VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRÊN LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. Nghiên cứu, trình bầy hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc có liên quan đến việc đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta. Góp phần đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc và việc thực hiện chính sách cán bộ thiểu số ở vùng miền núi hiện nay và các vấn đề cần giải quyết. Đề xuất một số quan điểm và giải pháp có tính khả thi về chính sách cán bộ dân tộc, góp phần xây dựng Luật dân tộc.
Trang 1VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRÊN LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, S Ử DỤNG VÀ Q UẢN LÝ CÁN
BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
1 KS Nguyễn Khôi, Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm
2 PTS Trần Khắc Việt, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Thư ký khoa học
3 Thạc sỹ Lô Quốc Toản, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Phân viện Hà Nội)
4 Trần Đức Chuyên, Văn phòng Quốc hội, Uỷ viên
CỐ VẤN ĐỀ TÀI
Đồng chí Cư Hòa Vần
CÁC CỘNG TÁC VIÊN CHÍNH
1 KS Hà Quế Lâm, Uỷ ban dân tộc và miền núi
2 PGS Hà Nhật Thăng, Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 KS Nguyễn Chủng, Văn phòng Quốc hội
4 PGS Trần Duy Khang, Văn phòng Quốc hội
Và các cán bộ Vụ Dân tộc, Văn phòng Quốc hội
Trang 2I LỜI NÓI ĐẦU
Vụ Dân tộc - Văn phòng Quốc hội được Văn phòng Quốc hội và Thường trực Hội đồng Dân tộc giao nhiệm vụ chủ trì, tổ chức nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:
- Nghiên cứu, trình bầy hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc có liên quan đến việc đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số
ở nước ta
- Góp phần đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc và việc thực hiện chính sách cán bộ thiểu số ở vùng miền núi hiện nay và các vấn đề cần giải quyết
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp có tính khả thi về chính sách cán bộ dân tộc, góp phần xây dựng Luật dân tộc
Nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu trên, căn cứ vào khả năng thực tế về thời gian, lực lượng và kinh phí, nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Nghiên cứu lại hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc
và cán bộ dân tộc
- Đánh giá mức kết quả thực hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc trong công tác cán bộ dân tộc, thể hiện ở sự tham gia vào các cơ quan lãnh đạo Đảng và quản lý Nhà nước của đội ngũ này; những vướng mắc hiện nay so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay
và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nghiên cứu công tác giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội từ trước đến nay, nhất là từ năm 1975 trở lại đây, đối với việc thực hiện của các cơ quan Nhà nước trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số
- Khẳng định lại các quan điểm, định hướng và nêu ra một số giải pháp có cơ sở
lý luận và thực tiễn về đổi mới công tác cán bộ dân tộc thiểu số
Để tổ chức nghiên cứu có hiệu quả, trong quá trình triển khai đề tài, đã tổng hợp
hệ thống các phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh,
hệ thống hóa, mô hình hóa, các phương pháp điều tra xã hội học xin ý kiến các chuyên gia, hội thảo Trong quá trình nghiên cứu đã tổng hợp và phân tích các văn kiện liên quan đến chính sách cán bộ dân tộc của Đảng và Nhà nước (từ năm
Trang 31980 đến nay): khảo sát thực tế ở 40 tỉnh miền núi có đông đồng bào dân tộc cả phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, phía nam; điều tra tổng hợp đối với các ngành
ở Trung ương; trưng cầu ý kiến của các đối tượng am hiểu và có trách nhiệm về vấn
đề này (các đại biểu Quốc hội là người dân tộc, Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Trưởng ban tổ chức tỉnh ủy của 40 tỉnh miền núi, xin ý kiến chuyên gia )
II NỘI DUNG K ẾT Q UẢ NGHIÊN CỨU
PHẦN I: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ NÀY
1.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Chính sách dân tộc đối với cán bộ dân tộc thiểu số dựa trên một hệ thống các quan điểm rất cơ bản và nhất quán, cô đọng ở các nội dung sau:
1 Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, củng
cố và phát triển khối đại đoàn kết, sự thống nhất đại gia đình các dân tộc Việt Nam: Đảng và Nhà nước ta trước sau như một tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc, phấn đấu cho sự bình đẳng được thực hiện sinh động trên thực tế, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong mọi thời kỳ của Cách mạng Đặc biệt từ Đại hội VI đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh việc tạo ra sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc, gắn quá trình này với việc củng cố, phát triển
cả cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc mỗi dân tộc Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng phải là một xã hội trong đó tất cả các dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, đều không ngừng phát triển và phát huy bản sắc độc đáo của mình hòa vào sự phát triển chung của cả nước Trong quá trình đó, phải kiên quyết chống mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn
và dân tộc hẹp hòi, mọi hành động kỳ thị chia rẽ dân tộc
