đây là tập những bài nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam về các lĩnh vực Lịch sử, văn hóa, việt nam học, nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử việt nam, lịch sử thế giới, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 1Tiểu ban 4
nghiên cứu và giảng dạy,
đào tạo lịch Sử
Trang 3PHẦN LỊCH SỬ DÂN TỘC TRONG CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ PHỔ THÔNG HIỆN NAY
em học sinh giảm đi rất nhiều; có khá nhiều điểm kém về môn sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển vào các trường đại học, cao đẳng Nguyên nhân của hiện tượng từ đâu? Giải pháp ra sao?
Để trả lời đầy đủ và chính xác cho câu hỏi này đòi hỏi phải tổng hợp được những ý kiến xác đáng, lại phải có quyết sách đúng đắn và kịp thời
2 Tham góp một vài ý kiến về chương trình khung phần Lịch sử Việt Nam trong Chương trình và Sách giáo khoa lịch sử phổ thông hiện nay
2.1 Về tư tưởng và nguyên tắc chung xây dựng chương trình
Theo nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X, việc đổi mới chương trình giáo dục được coi là tâm điểm của toàn bộ quá trình đổi mới giáo dục phổ thông nước ta
Thực hiện Nghị quyết trên, tháng 12/2003 Bộ giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hoàn thiện bộ Chương trình giáo dục phổ thông Chương trình bao gồm:
1 Những vấn đề chung
2 Chương trình chuẩn của 23 môn học và hoạt động giáo dục
3 Chương trình các cấp học: tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
Dưới đây chúng tôi xin điểm lại đôi nét về Chương trình môn Lịch sử đã và đang được triển khai, trong đó đặc biệt lưu tâm đến phần lịch sử dân tộc
Môn Lịch sử hiện nay là môn học được dạy từ lớp 4 đến lớp 12 với yêu cầu đặt ra là giúp người học có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc
Trang 4và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội cho học sinh
Cùng với việc xác định mục tiêu môn học như trên, chương trình môn lịch sử
ở trường phổ thông còn vạch rõ những kiến thức và kỹ năng cần đạt trong quá trình dạy, học Đó là nắm các sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những nội dung quan trọng của lịch sử thế giới, của lịch sử các nước trong khu vực
có ảnh hưởng và liên quan đến lịch sử nước ta Riêng đối với phần lịch sử Việt Nam, yêu cầu đặt ra là phải giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, từ nguồn gốc đến ngày nay, trên cơ sở nắm được các sự kiện tiêu biểu của từng thời kỳ, những chuyển biến lịch sử và sự phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc trong sự phát triển chung của lịch sử thế giới
Để có thể thực hiện được các mục tiêu và định hướng nêu trên, cấu trúc chương trình môn học được thiết kế theo quan điểm phát triển có kế thừa, với việc bảo đảm tính khoa học, tính cơ bản, tính dân tộc
Riêng về tính khả thi, chương trình vạch rõ: cần thường xuyên bám sát thực
tiễn, phát hiện những yếu tố cần điều chỉnh, cần hoàn thiện cho phù hợp
Với tinh thần như vậy, chúng tôi xin nêu vài ý kiến về Phần lịch sử dân tộc trong chương trình môn học ở các trường phổ thông hiện nay
Theo như thiết kế, các kiến thức lịch sử dân tộc bắt đầu được làm quen với các em học sinh ngay từ bậc tiểu học lớp 2, lớp 3 Ở các lớp này, tuy chưa trở thành môn học riêng nhưng nhiều yếu tố của tri thức lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc đã được truyền thụ thông qua các hoạt động học tập và giải trí của học sinh (qua tranh ảnh, các câu truyện kể, các trò chơi, các buổi tham quan, các hoạt động ngoài giờ lên lớp )
Từ lớp 4, lịch sử chính thức trở thành môn học Nội dung chương trình giới
thiệu về lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giũa thế kỷ XIX
Lớp 5, nội dung giáo dục là phần lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến nay
Như vậy khi kết thúc bậc tiểu học, học sinh đã có những khái niệm sơ đẳng về toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam
Trang 5Lớp 8: Lịch sử thế giới cận đại và Lịch sử Việt Nam từ khi Pháp xâm lược
Lịch sử Việt Nam từ nguồn
Nhìn vào cấu tạo của chương trình môn lịch sử ở bậc trung học cơ sở từ lớp 6
đến lớp 9, chúng ta thấy các kiến thức lịch sử dân tộc được nhắc lại ở bậc tiểu học nhưng với dung lượng kiến thức nhiều hơn, sâu hơn và mở rộng hơn
Kết thúc chương trình lớp 9, nếu hội đủ các điều kiện, học sinh được cấp giấy chứng nhận đã kết thúc bậc học để có thể tiếp tục học lên hoặc đi học một nghề phù hợp
Sang chương trình bậc Trung học phổ thông (lớp 10, 11,12) yêu cầu cần đạt khi học các tiết về lịch sử Việt Nam được đặt ra cao hơn
Đơn cử một ví dụ về mức độ yêu cầu cần đạt về nội dung kiến thức trong một chủ đề:
Trang 6- Những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở thời kỳ Văn Lang và
Âu Lạc (tổ chức nhà nước, đời sống vật chất, tinh thần, tiến bộ
về công cụ sản xuất, thành Cổ Loa và cuộc kháng chiến chống Triệu Đà năm 179 TCN)
10
- Biết thời gian, địa điểm cư trú người tối cổ ở Việt Nam, sự hình thành công xã thị tộc;
- Hiểu ý nghĩa thuật luyện kim;
- Nắm và trình bày khái quát được quá trình hình thành các quốc gia cổ đại: văn Lang, Âu Lạc, Chămpa, Phù Nam
- Trình bày được những nét cơ bản về thời kỳ Bắc thuộc (chính sách của các triều đại phong kiến phương Bắc, những chuyển biến về kinh tế, văn hóa)
- Trình bày được những nét chính của một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
Tương tự như vậy, các tri thức thuộc về lịch sử dân tộc được dành cho các
lớp, các bậc học khác nhau tuy cùng một chủ đề nhưng trọng tâm của bài thì không
hoàn toàn giống nhau, mức độ yêu cầu về kiến thức, tư tưởng cũng khác nhau Nếu như ở các lớp đầu cấp, yêu cầu đặt ra đối với học sinh chỉ là nhận biết và ghi nhớ một vài sự kiện lịch sử tiêu biểu, thì ở các lớp học sau, yêu cầu đó được nâng lên: dần dần đi vào bản chất các sự kiện, biết xâu chuỗi, kiến giải các sự kiện hiện tượng rồi đối chiếu, liên hệ, so sánh, rút ra kết luận
Một ví dụ khác: Chương trình lớp 8 và lớp 11 đều có chủ đề là Cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1858-1884 nhưng số bài, số tiết ở lớp 11 được
tăng lên, khối lượng kiến thức cũng nhiều hơn, và quan trọng nhất: mức độ yêu cầu cần đạt có sự chênh lệch lớn Nếu ở chương trình lớp 8, khi học bài này, yêu cầu học sinh chỉ cần nhận biết một số sự kiện cơ bản có liên quan đến cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp; diễn biến sơ lược 1-2 cuộc khởi nghĩa tiêu biểu ở Nam Kỳ; việc tổ chức kháng chiến của triều đình, nội dung chính của các bản hiệp ước 1862,
1874, 1883, 1884 thì ở lớp 11, yêu cầu đạt đặt ra là: Hiểu được tiến trình, thủ đoạn, bản chất cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp; đặc điểm, tính chất cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta; thái độ của triều đình phong kiến và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp
Trang 7Trên đây là những điểm quan trọng cần phải nắm vững đối với các giáo viên đang dạy môn lịch sử ở các trường phổ thông, đồng thời cũng là những vấn đề cần được lưu ý trong suốt quá trình đào tạo sinh viên, không chỉ trong các trường Đại học
và Cao đẳng sư phạm, mà đối với cả những trường, những cơ sở có tham gia đào tạo giáo viên môn lịch sử trên phạm vi toàn quốc
2.2 Một số vấn đề đã và đang nảy sinh
Khi đi sâu vào nghiên cứu Chương trình Giáo dục phổ thông môn lịch sử đang được áp dụng, bên cạnh những cái được, chúng tôi vẫn thấy có một số điểm chưa thật ổn, nhất là khi khảo sát thực tế và căn cứ vào kết quả học tập giảng dạy bộ môn
ở các trường phổ thông
Thứ nhất: Theo chúng tôi (và cũng được nhiều giáo viên dạy sử thừa nhận) thì
chương trình môn học còn khá nặng Khối lượng kiến thức (ghi trong mục: mức độ
cần đạt) phần lịch sử Việt Nam dành cho các lớp chưa thật phù hợp
Ví dụ đối với lớp 5 (lứa tuổi khoảng 11) toàn bộ số giờ dạy môn sử chỉ có 35 tiết (40 phút/tiết, mỗi tuần 1 tiết), nhưng người dạy và người học phải tải một khối lượng kiến thức khổng lồ về lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến ngày nay, với
4 chủ đề rất lớn:
1) Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858-1945); 2) Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954);
3) Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975);
4) Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước (từ năm 1975 đến nay)1
Thiết nghĩ với một khối lượng kiến thức lớn, nhiều thuật ngữ, nhiều khái niệm như vậy, của một thời kỳ lịch sử dài đến như vậy, thì đối với trí lực và tâm lý của những học sinh ở lứa tuổi lên 10-11 khó có thể tiếp thu và ghi nhớ (cho dù có giản lược đến đâu) Còn đối với người dạy (nhất là những giáo viên tiểu học) cũng khó có thể dạy hay, dạy hấp dẫn, đủ sức thu hút học sinh để chúng yêu thích môn lịch sử
Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ có thể nêu ra
Thứ hai: Vì cấu tạo chương trình như trên (chương trình được coi như pháp
lệnh), cho nên các tác giả viết sách giáo khoa phải tuân thủ và biên soạn sách trong một cái khung chật hẹp, không thể thay đổi
Việc xác định chủ đề, mức độ cần đạt (tức là kiến thức chuẩn) một cách thật chính xác, khoa học đối với từng bài, từng chương là rất cần thiết, nhất là trong điều
1
Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử H, 2006
Trang 8kiện nước ta, hiện mới chỉ có một nhóm tác giả, viết một bộ sách, với sự phân biệt về
yêu cầu, mức độ cần đạt trong khung kiến thức chuẩn ở cáclớp, các bậc học không thật rõ ràng, thì điều này sẽ gây nên những bất cập, khó tránh khỏi nhất là về sự trùng lặp, nhàm chán và công thức trong nội dung các cuốn sách giáo khoa Đến
lượt những thày, cô giáo và học sinh (những người phải dạy, phải học) những kiến thức nói trên sẽ không tránh khỏi bị ức chế, cũng có khi gây nên sự chủ quan, coi các kiến thức này đã “học rồi, sao phải học lại ?”
