ghiên cứu khoa học hay tiếng Anh gọi là Scientific Research là quá trình áp dụng các phương pháp nghiên cứu từ những người nghiên cứu có trình độ chuyên môn nhằm tìm ra kiến thức mới, những ứng dụng kỹ thuật có hiệu quả và những mô hình mới có ý nghĩa với thực tiễn. Hoạt động trong nghiên cứu khoa học là đi tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm và đôi khi phải trải nghiệm thử,… dựa trên cơ sở những già đã thu thập được về số liệu, tài liệu,…
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hiện trạng sử dụng và quản lý tài nguyên nước mặt trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: PGS.TS Lê Quốc Tuấn
HVTH : Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp :QLTN&MT 2018 đợt 1
Trang 2MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, là nền tảng cho tất cả các hoạt động, quyết định sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và mỗi địa phương Xét về tốc
độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm môi trường nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất và ô nhiễm không khí
Hiện nay, sự mất cân đối giữa nguồn nước và nhu cầu sử dụng nước đã gây ra tình trạng khan hiếm nguồn tài nguyên nước và trở thành một trong những vấn đề gây bức xúc nhất trên thế giới (Peterson and Schoengold, 2008) Tình hình này sẽ ngày càng diễn ra nghiêm trọng hơn dưới áp lực của sự gia tăng dân số và biến đổi khí hậu toàn cầu (Chartres and Varma, 2010)
Theo Đoàn Thế Lợi và Đào Quang Khải (2012), tài nguyên nước ngày càng khan hiếm, suy giảm cả về số lượng và chất lượng, kèm theo đó là hạn hán, lũ lụt xảy ra gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian, trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, đó
là nguyên nhân gây ra khủng hoảng về nước như hiện nay Một trong những giải pháp chủ yếu để giảm cuộc khủng hoảng nước toàn cầu là cải thiện công tác quản lý nguồn tài
nguyên này (Oelkers et al., 2011) Vì thế, việc quản lý tài nguyên nước bền vững đang là
vấn đề rất được quan tâm (Hazarika and Nitivattananon, 2015)
Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm về hướng Đông Nam, có hơn 20 Km bờ biển chạy dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, có các cửa sông lớn của các con sông Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh Với tổng diện tích tự nhiên 70.421 hécta, chiếm khoảng 1/3 diện tích toàn thành phố, trong đó đất lâm nghiệp là 32.109 hécta, bằng 46,45% diện tích toàn huyện, đất sông rạch là 22.850 hécta, bằng 32% diện đất toàn huyện Ngoài ra còn có trên 5.000 hécta diện tích trồng lúa, cây ăn trái, cây cói và làm muối Đặc điểm nôi bậc về thổ nhưỡng của Cần Giờ là phèn và mặn Vùng ngập mặn chiếm tới 56,7% diện tích toàn huyện
Trang 3Chất lượng nước của hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai đang bị ô nhiễm vi sinh rất nghiêm trọng và ô nhiễm nhẹ về dầu mỡ Trong khi đó, nước mặt khu vực sông Nhà
Bè, Cần Giờ và chất lượng nước ở các kênh rạch trên địa bàn thành phố đang bị ô nhiễm
vi sinh rất lớn Không dừng lại ở việc khai thác quá mức, tài nguyên nước ở thành phố còn đang bị ảnh hưởng trầm trọng từ BĐKH Qua tính toán hiện tượng xâm nhập mặn tại thành phố cho thấy, gần như toàn bộ diện tích huyện Cần Giờ phải chịu ảnh hưởng kéo dài của độ mặn 4% (ranh mặn dành cho nước nông nghiệp) Chính vì thế tôi thực hiện đề tài: “Hiện trạng sử dụng và quản lý tài nguyên nước mặt trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng sử dụng nước mặt tại huyện Cần Giờ
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn của người dân và cán bộ địa phương trong việc
sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nước mặt; từ đó
- Xác định khả năng cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản đền năm 2025
- Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên cho mục đích nuôi trồng thủy sản hiệu quả, tiết kiệm
Trang 4Chương I: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về tài nguyên nước
1.1.1 Khái niệm
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau Nước được dung trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt
1.1.2 Khái quát về tài nguyên nước mặt
Nước mặt là nước trong sông hồ hoặc nước ngọt trong các vùng ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa này, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước
Sự bốc hơi nước trong đất, ao hồ, song biển, sự thoát hơi nước ở thực vật và động vật…hơi nước vào trong không khí sau đó ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên bề mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác ghềnh, suối song và được tích tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành ao hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
1.2 Vai trò của tài nguyên nước trong sản xuất nông nghiệp và NTTS
1.3 Hiện trạng về tài nguyên nước phục vụ Sản xuất nông nghiệp trên Thế giới
và Việt Nam
1.3.1 Thế giới
Trang 5Nhu cầu nước ngày càng tăng cao theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người theo sự ước tính bình quân trên toàn thế giới có khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% Tuy nhiên nhu cầu nước lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia.Ở Hoa Kỳ khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp, và 9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras 1991) Ở Trung Quốc 7% được sử dụng cho nông nghiệp, 87% cho công nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí
Nguồn tài nguyên nước đang đối mặt với tình trạng suy kiệt Theo Trung tâm nước của Trường Đại học Twente (Hà Lan) đã đưa ra cách tính nước hao phí cho sản phẩm do tình trạng thiếu nước hiện đang trở nên phổ biến Theo đó để sản xuất được 1kg gạo cần tiêu thụ 3.500l nước Trước đây chúng ta chỉ nhìn nhận nước dung trong nông nghiệp chủ yếu để phục vụ nhu cầu tưới tiêu, tuy nhiên sau quá trình tưới tiêu để cho ra sản phẩm các khâu tiếp theo như bảo quản, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm… cũng cần có nước Đó là cách tính “Dấu chân nước” của một sản phẩm, tức là tổng lượng nước ngọt được sử dụng trực tiếp và gián tiếp để sản xuất ra sản phẩm đó
1.3.2 Việt Nam
1.3.2.1 Khái quát về nông nghiệp Việt Nam
1.3.2.2 Hiện trạng tài nguyên nước dùng cho nông nghiệp Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung bình
từ 1.800-2.000mm, nhưng lại phân bố không đều mà lại tập trung chủ yếu vào mùa mưa
từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng
Nước tương đối dồi dào ở Việt Nam Trong khi nguồn nước ngọt có sẵn vào khoảng 4.000m3/người/năm, thấp hơn 2 lần so với Indonesia nhưng cao hơn 2 lần so với Trung Quốc và 3.5 lần so với Ấn Độ Tuy nhiên lượng mưa không đều nên sự phân bố các nguồn tài nguyên là rất khác nhau trong năm, khoảng 70-75% của các dòng chảy
Trang 6trong năm được tạo ra trong 3-4 tháng Những biến động này kết hợp với khả năng trữ nước và cơ sở hạ tầng kiểm soát lũ gây hại trong mùa mưa và dòng chảy rất thấp trong mùa khô (FAOAQUASTAT, 2014)
Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hàng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 640km3 tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng Nếu tính cả lượng nước bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua 2 con sông lớn là sông Cửu Long (550km3) và sông Hồng (50km3) thì tổng nước mưa nhận được hàng năm khoảng 1240 km3 và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hàng năm khoảng 900km3 Như vậy so với nhiều nước Việt Nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào, lượng nước bình quân cho mỗi người đạt tới 17.000km3/người/năm Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500km3/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp ( Cao Viên và Trần Đức Liêm, 1990)
