đây là tập những bài nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam về các lĩnh vực Lịch sử, văn hóa, việt nam học, nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử việt nam, lịch sử thế giới, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 1TiÓu ban 3
Trang 2326
Trang 3bài viết này, trên cơ sở nhiều năm nghiên cứu về loại hình thái ấp, tôi
muốn giới thiệu một số vấn đề được coi là những nhận thức mới của mình về nhà Trần ở lĩnh vực này
Thái ấp thời Trần (Thế kỷ XIII – XIV) là một trong những chế độ độc đáo của nhà Trần Chỉ có dưới thời Trần mới tồn tại chế độ thái ấp dành cho tầng lớp quý tộc tôn thất
Các công trình nghiên cứu trước đây khi tìm hiểu về thái ấp thường chỉ nhấn mạnh đến yếu tố ban cấp bổng lộc cho các quý tộc Trần Với phương châm “Tông tử duy thành”1 (Dùng con cháu tông thất làm thành luỹ) nhà Trần đã cử các vương hầu vương, hầu, quý tộc, những người tài giỏi, văn võ song toàn đi trấn trị ở các địa phương bằng hình thức ban cấp thái ấp Thái ấp là phần đất của mỗi nhà quý tộc được vua cấp riêng cho2 Trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu và nghiên cứu lý thuyết, tiến hành điều tra thực địa, tác giả góp phần giải quyết được một số vấn đề cơ bản sau:
1 Phát hiện và hệ thống được số lượng 15 thái ấp Thực tế là, tư liệu trong
chính sử chỉ cho biết đến địa bàn của các vương hầu như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp,
Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh “Chế độ nhà Trần các vương hầu
1
Chúng tôi dẫn theo Ngô Sĩ Liên Ngô Sĩ Liên đã mượn ý bài thơ Bản trong phần Đại nhã của kinh Thi ca ngợi chế độ nhà Chu Bốn câu cuối của bài thơ ấy như sau: “ Hữu đức duy ninh Tông tử duy thành Vô tỷ tành hoại, Vô độc tư úy!” Nghĩa là:” Dùng đức cư xử thì vua yên ổn Con cháu họ
hàng là bức thành bao Chớ để bức thành ấy nghiêng đổ, Thành đổ trơ một mình vua đáng sợ lắm sao!”
2
Đào Duy Anh, “Từ điển Hán- Việt”, quyển Hạ, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh-1996, Tr.360
Trang 4328
đều ở phủ đệ ở hương của mình, khi chầu hầu thì mới đến Kinh sư, xong việc lại về Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chân ở Chí Linh, đều thế cả”1
Phan Huy Chú cũng ghi về điều đó nhưng có bổ sung thêm Chiêu Văn ở Thanh Hóa, Quốc Khang ở Diễn Châu: "Vương hầu triều Trần được mở phủ đệ đều
có trại riêng ở hương Khi có lễ vào chầu thì tới kinh, xong việc lại về phủ đệ (như Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Quốc Chân ở Chí Linh, Chiêu Văn ở Thanh Hóa, Quốc Khang ở Diễn Châu) Người nào được triệu làm tướng mới ở kinh
sư, khi ấy đất ở không định hạn"2
Thời gian phân phong và số lượng thái ấp là bao nhiêu? cũng không được ghi
một chút nào trong ĐVSKTT mà ở đây chỉ cho biết đôi điều về đối tượng được phân
phong thái ấp và một số địa điểm thái ấp như đã nêu trên Trong nhiều năm qua, kết hợp nhiều nguồn tư liệu, kết quả nghiên cứu và điền dã thực tế, tôi đã hệ thống được
15 thái ấp3 như thống kê ở bảng 1
Bảng 1: Thống các thái ấp thời Trần
Thứ
tự
1 Bạch Hạc Trưởng công chúa Thiên Chân
Huyện Gia Lâm, Hà Nội
3 Kẻ Mơ Thượng tướng Trần Khát Chân Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
4 Dưỡng Hòa Nhân Huệ vương Trần Khánh
Dư
Huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
Hương
Thái sư Trần Thủ Độ Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
6 Độc Lập Chiêu Minh Đại vương Trần
Quang Khải
Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
7 Dương Xá Tướng quốc Thái úy Trần Nhật
