• Tín phiếu kho Bạc cũng là công cụ quan trọng trong chính sách tiền tệ của chính phủ : NHNN có thể phát hành tín phiếu để thu hút tiền về, giảm lượng tiền trên thị trường để thực hiện
Trang 1• 1 Tín phiếu :
• Tín phiếu kho Bạc : có tính thanh khoản cao nhất, được mua bán rộng rãi và hầu như không có khả năng vỡ nợ
• Tín phiếu kho Bạc cũng là công cụ quan trọng trong chính sách tiền tệ của chính phủ :
NHNN có thể phát hành tín phiếu để thu hút tiền về, giảm lượng tiền trên thị trường để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm chống lạm phát
Ngược lại, NHNN mua vào tín phiếu để tăng lượng cung tiền, nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích thích tăng trưởng khi nguy cơ lạm phát cao không còn hoặc ít nhất là đã giảm
Năm 2012
• 2/11 NHNN đã bơm ra thị trường mở tới 5.396 tỷ đồng
• 5/11, NHNN đã bơm qua OMO 341 tỷ đồng, lãi suất 8%/năm, kỳ hạn 7 ngày và hút về
522 tỷ đồng, mức hút ròng đạt 181 tỷ đồng
• Ngày 7 /11,trên thị trường OMO, NHNN bơm ra 322 tỷ đồng, lãi suất 8%/năm, hút về
204 tỷ đồng, mức bơm ròng vốn trong ngày đạt 118 tỷ đồng
=> tạo thanh khoản cho NHTM, làm dịch chuyển nguồn vốn từ NHTM thừa vốn đến các NH đang kém thanh khoản mà không làm tăng lượng tiền lưu thông, làm giảm áp lực lạm phát
• 24/8/2012, tín phiếu chính thức được giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
• NHTM : Năm 2012, khi nhiều NH 'dư thừa vốn' do tín dụng tăng trưởng thấp(<10%) thì các NHTM đã tích cực mua tín phiếu trên thị trường mở như một cách kinh doanh an toàn
Tình hình huy động vốn thông qua tín phiếu kho bạc năm 2013 và đầu năm 2014
• Để kiềm chế lạm phát, từ 15/3/2012 đến 27/12/2013, NHNN phát hành 429.879 tỷ đồng tín phiếu các kỳ hạn từ 28 đến 182 ngày, trong đó năm 2012 phát hành 173.850 tỷ đồng, năm 2013 phát hành 256.029 tỷ đồng và còn 53.667 tỷ đồng tín phiếu chưa đáo hạn, trong đó tín phiếu kỳ hạn 28 ngày và 56 ngày lần lượt là 26.086 tỷ đồng và 1.779 tỷ đồng; các kỳ hạn 91 ngày, 154 ngày và 182 ngày lần lượt là 8.216 tỷ đồng, 7.994 tỷ đồng
và 9.592 tỷ đồng.Ước tính, 7.611,8 tỷ đồng là tổng số lãi phải trả cho lượng tín phiếu đã phát hành, trong đó, NHNN đã thanh toán tổng cộng 6.986,9 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn Hiện còn 624,9 tỷ đồng tiền lãi tín phiếu NHNN sẽ phải thanh toán trong năm 2014
Trang 2• Với lượng tín phiếu còn nghĩa với việc NHNN sẽ phải tiếp tục sử dụng công cụ phát hành tín phiếu để một mặt thanh toán khối lượng tín phiếu đáo hạn và mặt khác hút tiền về nhằm kiềm chế lạm phát lưu thông thị trường là 53.667 tỷ đồng
• ừ ngày 7/2/2014 cho đến ngày 7/3/2014, NHNN đã phát hành tổng cộng 132.378 tỷ đồng tín phiếu Tiền lãi phải trả cho đợt phát hành tín phiếu kể từ đầu năm 2014 đã lên tới 771,75 tỷ đồng Số tiền lãi phải trả cho tín phiếu này chưa phải thanh toán ngay nhưng phải thực hiện hết trong vòng 3 tháng do các kỳ hạn của tín phiếu là 28 ngày và
91 ngày
• Dự kiến, trong thời gian tới, NHNN vẫn phải sử dụng công cụ tín phiếu để hút tiền khỏi lưu thông vì những lý do sau: Thứ nhất, do lượng tín phiếu phát hành kể từ đầu năm chủ yếu là kỳ hạn ngắn (28 ngày và 91 ngày) nên toàn bộ số tín phiếu phát hành sẽ đáo hạn trong 1 và 3 tháng tới Thống kê cũng cho thấy, lượng tín phiếu đáo hạn ngay trong tháng 3 tương đối lớn, lên tới 75.849 tỷ đồng
• 2.Thị trường liên ngân hàng