So sánh về “mức độ cần đạt” được quy định trong chương trình Lịch sử phổ thông chúng ta thấy khá rõ điều đó
Hệ quả là có khá nhiều kiến thức trong chương trình THCS được lặp lại gần như nguyên xi ở THPT, làm giảm tính hấp dẫn và sự hứng thú cả đối với người truyền đạt và người tiếp thu kiến thức
Thứ ba: Cách thức và phương pháp biên soạn sách giáo khoa, nhất là ở hai
bậc: Trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa có sự cải tiến mạnh mẽ
Nhìn chung thì khi viết sách giáo khoa, các tác giả đã cố gắng đẩm bảo các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, tư tưởng như tiêu chí chương trình đặt ra, song về phương pháp và cách thể hiện thì chưa thật có sự đổi mới, tính hàn lâm còn thể hiện khá rõ Nhiều chương viết còn nặng, có nhiều chỗ thiên về chính trị (nhất là ở phần Lịch sử Việt nam hiện đại trong sách giáo khoa lớp 12) Cách đặt vấn đề, cách trình bày và văn phong thể hiện trong các bài, các chương chưa thật sự phù hợp với đối tượng người học và người dạy Cách viết sách cho trung học cơ sở và trung học phổ thông không có gì khác biệt, nếu có chăng chỉ thêm bớt phần sự kiện và câu chữ; các tác giả chưa chú trọng nhiều đến năng lực nhận thức và tâm lý học sinh, gây khó khăn cho cả người dạy và người học Vì vậy mà đã nảy sinh tình trạng giáo viên, nhất là giáo viên ở bậc trung học cơ sở, không hiểu biết một cách tường tận các sự kiện được viết trong sách giáo khoa, không thể giải thích đầy đủ các thuật ngữ, các khái niệm lịch sử cơ bản, nên khi giảng bài, để đẩm bảo thời gian, giáo viên chỉ đọc cho học sinh chép một cách thụ động, máy móc Dĩ nhiên điều này còn do lỗi của
người thày, nhưng chính mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức cần truyền tải và sự
hạn chế về thời lượng, trong khi giáo viên vẫn quan niệm mọi kiến thức được viết trong sách giáo khoa là cái mà học sinh phải nghe, còn giáo viên có nhiệm vụ phải truyền đạt , cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đơn điệu, khô
khan trong giờ học lịch sử
3 Để nâng cao chất lượng dạy, học phần lịch sử Việt Nam trong chương trình phổ thông hiện nay
Để nâng cao chất lượng dạy, học môn Lịch sử nói chung, phần Lịch sử dân tộc nói riêng trong chương trình phổ thông hiện hành, cần có những giải pháp đồng
Trang 9bộ Có ý kiến nêu thành ba nhóm giải pháp: Các giải pháp truyền thống, nhóm các giải pháp đột phá, và nhóm các giải pháp chiến lược
Cũng lại có những ý kiến nêu cụ thể về việc phải chú trọng khâu đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên và chuẩn hóa lại đội ngũ giáo viên lịch sử ở tất cả các bậc học (tất nhiên là phải thay đổi phương pháp, nội dung, cách thức bồi dưỡng); chấn chỉnh
dư luận, xóa bỏ quan niệm môn chính, môn phụ; phải quy định môn lịch sử là môn thi tốt nghiệp bắt buộc; tăng giờ học cho môn sử; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các Phòng giáo dục và Sở giáo dục về chuyên môn đối với giáo viên
Riêng về chương trình, sách giáo khoa, cũng đã có không ít ý kiến cho rằng cần phải mạnh dạn thay đổi chương trình, cải tiến nội dung bố cục của sách, cải tiến cách tổ chức viết sách và phương pháp viết sách Tuy nhiên có nhiều vấn đề nêu ra
ở trên không thể bàn và giải quyết trong khuôn khổ bài viết này
Theo sự suy nghĩ của chúng tôi, muốn nâng cao chất lượng dạy học môn sử ở phổ thông thì cần phải đi dần từng bước Cũng như việc điều trị các bệnh nhân, bác
sỹ trước hết phải tìm hiểu và xác định chính xác căn nguyên của bệnh, mới có thể hi vọng chữa trị khỏi bệnh Nếu căn bệnh có liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau thì phải tìm được khâu đột phá, để trừ từ gốc
Trong giai đoạn hiện nay, để tạo ra một bước chuyển căn bản cho việcdạy và
học môn lịch sử, thiết nghĩa phải bắt đầu từ khâu con người
Đứng ở góc độ ngành giáo dục, một phương án khả thi nhất (phương án gần)
là tăng cường chất lượng đào tạo giáo viên bộ môn lịch sử ở các cơ sở đào tạo giáo viên: trung học sư phạm, cao đẳng và đại học sư phạm Khi xây dựng chương trình đào tạo, các cơ sở trên cần tham khảo và nghiên cứu kĩ lưỡng chương trình môn học
ở phổ thông để giảng dạy bám sát
Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả các đợt bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên dạy môn lịch sử ở tất cả các bậc học để họ được bổ xung, cập nhật kiến thức cũng như quan điểm, phương pháp dạy học mới một cách thường xuyên
Đối với các cấp lãnh đạo, từ Sở, Phòng giáo dục, hiệu trưởng các trường, giáo
viên phụ trách môn học phải bỏ hẳn quan niệm về môn chính phụ, và phải có việc
làm thiết thực để chứng tỏ điều đó Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở
đối với những trường hợp giáo viên yếu kém, hoặc sử dụng giáo viên không có chuyên môn để dạy môn sử; mạnh dạn kỷ luật và thay đổi người dạy nếu cần
Cần kiến nghị để tăng số tiết dạy cho môn lịch sử Cần học tập kinh nghiệm của nước ngoài (như Mỹ, một số nước châu Âu) lấy môn sử, nhất là phần lịch sử dân tộc làm môn thi bắt buộc trong các kì thi tốt ngiệp ở bậc học phổ thông
Trang 10Cần có một Hội nghị lãnh đạo (từ Hiệu trưởng các trường trở lên) do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức để thống nhất quan điểm và cách thức thực hiện
Ngoài yếu tố “con người” như đã nói ở trên, cũng cần thiết phải rà soát lại chương trình môn học
Phương án tối thiểu là vi chỉnh để môn học nhẹ hơn, các yêu cầu đặt ra đối với các bậc học sao cho phù hợp hơn, nhằm xóa bỏ cảm giác sợ học môn sử của học sinh
Cuối cùng, cần có sự thống nhất việc đánh giá chất lượng giờ dạy, khuyến khích cách dạy sáng tạo, hấp dẫn của giáo viên và nhân thành phong trào toàn quốc
để học tập, rút kinh nghiệm
Trang 11
LỊCH SỬ VÀ GIÁO DỤC LỊCH SỬ CHO SINH VIÊN Ở PHÍA NAM
PGS.TS Võ Xuân Đàn
Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Tp.HCM
Lịch sử loài người được bắt đầu từ khi con người và xã hội ra đời Từ lúc con người xuất hiện, con người đã có ý thức về lịch sử của mình Sự nhận thức lịch sử khởi đầu là những hiểu biết đầu tiên rồi dần dần phát triển thành một khoa học: khoa học lịch sử Từ nhận thức lịch sử đến trở thành một khoa học lịch sử phải trải qua một thời kỳ lâu dài Tri thức lịch sử là sản phẩm đầu tiên của tư duy con người Tìm hiểu, phân tích nội dung các sản phẩm của văn học dân gian chúng ta có thể tìm thấy những hiểu biết về các sự kiện cụ thể và quan niệm lịch sử của người xưa, và từ khi xuất hiện chữ viết đã giúp cho con người tích lũy kiến thức được nhiều hơn, tốt hơn
Từ những tri thức lịch sử đầu tiên đến khi Sử học ra đời là một chặng đường dài Ở Việt Nam, Sử học xuất hiện cách đây khoảng hơn một ngàn năm từ khi nước
ta thoát khỏi cách thống trị của phong kiến phương Bắc và xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ
Qua các thời đại khác nhau, lịch sử Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau: thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, thời Lý - Trần, thời Lê, thời Nam - Bắc triều, Trịnh - Nguyễn phân tranh, thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc
và thời từ 1945 đến ngày nay Lịch sử Việt Nam đã có một kho tàng kiến thức đồ sộ,
là nguồn lực trong vô cùng quan trọng mà các thế hệ người Việt Nam khai thác, bổ sung để giáo dục và giáo dưỡng các thế hệ người Việt Nam trong bốn ngàn năm lịch
sử không ngừng đấu tranh bảo vệ và xây dựng quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và đang tiến trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngay từ rất sớm, người Việt Nam đã có ý thức về mặt lịch sử của ông - cha mình và nhận thức sự cần thiết phải giáo dục cho các thế hệ nối tiếp những hiểu biết, những kinh nghiệm lịch sử để phục vụ cho hoạt động thực tiễn
Có thể khẳng định rằng việc giáo dục lịch sử đã có từ rất sớm, ngay lúc cộng đồng người ra đời và có trước khoa học lịch sử rất lâu đời Việc nghiên cứu lịch sử với giáo dục lịch sử vốn có sự gắn bó mật thiết với nhau Không có nền Sử học phát triển thì không thể tạo ra nền giáo dục lịch sử tốt được Ngược lại, việc đào tạo, giáo
Trang 12dục, phổ biến lịch sử mà yếu kém thì không thể nào xây dựng được nền Sử học phát triển vững mạnh
Từ ngày đất nước được thống nhất và hàng ngày, hàng giờ trong công cuộc đổi mới đang xuất hiện nhiều thành quả mới trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử đã có những kết quả to lớn Những nội dung, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng sâu rộng vào việc nghiên cứu lịch sử và giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ trong cả nước, trong đó nổi lên những vấn đề như: lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quần chúng nhân dân, là đối tượng tạo ra mọi giá trị của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội, là động lực cơ bản của các cuộc cách mạng xã hội; sự phát triển của lịch sử xã hội loài người theo chiều hướng đi lên, qua các giai đoạn từ thấp lên cao theo quy luật thông qua hoạt động của con người và trải qua các hình thái kinh tế - xã hội
Trong 36 năm nước nhà thống nhất và đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, lịch sử và giáo dục lịch sử ngày càng có vị trí quan trọng trong nền giáo dục của Việt Nam Thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước rất cần những kiến thức lịch sử, bài học lịch sử của nhân loại và của Việt Nam để soi đường, chỉ lối cho thế
hệ hiện tại và tương lại
Để đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân đặc biệt là của thế hệ trẻ Việt Nam trong hiện tại và lâu dài, việc giáo dục lịch sử, cung cấp những kiến thức lịch
sử, những bài học kinh nghiệm, những bài học lịch sử là rất quan trọng và rất cần thiết
Tri thức lịch sử đối với giáo dục thế hệ trẻ không chỉ làm cho thế hệ hệ hiểu biết những giá trị to lớn của di sản văn hóa vật chất và tinh thần mà còn tạo nên sự nhạy cảm với những giá trị mà dân tộc, thời đại, nhân loại quan tâm, tăng thêm ý thức trách nhiệm đối với xã hội
Sức mạnh của trị thức lịch sử không chỉ giới hạn ở chỗ nó giúp cho thế hệ trẽ ngày nay có biểu tượng đầy đủ về quá khứ mà còn làm cho người đang sống có ý thức về xã hội, suy nghĩ, cảm thụ những gì đã xảy ra trong ngày qua để có trách nhiệm với hiện và mai sau Môn lịch sử có vị trí và khả năng tác động đến việc giáo dục, đào tạo những con người phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Qua những trang lịch sử của dân tộc và nhân loại, thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hiện tại, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh cho hiện tại và xây dựng cơ sở cho
sự phát triển hợp quy luật của tương lai Kiến thức lịch sử sẽ giúp cho thế hệ trẻ đang
đi vào cuộc sống công nghiệp hóa - hiện đại hóa tin tưởng vững chắc rằng chính lịch
sử là bằng chứng hiển nhiên về sự toàn thắng của công cuộc xây dựng, sáng tạo đối với sự tàn phá, chiến thằng của hòa bình đối với chiến tranh, sự gần gũi hiểu biết của các dân tộc về văn hóa và các mặt khác, khắc phục tình trạng biệt lập, cách trở, nhân
Trang 13dân Việt Nam có một lịch sử và truyền thống lịch sử lâu dài và cũng có kinh nghiệm phong phú trong giáo dục lịch sử, chúng ta cần khai thác, bổ sung và phát huy
Nhìn lại hơn một phần ba thế kỷ, từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, đặc biệt là tầng lớp sinh viên ở phía Nam của tổ quốc đã đạt được những thành tựu to lớn ta có thể dễ dàng nhận thấy được như sau:
1 Đã nhanh chóng thay thế chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy của bộ môn lịch sử từ bậc phổ thông lên đến cao đẳng - đại học mang tính cách mạng, dân tộc, hiện đại
2 Đào tạo mới và đào tạo lại, thường xuyên bồi dưỡng về kiến thức, phương pháp giảng dạy lịch sử các cấp học đáp ứng nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục của miền Nam sau ngày giải phóng cho đến ngày nay
3 Vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu và phối hợp với các ngành khoa học
xã hội nhân văn và các ngành khoa học tiếp cận khác nghiên cứu, khai thác lịch sử dân tộc, lịch sử nhân loại phục vụ có hiệu quả cho công cuộc cách mạng trong cả nước đặc biệt là thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế mà Đảng
và nhà nước đang tiến hành
4 Chúng ta đã thực hiện được sự vận dung những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu, học tập, giảng dạy lịch sử trong nhà trường các cấp Là cơ sở phương pháp luận nhận thức lịch sử trong các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử
5 Việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập lịch sử địa phương ở các tỉnh miền Nam đã đạt được những thành quả đáng kể, đặc biệt là những vấn đề về lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, lịch sử Đảng, lịch sử kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được khai thác, phục dựng khá công phu và có những kết quả đáng trân trọng Thế hệ trẻ ở miền Nam cũng như của cả nước ngày nay
đã được truyền dạy những vấn đề lịch sử của địa phương một cách đầy đủ, cơ bản những tri thức lịch sử này đã giúp thế hệ trẻ vững tin đi vào cuộc sống để phục vụ, cống hiến và mưu sinh một cách hiệu quả, thực tiễn của 36 năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã thể hiện được điều đó
Song với chức năng của Sử học khôi phục và miêu tả hiện thực lịch sử đúng như nó tồn tại trong quá khứ, trên cơ sở xây dựng biểu tượng ấy, giải thích lịch sử đúng với sự phát triển hợp quy luật của xã hội, phục vụ xã hội, phục vụ con người với hai chức năng khoa học và xã hội ấy, khoa học lịch sử có nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phục vụ cuộc đấu tranh xã hội, lao động sản xuất, giáo dục tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ cho con người Với chức năng và nhiệm vụ ấy trước mắt và trong
Trang 14tương lai việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ nói chung và sinh viên trong các trường đại học nói riêng là rất nặng nề và phải tốn nhiều công sức
Số lượng sinh viên ở phía Nam sau 25 năm đất nước đổi mới, hội nhập, mở cửa đã tăng lên rất nhiều so với trước ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng Hầu hết các tỉnh, thành phố ở miền nam đều có trường đại học - cao đẳng, nhiều sinh viên đã thực hiện được ước mơ ăn cơm nhà đi học đại học, đi bộ, xe đạp, xe máy đến trường để học tập Số lượng trường đại học khoa học xã hội, nhân văn, sư phạm, luật, ngoại thương, ngoại giao có số lượng sinh viên ngày càng đông, số lượng môn học
về kiến thức lịch sử ngày càng phong phú đòi hỏi một đội ngũ giảng viên về khoa học lịch sử phải đủ về số lượng và đảm bảo tốt về chất lượng
Sinh viên hiện nay vẫn say mê với việc học tập lịch sử nếu được tổ chức tốt
Vì sinh viên đã nhận thức rõ việc học tập lịch sử sẽ góp phần tạo cho trí tuệ, tình cảm, đạo đức những giá trị phẩm chất tốt đẹp Quá khứ - hiện tại - tương lai là ba giai đoạn khác nhau về chất trong quá trình phát triển thống nhất của lịch sử xã hội loài người Hiện tại phát triển từ quá khứ và đặt cơ sở cho sự ra đời của tương lai, cho nên những hiểu biết về quá khứ nhất định sẽ có ích cho công cuộc xây dựng tương lai Xã hội loài người còn tồn tại và phát triển thì vẫn cần thiết hiểu biết quá khứ và môn lịch sử phải tồn tại vững chắc trong chương trình giáo dục của mỗi quốc gia, dân tộc
“Chúng ta không coi nhẹ sức mạnh, tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, song không xem đó là yếu tố duy nhất quyết định vận mệnh, sự hưng suy của toàn nhân loại… thực ra nền văn minh ngày nay của nhân loại, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, sự hứng thú, hấp dẫn ngày càng tăng với hiện tại, không thể làm giảm bớt sự chú ý của mọi người với lịch sử quá khứ Mỗi thế hệ trẻ đi vào cuộc sống, hướng theo sự phát triển chung của nhân loại và dân tộc, không thể không mang theo mình những giá trị của quá khứ, đối với nền văn hóa dân tộc và nhân loại
để có điều kiện và khả năng làm chủ đất nước mình và cả hành tinh chúng ta”1
Từ cơ sở nhận thức về lý luận và thực tiễn việc giáo dục lịch sử cho sinh viên
ở phía Nam cần tập trung vào những vấn đề sau đây:
1 Cần tiến hành điều tra, nghiên cứu về những khả năng nhận biết, những kiến thức lịch sử cơ bản được giáo dục ở nhà trường phổ thông của sinh viên trong các trường đại học ở phía Nam đặc biệt chú ý đến lực lượng sinh viên trong các trường đại học có đào tạo tiếp theo về kiến thức khoa học lịch sử để từ đó đánh giá đúng về những hiểu biết về kiến thức lịch sử của đối tượng này để có những chủ trương, biện pháp phát huy, khắc phục phù hợp Việc điều tra khảo sát này có thể được tiến hành dưới một đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Viện Khoa học
1
Phan Ngọc Liên, Lịch sử và Giáo dục lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2003, tr.392, 393
Trang 15Xã hội Việt Nam hay cấp Đại học Quốc gia Hà Nội hay Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh
2 Các trường đại học có ngành đào tạo về khoa học lịch sử, các trường đại học có giảng dạy chương trình lịch sử phối hợp cùng với các cơ quan có trách nhiệm liên quan đến giáo dục lịch sử để nghiên cứu xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp dạy học lịch sử có hiệu quả cao và khả thi trong triển khai thực hiện Đồng thời có chương trình, kế hoạch tiến hành việc nghiên cứu biên soạn các tài liệu tham khảo, chuyên khảo về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới để xuất bản phục vụ yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của sinh viên và bạn đọc có nhu cầu làm cho nguồn tư liệu về Sử học ngày càng nhiều đáp ứng thỏa mãn yêu cầu nghiên cứu của người học
3 Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên giảng dạy lịch sử trong các trường đại học ở các tỉnh phía Nam Chú ý đến số lượng và chất lượng Người giảng viên phải hiểu biết mười để dạy một, hiểu biết sâu rộng mới có khả năng đào tạo lớp người làm chủ được tương lai, mới trở thành người giáo viên dạy lịch sử, mới trở thành người cán bộ nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, mới làm sâu sắc thêm những kiến thức cho những chuyên ngành kế cận khi tiếp xúc với thực tiễn công tác
Kiến thức về lịch sử của giảng viên giảng dạy lịch sử ở các đại học phía Nam tiếp thu được ỏ trường đại học là cơ bản, song về chuyên sâu thì còn rất hạn chế, do
đó trong quá trình giảng dịch lịch sử ở các đại học cần đòi hỏi nhiều ở nỗ lực, cố gắng của mỗi giảng viên trong quá trình vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu để làm giàu thêm vốn kiến thức, giàu thêm năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm giảng dạy truyền đạt kiến thức của mình đối với sinh viên Phấn đấu để trong một thời gian không xa 100% giảng viên dạy lịch sử trong các Trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn, Đại học Sư phạm, Đại học Luật, Đại học Văn hóa - Nghệ thuật và các trường đại học khác có đào tạo ngành lịch sử phải đạt trình độ từ Thạc sĩ đến Tiến sĩ, người đứng đầu các tổ bộ môn thuộc ngành khoa học lịch sử phải là Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo
sư
Bên cạnh việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn, đội ngũ giảng viên giảng dạy lịch sử ở các trường đại học phía Nam cần phải không ngừng nâng cao về mặt nghiệp vụ sư phạm Việc rèn luyện kỹ năng sư phạm là một quá trình lâu dài có thể trong suốt cuộc đời làm người giảng viên lịch sử trên cả nhiều phương diện về chuyên môn nghiệp vụ, về đạo đức tác phong, về mặt lý luận…
Hiện nay đội ngũ giảng viên có thâm niên, có trình độ cao ở các trường đại học có giảng dạy môn lịch sử, đào tạo cán bộ nghiên cứu lịch sử, đào tạo giáo viên giảng dạy lịch sử ở nhà trường phổ thông còn thiếu nhiều về số lượng và yếu về chất lượng Do đó ngoài việc đào tạo cho đủ số lượng giảng viên có trình độ cao để đáp
Trang 16ứng nhu cầu ở các trường đại học ở phía Nam, việc bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, đường lối, quan điểm là một vấn đề có tầm quan trọng và mang tính cấp bách do đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước, cơ hội hội nhập quốc tế và khu vực
4 Cần nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử ở các trường đại học có đào tạo bộ môn lịch sử ở phía Nam Phương pháp giảng dạy lịch
sử ngày nay đã trở thành một khoa học và trở nên cần thiết cho mọi giảng viên dạy lịch sử và những người làm công tác giáo dục lịch sử nói chung Chức năng của phương pháp dạy học lịch sử là tìm hiểu hoạt động nhận thức của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học lịch sử và tổ chức việc giảng dạy của thầy, việc học tập (hoạt động nhận thức) của học sinh về nội dung môn học, tuân thủ các nguyên tắc của giáo dục học Việc thường xuyên nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử sẽ mang lại nhiều hiệu quả trong đào tạo giáo viên giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu lịch sử theo yêu cầu của xã hội
và có tác dụng ngay đến đội ngũ giảng viên đang giảng dạy lịch sử ở các trường đại học ở các tỉnh phía Nam
5 Chú trọng đến việc xây dựng, trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật cho dạy học lịch sử ở các trường đại học có giảng dạy môn lịch sử Cần sớm chấm dứt tình trạng dạy chay, học chay đã tồn tại mấy chục năm nay
Chúng ta đang đào tạo một đội ngũ ngày càng tăng về số lượng và yêu cầu cao về chất lượng để làm giáo viên dạy lịch sử ở nhà trường phổ thông và người nghiên cứu lịch sử tại các cơ quan của Đảng, nhà nước trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão, nhiều thành quả khoa học trong hoạt động nghe - nhìn, trong âm thanh, ánh sáng, trong phim ảnh, trong điện tử - viễn thông, trong hoạt động mạng Internet… đã và đang phát triển mạnh, các lĩnh vực này đều có khả năng phục vụ tốt cho việc giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử trong các trường đại học ở Việt Nam nói chung và ở các tỉnh phía Nam nói riêng Chúng ta phải biết tận dụng để đưa vào phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử nhằm tăng khả năng truyền đạt, khả năng tiếp thu, nhận thức của sinh viên, tăng năng lực học tập, nghiên cứu của người thầy và người học tập bộ môn lịch sử, làm cho người dạy hứng thú hơn, người học say mê hơn bởi sự tìm tòi, sáng tạo của họ
6 Tặng cường nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học về bộ môn lịch sử trong các trường đại học ở phía Nam là trọng tâm của các trường từ năm 2015 -
2020 Sử dụng kết quả đào tạo sau đại học và nghiên cứu khoa học để nâng cao trình
độ của đội ngũ giảng viên dạy môn lịch sử ở các trường đại học có chuyên ngành lịch sử và đồng thời nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên có trình độ đại học về khoa học lịch sử ở các trường phổ thông, các cơ quan của Đảng và nhà nước hiện nay và cho thời gian tới
Trang 17Hiện nay một số trường phổ thông trung học đã có một số giáo viên lịch sử có học vị Thạc sĩ Sử học song chưa đáp ứng được yêu cầu và cũng chưa đều khắp trong các trường phổ thông hiện nay Tiến tới các giáo viên lịch sử giữ nhiệm vụ là lãnh đạo nhà trường, tổ trưởng bộ môn, những giảng viên có năng lực, say mê trong nghiên cứu và giảng dạy phải đạt trình độ Thạc sĩ, cao hơn nữa là Tiến sĩ nhằm góp phần nâng cao một bước quan trọng về chất lượng quản lý, đào tạo trong bộ môn lịch
sử hiện nay và những thập niên tiếp theo
7 Mở rộng các hoạt động giao lưu, liên kết trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy đối với quốc tế và khu vực đối với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học
có chuyên ngành lịch sử ở các trường đại học phía Nam Trong hoàn cảnh và điều kiện hội nhập, mở cửa hiện nay với chủ trương Việt Nam muốn là bạn của các nước trên thế giới, chúng ta có thể tiến hành công tác giao lưu, liên kết trong ý thức nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành lịch sử hiện nay
Bên cạnh việc giao lưu, liên kết đào tạo chúng ta cần tăng cường gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài nhất là chuyên ngành lịch sử thế giới đây là nguồn chúng ta hiện còn thiếu và yếu, cần phải được nhanh chóng bổ sung Chúng ta có nhu cầu hiểu biết và tường tận về lịch sử Việt Nam và trong bối cảnh hiện nay cũng rất cần sự hiểu biết tường tận lịch sử của các nước để có thể hội nhập, mở cửa với quốc tế và khu vực sát đúng với yêu cầu của Đảng và nhà nước và đáp ứng nhu cầu hiểu biết về lịch