2 Phát huy mọi tiềm năng, nhân tài, vật lực của tất cả các dân tộc, các vùng đất nước vì sự nghiệp chung xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 4Đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội, nước ta phải khai thác, phát huy mọi tiềm năng, nhân tài, vật lực của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các thành phần kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội, các dân tộc, các vùng của đất nước Đây không phải là “giải pháp tình thế” cốt để khai thác miền núi; trái lại, sự thể hiện tư tưởng chiến lược cách mạng là sự nghiệp của quảng đại quần chúng nhân dân, tất cả mọi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia làm chủ đất nước, làm chủ mọi cuộc sống của mình
Việc khai thác tiềm năng và xây dựng miền núi về mọi mặt là lợi ích trực tiếp của nhân dân miền núi, đồng thời là vì lợi ích chung cả nước Đầu tư cho phát triển miền núi là đầu tư để khai thác các tiềm năng, các nguồn lực của đất nước cho sự phát triển miền núi, và của cả nước Cần tránh quan niệm coi miền núi là gánh nặng, đầu tư kiểu “ban phát” và khuynh hướng chỉ chủ tâm khai thác tài nguyên và lao động rẻ của miền núi mà không quan tâm bảo vệ, bồi đắp, tái tạo tài nguyên, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đồng bào vùng cao Về phần mình, các địa phương miền núi cần khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư, chỉ đạo của Trung ương, phát huy tinh thần phấn đấu vươn lên khai thác các tiềm năng và thế mạnh của mình, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa miền núi
3 Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là những chiến sĩ xung kích của Đảng và Nhà nước ở vùng đông đồng bào dân tộc, là biểu tượng sinh động của khối đoàn kết dân tộc
Cùng với các kế hoạch, chính sách và pháp luật, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc xây dựng đội ngũ cán bộ - Bao gồm cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ đoàn thể - người dân tộc thiểu số là nhân tố, có vai trò cực kỳ quan trọng Trong các chủ trương, biện pháp đối với miền núi đều
đề cập đến việc xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ công tác ở miền núi, đặc biệt là các cán bộ dân tộc thiểu số Trong công tác cán bộ dân tộc, Đảng
và Nhà nước ta quan tâm đến các khâu quy hoạch, lựa chọn, bố trí sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng, đánh giá, kiểm tra và giải quyết các chế độ chính sách
Trang 5Việc Đảng và Nhà nước coi trọng vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc là xuất phát từ những quan điểm đúng đắn:
- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Sự nghiệp phát triển miền núi, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi phải phát huy cao độ trí tuệ, sức lực của đồng bào
và cán bộ dân tộc
- Muốn thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc phải có cán bộ của người dân tộc đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng đồng thời coi trọng đội ngũ cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi và vùng dân tộc như một yêu cầu khách quan
- So với cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi, cán bộ người dân tộc công tác ở vùng dân tộc có nhiều lợi thế hơn về am hiểu tình hình miền núi, phong tục tập quán, tâm lý và ngôn ngữ của đồng bào dân tộc, gắn bó với gia đình, họ hàng, bà con thân thích và quê hương bản quán của mình, đứng chân lâu dài ở vùng biên giới, vùng xa, vùng sâu, hẻo lánh
- Bản thân đội ngũ cán bộ người dân tộc, tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung nếu được đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đúng sẽ có đủ sức gánh vác các nhiệm vụ chủ yếu lãnh đạo, quản lý ở các địa phương miền núi
- Sự tham gia của các cán bộ dân tộc thiểu số vào đội ngũ cán bộ nói chung
là biểu hiện rõ rệt nhất, sinh động nhất của khối đại đoàn kết các dân tộc và của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tạo niềm tin cho đồng bào các dân tộc vào chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước, là bằng chứng hùng hồn chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động
4 Đối với đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cần có sự quan tâm đặc biệt và có chính sách cótính chất ưu đãi phù hợp với tính đặc thù của đội ngũ này
Do sự chi phối của hoàn cảnh khách quan, cán bộ là người dân tộc thiểu số chịu nhiều thiệt thòi, phải vượt qua nhiều khó khăn hơn so với cán bộ người Việt (Kinh) và cán bộ ở thành phố, đồng bằng Đội ngũ này có một số hạn chế về kiến thức, năng lực Vì vậy, trong chính sách không thể cào bằng giữa cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc đa số
Trang 6Tư tưởng về sự ưu đãi đặc biệt đối với cán bộ dân tộc thiểu số được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước Tựu trung lại, quan điểm về sự ưu đãi đối với cán bộ người dân tộc được cụ thể hoá trong các biện pháp phát triển giáo dục và đào tạo phổ thông ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và người dân tộc; nâng mức phụ cấp cho cán bộ lãnh đạo; trợ cấp cho cán bộ dân tộc để mua sắm một số vật dụng cần thiết; cải tiến các chính sách phụ cấp thâm niên, phụ cấp lưu trú, công tác phí, chế độ hưu
Nhìn chung lại, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với miền núi và cán bộ dân tộc thiểu số là rõ ràng, toàn diện, nhất quán và ngày càng cụ thể Vấn đề là ở chỗ các tổ chức, các ngành, các cấp cụ thể hoá và thực hiện các chủ trương, chính sách đó như thế nào
1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và việc thực hiện chính sách dân tộc đối với đội ngũ cán bộ dân tộc.
