1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kỹ thuật nuôi lươn trên cạn

25 381 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đây là cuốn sách có mọi kỹ năng mà tất cả mọi người đều cần có cho một năm thành công và hạnh phúc, chiến lược kinh doanh và tất cả các thứ khác, kể cả kinh doanh và cuộc sống . đây là người bạn có thể liên hệ để học được kỹ năng kinh doanh mà tất cả mọi người đều cần có cho một năm thành công và hạnh phúc, chiến lược kinh doanh và tất cả các thứ khác https:www.facebook.comtairichloc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN - -

ĐỀ TÀI

KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN ĐỒNG

THƯƠNG PHẨM

GVHD: NGUYỄN THỊ BẠCH MAI

Trang 2

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 10/ 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN - -

ĐỀ TÀI

KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN ĐỒNG

THƯƠNG PHẨM

GVHD: NGUYỄN THỊ BẠCH MAI

Trang 3

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 10/ 2014

MỤC LỤC

Phần I: MỞ ĐẦU

Phần II: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: Giới thiệu

1.1 Đặc điểm khoa học

1.2 Đặc điểm giống lươn Việt Nam

CHƯƠNG 2: Công tác giống

2.1 Giống tự nhiên

2.2 Giống nhân tạo

CHƯƠNG 3: Công tác xây dựng ao nuôi

Trang 4

CHƯƠNG 5: Quản lý ao nuôi

5.1 Quản lý ao nuôi

5.2 Phòng và trị bệnh

CHƯƠNG 6: Công tác thu hoạt sau nuôi Phần III: KẾT LUẬN

Trang 5

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Lươn là loài vật thủy sản có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao, hiện nuôi lươn đang lànghề được bà con quan tâm phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước; trước đây nghề nuôi lươn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên, thời gian qua nhờ vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất lươn giống bán nhân tạo ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nghề nuôi thương phẩm loại thủy sản này

Khác với nhiều loại thủy sản khác, lươn là đối tượng không đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư và đây được xem là mô hình xóa đói giảm nghèo tốt cho bà con vùng nông thôn; đầu tư thấp, hiệu quả cao nuôi lươn hiện là nghề đang được bà con chú trọng phát triển

Lươn là loài thủy sản phổ biến ở nước ta Thịt lươn ngon, bổ và thường được coi là món ăn cao cấp Lượng đạm trong thịt lươn tới 18,37% Trong y học người ta nói rằng, thịt lươn còn có tác dụng an thần Máu lươn cũng có thể chữa được bệnh cảm cúm, Các nhà sinh học còn coi lươn là một đối tượng nghiên cứu thú vị vì nó có quá trình biến cơ thể cái thành đực – một hiện tượng hiếm hoi

Từ lâu, lươn là mặt hàng xuất khẩu đặc biệt mà Seaprodex (Tổng công ty thủy sản Việt Nam) đã từng giới thiệu Rất tiếc, ta chưa bao giờ có đủ số lượng tối thiểu cho thị trường thế giới Lươn đông lạnh, lươn tẩm dầu hun khói, lươn tươi, là những mặt hàng hấp dẫn mà thế giới luôn trông đợi Trước đây, chúng ta tổ chức mua gom Ở phía Bắc, việc xuất khẩu lươn sống mỗi năm lên tới hàng trăm tấn Ở phía Nam trước ngày giải phóng, mỗi năm Bạc Liêu cũng thu được 1000 tấn, còn Châu Đốc là 2000 tấn Tất cả lượng lươn này đều được thu bắt trong tự nhiên

Việt Nam đã chính thức ra nhập WTO Đây là cơ hội lớn để các mặt hàng của chúng ta thâm nhập vào thị trường thế giới Cùng với các loài thủy đặc sản, chắc chắn sẽ có thêm nhiều đơn hàng mới từ nhiều nước Chúng ta từng đưa sản lượng lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su, lên hàng nhất, nhì thế giới Vậy, sao con lươn của chúng ta không thể vươn lên một vị trí cao hơn?! Chúng tôi nghĩ rằng, nếu quyết tâm, chúng ta sẽ đưa con lươn lên thành một loại thủy đặcsản hấp dẫn Tất nhiên, cả về sản lượng và công nghệ chế biến đều phải có bước chuyển biến mới Phải đầu tư cả về kỹ thuật và vốn đầu tư thì chúng ta mới đẩy mạnh được việc nuôi lươn ở mọi miền lên một đỉnh cao mới Hy vọng, sẽ tới lúc cả thế giới biết tới mặt hàng lươn hấp dẫn của Việt Nam với sự ngưỡng mộ và mong muốn,

Trang 6

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU

1.1 Đặc điểm khoa học

Lươn (danh pháp hai phần: Monopterus albus) là một loài cá thuộc Họ Lươn (Synbranchidae).