• Thị trường liên ngân hàng năm 2013 có những diễn biến trái chiều so với năm 2012 Cụ thể là tổng doanh số giao dịch cũng như giao dịch bình quân/ngày trên thị trường giảm mạnh so với năm 2012 cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện
• 6.453.310 tỷ đồng là tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng 11 tháng năm 2013, trong đó doanh số giao dịch bằng VND là 3.861.584 tỷ đồng và tổng doanh số giao dịch bằng USD quy đổi là 2.591.726 tỷ đồng Giao dịch bình quân/ngày bằng VND là 17.804 tỷ đồng và bằng USD là 11.964 tỷ đồng
• Lãi suất giao dịch bình quân 11 tháng của năm 2013 giảm mạnh đối với hầu hết các kỳ hạn so với cùng kỳ; trong đó, lãi suất bình quân qua đêm trong năm 2013 có thời điểm ở mức rất thấp, chưa đến 1%/năm tại thời điểm tháng 6 (lãi suất qua đêm trung bình trong tháng 6 chỉ là 1%/năm; các kỳ hạn từ 1 tuần đến 3 tháng, lãi suất dao động từ 1,32% đối với kỳ hạn đến 5,06% đối với kỳ hạn 3 tháng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc kéo lãi suất bình quần của năm
• Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ doanh số giao dịch trung bình dưới 1 tháng
và từ 1 tháng trở xuống trong năm 2013 lần lượt là 87,84% và 92,50% (tăng 2,84% và 1,31% so với năm 2012) cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng đã cải thiện rõ rệt nhưng không thực sự chắc chắn
3.3.Nghiệp vụ thị trường mở
Trang 3 Năm 2013 hoạt động bơm, hút tiền trên thị trường mở cũng rất nhịp nhàng, gần như là lượng cung tiền được dự báo phù hợp với nhu cầu và diễn biến của nền kinh tế và khối lượng giao dịch cũng giảm đáng kể so với năm 2012
NHNN đã giúp các NHTM gia tăng lượng vốn khả dụng thông qua việc điều hành thị trường mở theo hướng chủ yếu là chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày
Lãi suất qua kênh này cũng được giảm đáng kể, từ 7,8%/năm kỳ hạn 7 ngày xuống còn 7,5% - 7%/năm và tương đối ổn định suốt thời gian qua
Lãi suất của kỳ hạn 28 ngày cũng giảm xuống ở mức khoảng 8%/năm
Hoạt động thị trường mở được duy trì 2 phiên mỗi ngày, với khối lượng trúng thầu (loạt phiên trong thời gian trở lại đây) liên tục ở mức cao, khoảng 5.000 - 8.000 tỷ đồng, cao hơn so với trước kia Trạng thái vốn ròng được thị trường xác định cho thấy NHNN đang bơm tiền vào nền kinh tế thông qua các NHTM
Đầu tháng 8/2013 khi tỷ giá lên mạnh, NHNN đã hút mạnh VND thông qua OMO Cụ thể, ngày 1/8, NHNN hút ròng 263 tỷ đồng; sau đó một ngày, NHNN tiếp tục hút ròng hơn 6.800 tỷ đồng và ngày 5/8 NHNN tiếp tục hút ròng 4.233 tỷ đồng Nhờ thu về một lượng VND khá lớn nên tỷ giá giao dịch trên thị trường ngày 6/8 đã giảm chỉ còn mức bán ra 21.090 đồng/USD
Trong mấy ngày đầu tháng 9/2013, khi tỷ giá thị trường lại tăng lên mức 21.185
đồng/USD thì NHNN đã áp dụng nghiệp vụ bơm và hút tiền qua OMO nhịp nhàng: ngày 11/9, hút về 44 tỷ đồng; ngày 12/9 bơm ra 98 tỷ đồng và hút vào 744 tỷ đồng, tương đương NHNN đã hút ròng 646 tỷ đồng… Với sự điều hành công cụ OMO khá “nghệ thuật”, hiện nay tỷ giá đang dần đi vào ổn định ở mức 21.150 đồng/USD
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là kênh chủ đạo để NHNN bơm tiền ra nền kinh tế và thu về từ lưu thông, góp phần quan trọng điều hoà vốn khả dụng của các NHTM Đặc biệt, từ đầu năm 2013 đến nay, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) bằng công
cụ OMO thường xuyên và mạnh mẽ với tần suất liên tục Thêm vào đó, bằng công cụ này, không những NHNN điều hành cung tiền hợp lý mà còn hỗ trợ hiệu quả để giữ tỷ giá ổn định.