1 Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay Mấy chục năm qua, đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số đã phát triển không ngừng Đến nay đội ngũ đã có 126 người có trình độ trên đại học: 11.471 người có trình độ đại học, cao đẳng; 72.642 người có trình độ trung học chuyên nghiệp; 60.000 công nhân kỹ thuật Đội ngũ này đảm nhiệm các công tác lãnh đạo, quản
lý, chuyên môn nghiệp vụ từ cơ sở đến Trung ương Riêng đội ngũ cán bộ lãnh đạo người dân tộc có bước trưởng thành khá rõ nét Chẳng hạn, trong 170 Uỷ viên ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII có 15 đồng chí là người dân tộc, chiếm 8,82%; trong số 160 bí thư và phó bí thư tỉnh, thành uỷ cả nước nhiệm kỳ 1996
-2000 có 19 đồng chí là người dân tộc thiểu số, chiếm 11,87%, trong đó có 9 đồng chí là Bí thư tỉnh uỷ, đặc biệt cả bí thư và hai phó bí thư tỉnh uỷ Lạng Sơn, bí thư
và 3 phó bí thư tỉnh uỷ Hà Giang đều là người dân tộc, bí thư và một trong hai phó
bí thư tỉnh uỷ tỉnh Kon Tum, Lai Châu là người dân tộc Trong 395 đại biểu Quốc hội khoá IX có 66 đại biểu là người dân tộc, chiếm 16,7% Trong số 450 đại biểu Quốc hội khoá X có 78 đại biểu là người dân tộc, chiếm 17% trong đó có thêm 5 dân tộc lần đầu tiên có đại biểu trong Quốc hội, nâng tổng số dân tộc có đại biểu
Trang 7Quốc hội lên 34/54 Đó là thành tựu rất đáng tự hào của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc ta
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, lực lượng cán bộ các dân tộc thiểu số hiện nay còn nhiều bất cập Nhìn chung, đội ngũ này còn thiếu về
số lượng khá trầm trọng và chất lượng còn nhiều hạn chế
Về trình độ học vấn của cán bộ, số có học vị trên đại học trong cán bộ người Việt gấp gần 12 lần trong các cán bộ dân tộc thiểu số, tỷ lệ đó có một số có bằng đại học và cao đẳng là 4,57 lần, ở số có bằng trung học chuyên nghiệp là 2,33 lần,
ở một số công nhân kỹ thuật chuyên nghiệp là trên 4 lần Trong từng địa phương,
sự chênh lệch về tỷ lệ cán bộ chuyên môn kỹ thuật giữa các dân tộc khá lớn Ở Lạng Sơn cán bộ người Việt chiếm 37,3% tổng số cán bộ chuyên môn kỹ thuật của tỉnh, trong khi tỷ lệ đó ở cán bộ người Tày là 42,2%, người Nùng là 18,8%, người Hoa là 0,5%, người Mông là 0,4%, người Dao là 0,3%, người Sán Chay là 0,1%, người các dân tộc khác 0,4% Ở tỉnh Thanh Hoá, tỷ lệ có trong cán bộ người Việt là 93,7%, ngời Mường là 4,2%, người Thái 1,91%, người Hoa là 0,03%, người Mông là 0,02%, người Khơ Mu là 0,005% Ở các tỉnh Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 1/3 dân số, nhưng tỷ lệ số cán bộ dân tộc so với tổng số cán bộ nói chung chỉ là 1/10 và đang có chiều hướng giảm dần, có địa phương chỉ còn chiếm trên dưới 10%
Ở vùng núi phía Bắc, tình trạng thiếu cán bộ dân tộc đến mức trầm trọng, nhất là đối với hai dân tộc Mông và Dao Chẳng hạn, ở Cao Bằng dân tộc Dao chiếm 10,7% dân số, nhưng số cán bộ người Dao chỉ chiếm 3% trong tổng số cán
bộ các loại; ở Lào Cai, người Mông chiếm 29,2% dân số, nhưng số cán bộ người dân tộc Mông chỉ chiếm 13,4% tổng số cán bộ nói chung Ở cấp huyện, sự chênh lệch này càng lớn Người Mông ở huyện Đồng Văn (Hà Giang) chiếm tới 90% dân
