Quy trình góp vốn : BƯỚC 1: Xác định đối tượng góp vốn: Tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và m
Trang 1A. Phần lý thuyết chung:
Đặt vấn đề:
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh vốn là điều kiện không thể thiếu Nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Nhu cầu về vốn là một trong những bức xúc
của doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng hóa dịch vụ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Doanh nghiệp có nhiều hình thức để huy động vốn như: phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng, tín dụng từ nhà cung cấp, thuê tài
chính, v.v
Trong đó góp vốn là một kênh huy động vốn quan trọng đối với một doanh nghiệp
1. Khái niệm : Góp vốn là việc các thành viên/cổ đông chuyển tài sản
của mình vào công ty, để trở thành chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu công ty
2. Quy trình góp vốn :
BƯỚC 1: Xác định đối tượng góp vốn:
Tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân không phân biệt quốc tịch và nơi cư trú, nếu không thuộc đối tượng quy định tại Điều 13 của Luật Doanh nghiệp đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp, trừ thêm các trường hợp sau đây:
- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ/chồng của người đó không được phép góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành nghề
mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý (cơ quan nhà nước), đối với ngành nghề khác thì có quyền góp vốn
Trang 2- Công chức không thể góp vốn vào công ty TNHH vì người góp vốn thì đương nhiên là thành viên Hội đồng thành viên và được coi là người quản lý công ty;
- Công chức chỉ được góp vốn vào công ty cổ phần với tư cách là cổ đông mà không được tham gia Hội đồng quản trị, được góp vốn vào công ty hợp danh với tư cách là thanh viên góp vốn
BƯỚC 2: Xác định loại tài sản góp vốn
Tài sản góp vốn có thể là:
- Tiền Việt Nam
- Ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng
- Giá trị quyền sử dụng đất.
- Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật…
Việc góp vốn bằng tài sản phải có xác nhận bằng biên bản.
Đối với tài sản là giá trị quyền sử dụng đất, người góp vốn còn phải:
- Là người có quyền sở hữu và sử dụng đất hợp pháp, được Luật Pháp công nhận
- Trước khi góp vốn vào công ty, phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu/sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phải chịu lệ phí trước bạ
BƯỚC 3: Định giá tài sản góp vốn
- Tất cả các thành viên sáng lập có quyền tự định giá, định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc theo một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Không bắt buộc phải có xác nhận của cơ quan nhà nước hoặc công chứng
- Khi có thành viên mới góp vốn hoặc khi có yêu cầu định giá lại tài sản góp vốn, người định giá phải là Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị
- Nếu định giá cao hơn so với giá thực tế tại thời điểm góp vốn, người góp vốn và người định giá phải góp đủ số vốn như đã được định giá Nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường
BƯỚC 4: Cấp giấy chứng nhận góp vốn
- Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thông báo bằng văn bản tiến
độ góp vốn đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 15 ngày, kể từ
Trang 3ty và người khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không chính xác, không trung thực, không đầy đủ
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên: sau khi góp đủ vốn của mình vào
công ty, thành viên được công ty cấp Giấy Chứng nhận phần vốn góp Nếu bị mất,
bị rách, cháy, hoặc bị thiêu hủy dưới bất kỳ hình thức nào thì thành viên được cấp lại Giấy chứng nhận phần vốn góp và phải trả chi phí do công ty quy định
- Đối với công ty Cổ phần: sau khi góp đủ vốn của mình vào công ty, công ty cấp
cổ phiếu theo yêu cầu của cổ đông Cổ phiếu có thể cấp dưới dạng Chứng chỉ do công ty phát hành hoặc bút toán xác nhận quyền sở hữu một số cổ phần của công
ty Cổ phiếu phải đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần để xác lập quyền và nghĩa vụ cổ đông
3. Quy định về xử lý phần vốn góp:
3.1 Trường hợp muốn chuyển nhượng phần vốn góp:
Đối với công ty TNHH 2 TV: Doanh nghiệp có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện
Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán
3.2 TRƯỜNG HỢP MUA LẠI PHẦN VỐN GÓP
Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình
Nếu không thoả thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu
Nếu công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này thì thành viên đó có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên
Trường hợp thành viên thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết thì phải được sự nhất trí của các thành viên còn lại; công ty thông báo bằng văn bản nội dung thay
Trang 4đổi đó đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấp thuận sự thay đổi
3.4 XỬ LÝ PHẦN VỐN GÓP TRONG TRƯỜNG HỢP KHÁC
Nếu thành viên là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty
Nếu thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người giám hộ Phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định tại Điều 43 và Điều 44 của Luật này trong các trường hợp sau đây: a) Người thừa kế không muốn trở thành thành viên; b) Người được tặng cho theo quy định tại khoản 5 Điều này không được Hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên;c) Thành viên là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản
Trường hợp phần vốn góp của thành viên là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự
Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác
Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ
ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty Trường hợp người được tặng cho
là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận
Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai cách sau đây:a) Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;b) Chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại Điều 44 của Luật này