4 Thị trường ngoại hối
• Từ cuối năm 2011 đến nay, tỷ giá đã cơ bản ổn định, tình trạng đô la hóa giảm mạnh, tỷ
lệ giữa tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán giảm từ trên 30% trong những năm 1990 xuống 15,8% cuối năm 2011 và khoảng 12,3% cuối năm 2012, đến cuối tháng 8/2013 còn khoảng 12%
Trang 4• Nhu cầu ngoại tệ tăng lên nhưng nguồn cung vẫn được đảm bảo nhờ giải ngân vốn FDI
ổn định: 8 tháng đầu năm, giải ngân FDI ước tính đạt 7,56 tỷ USD, tăng 3,8% với cùng kỳ năm 2012
12 năm, kiều hối về Việt Nam tăng 8 lần
• 2000 : 1,3 tỷ đô la
• Năm 2012: đạt 10 tỷ đôla
• Năm 2013 : đạt 11tyr đola
• Bước sang năm 2013, thị trường ngoại tệ 8 tháng đầu năm giữ được sự ổn định, tỉ giá dao động trong biên độ cho phép
• 6 tháng đầu tỷ giá USD trên thị trường LNH được giữ ổn định ở mức 20.828
VND/1USD.Từ 28/6 đến nay , NHNN điều chỉnh tỷ giá tăng lên 21.036 VND/1USD
• 9/10/2013, tỷ giá giao dịch USD của NHTM : 21.080-21.140
• Đến Đầu 9/2013, giá vàng đã giảm khoảng 20% (gần 10 triệu đồng mỗi lượng) Ngoài ra, giá vàng nhẫn 99,99% của các thương hiệu khác được mua vào ở mức 3,38 triệu
đồng/chỉ và bán ra là 3,5 triệu đồng/chỉ Tính chênh lệch thì giá vàng SJC cao hơn so với vàng phi SJC vào thời điểm cuối tháng 9 khoảng 2,55 triệu đồng mỗi lượng
• Giá USD tăng so với VNĐ : ngày 26/9, giá USD niêm yết tại chi nhánh ở mức mua vào
bằng tiền mặt và chuyển khoản tăng lên 21.090đ/USD - 21.150đ/USD
Giá Euro tăng mạnh so với VNĐ: Mức thấp nhất là ngày 1/4 khi được niêm yết giá mua
vào là 26.518đ/Euro, mua chuyển khoản là 26.598đ/Euro và bán ra là 6.971đ/Euro Còn mức cao nhất mà Euro có được so với VNĐ tính đến cùng ngày 26/9 khi được mua vào bằng tiền mặt tại Chi nhánh là 28.269đ/Euro, mua chuyển khoản là 28.354đ/Euro và bán
ra là 28.751đ/Euro
Hạn chê:
qui mô nhỏ, thiếu linh hoạt, chưa phản ánh được cung - cầu về ngoại tệ của nền kinh tế mức độ hội nhập và mở cửa của thị trường còn thấp
chủ thể tham gia còn bó hẹp và hoạt động giao dịch tập trung vào NHTM qui mô lớn hoạt động “kinh doanh” ngoại hối còn kém phát triển
công cụ giao dịch, phương tiện kỹ thuật còn thiếu hiện đại
Trang 55 Thị trường chứng khoán
2012 : Quy mô thị trường tăng trên 50 lần, vốn hoá năm đầu tiên dưới 1% GDP, cuối năm 2011 đạt gần 27% 3.000 tài khoản, đã tăng lên 1,2 triệu tài khoản.Khối lượng giao dịch cũng tăng 30- 40 lần so với năm đầu Luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có thời điểm cao nhất lên đến 12 tỷ USD, nay khoảng 6,7 tỷ USD
2 Đến cuối năm 2013 ( nguồn cafef.vn)
• VN-Index là một trong 10 chỉ số có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất thế giới
• 21,97% và 18,83%: Là mức tăng lần lượt của VN-Index và HNX-Index
• Vốn hoá thị trường năm 2013 đạt 949.000 tỷ đồng (tăng 184.000 tỷ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP
• Khối lượng giao dịch bình quân 1 phiên năm 2013 là 107.630.000 cổ phiếu, giá trị giao dịch bình quân trên hai sàn đạt 1.380 tỷ đồng/phiên, tăng 6% so với năm 2012
• Giá trị giao dịch bình quân trái phiếu Chính phủ 1.257 tỷ đồng/phiên (tăng 90% năm 2012)
• Huy động vốn qua kênh đấu thầu trái phiếu Chính phủ năm 2013 ở mức 194.800 tỷ đồng , tăng 10% so với Huy động vốn qua cổ phiếu và cổ phần hóa là 17,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2012 Quy mô huy động vốn qua phát hành riêng lẻ cũng tăng mạnh, đạt khoảng trên 24 nghìn tỷ đồng (gấp 5 lần so với cả năm 2012)
• Trên 2 sàn có 683 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 361 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2012
• Có tổng cộng 517 mã trái phiếu niêm yết trên 2 sàn với giá trị niêm yết là 521 nghìn tỷ đồng, tăng 28% so với cuối năm 2012
• Quá trình thanh lọc tổ chức kinh doanh chứng khoán ngày càng khốc liệt
Số công ty chứng khoán lỗ trong năm 2013 là 63% (58/94 công ty chứng khoán có lỗ lũy
kế với số lỗ là (-5.267) tỷ đồng, giảm so với con số hơn 70% công ty lỗ năm 2012 15 công ty chứng khoán không còn hoạt động
Đóng góp của thị trường chứng khoán
Kênh huy động vốn quan trọng các nguồn vốn trung và dài hạn trong nước và ngoài nước, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt khi nền kinh
Trang 6tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, TTCK càng khẳng định