sử thế giới của quần chúng nhân dân
8 Trước mắt để tiến tới việc giao lưu, trao đổi, liên kết trong nghiên cứu và đào tạo với quốc tế và khu vực, việc trao đổi, giao lưu giữa các trường đại học có chuyên ngành lịch sử cần phải xúc tiến ngay Cần trao đổi giảng viên, tổ chức các hội thảo khoa học, tổ chức các đề tài nghiên cứu khoa học liên trường nhằm tập trung lực lượng để giải quyết những vấn đề mang tính chất chung của khoa học lịch sử ở trong vùng và khu vực, trao đổi việc biên soạn chương trình, nội dung kiến thức và phương pháp giảng dạy nhằm tạo dựng một mặt bằng kiến thức không cách nhau xa lắm trong các trường đại học ở phía Nam có đào tạo chuyên ngành lịch sử
Lịch sử về việc giảng dạy lịch sử ở các trường đại học phía Nam có chuyên ngành đào tạo lịch sử hiện nay là một vấn đề có tính thời sự và bức thiết Cần có sự đầu tư thỏa đáng cho mặt hoạt động này nhằm nâng cao hơn nữa những hiểu biết về lịch sử, nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo chuyên ngành lịch sử để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong lĩnh vực mở rộng và nâng cao trình độ của nhân dân
Trang 18VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY
MÔN LỊCH SỬ SỬ HỌC
TS Đỗ Thị Hạnh
Vấn đề phương pháp luận sử học từ góc độ của cả người nghiên cứu lịch sử và người được đào tạo về khoa học lịch sử trong nền khoa học của chúng ta rất cần sự lưu tâm thích đáng hơn nữa của giới khoa học này Bên cạnh nhiều môn học và chuyên đề cần thiết khác liên quan trực tiếp đến vấn đề phương pháp luận sử học,
môn học Lịch sử sử học có những đóng góp quan trọng, riêng biệt của mình, và rất
cần được dành cho một vị trí xứng đáng hơn thực tế hiện nay Để môn học thực sự đóng góp được vai trò của nó trong việc trang bị tri thức cho người học, có một số vấn đề sau đây cần sự lưu ý, đóng góp, thảo luận hơn nữa
1 Trước hết, cả người nghiên cứu, giảng dạy và người học cần một nhận thức đúng, đủ về phương pháp luận sử học
Trước hết, không một khoa học nào có thể thực sự là khoa học nếu nó không
có một nền tảng phương pháp luận của chính nó, để không lẫn lộn với các khoa học khác, để xác định đúng phạm vi, mục tiêu, đối tượng và kéo theo là xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp, từ đó thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, chức năng khoa học của nó Mặt khác, bản thân vấn đề phương pháp luận, mà cụ thể là phương pháp luận
sử học cũng vận động không ngừng cùng với sự vận động của thực tế lịch sử, của những tiến bộ trong tri thức của nhân loại, do vậy mà yêu cầu phải luôn có điều chỉnh, bổ sung, nhận thức lại là hoàn toàn phù hợp với quy luật của tư duy Trong môn Lịch sử sử học, phương pháp luận sử học “hiện diện” với hai tư cách: 1 đó là
cơ sở lý luận của môn học và, 2 đó cũng là một trong những nội dung, đối tượng nghiên cứu chính của môn học Với ý nghĩa đó, việc xác định đúng, đủ các khía cạnh liên quan đến vấn đề phương pháp luận của cả người nghiên cứu / viết giáo trình / người học ở đây là một dạng điều kiện tiên quyết
2 Vấn đề phương pháp luận trong các công trình nghiên cứu lịch sử sử học hiện nay ở Việt nam
Thứ nhất, cần xác định thật chính xác, đúng đắn cách tiếp cận vấn đề Lịch sử
sử học được xem như là một phân ngành của lịch sử tư tưởng xã hội, như vậy, một
trong những nội dung phương pháp luận căn bản của lĩnh vực khoa học này chính là
Trang 19hệ thống lý luận về cấu trúc, bản chất, điều kiện hình thành và vận động của ý thức
xã hội, trong đó, tri thức (hay tư tưởng) về lịch sử là một bộ phận cấu thành Nguyên
lý mác - xít (nền tảng của phương pháp luận sử học mác - xít) về tư tưởng / ý thức xã hội cung cấp cho nhà nghiên cứu lịch sử sử học những cơ sở cho việc nghiên cứu của mình, trong đó, đặc biệt quan trọng là mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động sản xuất vật chất và tương quan các lực lượng xã hội với hoạt động của đời sống tư duy
nhận thức trong thời đại đó, hay nói cách khác, đó chính là mối quan hệ giữa tồn tại
xã hội với ý thức xã hội Không xuất phát từ nền tảng phương pháp luận như thế
không thể lý giải được vì sao “ nhân vật chính” của sử học phương Đông cổ - trung đại lại là vua chúa, các bậc đế vương, bởi chính nền kinh tế - xã hội của các quốc gia này là cơ sở để hình thành trên đó bộ máy nhà nước và toàn bộ các yếu tố của thể chế chính trị mang tính chuyên chế điển hình, ở đó, quyền lực của người đứng đầu nhà nước là vô thượng vô hạn Cũng chính trên cơ sở cách tiếp cận này để giải thích về tư tưởng nhân văn của nền sử học Hy Lạp và La Mã Các công trình nghiên cứu về lịch
sử sử học, đặc biệt là các giáo trình cho môn học cần phải tuân thủ nguyên tắc phương pháp luận này để đảm bảo tính khoa học Song, thực tế cho thấy, trong các giáo trình về lịch sử sử học hiện có chưa thực sự chú trọng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các điều kiện kinh tế - xã hội “bên dưới” với nội dung và hình thái của hoạt động ý thức xã hội “ bên trên”, điều đó khiến việc trình bày nội dung sử học trở nên khó hiểu, thiếu sức thuyết phục, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận tri thức cũng như không bồi dưỡng được tư tưởng phương pháp luận của người học Một vấn
đề nữa cũng cần lưu ý, đó là việc nắm vững các quy luật của hoạt động tư duy, nhận thức nói chung và các vận động đặc thù của tư duy lịch sử Điều này giúp cho nhà
nghiên cứu trình bày được đúng, đủ, mạch lạc những nội dung của tri thức lịch sử
như yêu cầu của môn học bởi hoạt động của tư duy rất phức tạp và chồng chéo, nếu không có một cách tiếp cận thật rõ ràng sẽ dẫn đến những rối lẫn, hoặc phiến diện, hoặc dàn trải
Thứ hai, vấn đề phương pháp luận liên quan đến cấu trúc bài giảng môn học Lịch sử sử học Trong các công trình có tính chất học thuật, đặc biệt là các giáo trình cho môn học, yêu cầu về cấu trúc thực chất là một dạng biểu hiện “hình thức” của phương pháp luận, chuyển tải tư duy không phải chỉ của nhà khoa học, mà quan trọng hơn, của cả khoa học đó Điều này buộc nhà nghiên cứu / người viết giáo trình phải tuân thủ những nguyên tắc phương pháp luận sử học nhất định khi trình bày những nội dung của lịch sử sử học sao cho cấu trúc, hình thức của bài giảng đó giúp người học đạt được mục đích nghiên cứu khoa học Những nguyên tắc đó bao gồm: những điều kiện lịch sử hình thành tri thức thời đại nói chung, trong đó có tri thức lịch sử (bao gồm các điều kiện căn bản của kinh tế, xã hội, chính trị và đặc biệt quan trọng là nội dung, đặc điểm của đời sống văn hóa tinh thần của thời đại đó với tính cách đây là điều kiện tác động trực tiếp đến nội dung sử học, ví dụ: chủ nghĩa nhân
Trang 20văn như là nội dung cốt lõi của đời sống tinh thần thời đại Phục hưng ở Tây Âu, điều
đó giải thích cho nội dung, đặc điểm của sử học Phục hưng là sự bác bỏ uy quyền của thần thánh, thượng đế, của Giáo hoàng, vua chúa, từ đó đề cao vai trò của con người đối với lịch sử; hoặc giải thích cho một trong những thành tựu quan trọng của
sử học thời đại này là việc phê phán / chỉnh sửa / khôi phục tư liệu gốc vốn bị bóp méo, cắt xén, xuyên tạc vì mục đích của Giáo hội cơ đốc thời trung cổ…); nội dung, đặc điểm, thành tựu, hạn chế của các nền / các trường phái, khuynh hướng sử học đó; những đóng góp quan trọng của các nền sử học vào tiến trình của lịch sử sử học thế giới về các mặt nội dung, tư duy phương pháp luận, các phương pháp nghiên cứu cụ thể; cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các trường phái lịch sử mà thông qua đó người học có thể hình dung rõ rệt về quá trình vận động, cũng như động lực thúc đẩy sự phát triển ngày càng đi lên về tư duy, tri thức của khoa học lịch sử…
Căn cứ theo yêu cầu khoa học này, một vài giáo trình hiện nay của môn học lịch sử sử học còn nhiều “lỗ hổng” về trình bày, cấu trúc nội dung, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc trang bị kiến thức và không góp phần trau dồi, củng cố, nâng cao
tư duy phương pháp luận cho người học
Thứ ba, vấn đề phân kỳ lịch sử trong các công trình / giáo trình về lịch sử sử học hiện nay ở Việt nam Đây là một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc, thể hiện đặc trưng của khoa học lịch sử, là một trong những thao tác quan trọng hàng đầu của nhà nghiên cứu lịch sử Có thể nói, ở một ý nghĩa nào đó, hệ thống phân kỳ phản ánh chính nội dung, đặc điểm, trình độ tư duy của một trường phái / khuynh hướng
sử học bởi cốt lõi của nó là phản ánh cái nhìn hay nhận thức của nhà nghiên cứu về quy luật vận động của lịch sử Như vậy, nếu như một trong những mục đích nghiên cứu chính của môn học Lịch sử sử học là phải chỉ ra được con đường vận động, động lực thúc đẩy, quy luật hình thành và phát triển của hoạt động tư duy, tri thức lịch sử…(tức là mục đích nhằm đảm bảo chức năng, nhiệm vụ khoa học của phân ngành này) thì phương thức / cách tiếp cận điển hình này của khoa học lịch sử phải được vận dụng ở đây, tức là phải thực hiện việc phân kỳ tiến trình hình thành, vận động, phát triển của lịch sử sử học Tóm lại, vấn đề phân kỳ lịch sử ở một ý nghĩa nào đó như là một trong những thước đo phản ánh đặc trưng, chất lượng khoa học của công
trình nghiên cứu lịch sử nói chung và lịch sử sử học nói riêng Như vậy, phân kỳ lịch
sử là yêu cầu có tính nguyên tắc trong nghiên cứu lịch sử sử học, đồng thời có những nguyên tắc trong phân kỳ lịch sử sử học, chỉ lưu ý ở đây những nguyên tắc
căn bản nhất và trên cơ sở đó cùng nhìn nhận lại vấn đề phân kỳ lịch sử trong các công trình nghiên cứu về lịch sử sử học hiện nay Thứ nhất, việc phân kỳ được dựa trên nhận thức của nhà nghiên cứu về quy luật vận động của lịch sử, từ đó hình thành quan niệm về các thời đại trong lịch sử nhân loại Cho đến hiện nay vẫn có rất nhiều tranh luận của giới học thuật cả trong cũng như ngoài nước về vấn đề này và chắc chắn những khác biệt, thậm chí mâu thuẫn về vấn đề phân kỳ lịch sử sẽ còn tiếp tục,
Trang 21song, dù thế nào, nhà nghiên cứu không thể không lựa chọn cho mình một một hệ thống lý luận khoa học làm nền tảng cho việc phân kỳ lịch sử Các khác biệt giữa những trường phái lịch sử hiện nay dù ở mức độ nào thì cũng không nhà nghiên cứu nào phủ nhận được tính thời đại trong sự phát triển của lịch sử, và tương ứng với mỗi thời đại là những điều kiện, nội dung, hoàn cảnh lịch sử kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tư tưởng, tri thức đặc thù của nó Thứ hai, vẫn diễn ra quá trình chuyển biến vận động không ngừng của các nhân tố trên trong cùng một thời đại lịch sử, và yêu cầu nhà nghiên cứu phải nắm bắt, phản ánh được những thay đổi này, thể hiện trước hết
và căn bản bằng thao tác phân kỳ, cho thấy những chuyển biến đó có thể là tịnh tiến, thụt lùi, là sự nhảy vọt cục bộ hoặc chuyển biến về chất của lịch sử Những nguyên tắc này sẽ khiến cho việc phản ánh tiến trình lịch sử nói chung và lịch sử sử học nói riêng theo thể “biên niên” là không phù hợp bởi không phản ánh chính xác sự vận động của hiện thực lịch sử
Theo cách tiếp cận này, vấn đề phân kỳ trong các công trình nghiên cứu lịch
sử sử học ở Việt Nam còn những thiếu sót và hạn chế nhất định, rất cần sự rà soát lại
và chỉnh sửa Ví dụ: không thể cắt riêng thế kỷ 19 như là một giai đoạn trong tiến trình lịch sử sử học thế giới, ngay cả nếu chỉ giới hạn ở lịch sử sử học tư sản, bởi điều kiện, nhân tố hình thành và phát triển những trào lưu, tư tưởng, học thuyết và nội dung của sử học tư sản không chỉ gói gọn trong thế kỷ 19 Ba mươi năm cuối thế
kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn độc quyền, với đặc điểm là tính chất nhảy vọt của nó theo cả nghĩa phát triển (của sản xuất) lẫn phá hoại, và hệ quả là đẩy chủ nghĩa tư bản bước vào thời kỳ tổng khủng hoảng Thực tiễn này không thể không để lại những dấu ấn sâu sắc trong lý luận, phương hướng của sử học tư sản, mà sự khủng hoảng của nền sử học này trong nhiều thập niên đầu của thế kỷ 20 là một hệ quả
3 Vai trò của môn Lịch sử sử học trong việc trang bị kiến thức về phương pháp luận
Tuy không xác định việc bồi dưỡng, trang bị các kiến thức về phương pháp luận là đối tượng nghiên cứu chính của môn học, song lịch sử sử học có những đóng góp riêng, đặc thù của mình về vấn đề này