B. Thực trạng vốn góp trong các doanh nghiệp Việt Nam.
PHẦN I Thực trạng vốn góp
1. Thực trạng vốn góp ban đầu
Trang 5Trong 6 tháng đầu năm, đặc biệt là từ Quý II năm nay, đã có sự chuyển biến khá tích cực trong khu vực doanh nghiệp khi lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng nhanh đồng thời với xu hướng số lượng doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động giảm dần Trong kỳ, cả nước có 38.908 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 193.561 tỷ đồng, tăng 7,6% về số doanh nghiệp và giảm 19,9% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước Nếu so với 6 tháng cuối năm 2012, thì số doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đầu năm nay tăng 15,5% và số vốn đăng ký giảm 14,24%
Theo Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005, góp vốn là việc đưa tài sản vào DN
để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Quy định thì đơn giản như vậy, nhưng trên thực tế, vấn đề góp vốn ảo, tranh chấp về góp vốn, rút vốn đang diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi phải có những quy định
rõ ràng và cụ thể hơn trong luật doanh nghiệp sửa đổi để bịt kín lỗ hổng này
2.Một số vấn đề trong hoạt động góp vốn và sử dụng vốn góp
2.1 Hoạt động góp vốn
Theo Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005, góp vốn là việc đưa tài sản vào
DN để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp, đồng nghĩa với việc công ty làm ăn thua lỗ đến mức nào đi nữa thì thành viên trường hợp công ty hợp doanh) chỉ chịu trách nhiệm cao nhất là bằng giá trị số vốn
đã góp vào kinh doanh Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty
Luật doanh nghiệp quy định về xử lý phần vốn góp trong các trường hợp khác như:
Trường hợp thành viên là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty;
Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty;
Trang 6Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận
thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai cách sau đây:
a) Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;
b) Chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại Điều
44 của LDN
Thực tiễn tranh chấp không đơn giản như trên, vì bản chất của công ty
TNHH là công ty đóng (từ 2 - 50 thành viên), hoặc đa phần là các công ty có quy mô vừa và nhỏ, công ty kiểu gia đình, thành viên/cổ đông quen biết nhau khi cùng sáng lập nên công ty Việc xảy ra các sự cố trong quá trình hoạt động như thành viên/cổ đông chết; tặng cho vốn góp người cùng huyết thống đến thế hệ ba (hàng cháu) hay sử dụng phần vốn để trả nợ mà xác định người thừa kế, người nhận tặng cho, người nhận thanh toán là thành viên công ty (đương nhiên) sẽ phá vỡ cấu trúc mối quan hệ “quen biết” giữa các thành viên/cổ đông và nguyên tắc thỏa thuận của các thành viên/cổ đông khi thành lập công ty Chưa kể việc tiếp nhận thành viên/cổ đông mới này cũng không đơn giản nếu Hội đồng thành viên/HĐQT bằng quyền phủ quyết của mình, không chấp nhận thành viên/cổ đông mới (người thừa kế, tặng cho, nhận thanh toán), nhất là khi thành viên chết, tặng cho vốn hoặc trả nợ lại nắm các chức vụ quản lý của công ty
Ngoài ra, khi pháp luật Việt Nam đang từng bước hoàn thiện bổ sung, thủ tục góp vốn dần được quy định chi tiết và thủ tục hành chính đơn giản hơn, thì vẫn còn một số hiện tượng tiêu cực trong hoạt động góp vốn của doanh nghiệp, chủ yếu là hiện tượng kê khai khống và góp vốn ko đủ và đúng thời hạn theo cam kết
Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định cấm kê khai khống vốn đăng ký,