rõ vai trò và vị thế của mình trong nền kinh tế
Trong năm 2013 : giáKênh huy động vốn quan trọng các nguồn vốn trung và dài hạn trong nước và ngoài nước, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, TTCK càng khẳng định rõ vai trò và vị thế của mình trong nền kinh tế
trị giao dịch bình quân phiên tăng 32% so với năm 2012, chỉ số chứng khoán VN Index tăng trên 23% so với năm 2012, là 1 trong 10 thị trường có mức hồi phục cao nhất thế giới, mức vốn hóa thị trường tính đến cuối năm 2013 vào khoảng 964.000 tỷ đồng, tăng 199.000 tỷ đồng so với cuối năm 2012 và tương đương 32% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Thị trường trái phiếu chính phủ tăng trưởng 90% so với năm ngoái, cao nhất châu Á Huy động vốn qua TTCK đạt trên 230.000 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2012, chiếm 22% tổng mức đầu tư xã hội
Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết đã có sự cải thiện: doanh thu lợi nhuận tăng trên 10%, chi phí tài chính giảm 12% Công tác tái cấu trúc TTCK đã đạt nhiều tiến bộ trên cả 4 trụ cột: cơ sở hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư, tổ chức kinh doanh và
hệ thống thị trường
Sự hồi phục của TTCK sẽ có tác động tích cực đến công tác huy động vốn, đóng góp trở lại cho hoạt động của các ngân hàng, công tác xử lý nợ và thúc đẩy quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, công tác cổ phần hóa
o
o Cơ hội : Chính phủ triển khai các biện pháp để tái cấu trúc nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và TTCK nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN, xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, thị trường bất động sản, tăng trưởng tín dụng và mặt bằng lãi suất, hỗ trợ DN về thuế, phí, hỗ trợ tài chính, chi tiêu ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản
• Lạm phát được kiềm chế, cán cân thương mại cải thiện, mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm dần, tỷ giá được duy trì ổn định, dự trữ ngoại hối dần ổn định và có xu hướng tăng
• NHNN giảm dần mặt bằng lãi suất, triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ lãi suất đối với DN và tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản
Trang 7tái cấu trúc thị trường, hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường, đặc biệt là tái cấu trúc các công ty chứng khoán
• Thách thức : Diễn biến kinh tế - tài chính thế giới còn phức tạp, tiềm ẩn rủi ro và tốc độ tăng trưởng thấp
• Sức cầu trong nước còn yếu, khả năng cạnh tranh, hiệu quả của nền kinh tế còn thấp
• Xử lý nợ xấu ngân hàng và tái cấu trúc là vấn đề lớn và cần thời gian dài
• Ngân sách nhà nước sẽ còn nhiều khó khăn, yêu cầu chi cho mục tiêu ổn định vĩ mô tăng nhưng nguồn thu có hạn
• Nếu không có giải pháp hỗ trợ TTCK thì DN không thể huy động vốn khi việc tiếp cận tín dụng ngân hàng rất hạn chế Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN, phá băng thị trường bất động sản, xử lý nợ xấu sẽ khó có thể thực hiện suôn sẻ, vì DN mới là vấn đề
“gốc” và ngân hàng chỉ là phần “ngọn” Do vậy, việc hỗ trợ TTCK thông qua các chính sách kinh tế và công cụ tài chính đúng đắn là một việc làm cần thiết Sự phát triển ổn định của TTCK còn có tác dụng góp phần phát triển thị trường vốn, tăng nguồn đầu tư và
ít bình ổn các thị trường liên quan khác như bất động sản, vàng
• Hạn chế của thị trường tài chính Việt Nam
• Công cụ tài chính trên TTTC chưa đa dạng về chủng loại và thời hạn
• TTTC vẫn chưa thu hút được nhiều thành viên tham gia
• Doanh số giao dịch chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thị trường
• Vai trò tạo lập thị trường của Ngân hàng thương mại còn yếu
• Hiệu quả trong việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước chưa cao
• Hạn chế về lãi suất trên thị trường tài chính
• Các giải pháp mở rộng thị trường
• Khai thác và động viên cao độ đi đôi với phân phối hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội
• Nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách tài chính doanh nghiệp ổn định, bình đẳng, minh bạch; tăng cường quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp trong đầu tư và huy động vốn
Trang 8• Đổi mới chính sách tiền tệ, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng.