Trước hết, lịch sử sử học đề cập đến tư tưởng, nội dung phương pháp luận trong những điều kiện cụ thể của của lịch sử, cho phép người học hình dung, lý giải được nguồn gốc, lý do, nội dung, đặc điểm, thành tựu, hạn chế, đóng góp…của nền / trường phái sử học trong thời đại đó, sự tiếp nhận tri thức của người học do vậy sẽ trở nên sâu sắc, hiệu quả hơn bởi tri thức được trình bày có tính lịch sử, logic khoa học hơn là sự trình bày có tính liệt kê, mô tả hoặc nặng tính khái quát triết lý Sự ngợi ca của nhà sử học La Mã Plutarque dành cho phẩm chất anh hùng, tính cách vĩ đại của thủ lĩnh nô lệ Spartacus sẽ là bình thường dưới cái nhìn của sử học macxit
Trang 22(chỉ ra đời vào giữa thế kỷ 19 trở đi), song, nếu đặt vào bối cảnh thời cổ đại, vào lúc
mà nô lệ nhìn chung chỉ được coi là “súc vật” biết nói và ý thức hệ dân chủ chủ nô chi phối nền sử học La Mã thì tư tưởng của Plutarque chính là minh chứng tiêu biểu cho tính nhân văn sâu sắc vĩ đại của sử học La Mã nói riêng và sử học cổ đại phương Tây nói chung
Thứ hai, do đặc thù của môn học, các nội dung của tri thức lịch sử phải được đặt trong tiến trình phản ánh sự vận động của chúng trong một thời đại, qua các thời đại, vì thế, nhận thức của người học về tri thức lịch sử nói chung và các vấn đề về phương pháp luận nói riêng có tính hệ thống và được trau dồi thêm về cái nhìn biện chứng về tư duy lịch sử của nhân loại, để củng cố thêm nhận thức rằng, tri thức lịch
sử - một loại hình của hoạt động tư duy, cũng là một quá trình phải tuân theo những quy luật của tư duy / nhận thức, của quá trình từ không đến có, từ thấp lên cao, từ lượng biến chất…Nghiên cứu lịch sử sử học từ Đông sang Tây, từ thế giới về Việt nam, từ cổ đại đến hiện đại là một môn học cung cấp cho người học một lượng kiến thức rất bổ ích để hình dung về quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, nhận thức lịch sử nói chung và lịch sử vấn đề phương pháp luận nói riêng của nhân loại
Thứ ba, việc nhận thức tri thức lịch sử có tính quá trình như trên không chỉ giúp cho người học tổng kết được tri thức mà từ đó còn hình thành cơ sở để hình dung về xu hướng phát triển của vấn đề khoa học trong tương lai, đó là một trong
những giá trị có tính thực tiễn rất lớn của môn học này
Trang 23
GIẢNG DẠY TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
CHO SINH VIÊN NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI - MỘT SỐ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, chúng ta đã và đang được chứng kiến sư phát triển mạnh mẽ của quá trình giao lưu, hợp tác giáo dục giữa Việt Nam với nước trong khu vực và trên thế giới Theo đó, số lượng sinh viên Việt Nam
đi du học ở nước ngoài và số lượng sinh viên nước ngoài theo học tại Việt Nam cũng không ngừng tăng lên từng ngày Mỗi một sinh viên nước ngoài khi đặt chân đến Việt Nam dù quốc tịch nào, dù theo học chuyên ngành nào cũng đều có chung một mối quan tâm đó là làm sao được hiểu về đất nước và con người Việt Nam - nơi mà mình sẽ gắn bó ít nhất trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu Và muốn hiểu về đất nước, con người Việt Nam thì trước hết các em phải được trang bị những hiểu biết cơ bản về lịch sử - văn hóa dân tộc Việt Nam xuyên suốt từ xưa đến nay Ông cha ta vẫn thường nói: “nhập gia phải tùy tục” Vốn lịch sử - văn hóa Việt mà các sinh viên nước ngoài được trang bị sẽ là hành trang vô cùng cần thiết giúp các em “hòa nhập” với cuộc sống ở nơi đây và thậm chí từ đó các em có thể tiếp tục đi sâu tìm hiểu, khám phá phục vụ tốt cho việc học tập, nghiên cứu của mình
Từ xưa đến nay, việc giảng dạy tiến trình lịch sử Việt Nam cho sinh viên Việt Nam còn đặt ra rất nhiều vấn đề cần tiếp tục thảo luận, trao đổi Làm sao cho sinh viên trong nước nắm chắc được tiến trình lịch sử dân tộc để tự hào về truyền thống cha anh, để vận dụng nó vào việc lý giải những hiện tượng, sự kiện lịch sử trong hiện tại vốn đã là một điều không hề đơn giản chút nào, đòi hỏi sự nổ lực hết mình của cả giảng viên đứng lớp lẫn các em sinh viên Huống gì đối tượng giảng dạy đó lại là người nước ngoài - những người vốn không sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, lại không thành thục, tường minh hết mọi ngữ nghĩa của ngôn ngữ tiếng Việt vốn phong phú,
đa dạng thì việc chúng ta giảng dạy lịch sử dân tộc cho họ lại càng gặp nhiều khó khăn hơn gấp bội Vậy làm thế nào khắc phục được những khó khăn nói trên để giúp sinh viên nước ngoài tiếp thu tốt nhất những kiến thức lịch sử của dân tộc ta với một niềm hứng thú, say mê? Từ thực tiễn dạy học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội và
Trang 24những kinh nghiệm của chính bản thân trong quá trình tham gia giảng dạy lịch sử Việt Nam cho sinh viên nước ngoài, tôi xin nêu lên một số những ý kiến như sau:
Thứ nhất, bất kì ai cũng vậy, muốn học tập và nghiên cứu tại nước ngoài thì
trước hết phải được trang bị một vốn ngoại ngữ nhất định, không chỉ đủ để có thể giao tiếp mà còn có thể đọc, nghiên cứu tài liệu Đối với sinh viên nước ngoài đến học tập tại các trường đại học ở Việt Nam thì thứ ngoại ngữ đầu tiên mà họ cần học
đó chính là tiếng Việt Hiểu được vai trò của tiếng Việt trong việc giúp sinh viên nước ngoài tiếp cận được những kiến thức chuyên ngành khác, trường Đại học Sư phạm chúng tôi, nhất là ở khoa Việt Nam hoc, nơi hàng năm tiếp nhận rất nhiều sinh
viên đến từ các nước khác nhau trên thế giới, đã tổ chức cho các em những khóa học
tiếng Việt trước khi bắt đầu giảng dạy các chuyên ngành cụ thể Sau khi kiểm tra
trình độ tiếng Việt của từng đối tượng, chúng tôi sẽ tiến hành phân công lớp học theo các trình độ A, B, C và sau đó rèn luyện thêm cho người học các kỹ năng nge, nói, đọc, viết Một khi các em đã được trang bị đủ vốn tiếng Việt để có thể nghe người Việt nói, có thể nói những gì mình nghĩ, có thể đọc sách vở, tài liệu bằng tiếng Việt thì lúc đó mới bắt đầu giảng dạy các môn học theo từng chuyên ngành, trong đó có môn Tiến trình lịch sử Việt Nam
Thứ hai, để sinh viên nước ngoài dễ dàng hình dung tổng quát về lịch sử Việt
Nam, trước khi tìm hiểu từng giai đoạn lịch sử cụ thể, giảng viên nên dành một đến
hai buổi giới thiệu khái quát cả tiến trình lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay Ví dụ,
bằng sơ đồ có thể giới thiệu cho các em biết lịch sử Việt Nam được chia ra làm mấy thời kỳ Trong mỗi thời kỳ lại được phân nhỏ thành các giai đoạn cụ thể như thế nào
Ví dụ: thời Trung đại được chia thành 3 giai đoạn: sau thế kỷ X được xem là thế kỷ bản lề, từ thế kỷ XI (tức từ triều Lý) đến thế kỷ XV (thời Lê sơ) là giai đoạn hình thành, xác lập chế độ phong kiến Việt Nam; từ thế kỷ XV đến nửa sau thế kỷ XVIII
là giai đoạn phát triển trong chia cắt của chế độ phong kiến Việt Nam; từ nửa sau thế
kỷ XVIII là giai đoạn khủng hoảng, suy vong của chế độ phong kiến ấy Không chỉ vậy, giảng viên có thể giới thiệu qua cho các em những sự kiện, những vấn đề lịch sử tiêu biểu trong mỗi giai đoạn cũng là những điểm gợi ý mà các em cần phải học, phải nghiên cứu trong suốt quá trình học Ví dụ, khi giới thiệu cho các em giai đoạn lịch
sử từ 1930 đến 1945 thì cần điểm qua cho các em những sự kiện lịch sử nổi bật trong giai đoạn này như là: phong trào 1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936 - 1939 và phong trào 1939 - 1945 chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Điều lưu ý là trong khi
khái quát tiến trình lịch sử Việt Nam như vậy, chúng ta có thể sử dụng sơ đồ minh
họa sinh động và có thể dùng phép so sánh để khắc sâu kiến thức trong tâm trí người học Ví như: giáo viên có thể so sánh sự phân chia các thời kỳ lịch sử Việt Nam với
sự phân chia các thời kỳ lịch sử thế giới Thậm chí, giảng viên có thể đặt câu hỏi về việc phân kỳ lịch sử của chính dân tộc các em (như phân kỳ lịch sử ở Nhật Bản, Hàn
Trang 25Quốc, Trung Quốc… ra sao?) Qua đó mà người học dễ dàng đem lịch sử dân tộc mình so sánh với lịch sử Việt Nam Nhờ vậy các em sẽ nhớ lâu hơn kiến thức đã học Trên thực tế những câu hỏi này cũng thường tạo nên hứng thú tranh luận, trả lời sôi nổi của người học
Thứ ba, sau khi các em đã có hình dung khái quát về bức tranh lịch sử Việt
Nam, giảng viên bắt tay vào giảng dạy những kiến thức lịch sử cụ thể theo trình tự thời gian từ xưa đến nay Thực tế giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho
thấy: để sinh viên nước ngoài dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức, giảng viên
nên chuẩn bị trước đề cương khái quát bài giảng cho sinh viên và hướng dẫn cho các em tìm và đọc tài liệu trước khi lên lớp Chúng ta có thể đặt trước những câu hỏi mang tính vấn đề của bài học để định hướng chuẩn bị bài ở nhà cho các em Ví dụ:
“trước khi dạy về “Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao ở Pari và Hội nghị Pari”, chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi vấn đề gợi hướng suy nghĩ như sau: “Hội nghị Pari diễn ra trong hoàn cảnh thế giới và Việt nam như thế nào?”, “Hội nghị được chia làm mấy giai đoạn? Đặc điểm của mỗi giai đoan ấy?”, “Nguyên nhân nào mang đến thắng lợi cho Việt Nam? Ý nghĩa của thắng lợi đó đối với Việt Nam và thế giới như thế nào?”… Chúng ta lưu ý, các em là sinh viên nước ngoài, dù đã được trang bị tiếng Việt nhưng thật khó có thể thành thục tiếng Việt như người Việt Nam ta Vì
vậy, trong khi đặt câu hỏi cũng như trong quá trình truyền đạt kiến thức, giảng viên
nên sử dụng những ngôn từ thuần Việt, văn phong chính thống, tránh sử dụng tiếng lóng, tiếng địa phương và những câu ghép dài Ví dụ: thay vì diễn đạt: “Chiến thắng
Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 là chiến công lẫy lừng, mở ra một kỷ nguyên
mới cho dân tộc Việt Nam” thì chúng ta có thể nói: “Chiến thắng Bạch Đằng của
Ngô Quyền năm 938 là chiến công to lớn Nó mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc
Việt Nam” Hay khi nhận xét về bản chất phong kiến của nền giáo dục khoa cử thời
Lý - Trần, với sinh viên Việt Nam, chúng ta có thể nói rằng: “Từ cái vỏ hình thức bề ngoài, giáo dục khoa cử thời Lý - Trần đã ghi dấu một cái gì xa lạ, cách biệt với quảng đại quần chúng mà nhãn quan của phong kiến thống trị không nhìn thấy, hoặc
do bản chất của nó quy định, lại lấy làm thoả mãn, tự hào Đó là việc dùng chữ Hán
đọc theo âm Hán - Việt” Nhưng với sinh viên nước ngoài, chúng ta nên diễn đạt dễ hiểu hơn rằng: “Về hình thức, nền giáo dục thi cử thời Lý - Trần có nhiều điều xa lạ với nhân dân Giai cấp thống trị có thể không nhận thấy điều đó Hoặc họ nhận thấy điều đó nhưng vẫn thỏa mãn vì phù hợp với lợi ích của họ” Diễn đạt làm sao cho sinh viên nước ngoài dễ hiểu không dễ dàng Trên thực tế, giảng viên dùng từ càng đơn giản, câu càng ngắn gọn, súc tích thì hiệu quả tiếp thu của các em càng lớn
Thứ tư, cùng hướng tới mục tiêu là tăng khả năng tiếp nhận kiến thức lịch sử
Việt Nam cho sinh viên nước ngoài, chúng ta nên tăng cường khai thác hiệu quả từ
việc sử dụng Power - point, minh họa kiến thức bằng sơ đồ, tranh ảnh Thậm chí có
thể cho các em xem các đoạn phim tư liệu hay Điều này vừa tăng thêm hứng thú học
Trang 26tập, vừa phát huy trí tượng tượng và giúp các em nhớ lâu hơn những kiến thức đang được học Ví dụ, quả thật là thiếu sót nếu giảng dạy lịch sử Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà giảng viên không giới thiệu cho các em những hình ảnh về Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam
Và cũng sẽ thật đáng tiếc nếu giảng dạy về Cách mạng tháng Tám mà chúng ta không cho các em xem những đoạn phim tư liệu quý báu về những tháng ngày người dân thủ đô vùng dậy khởi nghĩa hay cảnh tượng thật đỗi xúc động, thiêng liêng khi
Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Qua đó, các em không chỉ hiểu hơn được những gian khổ, thử thách mà dân tộc Việt Nam phải trải qua mà còn bồi đắp ở các em lòng khâm phục về một đất nước Việt Nam anh hùng với những con người kiên cường, bất khuất
Thứ năm, để giúp các em có được hình dung đầy đủ, toàn diện về lịch sử Việt