- Đặc điểm

Chiều dài thân trung bình khoảng 25–

40 cm, mặc dù có cá thể dài tới 1 m Thân

hình trụ, da trần không vảy, thiếu vây chẵn,

vây lưng nối liền với vây đuôi, vây hậu môn

Các vây không có gai, mang thoái hóa thành

một lỗ phía dưới đầu Đuôi vót nhọn Lưng

màu nâu, bụng màu trắng hay nâu

nhạt Miệng lớn, có thể kéo dài ra được, cả

hai hàm đều có các răng nhỏ để

ăn cá, giun, giáp xác cùng các động vật thủy

sinh nhỏ khác vào ban đêm Hai mắt rất nhỏ.

Giống như các loài khác trong bộ

Lươn, chúng hô hấp nhờ các màng của

khoang bụng và ruột, không có bong bóng.

- Vòng đời

M albus là lưỡng tính Tất cả các con

non là cái Khi chúng trưởng thành, một số

biến thành con đực Con đực có khả năng

chuyển đổi giới tính, cho phép chúng bổ sung

khi quần thể con cái thấp Sự thay đổi giới

tính thể mất đến một năm

Sinh sản có thể xảy ra trong suốt cả

năm Trứng được đẻ trong tổ bong bóng nằm trong vùng nước nông Các tổ bong bóng nổi trên

bề mặt nước và không gắn liền với thảm thực vật thủy sinh Con cái đẻ tới 1.000 trứng mỗi lần sinh sản.Đặc điểm này rất quan trọng khi xem xét kiểm soát của các loài xâm lấn

- Phân bố

Trang 7

M albus là loài bản địa của Trung và Nam Mỹ, châu Phi, Australia và từ Ấn

Độ tới miền đông châu Á Tại Hoa Kỳ, người ta thông báo nó có tại các khu vực

như Hawaii, Florida và Georgia.

Mặc dù nó có thể sống sót ở nhiệt độ dưới điểm đóng băng của nước (0 °C) hay

vài tháng mà không có nhiều nước hoặc nước lợ/mặn; nhưng nói chung chỉ tìm thấy tại tầng đáy trong các khu vực nước ngọt và ấm áp, chẳng hạn như các ao nhiều bùn, đầm lầy, kên mương và ruộng lúa.

1.2 Đặc điểm giống lươn Việt Nam

a Đặc điểm và phân loại

Ở nước ta, lươn chỉ có một số loài Giữa hai miền Nam, Bắc có các loài khác nhau

Ở phía Bắc, chúng ta có một loài (Monopterus albus) Loài này nhỏ và có trọng lượng chỉ từ 0,2 – 0,4kg/con

Ở phía Nam, chúng ta có phổ biến loài lươn đồng (Fluta alba) Khác với lươn phía Bắc, loài này có con nặng tới 1500g Ở đồng bằng sông Cửu Long, bà con thường đánh được những con lươn rất lớn vào mùa nước nổi Cũng cần lưu ý, ở miền Nam còn có con lịch đồng

(Macrotrema caliguns)

Một số cơ quan thông tin đôi khi lại lẫn lộn giữa con lươn với con cá chình Nguyên nhân nhầm lẫn này là vì, trong tiếng Anh, cả con lươn và con cá chình đều được gọi là “eel” Khi biên dịch, nếu không để ý thì ta rất dễ lẫn con lươn với con cá chình

b Đặc điểm sinh trưởng

Ở con lươn, có một quá trình rất kỳ lạ, đó là việc biến lươn đực thành lươn cái Chúng tabiết rằng, lúc đẻ ra, toàn bộ lươn là lươn cái Những con lươn có độ dài dưới 26cm đều là lươn cái Tới năm thứ hai, khi con lươn có độ dài từ 44 – 48 cm thì chúng ta thấy số con đực và con cái tương đương nhau Thế còn, khi xem xét những con lươn có độ dài cơ thể từ 54cm trở lên, chúng ta thấy, chúng toàn là lươn đực

Ở đây có một quá trình biến dần dần lươn cái thành lươn đực Lúc đầu lươn chỉ có buồng trứng Những lươn dài 26cm, chúng tôi thấy đac có nhiều trứng thành thục và đẻ Nhưngkhi xem xét những lươn có độ dài cơ thể từ 36 – 46cm, chúng tôi thấy có nhiều con ở trạng tháilưỡng tính: trong tuyến sinh dục của chúng có cả tinh sào (ở con đực) và buồng trứng (ở con cái) Rõ ràng, trong giai đoạn này, cơ quan sinh dục đực đã “mọc” thêm ra Nó xuất hiện và