số, nhưng cán bộ người Mông chỉ chiếm tới 21% tổng số cán bộ các loại của huyện, các con số tương ứng ở Tủa Chùa (Lai Châu) là 80% và 16%, Trạm Tấu (Yên Bái) là 78% và 25%, Mù Cang Chải (Yên Bái) là 94,2% và 58,3% Người Dao ở Nguyên Bình (Cao Bằng) chiếm 52,6% dân số, nhưng cán bộ của huyện,
Trang 8các con số tương ứng ở Bảo Lạc (Cao Bằng) là 17,2% và 2,4%, Văn Yên (Yên Bái) là 21,6% và 7%
Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở các huyện vùng xa, vùng sâu các tỉnh Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng có tình trạng tương tự như ở miền núi phía Bắc
Hầu hết các tỉnh miền núi hiện nay chưa thể tự cân đối được lực lượng cán
bộ tại chỗ, phải nhờ vào sự điều động, tăng cường từ các ngành Trung ương và các địa phương khác đến Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các huyện vùng cao, vùng xa vẫn chủ yếu do các cán bộ tăng cường đảm nhiệm Đội ngũ giáo viên trung học, bác sĩ, chuyên gia các ngành tài chính, ngân hàng, khoa học - công nghệ hầu hết phải điều động từ miền xuôi, thành phố lên Chẳng hạn, người Việt (Kinh) ở Bắc Hà (Lào Cai) chỉ chiếm 11,5% dân số, nhưng số cán bộ người Kinh chiếm tới 72,7% trong tổng số cán bộ của huyện; các con số tương ứng ở Sa Pa (Lào Cai) là 18,4% và 62,5%, Than Uyên (Lào Cai) là 22,6% và 63,6%, ở Mù Cang Chải là 5% và 44,4%, ở Văn Bàn (Lào Cai) là 19,4% và 54,6%, ở Bát Sát (Lào Cai) là 20% và 54,6%
Đến nay, vẫn có 10 dân tộc chưa có người học đại học và cao đẳng, 5 dân tộc chưa có người học trung học chuyên nghiệp và 10 dân tộc khác chưa có học sinh các trường đào tạo công nhân kỹ thuật, 40 dân tộc chưa có người có học vị trên đại học Đánh giá tổng hợp cả về số lượng và chất lượng, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay có thể nêu ra những loại hình sau:
a Loại hình thứ nhất: còn ít về số lượng và yếu về chất lượng
Đặc trưng này thể hiện rõ nhất trong đội ngũ cán bộ dân tộc ở vùng cao, kinh
tế phát triển chậm Thuộc loại này có hai cấp độ:
- Cấp độ thấp: bao gồm các dân tộc cư trú ở vùng cao, phân tán, cuộc sống chưa ổn định, còn du canh du cư như người Brâu, Rơmăm ở Tây Nguyên; người Rục, Mã Liềng ở miền Tây Quảng Bình; người Ơ đu ở miền Tây Nghệ An và các dân tộc Si La, Kháng, Xinh mun ở vùng Tây Bắc Các dân tộc này chỉ có cán
bộ cấp bản, xã, chưa có mấy cán bộ cấp huyện (rất ít)
Trang 9- Cấp độ khá: Bao gồm một số dân tộc đã có cán bộ, viên chức ở cấp huyện, tỉnh, nhưng chỉ là cá biệt, năng lực còn rất thấp Ví dụ, các dân tộc Cống, Bố Y, La
Hủ, Phù Lá, Lào, Lô Lô, Cơ Ho, Xơ Đăng thuộc cấp độ này có tới 23 dân tộc
b Loại hình thứ hai: Đội ngũ cán bộ dân tộc đã hình thành, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng
Ở loại này, đã có đại diện ở các cấp trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, nhưng số lượng không nhiều và còn yếu về nhiều mặt Trong loại này cũng có hai cấp độ:
- Cấp độ thấp: Đó là đội ngũ cán bộ của các dân tộc Mông và Dao là điển hình ở phía Bắc, dân tộc Gia Lai điển hình ở Tây Nguyên và dân tộc Khơ Me -điển hình của vùng đồng bằng sông Cửu Long Ngoài các dân tộc kể trên, đội ngũ cán bộ dân tộc Ba Na, Gié Triêng, Giáy cũng thuộc cấp độ này
- Cấp độ khá: Đó là tình hình đội ngũ cán bộ dân tộc có số dân trội trong một hoặc vài ba tỉnh Đội ngũ này đã có số lượng đáng kể, đảm đương được công việc trên một số lĩnh vực, nhưng vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ, vẫn cần có lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ Tiêu biểu là cán bộ người Thái ở vùng Tây Bắc và tây Thanh Hoá - Nghệ An, người Êđê ở Tây Nguyên, người Chăm ở các tỉnh duyên hải Trung bộ và Nam bộ
c Loại hình thứ ba: Các dân tộc có đội ngũ cán bộ khá đủ về số lượng, đạt được tiêu chuẩn chất lượng chung, tham gia công tác ở các ngành, các cấp từ Trung ương đến cơ sở
Trong loại này cũng có hai cấp độ:
- Cấp độ thấp: Gồm đội ngũ cán bộ dân tộc Nùng, Mường là tiêu biểu Trong đội ngũ này đã hình thành lực lượng trí thức, tuy chưa nhiều, hầu hết đã có đủ năng lực đảm nhiệm vị trí then chốt trong lãnh đạo, quản lý và một số ngành, một
số có thể thoát ly khỏi địa phương tăng cường cho các dân tộc, địa phương khác
- Cấp độ cao: Điển hình nhất là đội ngũ cán bộ dân tộc Tày Người Tày hiện
có 41.824 người đã tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp trở lên, trong đó có 9.376 người có bằng đại học và học vị trên đại học Tỷ lệ cán bộ dân tộc Tày trong tổng
Trang 10số cán bộ các loại ở cấp tỉnh của Lạng Sơn là 48,9% và 52,3% ở cấp huyện, trong khi tỷ lệ dân số chỉ chiếm 35,5%
Tóm lại, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay vừa thiếu lại vừa yếu, phát triển không đồng đều giữa các vùng và giữa các dân tộc
2 Nguyên nhân của tình trạng thiếu cán bộ người dân tộc, chất lượng đội ngũ cán
bộ dân tộc yếu và phát triển không đều
Tình hình nêu trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Qua nghiên cứu, nhóm tác giả đề tài thấy cần nhấn mạnh một số nguyên nhân trực tiếp sau:
a Do kinh tế vùng núi chậm phát triển, đời sống của đồng bào vùng cao còn thấp,
sự phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các vùng, giữa các dân tộc
Đây là nguyên nhân sâu xa, quyết định nhất, kìm hãm sự phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc
b Truyền thống văn hoá của các dân tộc rất phong phú, đa dạng, có nhiều giá trị đặc sắc, nhưng vẫn còn nhiều phong tục, tập quán, lạc hậu, ràng buộc sự phát triển của đội ngũ cán bộ dân tộc
Các phong tục, tập quán lạc hậu là một lực cản vô hình, nhưng khá mạnh mẽ đối với sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số
c Do sự nghiệp giáo dục ở miền núi còn yếu và có xu hướng giảm sút, gây hụt hẫng trong việc tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số
Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80, tình hình giáo dục miền núi đã có
sự suy giảm Khi xoá bỏ bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường, giáo dục miền núi càng gặp nhiều khó khăn Điều đó thể hiện ở tình trạng mù chữ và tái mù chữ
có chiều hướng phát triển, nhiều em không biết tiếng phổ thông, tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học giữa chừng trở thành phổ biến, cơ sở vật chất trường học thiếu thốn nghiêm trọng, giáo viên thiếu và gặp nhiều khó khăn Trong số gần 7 triệu dân người dân tộc từ 5 tuổi trở lên có đến 2,89 triệu người mù chữ, chiếm 41,35%, trong khi tỷ lệ này ở người Việt chỉ là 13,4% và của cả nước là 16,9% Số học sinh trúng tuyển vào đại học của nhiều tỉnh giảm dần qua từng năm