Nam, nên chăng chúng ta phải gắn lịch sử với văn học, lịch sử với văn hóa, lịch sử
với địa lý Hay nói cách khác là sử dụng phương pháp liên ngành trong quá trình
giảng dạy Nói như vậy có nghĩa là cũng như giảng dạy cho sinh viên Việt Nam, khi
giảng dạy cho sinh viên nước ngoài chúng ta không chỉ đơn thuần dạy về lịch sử dưới góc độ chính trị mà phải dạy lịch sử dưới nhiều góc nhìn khác nhau (tất nhiên là luôn tuân theo trình tự về mặt thời gian) Ví như: khi dạy đến hai triều đại phong kiến Lý - Trần, chúng ta không thể không giới thiệu về văn hóa thời Lý - Trần với những thành tựu được xem là tiêu biểu của nền văn minh Đại Việt, như sự phát triển hưng thịnh của Phật giáo, kiến trúc, điêu khắc đạt bước tiến mới với những công trình nổi tiếng còn nguyên vẹn giá trị cho đến tận ngày nay như: Chùa Một cột, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng phật Quỳnh Lâm…Hay khi nhắc đến Nguyễn Trãi - một danh nhân văn hóa tiêu biểu ở thế kỷ XV, sẽ thật thiếu sót nếu chúng ta
không giới thiệu bài thơ Bình Ngô Đại Cáo - một áng thiên cổ hùng văn sống mãi
với muôn đời mà Nguyễn Trãi đã để lại Hoặc khi dạy về kết quả của Hiệp định Giơnevơ ký kết giữa Việt Nam với Pháp, chúng ta không thể không sử dụng kiến thức địa lý để chỉ rõ cho sinh viên vĩ tuyến 17 chia cắt hai miền Nam - Bắc ở đâu trên bản đồ Việt Nam…
Đặc biệt, khi sinh viên nước ngoài học tập tại thủ đô Hà Nội thì thông thường các em đều rất mong muốn được hiểu về mảnh đất, con người Hà Nội Vì thế, trong
quá trình giảng dạy lịch sử, chúng ta nên có sự liên tưởng khéo léo, cụ thể đến thủ đô
Hà Nội yêu dấu Ví dụ: khi tìm hiểu về vương triều Lý, chúng ta có thể giới thiệu rõ
hơn cho các em về nhân vật Lý Thái Tổ - vị vua đầu tiên của vương triều phong kiến này và cũng là người quyết định chọn Thăng Long (Hà Nội) làm thủ đô của cả nước
từ năm 1010 Từ đây sẽ giúp các em hiểu là vì sao tháng 10/2010 vừa qua, Hà Nội đã
tổ chức long trọng lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hay khi chúng ta dạy về kiến trúc, điêu khắc thời Lý - Trần - Lê, chúng ta có thể giới thiệu cho các em biết về Hoàng thành Thăng Long và những dấu tích còn tương đối nguyên vẹn của nó trên
Trang 27mảnh đất Hà Nội ngày nay Một chuyến thăm quan dã ngoại đi đến thăm Hoàng thành Thăng Long, chùa Một Cột…sẽ vừa tạo sự hứng khởi cho các em, vừa dễ dàng giúp cho các em hình dung rõ nét hơn về giai đoạn lịch sử này của Việt Nam Phải chăng đây cũng là một dịp chúng ta tôn vinh vẻ đẹp của thủ đô văn hiến 1000 năm tuổi, là một dịp ta quảng bá cho bạn bè quốc tế về hình ảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước mình
Thứ sáu, cũng như đối với sinh viên Việt Nam, khi giảng dạy sinh viên nước
ngoài, chúng ta phải luôn cập nhật những thành tựu nghiên cứu mới để đưa vào bài
giảng Những phát hiện khảo cổ mới, những vấn đề nghiên cứu mới từ các hội thảo
trong và ngoài nước đã và đang hé mở cho chúng ta rất nhiều những đánh giá, nhìn nhận mới, thậm chí là có phần trái ngược với các đánh giá vốn có trước đây về nhiều vấn đề lịch sử Thực tế giảng dạy cho thấy, sinh viên nước ngoài rất hứng thú nếu như trong khi tìm hiểu một vấn đề lịch sử mà giảng viên đưa ra nhiều luồng ý kiến đánh giá khác nhau và cho các em tự lựa chọn ý kiến mà mình đồng tình rồi giải thích tại sao Ví dụ: cùng đánh giá về vai trò của triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, có rất nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến thì phủ nhận sạch trơn những đóng góp của triều Nguyễn đối với lịch sử dân tộc, xem nó là vương triều phong kiến phản động nhất; có ý kiến thì lại hết sức ca ngợi những cống hiến trên các mặt mà triều Nguyễn mang lại; cũng có ý kiến vừa khẳng định những thành tựu mà triều Nguyễn đạt được trong suốt thời gian trị vị của mình, vừa nghiêm khắc chỉ ra những hạn chế, sai lầm mà triều Nguyễn với tư cách là người đứng đầu đất nước đã phạm phải trong
sứ mạng xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Khi chúng ta đưa ra các ý kiến khác nhau đó, chúng ta nên cho các em được quyền lựa chọn, phát biểu suy nghĩ, chính kiến của mình và có quyền phản bác lại những ý kiến khác Điều này sẽ góp phần tạo ra không khí học tập cởi mở, phát huy tính chủ động, sáng tạo ở các em Tất nhiên sau quá trình thảo luận sôi nổi của sinh viên, giảng viên phải định hướng và chốt lại vấn
đề Song sự định hướng đó không mang tính chất bắt buộc mà dựa trên cơ sở tôn trọng chính kiến của người học nếu họ bảo vệ tốt chính kiến của mình
Thứ bẩy, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến thành tố cuối cùng của quá trình dạy học những lại có tác động chi phối lớn tới các thành tố khác Đó chính là kiểm tra đánh giá Thông thường cũng như sinh viên Việt Nam, khi giảng dạy sinh viên
nước ngoài, chúng ta tiến hành đánh giá ở 2 thời điểm: giữa kỳ và cuối kỳ Mỗi thời điểm đánh giá sẽ nhằm những mục đích khác nhau Nếu như kiểm tra giữa kỳ nhằm đánh giá việc học của sinh viên để có thể cải thiện, thay đổi phù hợp kịp thời; thì kiểm tra cuối kỳ nhằm xác định hiệu quả của toàn bộ quá trình dạy và học, rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng cho các khóa sau Thực tế cho thấy, dù kiểm tra giữa
kỳ hay cuối kỳ thì chúng ta cũng nên tăng cường những đề thi có tính sáng tạo Để
phát huy tính năng động, sáng tạo của các em thì đề thi cũng phải buộc người học thể hiện được tư duy sáng tạo của mình Những đề thi yêu cầu người học “phân tích”,
Trang 28“chứng minh”, “bình luận”…thường tạo hứng thú và phát huy được tư duy độc lập, sáng tạo của các em hơn là những câu hỏi vụn vặt, nặng về “trình bày” hay
“nêu’…Ví dụ: thay vì những đề thi: “Em hãy trình bày diễn biến của chiến thắng Điện Biên Phủ” hay “trình bày diễn biến của đại thắng mùa xuân năm 1975”, chúng
ta nên ra những đề thi phát huy tư duy sáng tạo của các em như: “trong số những chiến thắng chống quân xâm lược của nhân dân Việt Nam, em có ấn tượng với chiến thắng nào nhất? Tại sao?” Hoặc thay bằng việc yêu cầu sinh viên trình bày những thành tựu văn hóa thời Lý - Trần - Lê, chúng ta có thể cho các em phát biểu cảm tượng của mình về một nhân vật lịch sử tiêu biểu của Việt Nam thời kỳ này như Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo hay Lê Lợi, Nguyễn Trãi…Đây là một đoạn trích thuộc phần mở đầu trong bài viết của sinh viên Hàn Quốc Im Tae Won tại khoa Việt Nam học - Đại học Sư phạm Hà Nội khi viết cảm tưởng về nhân vật Lý Thái Tổ: “Tôi thật sự có nhiều ấn tượng tốt về nhân vật Lý Thái Tổ Trước hết Lý Thái Tổ là một ông vua đầu tiên của triều Lý, đã thành lập ra triều Lý vào năm 1009
Ở Hà Nội, em đã đến thăm một bức tượng Lý Thái Tổ rồi Em biết vào năm 1010, ông chọn Thăng Long làm kinh đô của nước Việt Nam Năm nay là năm 2010, Hà Nội tổ chức 1000 năm Thăng Long Vì thế năm nay người dân Hà Nội và khách du lịch ở Việt Nam đều rất nhớ đến vua Lý Thái Tổ” Rõ ràng, mặc dù chưa có được hành văn thật trôi chảy với những ngôn từ sắc sảo như nhiều sinh viên Việt, song qua những lần kiểm tra đó, sinh viên nước ngoài đã có dịp phát huy trí sáng tạo, huy động được tất cả vốn kiến thức được học từ trường lớp và cả từ thực tiễn cuộc sống hằng ngày các mà em đã có dịp trải qua Và đấy cũng chính là một trong những mục tiêu quan trọng mà những người giảng dạy tiến trình lịch sử Việt Nam cho sinh viên nước ngoài như tôi cần phải hướng tới
Trên đây là một số thực trạng và giải pháp mà tôi mạnh dạn rút ra từ chính môi trường giảng dạy của mình Thiết nghĩ trong bối cảnh khi mà đất nước ta đang trong hành trình hội nhập mạnh mẽ vào khu vực và thế giới, việc giới thiệu lịch sử dân tộc đến bạn bè năm châu chính là một nhiệm vụ không thể thiếu nếu muốn cho thế giới biết và hiểu về đất nước, con người Việt Nam Làm sao đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc giảng dạy lịch sử dân tộc cho sinh viên nước ngoài ở các trường đại học hiện nay? Điều này đòi hỏi lương tâm, trách nhiệm và sự đầu tư về công sức, thời gian của mỗi nhà giáo để tìm ra phương pháp tối ưu, phù hợp nhất với từng đối tượng người học
Trang 29CẦN PHẢI GIẢI PHÓNG NHẬN THỨC CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
PGS Nguyễn Văn Hồng Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
Sau một quá trình đổi mới, cải cách phát triển trong khoảng ¼ thế kỷ, đất nước đã có bao đổi thay, thế giới cũng có bao thay đổi Nhận thức của chúng ta về lịch sử cũng có nhiều điều được bổ sung, nhận thức lại Nhìn lại các giáo trình đã viết, những nội dung đã giảng dạy thấy cần phải sửa chữa bổ sung thậm chí thấy cần phải viết lại cho chính xác, có chất lượng, có sức thuyết phục
Công việc này thực không dễ dàng, số cán bộ công tác từ cuối năm 50, 60 thế
kỷ XX đến nay đã có tuổi, sức đọc viết đã không còn sung mãn; một lớp trẻ hơn có tích lũy,số lượng còn ít, bận các công tác và cũng có nhiều việc của cuộc sống lôi cuốn nên còn chưa thể bắt tay tập trung cho công việc biên soạn một bộ giáo trình mới có thể đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy
1 Tư duy chúng ta chưa đổi mới, tư tưởng chúng ta chưa giải phóng
a Chúng ta cũng thừa nhận việc từ bỏ nhận thức, quan điểm cũ đã hằn vết
trong đầu óc của chúng ta đã từng hàng mấy chục năm giảng dạy thật không giản đơn Yếu tố tâm lý và cả nhận thức làm chúng ta e dè đổi mới, vì thực ra “đổi mới tư duy”, “đổi mới” nhận thức không phải dễ dàng Đó là chưa nói đến ý thức luôn luôn lạc hậu với tồn tại, là hiện tượng thường xảy ra trong lịch sử
b Ngành lịch sử chúng ta thật gần gũi và chịu tác động mạnh mẽ của chính
trị Qua thời gian thực thi đổi mới phát triển chủ yếu là chúng ta thiên về kinh tế, khoa học kỹ thuật, và thành tựu của chúng ta cũng chủ yếu về phương diện này, còn
về chính trị ta thận trọng với cách lý giải là “ổn định chính trị” để… phát triển Ngành lịch sử cả lịch sử Việt Nam và thế giới đều chưa bắt đầu “đổi mới” được bao nhiêu, ngành lịch sử thế giới càng hạn chế Chúng ta lo ngại, thận trọng đến mức an phận “bảo thủ”, “bảo mạng” và cả nhát gan
c Chúng ta vốn sống và làm việc trong một Viện, trường học chịu sự ràng
buộc không tránh khỏi khuôn phép của kỷ luật, cả tự giác và không tự giác ngay cả nếp suy nghĩ cũng vậy
Trang 30Ngày nay đã đến lúc xã hội báo động đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cả nội dung lẫn phương pháp và cách phân bổ chuong trình giảng dạy lịch sử Các giáo trình cần được viết lại với quan điểm mới giãi phóng tư tưởng khoa học hơn
2 Nhìn lại một số nội dung lịch sử chúng ta cần đổi mới nhận thức
2.1 Về phong trào dân tộc đấu tranh chống ngoại xâm, sự chọn lựa con đường đấu tranh phát triển của các dân tộc
Trước hết đây là vấn đề đầu tiên chúng ta phải đối mặt, nhận thức lý giãi thế
nào cho có sức thuyết phục Có những dân tộc ngay từ đầu đã tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại sự xâm lược một cách dũng cảm lâu dài; ta ca ngợi đó là dân tộc mang truyền thống bất khuất Thế nhưng có những dân tộc lại đi theo con đường ký hòa ước nhượng bộ, tìm một lối đi thoát hiểm khác Và sau một thời gian học tập phương Tây phát triển kinh tế, họ đã giành lại chủ quyền, xóa đi những hiệp ước bất bình đẳng Có bao điều làm chúng ta băn khoăn, thậm chí làm chúng ta lúng túng trước những câu hỏi của sinh viên; đánh giá là khen các dân tộc khác thức thời, mềm dẻo khôn ngoan, biết lựa chọn đường đi, thì đánh giá thế nào về gia tài bất khuất đấu tranh của các dân tộc như dân tộc Việt Nam đã chọn lựa con đường chiến đấu hy sinh lâu dài gian khổ?
Lịch sử diễn ra với muôn vàn diện mạo phức tạp, nó tuân theo quy luật phát triển trên những tiền đề điều kiện kinh tế chính trị văn hóa và cả tâm lý văn hóa, nhận thức cùng những đặc điểm riêng biệt Có lẽ những người viết, giảng sử không được khiên cưỡng áp đặt cách nghĩ hay một khuôn kết luận có sẵn Lịch sử về phong trào đấu tranh dân tộc chống ngoại xâm và xuyên suốt thời kỳ đấu tranh giải phóng giai đoạn sau còn tồn tại hàng loạt vấn đề đòi hỏi chúng ta phải viết giảng một cách sinh động lý giải một cách có sức thuyết phục hơn nữa Chúng ta đã quen với những kiến thức xưa được trang bị và vận hành suốt một thời kỳ dài!
2.2 Về sứ mạng lịch sử của chủ nghĩa thực dân đối với châu Á lạc hậu
Đã từ lâu chúng ta không chịu nhận rõ còn có một vế khác nữa quan trọng trong hệ luận của Marx ở tác phẩm “Những kết quả tương lai của sự thống trị của Anh ở Ấn Độ” Mác đã viết: “Người Anh sẽ phải hoàn thành hai sứ mệnh ở Ấn Độ:
sứ mệnh phá hoại và sứ mệnh xây dựng Một mặt là phá hoại xã hội của châu Á, và mặt khác là đặt cơ sở vật chất cho xã hội phương Tây ở châu Á”1
Đó chính là tổng luận hai mặt nội dung chính của chủ nghĩa tư bản phương Tây đối với phương Đông.Trong toàn bộ giáo trình viết và giảng dạy lịch sử trước đây, có lẽ chúng ta chỉ chú trọng nhấn mạnh đến mặt phá hoại, lên án những mặt xấu
xa của chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây mà thôi Đó là mặt cần thiết, nhưng
1
Mác - Ănghen: Tuyển tập, tập I, Nxb Sự thật, H.1970, tr.426
Trang 31“chủ nghĩa tuyệt đối hóa” này lại xa lạ với phương pháp luận khoa học nhìn nhận hai mặt về chủ nghĩa tư bản thực dân
Có một thời chúng ta cần phải tập hợp lực lượng quần chúng để đánh đổ ách thống trị của bọn tư bản thực dân nên chúng ta đã lên án gay gắt chủ nghĩa thực dân Nhung hàng trăm năm dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân, dù bị áp bức, bóc lột, kìm hãm, song chúng ta cũng phải thừa nhận rằng chủ nghĩa tư bản thực dân đã kích thích, cấy trồng một xã hội mới ở xã hội lạc hậu ở châu Á; đã đầu tư xây dựng, nâng cao sản xuất xã hội và đã truyền bá cả tư tưởng tự do, dân chủ Đúng là trong mỗi bước tiến bộ, mỗi sự thay đổi của xã hội, những người dân lao động bản
xứ đều phải chịu đựng mọi thứ xỉ nhục, mọi sự khổ sở; nhưng dù sao đó cũng là bước tiến bộ, sự biến đổi của sản xuất xã hội Trong hàng trăm năm thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân, thời gian chiến tranh không thể nào kéo dài hơn thời gian hòa bình được Vì làm sao con người có thể sống được khi ngày nào cũng có chiến tranh Trái lại, con người cần phải có hòa bình để ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất
Các chuyên gia lịch sử thế giới chúng ta chịu sự chi phối bởi quan điểm sùng bái quá tả, nên chỉ chú ý đến đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, chiến tranh, và thường tô đậm những trang sử này Làm như vậy chính chúng ta đã thiếu thái độ khoa học, đơn giản hóa lịch sử và làm sai lệch méo mó cả khuôn mặt lịch sử
Cũng do nhận thức của chúng ta áp dụng theo mô hình nhận thức chỉ có đấu tranh giai cấp mà thôi nên chúng ta cũng cho rằng phong trào giải phóng dân tộc chỉ
là sự đấu tranh đối diện quyết liệt Nhưng lịch sử đấu tranh dân tộc lại diễn ra phong phú muôn màu muôn vẻ hơn nhiều
Đó là cuộc đấu tranh bảo vệ bản sắc dân tộc, đấu tranh bảo vệ văn hóa, đấu tranh bảo vệ ngôn ngữ, v.v…Ví như ở Việt Nam có phong trào đấu tranh đòi mở trường học, phát triển văn hóa; phong trào đấu tranh đòi mở trường học cho nữ sinh quý tộc, phong trào đấu tranh vì ngôn ngữ Bahasa Indonesia; ở Philippine có phong trào đấu tranh đòi tôn trọng ngôn ngữ Tagan vì một ngôn ngữ dân tộc
Về các cuộc đấu tranh chính trị đòi giành quyền thành lập Quốc hội, Hội đồng Dân tộc; đấu tranh cho quyền lợi cộng đồng, giành lấy quyền dân tộc tự trị; trong các giáo trình lịch sử cũng không được chúng ta đánh giá một cách đầy đủ; Phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Việt Nam, phong trào Budi Otomo thức tỉnh lương tri ở Indonesia, tư tưởng cải cách văn hóa ,cải lương đều không được đánh giá một cách thỏa đáng; Ta thường xem đấu tranh giành quyền thành lập Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Cải cách như là con đường thỏa hiệp, yếu đuối nhu nhược, sai lầm, thậm chí là phản lại quyền lợi dân tộc
Nội dung đấu tranh dân tộc về kinh tế, những yếu tố tích cực của nhân tố tư bản chủ nghĩa trong quá trình hình thành, phát triển ý thức dân tộc tư sản hầu như
Trang 32không được chúng ta giới thiệu, xem xét, đánh giá cho đúng mức Các đảng dân tộc
tư sản ở nhiều quốc gia như Philippine, Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc cũng không được chúng ta đánh giá bằng quan điểm lịch sử và đề cao đúng mức ý nghĩa của những nhân tố mới, tích cực trong các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ý nghĩa của việc xây dựng những con đường giao thông thủy, bộ, hàng không để vận chuyển, phát triển kinh tế; việc xây dựng kinh tế đồn điền; v.v…ở các nước thuộc địa cũng đều không được chúng ta chú ý đầy đủ
2.3 Việc xem xét, đánh giá giai cấp phong kiến và triều đại phong kiến
Do chúng ta chỉ chú ý đến việc phân tích giai cấp, việc sử dụng quan điểm giai cấp một cách máy móc, giáo điều nên chúng ta đã bị lệ thuộc quá nhiều vào quan điểm giai cấp cứng nhắc trong khi viết giáo trình lịch sử Thí dụ hầu như cứ là giai cấp phong kiến, địa chủ thì đều là phản động, yếu hèn; cứ là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân thì đều là tiến bộ; mà ít khi đi vào cụ thể, xem xét tính hai mặt của
sự vật, của giai cấp nhất là khi đứng trước mâu thuẫn giữa dân tộc với chủ nghĩa tư bản thực dân Thực ra lịch sử phản ánh rất phong phú, phức tạp, nhiều màu, nhiều vẻ; và nếu như giai cấp phong kiến phải ký Hiệp ước thua thiệt, thậm chí phải chịu đầu hàng chủ nghĩa tư bản thực dân thì thường là trong tình thế họ không thể nào chống lại chúng Tư tưởng chống đối lại sự xâm lược, sự thống trị của ngoại bang vẫn tồn tại trong con người của giai cấp phong kiến, chứ không phải đơn thuần họ chỉ biết đầu hàng, phản bội lại dân tộc Thậm chí có nhiều phong trào chống xâm lược của giai cấp phong kiến mang tính chất anh hùng ca Chúng ta chưa chú ý nghiên cứu, truyền đạt lại theo đúng tinh thần lịch sử, ví như Phụ chinh Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi, vua Duy Tân ở Việt Nam; vua Ache ở Indonesia; nhà Mãn Thanh trong cuộc kháng chiến chống Anh, Pháp, chống Nhật ở Trung Quốc; dòng dõi Đại đế Mogol Bahađua chống Anh ở Ấn Độ v.v…Nhưng mặt khác chúng ta cũng nên chú ý không nên chiêu tuyết cho một số kẻ đầu hàng bán rẻ quyền lợi dân tộc
Phạm trù nhân dân luôn luôn biến đổi theo từng thời kỳ lịch sử của công cuộc đấu tranh và tư chất của từng nhân vật lịch sử cụ thể Chúng ta không nên giản đơn hóa bộ mặt lịch sử vốn phong phú, đa dạng, đầy bi kịch lịch sử của con người Ngày nay khi lục lại nhiều tài liệu của các triều đại phong kiến xưa, chúng ta thấy có nhiều điều phản ánh sự thật là giai cấp phong kiến cũng có tinh thần dân tộc Cách nhìn nhận, phân tích cứng nhắc cho rằng toàn thể giai cấp phong kiến là xấu xa, phản động Cách nhìn nhận đánh giá có lẽ còn để lại nhiều di chứng nên đến cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 đã làm cho chúng ta phạm sai lầm quá “tả” Về mặt nhận thức, việc sử dụng quan điểm giai cấp một cách máy móc, giáo điều đó cũng làm cho chúng ta khó giải thích được những hiện tượng chống thực dân xâm lược khá phổ biến và quyết liệt của những lãnh tụ lãnh đạo các phong trào chống thực dân là các tri thức phong kiến, các quan lại phong kiến, thậm chí là các vua phong kiến nữa như
Trang 33vua Aché ở Indonesia đã đấu tranh giữ vững được nền độc lập của Vương quốc mình đến tận cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX
2.4 Vấn đề trí thức và vai trò của trí thức trong phong trào dân tộc
Đây là một nội dung rất phong phú và có nhiều yếu tố tích cực Đó là vai trò của trí thức trong việc tiếp thu văn hóa, nâng cao nhận thức của dân tộc
Thật vậy, chúng ta cần phải nhận rõ vai trò của trí thức và sự hình thành đội ngũ trí thức dân tộc Đó là những người mang trong mình vốn văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp thu được những tri thức mới của thời đại, họ trở thành những người lãnh sứ mạng thức tỉnh dân tộc, từ thức tỉnh cải lương đến thức tỉnh cách mạng Có hiểu rõ vấn đề này trên dòng phát triển của lịch sử dân tộc, chúng ta mới hiểu được một sự thật lịch sử là trong các phong trào dân tộc đều có vai trò tiên phong của các lãnh tụ xuất thân từ quý tộc, trí thức, vì họ đã được bồi dưỡng tri thức đầy đủ để lãnh đạo các phong trào dân tộc của nước mình Hosé Ridan, Bonifacio, M.Gandhi, J.Nehru, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh v.v…là những thí dụ cụ thể
Từ vấn đề này, chúng ta cũng hiểu được vai trò của văn hóa, của lý luận và của, giá trị và sức mạnh của tư tưởng Những người tri thức của thế kỉ cách mạng mới là những người dùng ngọn đuốc trí tuệ để soi sáng thời đại Nhận thức được sức mạnh của quần chúng đã làm cho những người tri thức lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, đặc biệt là những người tri thức nắm vững được và biết vận dụng một cách sáng tạo học thuyết cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình, có khả năng tạo nên sức mạnh tổ chức kì diệu, tạo nên chiến thắng như ở Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ Những gia tài văn hóa dân tộc cũng hội tụ trong các tầng lớp tri thức dân tộc này một cách mạnh mẽ, nồng đậm
2.5 Vấn đề đánh giá sự thành công của phong trào giải phóng dân tộc
Từ lâu nay chúng ta thường nhận định rằng phong trào giải phóng dân tộc chỉ
có thể giành được độc lập thực sự, được giải phóng thực sự khi nó thông qua con đường đấu tranh quyết liệt do giai cấp vô sản lãnh đạo Kết luận này đã làm cho chúng ta khó khăn khi phải trả lời bạn bè quốc tế Lịch sử đã từng chứng kiến các dân tộc tùy theo điều kiện cụ thể của nước mình có thể sáng tạo con đường đi của nước họ Không thể lấy mẫu hình của dân tộc mình bắt các dân tộc khác phải theo tiêu chí riêng đó Mác, Ănghen cũng từng căn dặn chúng ta đừng rập khuôn, máy móc, giáo điều, ý chí luận: “Chúng ta tự sáng tạo ra lịch sử của chúng ta, nhưng một là,sáng tạo với những tiền đề và trong những điều kiện hết sức xác định… Hai là, lịch sử đã diễn ra theo cái hướng là kết quả cuối cùng luôn luôn phát sinh từ những
sự xung đột giữa nhiều ý chí cá nhân, mỗi ý chí cá nhân này lại do nhiều điều kiện
Trang 34sinh sống đặc biệt tạo ra Do đó co rất nhiều lực chống đối lẫn nhau, một loạt vô tận những hình bình hành lực là những cái tạo nên một hợp lực, tức là sự biến lịch sử ”1
Cả triều sóng cách mạng dâng lên một cách mạnh mẽ sau năm 1945,cũng như các cuộc đấu tranh giành được độc lập của các quốc gia ở các châu lục với muôn màu muôn vẻ diễn ra trong mấy thập kỷ vừa qua; tất cả đã cho phép chúng ta điều chỉnh nhận thức hệ luận của chúng ta
Mọi con đường đi của các dân tộc bị áp bức trên thế giới này đều hướng tới Độc lập, Tự do, Hạnh phúc; nhưng mỗi dân tộc lại căn cứ vào những điều kiện lịch
sử riêng của nước mình để sáng tạo nên những con đường đi khác nhau để tới Độc lập, Tự do, Hạnh phúc Chúng ta không nên cố chấp, vì nếu cô chấp trong biên soạn các giáo trình lịch sử,chúng ta sẽ vô tình làm cho các giáo trình lịch sử này trở thành đơn điệu, mất đi vẻ đa dạng, phong phú vốn có của nó
Có lẽ cũng chính vì lẽ đó, chúng ta đã khó khăn khi phải giải thích để các bạn
bè châu Mỹ La tinh hiểu khi chúng ta đưa ra kết luận : Việt Nam là nước đột phá chọc thủng mắt xích đầu tiên của chủ nghĩa thực dân trên thế giới2
Cách đánh giá chỉ xem nước mình, dân tộc mình là tối ưu, là duy nhất, có lẽ
đã hạn chế tầm nhìn, thái độ thực sự cầu thị học hỏi của chúng ta, nó cũng hoàn toàn
xa lạ với nguyên tắc khiêm tốn học hỏi của nhận thức khoa học
2.6 Về cuộc Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời Liên bang Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Xô viết
Đây là vấn đề đánh giá về ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đối với phong trào giải phóng dân tộc, một vấn đề vừa có tính khoa học vừa có tính chất đạo lý phương Đông
Liên Xô là một thực thể lịch sử xuất hiện nhờ có cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 Ở nước ta hiện nay cũng đang có khuynh hướng muốn phủ nhận những tác động to lớn do sự tồn tại trong 70 năm của nhà nước đầy sức mạnh và cũng đầy những khiếm khuyết này Về vấn đề sự xuất hiện, sự tồn tại cũng như sự tiêu vong của Liên Xô sẽ còn là vấn đề cần phải tranh luận rất nhiều để có được những nhận thức đúng đắn, khoa học Nhưng theo chúng tôi, chúng ta không được phép nghi ngờ rằng chính sự tồn tại của nhà nước vô sản to lớn đần tiên này trên thế giới đã cổ vũ cho phong trào giải phóng dân tộc và đã đóng góp,tạo nên sức mạnh để cho phong trào phát triển tạo lực thành bão táp cách mạng, giành thắng lợi vẻ vang
Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Indonesia,v.v…giành được Độc lập, Tự
do chính là nhờ có sự giúp đỡ trực tiếp hay gián tiếp về vật chất cũng như về tinh
Trang 35thần của Liên Xô Chúng ta là những người làm lịch sử Chúng ta cần xử lý một cách đúng đắn vấn đề này
2.7 Thái độ khoa học nhận thức vể chủ nghĩa Mác
Chủ nghĩa Mác là một học thuyết khoa học những phát sinh phát triển ở châu
Âu giữa thế kỉ XIX Học giả trên thế giới ngay cả học giả tư sản cũng thừa nhận thiên tài của Mác về học thuyết kinh tế1 Hồ Chí Minh đã có nhận xét rất khoa học là:
“Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, những lịch sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”… Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được… Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”2
Chúng ta trong khi viết các giáo trình hầu như còn bị ảnh hưởng khá nặng nề
tư tưởng thuyết thuật, nặng nề diễn dịch nguyên bản và đưa vào phân lượng quá nhiều mà chưa có cách nhìn chọn lựa phù hợp với lịch sử để từ đó chúng ta viết nên những bộ giáo trình mang tính khoa học sâu sắc
Trang 3630 NĂM NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO
CỬ NHÂN SỬ HỌC Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
TS Bùi Văn Hùng Trường đại học Đà Lạt
Ngày 27/10/1976, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Đà Lạt trên cơ sở tiếp nhận cơ sở vật chất của Viện Đại học Đà Lạt trước năm
1975 (1958 - 1975) Trường Đại học Đà Lạt là 1 trong 4 trường đại học tổng hợp của
cả nước Tuy nhiên, lúc mới thành lập, Trường Đại học Đà Lạt chỉ đào tạo các ngành khoa học cơ bản thuộc khối khoa học tự nhiên, chưa tương xứng với tên gọi, tầm vóc
và chức năng đào tạo của một trường đại học tổng hợp của nước ta Vì vậy, tháng 8 năm 1982, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) quyết định chuyển Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên về Trường Đại học
Đà Lạt
Quyết định đúng đắn và quan trọng này của Bộ không những đáp ứng được yêu cầu cấp bách về việc hoàn chỉnh một mô hình đào tạo của một trường đại học tổng hợp mà còn rất phù hợp với nhu cầu đào tạo và xây dựng đội ngũ các nhà khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước Các cán bộ giảng dạy của Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên được Nhà trường biên chế vào các khoa Toán, Lý và thành lập Khoa Văn Sử Trường Đại học Đà Lạt Hai năm sau - năm 1984, ngành Lịch sử bắt đầu tuyển sinh đào tạo Có thể nói, đây là cột mốc quan trọng trong công tác đào tạo cử nhân lịch sử
và ghi dấu ấn về sự trưởng thành của Trường Đại học Đà Lạt Tham gia Hội thảo
khoa học “Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa: Những vấn đề
lý luận và phương pháp tiếp cận”, do hai trường đại học hàng đầu trong lĩnh vực đào
tạo khoa học xã hội và nhân văn của cả nước tổ chức, chúng tôi trình bày vấn đề “30 năm nghiên cứu và đào tạo cử nhân lịch sử ở Trường Đại học Đà Lạt” với mong
muốn góp thêm tư liệu về một chặng đường xây dựng và phát triển của Khoa Lịch sử nói riêng và Trường Đại học Đà Lạt nói chung
1 Nghiên cứu và đào tạo cử nhân lịch sử - chặng đường 30 năm
Những cán bộ giảng dạy ngành lịch sử từ Trường Đại học Tây Nguyên về Trường Đại học Đà Lạt là các thầy cô: Lê Đình Bá, Nguyễn Cảnh Huệ, Nguyễn Thông, Cao Thế Trình, Hoàng Thị Như Ý, Thu Nhung Mlô cùng với các thầy PTS Nguyễn Khắc Tụng, Lê Hồng Bình từ Hà Nội chuyển tới, ngoài ra có thầy TS
Trang 37Nguyễn Hồng Giáp, nguyên là cán bộ của Viện Đại học Đà Lạt là đội ngũ cán bộ giảng dạy đầu tiên có mặt tại Khoa Lịch sử
Trong những năm 1986, 1987, Khoa Lịch sử được bổ sung thêm một số cán
bộ trẻ tốt nghiệp từ Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh là các thầy: Trần Văn Bảo, Nguyễn Công Chất, Lê Minh Chiến, Bùi Văn Hùng
Năm 1991, Trường thành lập Khoa Khoa học xã hội và nhân văn, trong đó Khoa Lịch sử trở thành Ban Lịch sử trực thuộc do PGS Nguyễn Gia Phu làm Trưởng ban Năm 1994, Ngành Việt Nam học do PTS Cao Thế Trình phụ trách được thành lập trực thuộc Ban Lịch sử Sau khi Nhà trường giải thể Khoa Khoa học
xã hội và nhân văn (1999), Khoa Lịch sử được tái lập do PTS Cao Thế Trình làm Phó Trưởng khoa Năm 2000, TS Nguyễn Cảnh Huệ (nguyên Phó Trưởng khoa Khoa học xã hội và nhân văn) được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Khoa Lịch sử, TS Cao Thế Trình là Phó Trưởng khoa Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa được bổ sung Võ Tấn Tú, tốt nghiệp khoá 13, Khoa Lịch sử của Trường
Từ năm 2002, Khoa Lịch sử được Nhà trường cho phép tuyển dụng thêm nhiều cán bộ trẻ từ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh như: Đinh Tiến Hiếu, Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Văn Bắc, Lê Xuân Hưng và các cán bộ là những sinh viên xuất sắc tốt nghiệp từ Khoa như: Cao Đại Trí,
Lê Thị Giang, Mai Minh Nhật, Nguyễn Thị Hà Giang, Trần Thị Hiền ThS Trần Văn Bảo làm Trưởng khoa và ThS Hoàng Thị Như Ý làm Phó Trưởng khoa nhiệm kỳ
2003 - 2008 Ngày 9/4/2008, TS Bùi Văn Hùng (Trưởng khoa Luật) được cử về làm Trưởng khoa và ThS Võ Tấn Tú làm Phó Trưởng khoa nhiệm kỳ 2008 - 2013
Hơn 29 năm qua, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa Lịch sử được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Hiện nay, Khoa có 24 cán bộ cơ hữu, trong đó
có 1 phó giáo sư tiến sĩ, 4 tiến sĩ, 5 giảng viên đang là nghiên cứu sinh, 7 thạc sĩ, 5 học viên cao học, 2 cử nhân và hàng chục giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ là cộng tác viên thường xuyên tham gia vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Khoa
Chương trình đào tạo của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt được xây dựng theo chương trình chuẩn của Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Nhưng do đội ngũ cán bộ cơ hữu và số lượng sinh viên còn hạn chế nên trong thời gian từ 1984 đến 2003, Khoa chưa phân bố thành các chuyên ngành hẹp Hệ thống các chuyên đề về Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử thế giới, Dân tộc học, Khảo cổ học…trong chương trình đào tạo khá phong phú nhưng chưa thể phân thành các chuyên ngành cụ thể của khoa học lịch sử Từ năm 2004, Khoa bắt đầu định hướng đào tạo theo chuyên ngành khi xây dựng chương trình đào tạo theo Chương trình Khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hiện nay, chương trình
Trang 38đào tạo của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt gồm có 3 khối kiến thức là: Đại cương, chuyên ngành và bổ trợ
Song song với quá trình xây dựng và phát triển về đội ngũ cán bộ, bắt đầu từ năm 1984, Trường Đại học Đà Lạt chiêu sinh đào tạo cử nhân sử học khoá đầu tiên (khoá 8) Tổng số sinh viên khoá 8 là 9 người tốt nghiệp vào năm 1988, đã và đang khẳng định mình trong cương vị công tác (trong đó có 1 tiến sĩ)
Từ đó, Nhà trường liên tục tổ chức tuyển sinh đào tạo cử nhân sử học cho các khoá 9 (11 sinh viên), 10 (23 sinh viên) và 11 (21 sinh viên) Tới khoá 12, Nhà trường bắt đầu thử nghiệm tổ chức đào tạo hai giai đoạn, tuyển sinh khoá này được hơn 40 sinh viên văn-sử, học chung giai đoạn 1 - hai năm đầu, đến giai đoạn 2 không
mở được lớp sử Những sinh viên của khoá 12 có nguyện vọng được đào tạo cử nhân
sử học phải chờ học với K13 Trước tình hình ấy, Nhà trường tiếp tục tuyển sinh theo ngành học từ khoá 13 trở đi Trong các kỳ tuyển sinh khoá 13, 14, 17, Khoa Lịch sử tiếp tục tổ chức đào tạo được hàng chục cử nhân sử học Hầu hết số sinh viên tốt nghiệp các khoá này được làm việc đúng chuyên môn ở địa bàn các tỉnh Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên Một số ít làm việc tại các cơ quan Nhà nước thuộc lĩnh vực chuyên môn gần như công an, tư pháp, báo chí…
Theo chủ trương đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 1994, Trường Đại học Đà Lạt đào tạo hai giai đoạn theo hệ thống tín chỉ, do đó 2 khoá 18 và 19, Khoa Lịch sử không chiêu sinh được ngành sử mà chỉ chiêu sinh được cho ngành Việt Nam học (có thể xem đây là thời kỳ khủng hoảng về đào tạo của Khoa)
Năm 1996, Khoa Lịch sử bước vào thời kỳ phát triển mới với sự tăng trưởng đột biến về số lượng sinh viên của cả hai ngành Lịch sử và Việt Nam học (Số lượng sinh viên 2 ngành Lịch sử là 81 và Việt Nam học là 71) Kỳ tuyển sinh năm 1997, số lượng sinh viên ngành Lịch sử là 43 và ngành Việt Nam học là 36 Khoá 22, Khoa Lịch sử được Nhà trường cho phép tuyển sinh gần 200 sinh viên, mở đầu cho giai đoạn bùng nổ về quy mô đào tạo của Khoa (bắt đầu từ khoá này, số lượng sinh viên của Khoa liên tục trên 200, có nhiều khoá đạt trên 300 sinh viên (các khoá 24, 25, 26,
27, 28)
Khoa còn tổ chức đào tạo cử nhân sử học hệ tại chức cho các khoá 1985, 1986
và hệ chuyên tu cho các khoá từ 1997 đến nay (tại Đà Lạt, Nha Trang, Đắc Lắk) Nhiều sinh viên của loại hình đào tạo này đã trưởng thành và giữ các cương vị cao của ngành và nhiều lĩnh vực khác (Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội - Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Khoa Mác - Lênin của Học viện Lục quân - PGS.TS Phạm Hồng Phi)
Từ năm 1995, Trường Đại học Đà Lạt bắt đầu tuyển sinh đào tạo thạc sĩ ngành Lịch sử Việt Nam (khoá IV) Trong số 8 học viên cao học khoá đầu có 4 cán
Trang 39bộ giảng dạy của Khoa thì 3 người đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Nhà nước Đến nay, hàng chục thạc sĩ sử học đã được đào tạo đang công tác tại Khoa Lịch sử và nhiều cơ quan khác ở Lâm Đồng, các tỉnh Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ
và Tây Nguyên
Đào tạo đại học và sau đại học gắn bó chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu khoa học Nhiều cán bộ của Khoa đã chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Tỉnh, cấp Trường, đăng ký và thực hiện đề tài theo chương trình nghiên cứu của các
dự án nước ngoài; hướng dẫn hàng chục luận án thạc sĩ, hàng trăm khoá luận tốt nghiệp đại học; biên soạn hầu hết bài giảng, giáo trình theo chương trình đào tạo của Khoa Hàng chục bài báo khoa học của các cán bộ giảng dạy Khoa Lịch sử đã được
công bố trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông
Nam Á, Nghiên cứu Châu Âu… và trong Thông báo khoa học của Trường Đại học
Đà Lạt Hàng năm, nhiều cán bộ Khoa được mời tham dự các cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
Sinh hoạt học thuật của Khoa không ngừng được tăng cường và mở rộng cả
về nội dung, phạm vi và hình thức tổ chức nhằm thu hút các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên tham gia Trong các buổi toạ đàm khoa học, hội thảo khoa học sinh viên, bảo vệ luận văn tốt nghiệp… sinh viên được tập dượt nghiên cứu và giải quyết các vấn đề khoa học
Nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo, Khoa đã thực hiện đổi mới cả về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo theo quy định của Trường và Bộ Nhờ đó, chất lượng đào tạo của Khoa ngày càng được cải thiện và nâng cao, tạo ra sức thu hút một
số lượng lớn thí sinh đăng ký dự thi vào Khoa
Hiện nay, Khoa có hai ngành đào tạo chính là: Sư phạm Lịch sử và Tổng hợp Lịch sử, với hai hệ đào tạo là chính quy và chuyên tu Ngoài ra còn đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Với đặc điểm đào tạo của Khoa Lịch sử là kết hợp giảng dạy lí thuyết với kỹ năng thực hành, những năm gần đây, Khoa đặc biệt chú ý đến việc tổ chức những đợt thực tập, thực tế cho sinh viên như là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo Mục tiêu của Khoa là nhằm đào tạo những cử nhân sử học có phẩm chất chính trị tốt, trình độ chuyên môn vững vàng để có thể làm tốt công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch
sử cũng như có thể làm việc ở các cơ quan văn hóa, thông tin, báo chí, các văn phòng cấp huyện, tỉnh và trung ương Hàng ngàn sinh viên Khoa Lịch sử tốt nghiệp, đang công tác khắp mọi miền đất nước, nhiều cựu sinh viên của Khoa đã làm việc có hiệu quả và nắm giữ những cương vị quan trọng tại các cơ quan Nhà nước
2 Chiến lược phát triển
Trang 40Nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội hịện nay, Khoa đã xác định hướng đào tạo theo chuyên ngành Thời gian tới, Khoa sẽ xây dựng chương trình đào tạo theo các hướng: Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Lịch sử thế giới và Quan hệ quốc tế; Dân tộc học và Khảo cổ học, tùy theo sự lựa chọn của sinh viên có thể chọn cho mình ngành học yêu thích và phù hợp Hiện nay, Khoa đang xúc tiến xây dựng chương trình đào tạo ngành Lưu trữ Lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ cho các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và cả nước
Một trong những hướng ưu tiên cho sự phát triển cả về quy mô và chất lượng đào tạo của Khoa là mở rộng đào tạo sau đại học Khoa sẽ chuẩn bị mọi điều kiện về nguồn nhân lực để đề nghị Nhà trường và Bộ cho phép mở các ngành đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử thế giới và Quan hệ quốc tế, Dân tộc học và Khảo cổ học, đồng thời tiến tới đào tạo tiến sĩ ngành Lịch sử Việt Nam
Khoa đang là đầu mối trong việc vận động thành lập Hội Sử học Lâm Đồng, nhằm thu hút các nhà khoa học lịch sử trong và ngoài Tỉnh vào việc nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Lâm Đồng và nâng cao chất lượng đào tạo cùa Khoa Trên cơ sở đó, Khoa sẽ tiến hành tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học của sinh viên và cán bộ giảng dạy; tổ chức đăng ký và thực hiện các
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Tỉnh, Bộ và Nhà nước; phối hợp với Hội Sử học Việt Nam, Hội Sử học các tỉnh, Khoa Lịch sử các trường đại học trong nước và các tổ chức quốc tế để thực hiện các dự án nghiên cứu và triển khai các đề tài khoa học Hướng nghiên cứu là tiếp cận các vấn đề khoa học và thực tiễn của địa phương
và cả nước
Khoa sẽ chú trọng tăng cường đội ngũ cán bộ cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng những mục tiêu đề ra Với mục tiêu lấy người học làm trung tâm, Khoa Lịch sử tiến hành rà soát và tăng cường quản lý sinh viên theo hướng chú trọng vào hoạt động học thuật và rèn luyện
Hơn 29 năm, một chặng đường đã đi qua với biết bao gian nan thử thách nhưng cũng có nhiều thành tích đáng tự hào, đủ để khẳng định uy tín khoa học, năng lực dạy và học của thầy trò Khoa Lịch sử qua các thế hệ Nhìn về phía trước, với bao thử thách, những gì đã đạt được sẽ là tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo Từ những thành tích đã đạt được, chúng tôi tin tưởng rằng Khoa Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu về đào tạo và nghiên cứu khoa học ngang tầm với các cơ sở đào tạo trong nước và quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng