1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BG Kỹ thuật Nuôi lươn

15 245 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 169,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật sản xuất lươn giống 1.1 Lấy trứng, lươn con về ương nuôi Hàng năm cứ đến mùa lươn đẻ, nhìn kỹ ở mép bờ, bờ ao, bờ mương thấy các khe hở có các khối bọt trắng, đối diện là các

Trang 1

Lươn là một trong những loài đặc sản qúy vừa có giá trị thực phẩm vừa có giá trị xuất khẩu cao Hiện nay lươn không những được tiêu thụ mạnh ở nước ta mà còn phát triển trên nhiều thị trường khác như Hồng Kông, Singapo, Trung Quốc đem lại nhiều lợi nhuận và có ý nghĩa thúc đẩy nghề nuôi đặc sản phát triển mạnh Trong phong trào phát triển nông hộ hiện nay, nghề nuôi lươn góp phần sử dụng hợp lý sức lao động nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống ở các hộ gia đình nông thôn

Để giúp bà con có thêm vốn hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi lươn, được sự đồng ý của Trung tâm phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Huế, chúng tôi xin giới thiệu tập bài giảng về kỹ thuật nuôi lươn để bà con tiện theo dõi

I ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC :

1 Hình thái: Lươn có thân dài, nhỏ, tròn, đầu to, đuôi hơi dẹt Đầu và đuôi như

hai mũi nhọn Mồm lươn dài, hơi nhô ra, có sức há lớn, họng sâu, má lồi, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ Thân lươn bóng, trơn nhẵn, không có vẩy, nhiều chất nhờn

2 Sinh sản: Lươn là loài cá có hiện tượng sinh sản lưỡng tính Cỡ lươn nhỏ hơn

20 cm toàn là cái, cỡ lươn từ 36 - 47 cm ở thời kỳ lưỡng tính và cỡ lớn hơn 54 cm hầu hết là lươn đực Mùa lươn đẻ chủ yếu vào tháng 3, 4 dương lịch, ở miền Nam lươn đẻ vào tháng 5, 6, mùa đẻ phụ vào tháng 8, 9 Lươn thường làm tổ đẻ ở đất sét pha thịt như bờ ruộng, ven kênh mương, bờ ao, chuôm Trước lúc đẻ, lươn đực có nhiệm vụ khoét hang Hang thường có hình chữ U, cao hơn mặt nước ruộng 5 10 cm, toàn bộ khu vực hang thường có ba ngách:

- Ngách phụ để thông khí, giúp lươn thở

- Ngách chính thường nằm sâu dưới bùn

- Ngách từ trên bờ vòng xuống tạo thành chữ U Trước khi lươn cái đến đẻ, lươn đực phun đầy bọt trong tổ và lươn cái đẻ trứng trên đám bọt đó Lúc đầu đám bọt có màu trắng, khi trứng sắp nở đám bọt ngả sang màu ngà Trong một tổ đẻ số lượng trứng biến đổi từ 80 - 600 trứng Số lượng trứng thay đổi tùy theo kích cỡ lươn Lươn dài 20 cm có 200 - 400 trứng, lươn dài 30 cm có 300 - 500 trứng, cỡ lớn có thể đạt 1000 trứng Ở nhiệt độ 30 0C trong vòng một tuần lễ trứng nở ra lươn con, đến 10 ngày lươn dài 20 mm có thể tự kiếm mồi

3 Tính ăn: Lươn là loài ăn tạp, tuy nhiên lươn ăn chủ yếu là các động vật có chất

tanh Khi còn nhỏ, lươn ăn sinh vật phù du, giai đoạn tiếp lươn ăn côn trùng, bọ gậy, ấu trùng chuồn chuồn, ăn các cá thể hữu cơ vụn nhỏ như rể lúa Lươn lớn ăn giun, ốc, tôm, tép, cá con, nòng nọc và các động vật trên cạn gần mép nước như giun dế

Khi thiếu thức ăn, lươn có thể ăn thịt lẫn nhau Mùa lươn đẻ hầu như lươn không

ăn Nhiệt độ sống thích hợp là 22 - 25 0C, lúc nhiệt độ dưới 10 0C lươn ngừng kiếm ăn,

Trang 2

đào hang sâu để qua đông Lươn ăn mạnh vào tháng 5 - 7, lươn béo vào mùa thu và mùa xuân trước khi đẻ

4 Sinh trưởng: Lươn 1 tuổi dài 27 cm nặng 18 - 60 gam, lươn 2 tuổi dài 36 - 48

cm nặng 40 - 100 gam Ở miền Bắc lươn lớn dài 62 cm, nặng 300 gam, miền Nam có con nặng 1,5 kg Lươn con năm thứ nhất lớn nhanh về chiều dài, đến năm thhứ ba chủ yếu tăng về trọng lượng

5 Tập tính sống: Lươn thường thích sống ở nơi đất thịt pha sét, đất bùn Màu sắc

của lươn biến đổi theo môi trường sống Hang của lươn không cố định, kích thước hang lớn hay nhỏ tùy thuộc vào kích cỡ lươn Lươn hoạt động mạnh vào mùa hè, hay đi kiếm

ăn sau những trận mưa rào Lươn có thể sống được 2 - 3 tháng ở lớp đất sâu dưới 1m ở ruộng khô nẻ nhờ cơ quan hô hấp phụ thở bằng họng, da

Hình 1 Hình dáng của lươn

II KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN

1 Kỹ thuật sản xuất lươn giống

1.1 Lấy trứng, lươn con về ương nuôi

Hàng năm cứ đến mùa lươn đẻ, nhìn kỹ ở mép bờ, bờ ao, bờ mương thấy các khe hở có các khối bọt trắng, đối diện là các lỗ hút (thường ở ruộng lúa, nơi lươn đực gác bảo vệ) để phát hiện lươn con

Dùng vợt xúc lươn con đem về thả trong các khay men, chậu nhựa cho ăn bằng lòng đỏ trứng luộc chín và giun đỏ Ngoài ra, chúng ta có thể dùng gáo, vợt có mắc lưới dày để vớt các ổ trứng cho vào thùng chứa sẵn nước đưa về bể ấp Ở nhiệt độ nước 25 -

300C, sau một tuần trứng nở thành lươn con, vớt lươn con ra ương ở ao, thức ăn là giun hay ốc băm nhỏ

Nếu chăm sóc tốt nuôi đến cuối năm đạt 20gam/con

Trang 3

1.2 Nuôi lươn cho đẻ ở bể xây

a Chọn nơi xây bể: Nuôi lươn đẻ không cần qui mô lớn Tuy nhiên cần quan tâm

đúng mức đến việc chọn nơi xây bể nuôi lươn chu đáo Bể nuôi lươn xây ở nơi cao, tránh hướng đầu gió, cung cấp đủ nước, chất nước tốt không bị ô nhiễm

Mức nước nên đặt ở chiều cao nhất định trong bể, có khả năng lưu thông, nước ra vào dễ dàng để chủ động và tiện theo dõi trong quá trình nuôi Bể nuôi lươn có vị trí tốt nhất thường gần nhà ở, có môi trường sống gần với điều kiện sinh sản ngoài thiên nhiên Bể nuôi lươn cho đẻ thường được xây bằng gạch trát xi măng

§ Diện tích khoảng 3 m2

§ Cao 1,4 m, Rộng 1,5 m, Dài 2m

Đáy bể cho một lớp bùn dày (D) để lươn tránh nóng, tránh rét Khoảng 1/3 thể tích của bể cho đất pha sét, dày 60 cm (A) Để một lớp đất thịt dày 20 cm làm bờ, trồng vài cây khoai nước làm nơi lươn đẻ (B) Lớp nước bể sâu 40 - 50 cm, trên mặt thả ít bèo tây (C) Giữa bể có củi làm bằng tre, có thả phên tre kéo lên xuống nơi cho lươn ăn để dễ kiểm tra

Hình 2 Sơ đồ bể nuôi lươn đẻ

b Mật độ thả: Mật độ thả khoảng 20 con kích thước từ 30 - 40 cm đang mùa lươn

đẻ

c Chăm sóc, quản lý: Cho ăn định kỳ ngày 2 lần Mỗi lần cho ăn từ 100 - 300

gam Thức ăn chủ yếu bằng động vật như ốc sên, cá băm nhỏ, dòi Thức ăn bằng thực vật như rau muống, bèo tấm ủ chua trộn với cám, bã đậu

Một tuần thay nước một lần Sau 30 ngày nuôi thấy 4 tổ lươn đẻ (hiện tượng nổi bọt ở gốc cây khoai lang) Sau 1 tháng bắt được 300 lươn con cỡ 8 -12 cm bám ở rể bèo Nhật Bản Sau hai tháng nuôi với mật độ 30 con /m3 (cỡ lươn 20 - 30 cm) trọng lượng lươn tăng 50% so với lúc thả

Trang 4

1.3 Cho lươn đẻ bằng phương pháp sinh sản nhân tạo

a Con giống: Chọn lươn đẻ là chọn loại lươn có khả năng sinh trưởng tốt từ lươn

đánh bắt ngoài tự nhiên, không bị bệnh, khỏe mạnh hay lươn được nuôi dưỡng ở các bể nuôi có nguồn gốc lành mạnh, tăng trưởng tốt, năng suất cao, dễ khai thác Không được dùng cần câu để câu lươn làm giống, điều này sẽ làm lươn bị tổn thương, dễ chết

Lươn được chọn làm con giống phải có thể chất khỏe, kích thước và trọng lượng phù hợp, không bị bệnh hay dị tật, màu da vàng nâu hay xanh tro Trong mùa lươn đẻ phải kiểm tra độ dài thân theo thể trọng để phân biệt lươn đực hay lươn cái Lươn có chiều dài thân 20 - 25 cm, nặng ± 75 g phần lớn là lươn cái Lươn đực có chiều dài thân

45 cm, nặng 100g Tỷ lệ lựa chọn đực cái là 1/3 (một lươn đực cho ba lươn cái )

b Kỹ thuật nuôi ban đầu: Giai đoạn này người ta thường gọi là gột lươn Đây là

giai đoạn rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến cả quá trình nuôi Từ khi lươn nuôi còn là ấu trùng lươn, lươn cần được chăm sóc tỉ mỉ, phù hợp Điều kiện nhiệt độ và thức

ăn luôn được theo dõi chu đáo Phương pháp nuôi như nuôi cá bột

Giai đoạn trưởng thành, mật độ nuôi lươn từ 7 - 8 con/m2, có 2 - 3 lươn cái, lươn

ăn giun nhỏ và thủy trần Mức nước cần thiết từ 20 - 30 cm, thường xuyên có nước sạch lưu thông Trong nước cần cho thêm các cây thủy sinh như bèo, súng và phải làm giàn che cho nắng

c Trợ sản cho lươn: Sau một thời gian nuôi dưỡng từ hạ tuần tháng sáu đến

thượng tuần tháng 7 âm lịch, lươn đã đến thời kỳ phát dục tương đối đầy đủ, chúng ta tiến hành lựa chọn Lươn cái phải có thân mập, bụng chửa to, dùng tay sờ bụng lươn thấy mềm, đàn hồi Bụng có một sợi trong suốt, nhìn thấy những hạt trứng li ti màu vàng nhạt, lỗ sinh dục có màu hồng nhạt Lươn đực nặng 200 - 500g, bụng nhỏ, trước bụng có một vân hình sợi nhỏ, hồng, lỗ sinh dục sưng đỏ, dùng ngón tay day nhẹ sẽ thấy tiết ra dịch trong suốt Sau khi đã lựa chọn được lươn đực và lươn cái theo tiêu chuẩn trên, chúng ta tiến hành phối giống, sinh đẻ

Muốn nâng cao sản lượng lươn con, nên dùng thêm thuốc trợ sản để tăng cường khả năng sinh nở ngay sau khi đã chọn phối lươn cái và lươn đực theo yêu cầu Thuốc trợ sản cho lươn thường dùng loại LR H -A hoặc kích thích tố tuyến tính Lượng dùng nhiều hay ít tùy theo lươn lớn hay bé Thông thường, nếu lươn cái nặng 20 - 50g, lươn đực 50 -

250 g, mỗi lần chỉ nên dùng kích thích tố sinh trưởng từ 5 - 10 mg, tối đa 10 - 30mg như dùng cho cá Kích thích tố sinh trưởng tiêm vào khoang bụng con đực không quá 1 ml, sau 24 giờ mới tiêm cho lươn cái với liều lượng giảm một nửa (0,5 ml)

d Thụ tinh nhân tạo: Sau khi tiêm trợ sản, cho lươn vào nuôi trong chậu ở mức

nước sâu 20 - 30 cm Hằng ngày nên thay nước, giữ nước sạch ở nhiệt độ 25 - 27 0 C, trong thời gian 40 - 50 giờ để lươn hồi phục và phát dục mạnh hơn Kiểm tra lươn cái 3 giờ /1 lần Phương pháp kiểm tra đơn giản là dùng ngón tay sờ nhẹ vào bụng lươn, nếu

Trang 5

thấy các hạt trứng căng hiện rỏ là có thể thụ tinh Kiểm tra lươn đực bằng cách ấn tay tương tự nếu thấy lươn có nhiều tinh, cho thể cho trực tiếp thụ tinh Nếu thấy tinh trùng lươn đực quá ít, có thể giết lươn, mổ bụng tách nhẹ lấy túi tinh bảo quản trong nước muối pha loãng rồi thụ tinh nhân tạo

e Quản lý trứng - phương pháp thực hành gột lươn bột: Khi được giao phối,

lươn cái sẽ đẻ trứng Trứng được thụ tinh khi lươn đực phóng tinh bao phủ Do có tỷ trọng nặng hơn nước, nếu không nằm trong đám bọt tinh dịch trứng sẽ chìm vào trong nước và bị hư Để hạn chế tình trạng trứng hỏng cần có sự can thiệp nhân tạo phù hợp

Phương pháp thụ tinh nhân tạo nên tiến hành ở chum, vại sành, dùng ống phun dẫn nước đưa xuống từ phía trên, sau đó phun đùn lên Trứng theo nước nổi lên, được bảo quản trong tầng nước có dưỡng khí tốt, tỷ lệ thành công cao hơn

Có thể thụ tinh nhân tạo trong lưới bể bằng vải thưa mắt Nên để lưới ở gần mặt nước để giữ được cho trứng thụ tinh yên tĩnh, không bị lay động Trên mặt lưới, trứng rải đều không bị tích đọng lại một chỗ Nước bể dùng thụ tinh nhân tạo cho lươn kiểu lưới bể không cần quá sâu, khoảng 20 - 30 cm là phù hợp

Thời gian trứng nở liên quan với nhiệt độ, độ nóng, không khí trong nước Ởí nhiệt độ nước 25 - 30 0C, sau 6 - 7 ngày trứng nở Sau khi thụ tinh 140 - 160 giờ, vỏ trứng vỡ

ra, ấu trùng lươn hình cá con thân dài bơi ngoe nguẩy Chiều dài ấu trùng lươn khoản 10

- 20 mm Sau 120 - 160 giờ, thân ấu trùng dài 25 - 30 mm, trứng đã hết dinh dưỡng, các bộ phận cơ thể ấu trùng hình thành tương đối hoàn chỉnh, bắt đầu bơi lội bình thường

Thức ăn nuôi lươn gột ở thời kỳ này thường là giun nước cắt nhỏ hay một số thức

ăn chín hòa loãng Khi lươn con nặng 10 - 15 g gọi là lươn giống

2 Kỹ thuật nuôi lươn con

2.1 Công tác chuẩn bị

Trước khi thả lươn vào nuôi, cần tiến hành các khâu sau:

§ Làm sạch bể nuôi, loại bỏ các chất bẩn trong đất ở lòng bể

§ Hàn, vá các vết nức, chống rò rỉ nước trong bể

§ Thoát nước bẩn và cấp nước sạch vào bể

§ Dùng vôi khử trùng với liều lượng 100 - 150 g/m2 ao

§ Tiêu diệt hết ếch nhái, nòng nọc và các loài cá có hại

§ Rửa sạch bể trước khi nuôi 10 - 15 ngày Sau 7 ngày rửa sạch bể một lần nữa, đưa nước sạch vào bể chuẩn bị thả lươn con

Trang 6

2.2 Thả lươn con

Lươn con đem thả có chiều dài thân 17 mm, đều nhau Nếu thả lươn có kích thước nhỏ, lươn yếu khó tự kiếm mồi, còi cọc, lớn chậm Sau 7 ngày, trứng hoàn toàn tiêu hết,

ta có lươn ấu trùng Vào giai đoạn này, cần chăm sóc chúng như chăm sóc cá bột

Thức ăn của lươn giai đoạn này là lòng đỏ trứng luộc chín Sau 2 - 3 ngày nuôi trong chậu, thấy lươn bột hoạt động mạnh, kiểm tra bể nuôi đảm bảo điều kiện nhiệt độ, thả dần dần và nhẹ nhàng cho lươn xuống nước Mật độ thả 300 - 450 con /m2