không góp đủ và đúng hạn số vốn như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế Nhưng thực tế cho thấy, tại nhiều DN, luôn tồn tại hai loại sổ đăng ký cổ đông/thànhviên Một loại là số vốn thực góp của các cổ đông/thànhviên dùng để giải quyết trong nội bộ DN Một sổ dùng riêng cho việc “đối phó” với cơ quan đăng ký kinh doanh do quy định của pháp luật về báo cáo tiến độ góp vốn và tỷ lệ vốn góp theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Điều này dẫn đến một thực trạng là khi tất cả cổ
đông/thànhviên sáng lập đều không góp đủ vốn như cam kết thì cũng “ hòa
cả làng” Người đại diện theo pháp luật cứ “báo cáo láo” kết quả tiến độ góp
Trang 7quan này cũng không đủ công sức và thời gian để theo dõi, xử lý, trừ khi tranh chấp nảy sinh trong chính nội bộ DN, có yêu cầu, đề nghị, thì may ra mới biết về thực trạng góp vốn của DN Hệ quả của việc khai không vốn đăng ký, không góp đủ, đúng hạn, định giá tài sản không đúng giá trị là các
DN này tạo ra một nguồn lực vốn “ảo” cho xã hội, cũng như tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các đối tác, bạn hàng, ngân hàng…
1.2 Trong hoạt động sử dụng vốn góp
Tùy vào chiến lược của mỗi doanh nghiệp, các DN có thể sử dụng toàn
bộ, một phần hay không sử dụng vốn góp của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh Việc sử dụng cơ cấu nợ, vốn chủ sở hữu mà cụ thể ở đây ta đang xét đến vốn góp có ảnh hưởng lớn đến số thuế phải nộp cũng như các chỉ số tài chính của DN Trong khi các DN nhà nước thường sử dụng nhiều vốn góp thì các doanh nghiệp tư nhân thường sử dụng nơ vói tỷ trọng cao hơn
Cá biệt các DN FDI có thể gần như chỉ dùng nguồn nợ vào sản xuất kinh doanh mà ko dùng vốn góp nhằm giảm số thuế phải nộp cho DN
3 Hoạt động rút vốn
Khi góp vốn vào doanh nghiệp, người góp vốn phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với trách nhiệm phát sinh trong quá trình hoạt động của công ty đó Người góp vốn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp (chuyển nhượng cổ phần), song không được phép rút vốn
Rút vốn là hành vi bị cấm, nhưng thực tế, tại không ít công ty có tình trạng rút vốn núp dưới nhiều hình thức khác nhau, mà việc cổ đông lớn vay vốn từ chính DN góp vốn là phổ biến Theo các chuyên gia, hành vi rút vốn không đồng nghĩa với việc mất quyền cổ đông, mà khi có hành vi rút vốn trái luật, phải yêu cầu hoàn trả lại vốn, bồi thường thiệt hại (nếu có) và chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ phát sinh hoặc kiện cáo (nếu có) Những nhà đầu tư khi góp vốn vào DN được tham gia vào HĐQT, đảm nhận vị trí giám đốc/tổng giám đốc thì lập tức rút ngay vốn ra khỏi DN (ngay trong khoảng thời gian ngắn bằng các thủ thuật mà luật cấm)
Phần II Giải pháp cho hoạt động góp vốn, sử dụng và rút vốn tại Việt Nam hiện nay
Để khắc phục các tiền lệ trên thì khó có thể thay đổi suy nghĩ chủ quan
của các Doanh nghiệp Biện pháp được đánh giá là hiệu quả nhất và rõ ràng nhất là hoàn thiện cơ chế pháp lý quy định về nguồn vốn góp
Trang 8Đầu tiên, cần tạo hành lang pháp lý rõ ràng, đơn giản, thông thoáng hơn
Nhiều quy định của Luật doanh nghiệp chưa cụ thể với các trường hợp góp vốn, chuyển nhượng vốn Chúng ta cần có các văn bản luật và dưới luật quy định cụ thể hơn về nguồn vốn góp của doanh nghiệp Đồng thời cần tăng
cường hoạt động thanh tra, xác định đúng giá trị tài sản góp vốn,minh bạch thông tin của doanh nghiệp Nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ hai, cần xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật như hành
vi rút vốn, kê khai khống số vốn góp để tăng cường tính quyền lực của Nhà nước và pháp luật
C. Câu chuyện thực tế và câu hỏi tình huống về vấn
đề góp vốn trong doanh nghiệp.
Tháng 12-2010, Công ty TNHH X tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên Lấy lý do ông A chưa góp đủ phần vốn đã cam kết nên các thành viên góp vốn còn lại giảm số phiếu biểu quyết của ông A.
Theo các thành viên công ty X trong điều 18.3 của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 102), “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có
số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác”.
Ông A không chấp nhận cách làm này vì cho rằng ngay cả khi ông chưa góp
đủ phần vốn của mình thì ông vẫn có số phiếu biểu quyết như đã góp đủ Và khi công ty chia lợi nhuận ông vẫn được nhận theo tỷ lệ vốn ông đã cam kết góp thì không có lý gì bây giờ công ty lại hạn chế quyền lợi của ông.
Trả lời: Theo quy định tại điều 41 của Luật Doanh nghiệp 2005, các quyền của thành viên góp vốn trong công ty TNHH đều dựa trên phần vốn góp của mỗi thành viên, tức là dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên công ty TNHH góp vào vốn điều lệ
Từ Luật Doanh nghiệp 2005 đến Nghị định 102, khái niệm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên đều được hiểu thống nhất là số vốn
thực góp hoặc cam kết góp của các thành viên trong một thời hạn cụ thể và
đã được ghi vào điều lệ công ty
Như vậy, quyền của các thành viên góp vốn trong công ty TNHH sẽ được dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên góp vào số vốn đã được ghi vào điều lệ
Trang 9thì sau thời hạn đó, ông A chỉ được hưởng quyền lợi nhất định từ số vốn góp thực mà thôi
II. Hai câu hỏi tình huống
• Câu hỏi 1: Công ty TNHH Y gồm có hai thành viên với vốn điều lệ đăng ký
là 200 tỉ trong đó thành viên B cam kết góp 100 tỉ và C cam kết góp 100 tỉ Tại thời điểm tổ chức họp hội đồng thành viên: B đã góp được 40 tỉ và C đã góp được 50 tỉ Như vậy, phần vốn góp của B và C có thể sẽ được xác định theo một trong hai cách sau:
Cách 1: B chiếm 40/200 (20%) và C chiếm 50/200 (25%); hay
Cách 2: B chiếm 100/200 (50%) và C chiếm 100/200 (50%).
Trả lời:
Bản thân Luật Doanh nghiệp khi đưa ra khái niệm “phần vốn góp” để từ đó làm cơ sở xác định phạm vi quyền của thành viên cũng không nói cụ thể đó
là tỷ lệ sở hữu của thành viên dựa trên số vốn đã góp hay cam kết góp, mà chỉ đơn giản dùng một chữ “góp”
Khi có sự ra đời của Nghị định 102(như ở vs dụ trên) Nghị định 102 quy
định “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số
phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác” suy cho cùng chỉ là một
hướng hiểu như cách 1 ở trên khi xác định phần vốn góp chứ không phải là
sự mâu thuẫn hay đi ngược lại quy định của Luật Doanh nghiệp
Cách 1 là đúng Cách 2 là sai
• Câu hỏi 2: Cty TNHH Ban Mai có trụ sở tại thị xã H tỉnh X, đã được sở kế hoạch đầu tư tỉnh cấp Giấy chứng nhận ĐKKD năm 2007, gồm 4 thành viên, Ông Hoàng góp 20% vốn điều lệ, Ông Đức 25%, ông Sơn 45% và bà Hoa 10% Điều lệ cty hoàn toàn phù hợp Luật DN 2005 Theo thoả thuận, ông Hoàng là chủ tịch hội đồng thành viên, ông Sơn là giám đốc và là người đại diện trước pháp luật của cty Để thông qua việc sửa đổi điều lệ công ty, ông Hoàng đã triệu tập hội đồng thành viên vào ngày 06/2008 theo đúng trình tự, thủ tục, Phiên họp chỉ có ông Hoàng, ông Sơn và bà Hoa tham dự Quyết định sửa đổi Điều lệ cty được ông Sơn và bà Hoa biểu quyết thông qua.
Hỏi:
Quyết định sửa đổi Điều lệ cty đã được thông qua hợp lệ hay chưa? Vì sao?
Trang 10Trả lời:
Quyết định sửa đổi Điều lệ cty được thông qua chưa hợp lệ
Theo Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2005 thì quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận Theo tình huống thì
số phiếu biểu quyết thông qua của ông Sơn và bà Hoa chỉ có 55%
Vì vậy quyết định sửa đổi điều lệ cty được thông qua chưa hợp lệ