• Phát triển thị trường tài chính, thị trường dịch vụ tài chính, đáp ứng yêu cầu thu hút các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển ( đặc biệt là thị trường chứng khoán)
• Nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát tài chính, đảm bảo lành mạnh hoá tài chính và
an ninh tài chính quốc gia Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, đảm bảo hoạt động tài chính thông suốt, chất lượng và hiệu quả
•
Lãi suất:
Giai đoạn 2012- 2013: với việc kiềm chế được lạm phát thì lãi suất năm 2012-2013 đã có xu hướng ổn định hơn Trong giai đoạn này thì vai trò của chính phủ trong việc điều hành Ngân hàng Nhà nước thông qua các chính sách tiền tệ là quan rất quan trọng.
Năm 2012: Ngân hàng Nhà nước đã cho thả nổi lãi suất kỳ hạn 12 tháng trở lên.
Lãi suất tái chiết khấu 8%
Lãi suất cơ bản giảm 5% so với cuối năm 2011, từ mức trần 14%/năm xuống 9%/năm Song song việc áp trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn,
Các mức lãi suất điều hành khác cũng giảm mạnh Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống còn 8%/năm trong khi lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 10%/năm
Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3 – 8%/năm Lãi suất cao nhất chỉ còn 15%/năm, theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Cuối năm, lãi suất cho vay phổ biến từ 12 – 15%/năm
Trang 9• Năm 2013
Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã giảm 2% các mức lãi suất điều hành; giảm 3%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn với lĩnh vực ưu tiên; giảm 1% lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi và từ cuối tháng 6 cho phép các tổ chức tín dụng tự ấn định lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng trở lên Mặt bằng lãi suất theo đó cũng giảm 2-5%/năm so với năm 2012 và trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 Đến cuối năm, lãi suất các khoản vay cũ đã về dưới 13%/năm, lãi suất cho vay các khoản mới kỳ hạn ngắn chỉ còn 8 - 9%/năm Phân tích cụ thể số liệu năm 2013, thì tác động của các nhân tố khác chỉ làm cho lãi suất thay đổi không nhiều, và tác động của NHNN có vai trò quan trọng (chính sách điều tiết của chính phủ)
Trang 10(Biểu đồ: Tăng trưởng huy động và tín dụng)
Qua biểu đồ ta có thể đưa ra nhận xét sau: tổng cầu suy giảm khiến cho tăng trưởng tín dụng trong năm 2013 thấp đồng thời với các tác động đinh hướng điều hành chính sách của NHNN, mặt bằng lãi suất của thị trường tiếp tục giảm từ 1%-4%
(biểu đồ: diễn biến lạm phát các năm (%))
Theo như biểu đồ ta có thể thấy, lạm phát ở Viêt Nam vẫn duy trì ở mức thấp Điều đó quyết đinh đến lãi suất trên thị trường sẽ có xu hướng hạ thấp xuống, ví dụ như lãi suất cho vay các khoản mới kỳ hạn ngắn chỉ còn 8 - 9%/năm
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang ở trong một giai đoạn có nhiều khó khăn : Nhìn một cách tổng quát thì nền kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu phục hồi khi GDP năm 2013 tăng lên 5,42%, tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ nhưng vẫn ở mức thấp so với thế giới
Giải quyết bài toán lãi suất ở VN hiện nay:
1. Đối với nhà nước