2.3 Chăm sóc và quản lý

Việc lựa chọn thức ăn phù hợp đủ chất và chăm sóc quản lý chu đáo là một trong những yếu tố quan trọng giúp việc nuôi lươn thành công

a Cho ăn : Cần cho lươn ăn theo tiến trình sau:

§ Hai ngày đầu ăn giun nước, hay giun đất băm nát, cho ăn tập trung ở một góc bể Nên cho ăn vừa phải để tránh lãng phí thức ăn và đảm bảo môi trường nước sạch

§ Ba ngày sau lươn ăn giun nguyên con không cần băm nát và sau đó cho ăn tăng dần lên

§ Khi lươn lớn, ngoài thức ăn không băm cần duy trì 10 - 15% lượng thức ăn băm nhỏ để lươn dễ hấp thu, chuyển hóa nhanh

§ Sau 4 - 5 ngày nuôi ban đầu, đến giai đoạn nuôi huấn luyện, giun vẫn là thức

ăn chủ yếu của lươn

b Phân loại nuôi dưỡng: Việc phân loại nuôi dưỡng rất đơn giản Khi cho lươn

ăn, lợi dụng lúc lươn ham ăn, dùng mắt quan sát, chọn và vớt các con khỏe đưa sang bể nuôi mới Giai đoạn này mật độ nuôi 150 - 200 con/m2 Thức ăn lúc này là giun sống, cám, gạo giã nhỏ, bí, rau, các loại men cám

Khi trọng lượng lươn con tăng 8 - 10%, mỗi ngày cho lươn ăn 2 lần lúc 8 - 9 giờ sáng và 14 - 15 giờ chiều Sau 1 tháng nuôi, lươn có chiều dài 50 - 55m, tiến hành phân loại một lần nữa Những con có chiều dài và trọng lượng tương đương nhau, đưa sang một bể, thả với mật độ 100 - 120 con/m2 Thức ăn lúc này là giun đất to, sâu bọ, các loại côn trùng Có thể tiến hành phối trộn thức ăn, thức ăn sống 60 - 80%, thức ăn phối hợp

20 - 40%

c Chăm sóc quản lý: Công việc chăm sóc quản lý cần tuân thủ theo quá trình

sau:

§ Khống chế chất lượng nước phù hợp Mùa thu và mùa xuân cứ 7 ngày thay nước một lần Mùa hè 3 ngày thay nước một lần Mức nước sâu khoảng 10 cm, không nên cho mức nước sâu quá 15cm

Trang 7

§ Bể nuôi phải thả thêm bèo xanh để làm sạch nước và tăng hàm lượng ôxy Mùa hè phải làm mái che hay giàn bầu, giàn mướp để chống nóng

§ Kiểm tra ít nhất 3 lần/ngày vào sáng, trưa, chiều tối Kiểm tra lượng nước, tình hình tiêu thụ thức ăn, địch hại, vớt rác, thức ăn thối rửa khỏi bể ngay để giữ môi trường nước luôn trong sạch

§ Quan sát tình hình hoạt động của lươn mỗi khi thời tiết thay đổi để có biện pháp phòng chống kịp thời

§ Kiểm tra sức khỏe, tình trạng bệnh của lươn để có biện pháp phòng, chữa trị kịp thời Nếu thấy hiện tượng lươn nhô đầu lên khỏi mặt nước thở có thể là do nước bị nhiễm bẩn, hay nhiệt độ tăng cao Lúc này cần thay nước sạch, giàu ôxy và điều chỉnh nhiệt độ phù hợp

3 Kỹ thuật nuôi lươn thịt

Tùy theo điều kiện địa hình, khả năng chăm sóc quản lý, nguồn giống, thức ăn, chế độ phòng trị bệnh mà có các hình thức nuôi lươn thịt khác nhau Nhìn chung có hai hình thức nuôi lươn thịt chủ yếu sau

§ Nuôi lươn thịt trong bể xây

§ Nuôi lươn thịt trong ao Tuy nhiên dù nuôi dưới hình thức nào, người nuôi cũng cần phải đảm bảo các khâu kỹ thuật chủ yếu sau

3.1 Chọn địa điểm nuôi lươn

a Nuôi lươn trong bể xây: Hình dạng bể nuôi lươn có thể là hình chữ nhật, hình

vuông, dài, tròn, bầu dục đều được, tốt nhất nên tận dụng tối đa mặt bằng hiện có Kích thước của bể to hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, kinh nghiệm nuôi và qui cách sử dụng Bể nuôi lươn cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

§ Xây bể ở những nơi dễ lấy nước và thoát nước, nước chảy quanh năm càng tốt

§ Bể phải phù hợp với điều kiện sống tự nhiên của lươn

§ Bể cần đảm bảo độ cao để lươn không vượt ra được Độ cao tối đa để lươn có thể dựng thân vào tường ngoi lên bằng 2/3 chiều dài thân Ví dụ lươn dài 60

cm có khả năng dựng thân 40 cm

§ Không xây bể quá rộng vì khó chăm sóc Chiều dài mỗi bể từ 2 - 5m Nếu có địa thế xây dài thì nên ngăn thành nhiều bể Thông thường kích thước của bể là rộng 1m, dài 3 - 5 m, cao 1 - 1,2 m làm bằng gạch, đá trát xi măng Tốt nhất bể nên xây chìm dưới mặt đất từ 20 - 40 cm, đáy đổ một lớp bùn nhuyễn 20 - 40

cm, lớp nước 10 - 20 cm Đầu bể đổ một lớp đất sét pha thịt cao 50 - 60 cm,

Trang 8

rộng 40 - 50 cm để lươn làm tổ Phía trên lớp đất trồng cỏ, rau khoai để giữ đất và che mát

§ Bố trí một nơi cố định trong bể để cho lươn ăn nhằm tiện theo dõi và dễ làm vệ sinh khi có thức ăn thừa

§ Bể nuôi không nên để trống ngoài trời, có thể làm mái che thoáng, làm giàn cây leo phía trên, hay thả bèo tây 1/2 diện tích mặt nước

§ Đáy bể bằng đất sét trộn với cát, vôi Cách đáy bể 40 cm có một lỗ cống thoát nước, miệng cống phải có lưới chắn để tránh bị thất thoát

§ Thành bể phải cao hơn mặt nước 30 cm, mép tường trên có gờ để lươn không tuồn ra ngoài

b Nuôi lươn trong ao Đào ao nuôi lươn cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

§ Chọn nơi đất cứng để đào ao, đào sâu 20 - 40 cm, lấy đất đào ao đắp bờ

§ Bờ cao 40 - 60 cm, rộng 1m, bờ phải nện chặt từng tầng một

§ Nện chặt đáy ao sau khi đào, nếu có điều kiện nên lót một lớp nilông khắp đáy

ao và bờ tường rồi phủ một lớp bùn hay bùn trộn cỏ dày 20 - 30 cm

§ Thả một ít bèo tây hay bèo cái trong ao để làm nơi trú ẩn cho lươn Xung quanh ao trồng một ít cây có giàn để làm giảm nhiệt độ trong mùa hè Những

ao có diện tích lớn có thể thả thêm rơm bó, cỏ mục để lươn rúc vào kiếm mồi

§ Mức nước ở ao 10 - 15 cm để lươn nằm trong ao luôn ngóc đầu lên thở và đớp mồi, nếu mức nước sâu quá lươn bơi tốn năng lượng làm giảm sức lớn

§ Trước khi thả 7 ngày, dùng vôi tẩy ao với liều lượng 0,2 kg /m2 để diệt mầm bệnh

Hình 3 Bể xây nuôi lươn thịt

Trang 9

Hình 4 Ao nuôi lươn thịt 3.2 Con giống

Mua lươn giống phải chọn nghiêm túc, thân hình khỏe, không bị thương hay xây xát, trung bình mỗi kg có khoản 30 - 40 con lươn giống Tuyệt đối không mua lươn câu để làm lươn giống Trước lúc thả cần sát rùng bằng cách thả lươn giống vào dung dịch Xanh malaxit 10 ppm trong 20 - 30 phút, ở nhiệt độ 24 - 260C để trị bệnh nấm, hay thả lươn vào dung dịch muối 3 - 4 % trong 4 - 5 phút để trị bệnh ký sinh trùng Nếu thấy lươn lao lên mặt nước chứng tỏ chúng có phản ứng cần kịp thời vớt ra nước sạch tắm 1 -

2 lần rồi thả vào ao nuôi

3.3 Mật độ thả

Lươn giống cỡ 10 - 15 cm, thả 50 - 60 con/m2, tương ứng 1 - 1,5 kg/m2, nên thả giống cùng cỡ

3.4 Chăm sóc quản lý

a Cho ăn: Nên sử dụng thức ăn sẵn có, rẻ tiền như sâu bọ, giun, nòng nọc, nhộng

tằm, tôm tép, cá vụn, phế phẩm các lò mổ, thịt trai, hến Có thể cho ăn thêm cơm, mì sợi, cám Không nên cho lươn ăn thức ăn ươn thối Tỷ lệ phần trăm thức ăn thay đổi theo thời gian

Bảng tỷ lệ phần trăm thức ăn theo tháng

Nhiệt độ

nước

( 0 C)

Phần

trăm

thức ăn

(%)

(Lưu ý thời gian tính theo tháng âm lịch)

Trang 10

Lươn nuôi trong bể có thói quen ăn ban ngày nhưng lươn bắt ngoài tự nhiên về lại thích ăn ban đêm, vì vậy phải thuần dưỡng cho lươn có thói quen ăn ban ngày để tiện cho việc chăm sóc, theo dõi và chuẩn bị thức ăn Quá trình thuần dưỡng được tiến hành theo trình tự sau:

§ Lươn bắt về đưa vào chậu nước pha muối với nồng độ 4% để diệt vi khuẩn bệnh và ký sinh trùng, vớt ra, phân loại to nhỏ tương đương rồi thả vào bể

§ Từ 1 - 2 ngày đầu không cho thêm thức ăn vào bể, để cho lươn đói quen và thích nghi dần với bể nuôi

§ Hết ngày thứ hai, lúc chạng vạng tối cho thức ăn là giun sống vào bể để lươn quen dần với thời điểm có thức ăn

§ Một tuần sau, khi lươn đã quen, cho thức ăn hỗn hợp với giun vào bể theo những bữa nhất định vào ban ngày

= > Cho lươn ăn theo 3 nguyên tắc sau:

§ Đúng giờ Thời gian ăn của lươn trong ngày phụ thuộc theo nhiệt độ nước bể

nuôi Với nhiệt độ 20 - 280C, một ngày cho ăn 2 lần vào buổi sáng từ 8 - 9 giờ, buổi chiều 14 - 15 giờ Nhiệt độ trên 280C, mỗi ngày chỉ cho ăn 1 lần vào 8 - 9 giờ sáng

§ Đủ lượng qui định Lượng thức ăn qui định có liên quan mật thiết đến nhiệt độ nước Ở 150C bắt đầu cho lươn ăn, nhiệt độ từ 15 - 200C nhất là 20 -280C lươn ăn rất mạnh Trên 280C sức ăn của lươn giảm Nhiệt độ nước 20 -28 0C cho lươn ăn cá hay giun sống với khối lượng bằng 6 -10% thể trọng lươn, phối hợp với 1 - 2% thức ăn hỗn hợp Từ 28 0C trở lên cho lươn ăn với khối lượng bằng 4 -6% thể trọng lươn, phối hợp với 1 - 2% thức ăn hỗn hợp

§ Đúng chỗ qui định Cho lươn ăn về một góc ao, hay một vị trí nhất định để dễ theo dõi, quản lý

b Chăm sóc quản lý

§ Chúng ta phải giữ cho nước ao luôn trong sạch Khi thấy nước có hiện tượng thối, bẩn phải kịp thời thay nước Nên trồng các loại cây chịu nước để làm sạch nước, tạo môi truờng sinh thái thích hợp Khi mưa to phải tháo bớt nước tránh làm tràn lươn mất Mùa hè phải làm giàn che trên mặt ao Mùa đông phải tháo hết nước trong bể, đáy bể phủ một lớp rơm rạ dày đủ chống rét cho lươn Kinh nghiệm cho thấy tốt nhất nên duy trì mức nước trong ao ổn định từ 10 -15 cm, khi lươn lớn, nuôi với mật độ dày mức nước cũng không quá 30 cm

§ Có chế độ bón phân hợp lý Bón phân hợp lý để tạo nhiều động vật phù du làm thức ăn cho lươn

Ngày đăng: 19/10/2014, 06:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w