Trang 8

hoàn thiện dần dần Trong lúc đó, buồng trứng sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ sinh sản sẽ tiêu biến đi Tinh sào ngày càng lớn Tới khi cơ thể lươn dài từ 54cm trở lên thì chúng ta thấy chúnghoàn toàn trở thành một con lươn đực thực thụ (buồng trứng tiêu giảm hết và chỉ còn tinh sào)

Khi lươn con mới nở ra từ trứng, chúng đeo dưới bụng 1 bọc noãn hoàng lớn Lươn con

sẽ sống nhờ vào nguồn dinh dưỡng này Chúng ít hoạt động và nằm bám vào các rễ cây thủy sinh như rễ bèo tây Thỉng thoảng nó mới quậy nhẹ nhàng đôi chút Tới ngày thứ 8, trên cơ thể

nó có nhiều biến đổi: vây ngực tiêu biến dần (và chỉ còn dấu vết như một chấm nhỏ còn sót lại); bọc noãn hoàn bé dần đi và thu thành 1dải nhỏ nằm dưới bụng lươn; các mạch máu bao quanh noãn hoàn và vây ngực cũng thu nhỏ lại và ít dần

Khoảng 2 – 3 ngày sau, chúng ta thấy noãn hoàng tiêu biến hết Trên thân lươn xuất hiệnnhiều nhiễm sắc tố đen và mạch máu không thấy rõ nữa Lúc này, con lươn khỏe hơn, thân dài

ra và mang dáng dấp 1 chú lươn thực thụ Toàn bộ quá trình này kéo dài khoảng 10 ngày Sau

đó, lươn bắt đầu đi kiếm ăn và lớn khá nhanh Trong năm đầu nó có thể đạt tới 35cm Lươn tăng trọng mạnh nhất vào năm thứ 3 trở đi Các cơ sở nuôi cho biết, nếu được cung cấp thức ăn thường xuyên thì tốc độ lớn của lươn còn tăng mạnh hơn nhiều

Như đã nêu ở trên, lươn ở phía Bắc chỉ nặng tối đa khoảng từ 0,2 – 0,4kg và dài tới 62cm Trong lúc đó, lươn ở phía Nam có con dài tới 69cm và nặng tới 1,5kg Ở đây vừa có tính

di truyền của giống, vừa có tác động của môi trường Khí hậu nóng ấm ở phía Nam giúp cho lươn hoạt động quanh năm Trong lúc đó, lươn ở phía Bắc có một thời kỳ dài phải ngủ đông

c Đặc điểm về sinh sản

Chỉ 1năm là lươn đã thành thục Lươn ở phía Bắc đẻ sớm hơn lươn ở phía Nam Khoảngcuối tháng 3, đầu tháng 4, khi hoa gạo ở miền Bắc nở là bắt đầu mùa đẻ của lươn Nó đẻ lai rai đến tận tháng 8, tháng 9 Cá biệt có con tới tháng 11 vẫn đẻ Còn lươn ở phía Nam thì bắt đầu

đẻ vào tháng 4, tháng 5 Chúng ta quan sát thấy, lươn sống ở đồng ruộng thường đẻ sớm hơn những lươn sống ở đầm, hồ, ao Khu vực nào có nhiều thức ăn thì lươn đẻ sớm hơn

Trứng lươn rất nhiều Con càng lớn càng mang nhiều trứng Số lượng trứng có thể di động từ vài trăm trứng tới cả nghìn trứng Ngay trong một buồng trứng cũng có kích cỡ trứng khác nhau Lươn đẻ làm nhiều lần, mỗi lần khoảng 50 trứng Cũng có con đẻ với số lượng lớn hơn Lươn đẻ trứng ở cửa hang Vì vậy, sắp tới mùa đẻ thì nó tích cực đào và củng cố hang Lươn thường tìm những bờ ruộng, bờ ao hoặc ven các mương máng có đất sét pha đất thịt để làm tổ Đôi khi, nó còn chọn cả các mô đất cao ở giữa ruộng Chúng tôi đã thấy ở nhiều ngôi

mộ mà bà con để ở giữa ruộng thường có các tổ lươn xung quanh

Việc đào hang do lươn đực đảm nhận Nó thăm dò khá kỹ khu vực sinh sống của mình

để chọn chỗ làm hang Trước mùa đẻ, ta thường thấy lươn đực lượn đi, lượn lại quanh bờ nhiều

Trang 9

lần (trong lúc, lươn cái vẫn đi kiếm ăn ở khắp nơi) Thậm chí, nó còn bò cả lên bờ để tìm hiểu

về vùng đất đó Sau khi đã quan sát kỹ, lươn đực sẽ dùng đuôi và ngoáy vào bờ đất để đào hang Công việc diễn ra trong nhiều ngày Nó đào sâu vào trong lòng đất và đi chếch xuống phía dưới Cửa hang thường cách mép nước 3 – 5cm Được một đoạn khoảng 15 – 20cm, nó làm hang phình to ra Có lẽ, đó sẽ là “phòng hạnh phúc” của chúng Nó tiếp tục đào một đường vòng xuống dưới và thông ra với đáy bùn Đó là lối thoát hiểm Ngoài ra, cũng có hang chúng tôi phát hiện thấy có đường thông lên trên mặt đất Phải chăng, đó là đường thông khí

(Chúng tôi đã làm thí nghiệm nuôi lươn trong một bể rộng 8m2 và dành ra 2m để đắp ụ đất lên cao hơn mặt nước 60cm Tới khi thu hoạch chúng tôi bửa đất ra, trong ụ đất đó có tới 21

ổ lươn to như ổ chuột Lươn chui cả vào các ổ đó.Cấu trúc của ổ lươn đúng như chúng tôi miêu

tả ở trên)

Lươn đực làm xong hang sẽ mời lươn cái vào cùng ở Tới mùa sinh sản, lươn đực phun đầy bọt (thực tế là tinh trùng) còn lươn cái thì đẻ trứng lên đó Lúc đầu, đám bọt có màu trắng, kích cỡ lớn hơn bọt của cá rô cờ (Macropodus chinensis) Tới khi trứng sắp nở, đám bọt đó ngảsang màu vàng Những người đi bắt lương thường coi đám bọt đó là biểu hiện rõ rệt của hang lươn Tới mùa sinh sản, lươn rất dữ Nó thường nằm trong hang hoặc lượn lờ quanh hang để giữ trứng Nếu có vật lạ thò vào ổ đẻ thì lươn lao ra cắn ngay Chúng quyết bảo vệ nòi giống Thậm chí, nếu có tiếng động mạnh, nó có thể nuốt cả đám trứng vào bụng của nó

Với thời tiết nắng ấm, có gió đông nam và nhiệt độ khoảng 24 – 260, đặc biệt là sau những trận mưa rào, lươn thường đẻ rộ Nó đẻ vào sáng sớm Lúc này lươn đực làm nhiệm vụ canh gác cho tổ đẻ Ta thường thấy nó lượn lờ quanh bờ ao hoặc nằm im trong các chỗ khuất đểcanh chừng kẻ thù

Sau khi đẻ chừng 7 – 10 ngày thì trứng nở Lươn con sinh ra chỉ dài tối đa 2cm và nhỏ như sợi chỉ Lúc này nó chưa biết bơi Chúng buông mình xuống đáy ao và nằm ở đó như chết

Ít ngày sau, nó mới bắt đầu bơi đi để kiếm ăn

Trang 10

CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC GIỐNG NUÔI TẠI VIỆT NAM

Lươn có hai nguồn giống: giống tự nhiên và giống nhân tạo.

2.2 Chọn lươn nhân tạo:

Lấy trứng, lươn con về ương nuôi:Hàng năm cứ đến mùa lươn đẻ, nhìn kỹ ở mép bờ, bờ ao, bờ mương thấy ở các khe hở có các khối bọt trắng, đối diện là các lỗ hút

(thường ở ruộng lúa, nơi con lươn đực gác bảo vệ), để phát hiện lươn con Dùng vợt xúc lươn con đem về thả vào các khay men, chậu nhựa, cho ăn bằng lòng đỏ trứng luộc chín và giun đỏ

Ở miền Nam nước ta vào đầu mùa mưa khi nước sông Cửu Long đổ về, lươn con thường nằm ởcác đám cỏ, bèo tây trôi theo dọc dòng sông ở các hồ, đầm, kênh dùng vợt, rổ, xúc về nuôi

Trang 11

Vớt trứng về ấp: Từ các khối bọt trắng biểu hiện lỗ đẻ của lươn, chúng ta có thể

dùng gáo, vợt có mắt lưới dầy để vớt các ổ trứng cho vào thùng có sẵn nước đưa về bể ấp Khi nhiệt độ nước 25-30oC, sau một tuần trứng nở thành lươn con, vớt lươn con ra ương ở ao, thức

ăn là giun, dòi, ốc băm nhỏ Nếu được chăm sóc tốt, nuôi đến cuối năm có thể đạt cỡ 20 g/con

Nuôi lươn cho đẻ ở bể xây:Cần tạo điều kiện môi trường sống của lươn gần với điều

Chọn lươn đực cái (bố mẹ): Có thể chọn từ lươn đã nuôi hay lươn mua ở chợ (phải lựa

con khỏe, không bị xây xát), lươn cái cỡ dài 25 -30 cm nặng 100-200 g có bụng trứng to, ấn nhẹ thấy mềm, lỗ sinh dục đỏ, da mỏng Con đực chọn con cỡ 150-250 g, ấn nhẹ tay thấy tinh

Trang 12

dịch màu trong suốt chảy ra Đuôi con đực thường dài hơn con cái, đầu thon mõm nhọn, hay hoạt động mạnh hơn con cái.

Cho lươn đẻ: Cho lươn đẻ vào tháng 4-5 khi nhiệt độ nước 23-27oC, có thể dùng

các loại thuốc A, HCG và não thùy cá chép để kích thích lươn đẻ Tốt nhất là dùng

LRH-A tiêm một lần, lươn cái cỡ 50-250 g, tiêm 10-30 (g/1 con Dùng khăn mềm lau sạch và giữ cho lươn khỏi cựa, tiêm vào xoang ngực, mũi kim sâu không quá 0,5 cm, dung dịch thuốc tiêm không quá 1 ml/con Sau khi tiêm cho lươn cái 24 giờ, tiêm cho lươn đực, lượng tiêm 10- 20 con Sau khi tiêm xong thả lươn vào bể hoặc giai chứa để theo dõi, nước trong bể không sâu quá khoảng 20-30 cm là vừa, một ngày thay nước một lần Ở nhiệt độ nước 25oC sau khi tiêm được 40 giờ, lưu ý phải kiểm tra liên tục 3 giờ một lần vì thời gian hiệu ứng của lươn cái rất khác nhau, nên phải kiểm tra tới giờ thứ 75 (sau khi tiêm) mới kết thúc Cách kiểm tra: Bắt lươn cái khẽ ấn bụng trứng, có trứng rời ra lập tức bố trí thụ tinh nhân tạo

Thụ tinh nhân tạo: Bắt lươn cái đã rụng trứng lau sạch bụng ép nhẹ cho trứng

chảy ra dụng cụ chứa trứng (bô con hay đĩa sứ), khi tắc thì dùng kéo con rạch lỗ sinh dục 0,5 -1

cm để ép trứng chảy ra, ép 3-5 lần thấy hết trứng thì thôi Lấy trứng xong lập tức cho tinh dịch vào thụ tinh bằng cách mổ lươn đực lấy một phần tinh sào, soi vào kính hiển vi (độ phóng đại

400 lần) nếu thấy tinh trùng hoạt động bình thường thì lấy cả buồng sẹ (tinh sào) ra cắt vụn bỏ vào đĩa chứa trứng, nhẹ tay khuấy đều (1 con đực dùng 2-3 con cái), sau đó dùng 200 ml nước muối sinh lý cho vào, sau 5 phút cho nước sạch vào rửa hết tạp chất rồi đưa trứng vào ấp

Ấp trứng lươn: Dụng cụ ấp như đĩa sứ, bô con, giai chứa, bể kính v.v đều

được Kích cỡ dụng cụ ấp tùy số lượng trứng nhiều hay ít Rải trứng ở đáy dụng cụ ấp, dùng nước sạch, sâu 10 cm, cần thường xuyên thay nước Không để nhiệt độ ấp và nhiệt độ nước chênh quá 5oC Nếu khống chế nhiệt độ ấp ổn định khoảng 24oC, thời gian nở khoảng 240-280giờ, tỉ lệ nở 80 -95%, lươn bột sau khi nở 24 giờ có chiều dài thân 16-21 mm, sau 72 giờ dài

19 mm, sau 120 giờ dài 22-30 mm, sau 144 giờ dài 23-33 mm Trong thời gian trên lươn bột sống nhờ dinh dưỡng của noãn hoàng, luôn cựa mình bơi trong nước rồi chìm xuống đáy nằm nghỉ Hết giai đoạn lươn bột chúng bơi nhanh trong nước và bắt đầu tìm mồi như giun đỏ để ăn

Ngày đăng: 10/03/2017, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w