Nông nghiệp tạo ra áp lực đáng kể và gia tăng về nguồn nước hiện có của quốc gia với 95% nhu cầu sử dụng nước ngọt cho lĩnh vực này Các khu vực có hệ thống tưới tiêu đã tăng gần 50% từ năm 1996 đến năm 2006 Gần 80% diện tích có tưới dành cho trồng lúa (FAOAQUASTAT, 2014)
Chất lượng nước của Việt Nam được xếp vào loại trung bình và đang xấu đi (ADB, 2010) Nhu cầu oxy sinh học là cao hơn nhiều mức giới hạn
1.4 Tổng quan một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đến tài nguyên nước
phục vụ sản xuất nông nghiệp
Theo Tô Trung Nghĩa (2010) giải pháp công trình cho sản xuất và dân sinh về một số vùng khan hiếm nước ở 8 tỉnh vùng núi Bắc Bộ (gồm Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Hòa Bình, Lai Châu, Lạng Sơn, Sơn la và Yên Bái) đã thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, điều kiện dân sinh kinh tế, tập quán canh tác, tập quán sử dụng nước truyền thống, hiện trạng canh tác, hiện trạng dùng nước của các ngành, hệ thống công
Trang 7trình trữ và cấp nước hiện tại từ đó đánh giá, phân tích hiện trạng và đưa ra các tiêu chí xác định vùng khan hiếm nước Xây dựng bản đồ khan hiếm nước cho 8 tỉnh sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu GIS với những thông tin thuộc tính rất đầy đủ và thuận lợi trong sử dụng, phục vụ cho cơ quan quản lý tra cứu và cập nhật thông tin về vùng khan hiếm nước sau này thông qua việc số hóa bản đồ và xác định vị trí các vùng khan hiếm nước, tính toán thủy văn và khí tượng, tính toán nhu cầu sử dụng nước và khả năng trữ nước của từng vùng xác định thời gian thiếu nước để cung cấp kịp thời cho vùng khan hiếm nước Đề xuất các giải pháp cấp nước cho nông nghiệp và dân sinh bằng việc xác định chủng loại và số lượng tất cả các công trình bao gồm hồ chứa, đập dâng, công trình cấp nước tập trung, bể nước mưa gia đình, hồ treo cần xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng nước trong vùng nghiên cứu
Theo Nguyễn lập Dân (2014) về giải pháp tổng thể giải quyết các mâu thuẫn lợi ích trong việc khai thác sử dụng tài nguyên nước lãnh thổ Tây nguyên Đề tài làm rõ được hiện trạng và các mâu thuẫn chính trong khai thác sử dụng tài nguyên nước; Phân tích đánh giá và dự báo được các tác động của công trình khai thác sử dụng tài nguyên nước trên các khu vực ở Tây nguyên; Đề xuất các giải pháp tổng thể giải quyết các mâu thuẫn và các mô hình sử dụng hiệu quả tài nguyên nước nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi
Theo Nguyễn Ngọc Ngân và CTV (2017), Nghiên cứu hiện trạng sử dụng và quản
lý tài nguyên nước mặt trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hiện trạng và công tác quản lý tài nguyên nước mặt trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Phương pháp phỏng vấn nông hộ và cán bộ địa phương được thực hiện dựa trên khung Đánh giá Môi trường Tổng hợp DPSIR (Động lực chi phối Áp lực -Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng) được thực hiện nhằm: (i) xác định hiện trạng sử dụng nước mặt; (ii) phân tích thuận lợi, khó khăn mà người dân gặp phải trong việc sử dụng nước mặt cho sản xuất trong mùa khô Kết quả nghiên cứu cho thấy tài nguyên nước mặt bị chi phối bởi sự phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng lúa và nuôi trồng thủy sản) đã làm
Trang 8thay đổi nguồn nước mặt biểu hiện qua khả năng cung cấp nước cho sản xuất giảm do ảnh hưởng của khô hạn và xâm nhập mặn vào mùa khô Sự thay đổi tài nguyên nước mặt đã gây khó khăn cho người dân do thiếu nước ngọt phục vụ cho sản xuất, xuất hiện nhiều dịch bệnh trên cây trồng làm giảm năng suất của người dân Do đó, địa phương đã đưa ra giải pháp hạn chế khó khăn cho người dân thông qua chính sách hỗ trợ thiệt hại trong sản xuất, sửa chữa và nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi Các giải pháp địa phương thực hiện được đánh giá là khá hiệu quả, đáp ứng nhu cầu và hoạt động sản xuất của người dân
Theo Lê Trung Tuân (2011) ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phòng chống hạn hán phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở các tỉnh miền Trung Đề tài đã nghiên cứu các giải pháp vận hành công trình thủy lợi trong điều kiện hạn hán; nghiên cứu chế độ tưới và kỹ thuật tưới hợp lý cho một số loại cây trồng trong khu vực; Đề xuất giải pháp công nghệ lưu trữ nước, bảo vệ và giữ ẩm đất phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các vùng chưa có công trình thủy lợi
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.5.2 Đặc điểm tự nhiên
1.5.2.1 Vị trí địa lý
Cần giờ có diện tích tự nhiên 70.421 ha (bằng 1/3 diện tích toàn thành phố) nằm
về hướng Đông Nam, có hơn 20 Km bờ biển chạy dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc
Có vị trí:
- Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Nhơn Trạch, huyện Long Thành (tỉnh Đồng Nai), huyện Châu Thành, thị xã Bà Rịa, thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
- Phía Tây giáp với huyện Cần Đước, huyện Cần Giuộc( tỉnh Long An) huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang)
- Phía Tây bắc giáp với huyện Nhà Bè(TP.HCM) về phía Tây Bắc
- Phía Nam giáp với Biển Đông
Trang 9Vị trí của huyện Cần Giờ ở từ 106 độ 46’12” đến 107 độ 00’50”
Kinh độ Đông và từ 10 độ 22’14” đến 10 độ 40’00” vĩ độ Bắc
Về hành chính, Cần Giờ có 7 xã và thị trấn: Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Bình Khánh Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Cần Thạnh
Trang 10Vị trí địa lý huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh
1.5.2.2 Địa hình, địa mạo
1.5.2.3 Tính chất thủy văn theo địa hình và mùa
Cần Giờ nằm trong vùng ven biển phía Đông nam Việt Nam, bị chi phối bởi
Trang 11triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều Huyện Cần Giờ có một hệ thống sông phức tạp, nước ngọt bắt nguồn từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, chảy vào hệ thống sông rừng ngập mặn Cần Giờ sau đó đổ ra sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp theo các nhánh sông chính của sông Thị Vải và Gò Gia Hệ thống sông chiếm diện tích 32% tổng diện tích của huyện Cần Giờ và phần lớn các con sông thường chảy
theo một hướng đông nam (Tuấn et al., 2002).
Ngoại trừ một số ít ngày trong tháng chỉ có một con triều trong ngày, còn lại các ngày khác đều có 2 con triều mỗi ngày Khi triều cường biên độ thủy triều dao động từ khoảng 2m đến 4m, tại đây có biên độ thủy triều cao nhất trong khu vực từ được các quan sát tại Việt Nam Thủy triều đạt đến đỉnh cao tối đa vào giữa tháng 9
và tháng 1 là 3.6 – 4.1m ở khu vực phía Nam và 2.8 – 3.3 m ở khu vực phía bắc của Cần Giờ Mực triều cao tối đa xảy ra trong tháng mười hoặc tháng mười một và mức tối thiểu xảy ra trong tháng tư hoặc tháng năm Theo âm lịch hàng tháng, từ ngày 29 đến ngày 3 của tháng và từ ngày 14 đến ngày thứ 18 của tháng, khi triều cao toàn bộ diện tích của rừng ngập mặn Cần Giờ bị ngập hai lần một ngày Ngày 8 và ngày 25 của tháng, thủy triều đạt mức thấp nhất lúc này rừng chỉ ngập một lần trong ngày
(Tuấn et al., 2002) Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trên bờ biển
phía Đông Nam Việt Nam, cách khoảng 12 km từ trạm khí tượng thủy văn Vũng Tàu
1.5.2.4 Thảm thực vật
Rừng ngập mặn Cần Giờ có quần thể hệ động thực vật đa dạng và phong phú Đặc biệt, tại đây còn có nhiều loại động vật quý hiếm như đàn khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) cùng nhiều loài chim, cò khác
Sau hơn 30 năm khôi phục và bảo vệ đã biến rừng Cần Giờ trở thành khu rừng ngập mặn lớn nhất Việt Nam có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hệ động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Mức độ đa dạng sinh học ngày càng gia tăng cả về chủng loài và số lượng cá thể Theo như tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học thì hiện nay
ở Cần Giờ đang có: