trang 30

Tuy nhiên nói đến kĩ thuật phóng chiếu, các nhà tâm lý học đều thừa

nhận chính H Rorschach là người có công đầu Năm 1921, quyển Chẩn đoán

tâm lý của Rorschach đã được xuất bản Trong chuyên khảo này, ông đã mô tả

việc sử dụng các vết mực như là phương tiện chẩn đoán phân biệt trong lâmsàng tâm thần Vào cuối những năm 1920, D Levy đã đem trắc nghiệm cácvết mực sang Mĩ và sau đó không lâu, Beck, Klopfer, Hertz bắt đầu giảng vềRorschach

Năm 1935, Morgan và Murray xây dựng xong trắc nghiệm tổng giáctheo chủ đề – TAT Năm 1938 Murray đã mô tả khá tỉ mỉ quá trình phóngchiếu

Tiếp sau đó các trắc nghiệm phóng chiếu được phát triển khá mạnh.Mặc dù trong các lĩnh vực tâm lý học ứng dụng khác, các trắc nghiệm phóngchiếu bị phê phán nhiều vì tính hiệu lực không ổn định thì trong lâm sàng,những phương pháp này lại được sử dụng khá rộng rãi

Thuật ngữ projection (phóng chiếu) đã được S Freud đưa ra từ năm 1894,

song mãi đến 1939, thuật ngữ này mới được sử dụng nhiều sau khi có bài báo

Trang 31

của L.K Frank bàn về các phương pháp, trong đó có cả những phương pháp

mà lúc ban đầu được xây dựng không phải là dựa trên lý thuyết phân tâm Cho đến nay có 4 cách lý giải khác nhau về phóng chiếu:

 Theo quan niệm kinh điển của Freud thì phóng chiếu là một cơ chế tự

vệ Nhiệm vụ chủ yếu của cơ chế này là làm trung hoà tác nhân gâybệnh

 Năm 1923, S Freud cho rằng sự phóng chiếu không chỉ tồn tại với tưcách là một cơ chế tự vệ mà còn là một cơ chế quyết định sự mô tả các

sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài Đó chính là sự phóng chiếuđặc trưng Nó có nghĩa là là sự bộc lộ các đặc điểm tâm lý của mộtnhân cách thông qua sự mô tả về nhân cách khác Nhiều tác giả đã tánthành luận điểm này của Freud

 Quan niệm “tự kỉ” về phóng chiếu xuất hiện sau kết quả một số thựcnghiệm: sự không thoả mãn những nhu cầu nào đó với sự tăng cường

và cụ thể hoá chúng ở một mức độ nhất định sẽ dẫn đến sự phóng chiếunội dung của nhu cầu vào tưởng tượng, vào giấc mơ, vào hứng thú(D.C McClelland & J W Atkinson)

 Quan niệm phóng chiếu “hợp lý hoá”: cũng được hình thành trên cơ sởmột số thực nghiệm tâm lý: sự đánh giá phù hợp những nhược điểmcủa mình có thể được kết hợp với sự chuyển di sang người khác, nghĩa

là sự phóng chiếu được bộc lộ như là một yếu tố cần thiết để biện hộcho hành vi của mình theo nguyên tắc: mọi người đều thế cả!!!

Theo E.T Xokolova, một nhà tâm lý học Xô viết, đặc điểm riêng củaphương pháp phóng chiếu gồm:

 Tính không xác định của tài liệu/kích thích, nhờ đó nghiệm thể được tự

do lựa chọn câu trả lời hoặc phương thức hành vi

Trang 32

 Hoạt động của nghiệm thể diễn ra trong không khí thân mật, trong hoàncảnh thoải mái Cùng với yếu tố nghiệm thể không rõ cái gì trong câutrả lời đã làm cho sự phóng chiếu đạt mức tối đa.

 Phóng chiếu không phải do chức năng tâm lý này hay chức năng tâm lýkia mà do cách thức, chuẩn mực quan hệ qua lại của nhân cách với môitrường xung quanh

Như vậy một lần nữa chúng ta có thể thấy khi sử dụng một phươngpháp nào đó để nghiên cứu tâm lý nói chung, tâm lý lâm sàng nói riêng, việclưu ý đến cơ sở lý luận của phương pháp đó cũng là điều cần thiết, song quantrọng nhất vẫn là cách tiếp cận của nhà nghiên cứu: chúng ta tiếp cận nghiêncứu từ góc độ nào, trên cơ sở lý luận nào Qua những quan điểm đã trình bày

ở trên có thể dễ dàng đưa ra được một nhận xét rằng: như vậy, cùng một câutrả lời (ví dụ, cùng một câu chuyện theo TAT hay câu trả lời theo 1 hìnhRorschach) có thể được các tác giả lý giải khác nhau

Theo một góc độ nào đó, có thể nhận thấy việc phân tích kết quả củacác phương pháp phóng chiếu là thiên về định tính Có lẽ cũng chính vì vậy

mà kĩ thuật phóng chiếu rất được ưa dùng trong thực hành tâm lý lâm sàng,trong khi trong chúng lại bị phê phán khá nhiều trong các lĩnh vực tâm lý họcứng dụng khác

Phân tích, lý giải kết quả của các phương pháp phóng chiếu là vấn đềđược nhiều sinh viên tâm lý, nhất là sinh viên tâm lý lâm sàng quan tâm Tuynhiên trong điều kiện văn hoá - xã hội Việt Nam, cần phải rất thận trọng khiđịnh áp dụng một cách lý giải nào đó đối với các phương pháp phóng chiếu.Mặt khác, như chúng tôi đã đề cập trong phần đầu, ở nước ta còn rất ít nhữngnghiên cứu ứng dụng các phương pháp phóng chiếu Do vậy trong tài liệunày, chúng tôi chỉ trình bày những dấu hiệu, những nội dung thường gặptrong kết quả của các kĩ thuật phóng chiếu của nhiều tác giả khác nhau

Trang 33

2.1.2 Phân loại phương pháp phóng chiếu:

Các phương pháp cấu trúc hoá: tài liệu chưa được dàn dựng, nghiệm

thể phải cho nó một ý nghĩa chủ quan Ví dụ trắc nghiệm Rorschach

Các phương pháp thiết kế: xây dựng và giải thích cái tổng thể/toàn bộ

từ những chi tiết có dàn dựng, ví dụ test Warterg

Các phương pháp giải thích: TAT, CAT…

Các phương pháp bổ sung: hoàn thiện câu, liên tưởng tự do.

Các phương pháp thanh lọc (Catharsis): kịch tâm lý, trò chơi tâm lý.

Các phương pháp nghiên cứu sự biểu cảm: phân tích nét chữ, những

đặc điểm giao tiếp bằng ngôn ngữ…

2.2 TAT

2.1.1 Lược sử phát triển

TAT (Thematic Apperception Test) được khởi đầu từ 1935 trong mộtbài báo của Christina Morgan và Henry Murray Năm 1938 và tiếp theo đó,vào năm 1943, TAT đã được hoàn thiện hơn Tài liệu của test bao gồm cácbức tranh Chủ thể được quan sát và mô tả lần lượt dưới dạng một câuchuyện Cơ sở chính của test, theo các tác giả, là ở chỗ các huyễn tưởng vôthức của chủ thể có thể được làm sáng tỏ thông qua phân tích nội dung củacác câu chuyện Lúc đầu người ta nghĩ rằng các câu chuyện của chủ thể giốngnhư một tấm phim X-quang thể hiện tất cả những gì mà người ta không thểtiếp cận được trên bình diện ý thức Những gì mà phân tâm phải cần đến hàngtháng để hiểu được nhân cách thì TAT chỉ cần 2 buổi với tổng thời lượngkhoảng 2 đến 3 giờ Chính vì vậy mà TAT được tiếp nhận như một công cụđắc lực, có giá trị trên cả lĩnh vực lâm sàng và nghiên cứu

Đến năm 1950 đã có một số sách và trên 1000 bài báo về TAT Nhữngnghiên cứu ban đầu của TAT được tập trung vào các lĩnh vực như: thái độ xãhội, tội phạm học, nhân cách dị thường, các tật chứng ngôn ngữ…

Trang 34

Vào cuối những năm 40, do thấy mất khá nhiều thời gian cho 20 tranhnên một số nhà nghiên cứu đã đề ra một số phương án rút gọn khác nhau (chỉ

sử dụng một số trong số 20 tranh)

Mặc dù ra đời và phát triển trong thời kì làn sóng trắc nghiệm đangdâng cao, hệ thống cho điểm/lượng giá cũng như độ tin cậy và độ hiệu lực củatest chưa được như mong muốn Tuy nhiên không vì vậy mà người ta thờ ơvới nó, trái lại TAT luôn nằm trong số những trắc nghiệm được ưa dùng ởnhiều nước trên thế giới

Có rất nhiều nhà nghiên cứu không thoả mãn với TAT bởi họ muốnnghiên cứu những nhóm người khác nhau (trẻ em, người già, người thiểusố…), hoặc những vấn đề đặc biệt như bất toại (frustration), stress, thích ứng

xã hội hay đơn thuần người ta cảm thấy TAT tạo ra những câu chuyện thiếusức sống Chính vì vậy nhiều tác giả tìm cách cải biên và đề xuất những biếnthể khác nhau Một trong những biến thể được biết đến nhiều nhất là CAT –Children’s Apperception Test của Bellack CAT dành cho trẻ từ 3 đến 10 tuổi,chỉ có 10 tranh và thay vì hình người là hình động vật Do vậy cũng có mộtphiên bản khác của CAT là CAT – H (CAT - Human) Ngoài ra cũng cònmột số biến thể khác của TAT dành cho người cao tuổi và người già…

Một số test khác cũng được xây dựng theo thiết kế dạng TAT để đolường những lĩnh vực chuyên biệt, ví dụ test Rosenzweig (RosenzweigPicture Frustration Study)

2.1.2 Lí thuyết nhân cách của Murray

Trong lý thuyết về nhân cách, Murray coi trọng cả cơ sở sinh học cũngnhư các yếu tố xã hội quy định hành vi Bên cạnh đó, Ông cũng nhấn mạnhrằng con người không tồn tại một cách độc lập mà trong sự tương tác qua lạivới môi trường xung quanh Trong sự tương tác qua lại đó, con người chịuảnh hưởng không chỉ của những tác động bên ngoài mà còn của cá các nhucầu, thái độ, giá trị

Trang 35

Có lẽ Murray là một trong những nhà tâm lý học đi sâu phân tích nhucầu Thậm chí, lý thuyết của Ông về nhân cách còn được đồng nhất với lýthuyết về nhu cầu.

Nhu cầu: con người có 2 loại nhu cầu chính: nhu cầu nguyên phát/bên

trong (viscerogenic) và nhu cầu thứ phát hoặc nhu cầu tâm lý Nhu cầunguyên phát là những nhu cầu sinh lý, mang tính bẩm sinh: nhu cầu vềkhông khí, thức ăn, tình dục Nhu cầu thứ phát là những nhu cầu pháisinh từ những nhu cầu nguyên phát và được hình thành trong quá trìnhphát triển tâm lý

 áp lực/sức ép: cái thúc đẩy con người hoạt động không chỉ là nhữngthúc đẩy bên trong/nhu cầu mà còn do lực ép/áp lực/sức ép (press) từbên ngoài Murray chia áp lực thành 2 loại: áp lực ỏ và áp lực õ Áplực ỏ là trực tiếp từ phía môi trường còn áp lực õ là sự tri giác, tiếpnhận, lý giải khía cạnh nào đó của môi trường

 Chủ đề- đơn vị của hành vi :

Chủ đề (Thema), theo Murray, là đơn vị của hành vi, được hình thành

do sự tác động qua lại giữa nhu cầu và áp lực Các chủ đề nhỏ có thể kết hợpvới nhau tạo thành chủ đề lớn (serial thema)

Chính các chủ đề lớn, thống nhất giữa áp lực và nhu cầu là cốt lõi hành

vi của cá nhân Những chủ đề lớn, thống nhất này có thể được tổ chức chặtchẽ và có đủ sức mạnh nhiều khi vượt qua cả các nhu cầu nguyên phát – nhucầu sinh lý Tinh thần tử vì đạo/vì nghĩa/vì niềm tin là ví dụ Chủ đề thốngnhất được bắt nguồn từ những kinh nghiệm thời thơ ấu và được phát triển,thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau trong cuộc sống của cá nhân

Trang 36

Hình 5.4 Sơ đồ lý thuyết nhân cách của Murray 2.1.3 Các nguyên lý của test

Giả thuyết của test chính là: câu chuyện được mô tả trong tranh chính

là của chủ thể trong hư cấu

Ngoài cơ chế phóng chiếu, các cơ chế phòng vệ khác cũng được sửdụng và thể hiện qua câu chuyện Trong các câu chuyện của TAT, những cơchế dưới đây được thể hiện một cách đặc biệt:

- Đồng nhất hoá (Identify) chủ thể đồng nhất bản thân mình với một nhânvật chính của câu chuyện, trải nghiệm những tưởng tượng của nhân vật nhưcủa chính mình

- Cô lập hoá (Isolation) Sự phân chia tách biệt mạnh giữa nội dung vàtình cảm thông qua nghèo nàn hoá, vô ý nghĩa hoá và hướng vào các chi tiếtkhông phù hợp của tình cảm

- Ngược biến hoá Tạo ra những đường hướng ngược lại với sự căngthẳng bị kìm nén, ví dụ, thay sự hung hãn đối với anh trai bằng một câuchuyện có tính chất ngược lại

- Hợp lý hoá Phân tích, lập luận, đánh giá có tính chất tư biện về tìnhcảm đã được chuyển thể

Bê ta

Nhu cầu

Kết hợp, Tương tác

Trang 37

- Hoạt động phòng vệ đã dồn ép căng thẳng, xúc động để đi đến sựthoả hiệp

2.1.3 Mô tả phương pháp:

Toàn bộ TAT có 30 tranh, trong đó có những tranh dành riêng cho tuổi

và giới, có những tranh chung cho mọi người Các tranh được kí hiệu:

B (Boy) Dành cho trẻ trai dưới 15 tuổi

G (Girl) Dành cho trẻ gái dưới 15

M (Male) Dành cho đàn ông trên 15 tuổi

F (Female) Dành cho phụ nữ trên 15 tuổi

BG Dành cho trẻ dưới 15 tuổi

MF Dành cho người lớn trên 15 tuổi

BM Dành cho nam giới, không phân biệt tuổi

GF Dành cho nữ giới, không phân biệt tuổiTranh chỉ có số thứ tự Chung cho mọi người

Mặc dù có sự đa dạng và phong phú trong việc mô tả tranh songnhìn chung đối với mỗi tranh cũng thường gặp một số chủ đề

Hình 5.5 Tranh số 1 của TAT

Trang 38

Số 1 Đây được xem là tranh có ý nghĩa nhất trong toàn bộ các bứctranh của TAT Những câu chuyện thường được tạo dựng xoay quanh cậu

bé với cây đàn violon Nội dung hoặc là mơ ước, vượt qua cản trở để thànhđạt hoặc là bị ép buộc học

Số 2 Các câu chuyên thường đề cập đến một cô gái trẻ rời nôngthôn tiếp tục tìm kiếm cơ hội học tập Các mối quan hệ gia đình cũngthường được đề cập

3BM Đây cũng là một tranh thường được sử dụng bởi nó dễ gây ranhững chủ đề: mặc cảm tội lỗi, trầm cảm, sự hung hãn, ma tuý…

3GF Tranh thường gợi ra những chủ đề về quan hệ liên nhân cách,

về những mất mát, tổn thất hoặc ân hận về những việc đã làm

Số 4 Các chủ đề thường gặp: sự không chung thuỷ, sự níu kéo hoặcngăn ngừa Kèm theo đó là những phản ứng cảm xúc

Số 5 Một người phụ nữ mở cửa và ngó vào trong phòng Đâythường được mô tả là người mẹ bắt gặp con đang có những hành vi sai tráinào đó Cũng có thể câu chuyện về bắt gặp người lạ trong nhà

Đôi khi xuất hiện câu chuyện theo chủ đề loạn dục nhìn trộm Trongtrường hợp như vậy cần chú ý đến những cảm giác tự buộc tội, tức giận,

vô tâm/bất cẩn hoặc sợ hãi…và cách xử lý những cảm giác đó

Thường tranh này cũng làm tăng nỗi sợ hãi mang tính paranoid, sự

đe doạ từ bên ngoài

Trang 39

Hình 5.6 Hình 4 của TAT

6BM Một phụ nữ cao tuổi đứng bên cửa sổ, đằng sau là một ngườiđàn ông trẻ tuổi hơn Câu chuyện thường tập trung vào việc người con traithông báo với mẹ một tin gì đó Trong những câu chuyện như vậy chứađựng nhiều thông tin về thái độ, tình cảm của người con trai đối với mẹ

6GF Một người phụ nữ ngoái nhìn người đàn ông ngậm tẩu thuốc.Các câu chuyện thường về việc người đàn ông đề nghị điều gì đó nhưng bịngười phụ nữ từ chối

Lúc đầu ý định thiết kế tranh tương tự như tranh 6BM: nhằm khêugợi thái độ và tình cảm trong quan hệ mẹ con Tuy nhiên do hai ngườiđược xem như gần tuổi nhau nên thường là những câu chuyện liên quanđến tình dục

7BM Hai người đàn ông, một già, một trẻ Quan hệ cha con là chủ

đề nổi bật

7GF Chủ đề thường gặp cũng là quan hệ mẹ con

Trang 40

8BM Chủ đề có thể diễn ra theo những hướng khác nhau: chàng trai

mơ trở thành bác sĩ hoặc chủ đề về hung tính Cũng có thể gặp câu chuyện

về một người bị bắn và phải phẫu thuật

Theo một số tác giả, tranh được xem như gợi tả xung đột Oedipecùng với những cảm giác lo âu và thù địch Do vậy cần lưu ý đến thái độ

và tình cảm của chàng thanh niên hoặc một nhân vật khác đối với ngườiđang chuẩn bị được phẫu thuật

8GF Người phụ nữ trẻ tay chống cằm, mắt đang nhìn vào hư vô.Các câu chuyện qua bức tranh này thường phân tán, không tập trung songnhìn chung là những câu chuyện buồn

9BM Bốn người đàn ông nằm gối lên nhau Trong các câu chuyệnthường mô tả về những người lýnh hoặc những người làm thuê Tranhcũng thường cung cấp những thông tin bổ ích về quan hệ cùng giới: họcảm thấy dễ chịu hay không khi chỉ có những người cùng giới với nhau?Nhân vật trung tâm là cả 4 người hay chỉ có một trong số đó? Đôi khi cũng

có xu hướng tình dục đồng giới hoặc sợ hãi, né tránh điều đó

9GF Người phụ nữ đứng sau một cái cây, phía dưới có người phụ

nữ khác đang chạy Thường 2 phụ nữ này đều được mô tả trong một xungđột Các câu chuyện thường xoay quanh mối quan hệ cùng giới với nhữngghen tỵ, xung đột, giải quyết xung đột Cũng có thể có 2 câu chuyện khácnhau Người phụ nữ đứng đằng sau cây có khả năng quan sát người bêndưới nên câu chuyện có thể có chi tiết cho hoang tưởng Trong các câuchuyện cũng có thể xuất hiện người đàn ông hoặc người yêu lâu ngày chưagặp của của một hoặc cả hai người mà cả hai người đều muốn gặp Cũng

có thể là kẻ tấn công tình dục mà một hoặc cả hai muốn né tránh, chạytrốn

Số10 Một người tựa đầu vào vai người khác Các câu chuyệnthường xoay quanh sự tương tác nào đó hai giữa người khác giới, thường

Ngày đăng: 03/07/2021, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w