Hạo
Huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
8 Tĩnh Bang Hưng Nhượng vương Trần
Quốc Tảng
Huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng
9 Đông Triều Trần Khắc Chung Huyện Đông Triều, Quảng Ninh
Trong cuốn: Thái ấp – điền trang thời Trần (Thế kỷ XIII-XIV), NXb.Khoa học xã hội, Hà Nội,
2002, tôi mới thống kê được 12 thái ấp
Trang 5329
10 Chí Linh Huệ Võ vương Quốc Chẩn Huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
11 Vạn Kiếp Hưng Đạo Đại vương Trần
Quốc Tuấn
Huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
12 Chí Linh Thượng tướngTrần Phó Duyệt Huyện Chí Linh, Hải Dương
13 Văn Trinh Chiêu Văn vương Trần Nhật
đô Thăng Long nằm ở ngã ba sông Hồng và sông Tô Lịch Kinh đô Phú Xuân nằm ở ven sông Hương Đô thị Sài Gòn nằm ở ngã ba sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Điều đó nói lên sông nước Việt Nam có vai trò rất lớn trong sự tồn tại của con người nói chung, cho lịch sử hình thành các thái ấp - điền trang nói riêng
- Thái ấp của Trần Thủ Độ, vùng Quắc Hương (nay là xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) nằm ở vùng ngã ba sông Châu, sông Sắt
- Thái ấp của Hưng Đạo vương ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương) nằm ở vùng Lục Đầu giang, 6 sông hội tụ Đó là sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình và nhánh của sông Thái Bình chảy vào huyện Lang Tài (Bắc Ninh)1
- Thái ấp của Trần Quang Khải ở Độc Lập, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã
Mỹ Thành, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) ở ngã ba sông Vị Hoàng và Ninh Giang
- Thái ấp của Văn Huệ vương Trần Quang Triều ở Gia Lâm (Hà Nội) nằm ở ngã ba sông Thiên Đức và sông Dâu
- Thái ấp của Trần Khát Chân ở Kẻ Mơ (nay thuộc quận Hai Bà Trưng - Hà Nội) nằm ở ngã ba sông Kim Ngưu, sông Sét (ở Thanh Trì)
- Thái ấp của các trưởng công chúa ở Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ) nằm ở vùng ngã ba sông Hồng và sông Lô
1
Nguyễn Trãi toàn tập, (Hà Nội: KHXH, 1976), 567
Trang 6330
- Điền trang của Tiến sĩ Hoàng Hối Khanh ở Kẻ Đại, Kẻ Tiểu nằm ở vùng ngã
ba sông Bình Giang và Ngô Giang
Ngã ba sông, không chỉ là địa bàn thuận lợi về giao thông mà về mặt quân sự,
dễ dàn trận và tiến thoái khi có chiến tranh Chúng ta còn nhớ, trước khi cuộc kháng chiến lần hai bùng nổ, nhà Trần triệu tập các vương hầu bách quan họp Hội nghị trên sông nước Bình Than1 (tức sông Lục Đầu) ngoài mục đích bàn kế sách đánh giặc còn
để cho các tướng lĩnh quân đội nắm được địa thế sông nước Bình Than, nơi có sáu con sông chầu về
2 Thái ấp và chiến lược phòng thủ đất nước của nhà Trần
Hệ thống thái ấp nêu trên không chỉ là những vùng đất đơn thuần mà đáng chú
ý là, những vùng đất được nhà Trần đặc biệt chú trọng để xây dựng thế trận phòng thủ là: miền núi phía Bắc, Tây Bắc, ven biển Đông Bắc, phía Nam và vùng "đất căn bản"- quê hương của triều đại Đó là các vùng đất trọng yếu, nhà Trần không chỉ bảo
vệ cẩn thận mà còn nhằm phát huy thế mạnh của những vùng đất đó trong quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc Và, những nơi đó là những địa bàn của thái ấp Đó là:
- Cửa ngõ kinh thành Thăng Long: phía Bắc có thái ấp Gia Lâm của Trần Quang Triều trấn giữ Phía Nam có thái ấp Kẻ Mơ của Trần Khát Chân
- Hai trung tâm chính trị lớn nhất nước là Thăng Long và Thiên Trường Thăng Long vừa là Kinh đô, vừa là nơi vua ở và làm việc Thiên Trường, nơi ở và làm việc của Thái Thượng hoàng Nối hai trung tâm đó là hai đường nước Đường thứ nhất là đường sông Hồng- sông ngoài - đường nước lớn Đường thứ hai, được nối các sông nhỏ đi từ cửa phía Nam của thành Thăng Long- gọi là đường sông trong, từ sông Kim Ngưu → sông Sét → sông Lừ→ sông Tô→ sông Nhuệ → sông Châu → xuôi sông Thiên Mạc → phủ Thiên Trường Trên con đường nước thứ hai này có nhiều chốt nước và trấn giữ là các thái ấp: Kẻ Mơ của Trần Khát Chân, Dưỡng Hòa của Trần Khánh Dư; Quắc Hương của Trần Thủ Độ; Độc Lập của Trần Quang Khải Đây cũng là con đường mà hoàng tộc nhà Trần đã rút lui từ Thăng Long về Thiên Trường để thực hiện kế “vườn không nhà trống” trong lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông –Nguyên lần thứ hai (1285)
- Vùng quê hương nhà Trần: Thái ấp Dương Xá (Hưng Hà, Thái Bình) của Trần Nhật Hạo
- Vùng phên dậu phía Nam: Thái ấp Văn Trinh (Quảng Xương, Thanh Hóa) của Trần Nhật Duật; thái ấp Diễn Châu (Nghệ An) của Trần Quốc Khang
- Vùng biên cương phía Đông Bắc: Thái ấp Vạn Kiếp (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) của Trần Hưng Đạo; thái ấp Chí Linh (nay thuộc tỉnh Hải
1
Sông Lục Đầu, thời Trần gọi là sông Bình Than
Trang 7Nếu lấy Thăng Long làm tâm điểm, các thái ấp trên đây phần lớn nằm ở hai
hướng: phía Nam và Đông Bắc Thăng Long Đó cũng chính là hai con đường nước quan trọng được nhà Trần chú trọng bảo vệ và bố trí một hệ thống thái ấp đậm đặc hơn cả Con đường thứ nhất từ Thăng Long → Thiên Trường → Nam (và ngược
lại) Con đường thứ hai là từ Thăng Long → cửa ngõ Đông Bắc (và ngược lại)
Hai hướng này là hai con đường tiến quân của quân Chiêm Thành và quân xâm lược phương Bắc Nên, các thái ấp với tư cách là các chốt quân sự quan trọng đã không phải ngẫu nhiên mà được bố trí ở những vị trí để đáp ứng yêu cầu quốc phòng thời bình và từng bước chặn đường tiến quân của quân xâm lược trong thời chiến
Hơn nữa, nhà Trần còn chú trọng bảo vệ Đông Triều, nơi có nhiều lăng mộ của các vua Trần Đông Triều giáp Chí Linh, nên nhiều thái ấp với những danh tướng tài giỏi được triều đình điều về trấn giữ ở Chí Linh để vừa bảo vệ con đường
từ cửa ngõ Đông Bắc vào Thăng Long vừa bảo vệ Đông Triều Đặc biệt là thái ấp của Trần Hưng Đạo ở vạn Kiếp Nên, một hệ thống các thái ấp, thang mộc ấp - chốt quân sự hoàn hảo được bố trí từ cửa ngõ phía Bắc Kinh thành Thăng Long đến miền Đông Bắc đất nước
3 Dựng mô hình thái ấp Lâu nay, các công trình nghiên cứu về thái ấp - điền
trang, phần lớn đều tìm hiểu về góc độ sở hữu ruộng đất hoặc vị trí quân sự của các thái ấp và vai trò quan trọng của các vương hầu quý tộc cùng quân đội của họ trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
về mô hình thái ấp cũng như các hoạt động kinh tế và xã hội của chúng Trong những năm qua, tư liệu khảo cổ học cho dù là không nhiều nhưng đã cung cấp những bằng chứng quý giá và xác thực giúp cho tôi có thể từ đó phác thảo mô hình thái ấp thời Trần Tôi muốn nói đến tư liệu khảo cổ học duy nhất liên quan đến thái ấp là kết quả điền dã và thám sát Kiếp Bạc lần thứ hai của tác giả Tăng Bá Hoành1 Trên cơ sở đó, kết hợp với ghi chép trong các sách sử, tôi thử dựng mô hình thái ấp thời Trần như ở hình 1
Trang 8332
Hình 1: Mô hình thái ấp thời Trần
Trang 9333
4 Chứng minh quy mô thái ấp là rộng lớn Chế độ thái ấp - điền trang, xét
dưới góc độ sở hữu ruộng đất, các nhà nghiên cứu Việt Nam có những ý kiến khác nhau Điền trang, được đa số các tác giả thừa nhận là sở hữu tư nhân Thái ấp, phần
lớn các ý kiến cho rằng ruộng đất ở đó thuộc sở hữu nhà nước, kể cả trước và sau khi ban cấp cho quý tộc Trần Có ý kiến lại cho rằng, trước khi ban cấp cho quý tộc, ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, sau khi ban cấp làm thái ấp thì đất đai đó có thể
thuộc sở hữu tư nhân của các chủ thái ấp Về Quy mô của thái ấp, các ý kiến cũng
không thống nhất Có ý kiến cho rằng, quy mô thái ấp rộng lớn Có ý kiến cho rằng,
phạm vi thái ấp không lớn, chỉ bằng một xã hay một làng Theo nghiên cứu của tôi, thái ấp là một vùng có quy mô rộng lớn Vấn đề đặt ra là, các ý kiến nêu trên đều
chưa đưa ra những căn cứ để chứng minh cho nhận định của mình Trên cơ sở nghiên
cứu, tôi đưa ra 4 căn cứ để chứng minh rằng: quy mô thái ấp là rộng lớn
Thứ nhất là lấy cấp chính quyền hương để chứng minh Hương thời Trần khá
rộng, theo văn bia "Đại Việt quốc binh hợp hương, Thiệu Long tự bi" ở thôn Miếu,
xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Nội được khắc vào đầu thời Trần thì hương Binh Hợp thời Trần nay thuộc phạm vi 4 xã Tam Hiệp, Tam Thuấn, Hiệp Thuận, Liên Hiệp thuộc huyện Phúc Thọ ngày nay, tương ứng với hai tổng Thượng Hiệp và Hạ Hiệp của huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai thời Nguyễn Nếu Mỗi xã tương đương khoảng 11 làng Điều đó có thể hình dung phạm vi thái ấp là không nhỏ
Thứ hai, chúng tôi dựa trên cơ sở số quân “vương hầu gia đồng” được huy
động trong kháng chiến chống ngoại xâm Quân của bốn vương hầu đã có tới 20 vạn Vậy, phải có cơ sở vật chất như thế nào mơi có thể nuôi được đội quân đông như vậy Điều đó có thể hình dung phạm vi thái ấp là không nhỏ
Thứ ba, quý tộc Trần rất chuộng đạo Phật và đã có nhiều người cúng nhiều ruộng và nhiều nô cho chùa Văn Huệ vương Trần Quang Triều từng cúng thêm 300
mẫu ruộng ở Gia Lâm và ruộng đất ở trang Đông Gia, trang An Lưu cộng hơn 1.000 mẫu cùng hơn 1.000 nô làm của thường trú của chùa Quỳnh Lâm1 Chứng tỏ trên thực tế đất đai và tiềm lực kinh tế của họ khá lớn
Thứ tư, dựa trên lực lượng lao động sống và làm việc trong thái ấp Như ghi
chép trong chính sử, một vương hầu đi ra ngoài thì đội quân theo hầu từ một trăm đến một nghìn người Ngoài ra, còn phải kể đến lực lượng lao động trong các làng nghề nông, công, thương, chài thì chắc chắn, thái ấp không hề nhỏ, không phải là
1
Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI- XVIII, tập I: Thế kỷ XI - XV, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1982, tr 172
Trang 10334
một làng, một xã như trong một số sách đã xuất bản mà ít nhất cũng phải từ 3,4 xã trở lên
5 Tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa thái ấp và điền trang Điểm
giống nhau là cùng loại hình ruộng đất, cùng đối tượng quản lý nhưng khác nhau về nguồn gốc đất đai, tính chất sở hữu, tính chất sử dụng và mục đích ban cấp
- Thái ấp được ban cấp trên loại hình ruộng đất đã thuần thục (hay thục địa),
các vương hầu quý tộc tôn thất được hưởng hoa lợi trên bộ phận ruộng đất đó chứ
không được sở hữu riêng như điền trang và chỉ được hưởng một đời, không được
phép truyền lại cho con cháu Địa bàn thái ấp vừa là nơi làm việc, nơi cư trú lại vừa
là cơ sở sản xuất của các vương hầu quý tộc tôn thất Trong thái ấp nào cũng có phủ
đệ lộng lẫy Nhà nước Trần ban cấp thái ấp không chỉ nhằm đem lại quyền lợi kinh tế
cho tầng lớp tôn thất mà quan trọng hơn là nhằm mục đích chính trị và quốc phòng Hay nói cách khác thái ấp là loại hình ruộng đất do triều đình nhà Trần chủ động ban cấp cho các vương hầu quý tộc nhằm mục đích chính trị, quốc phòng của đất nước
- Điền trang, là loại ruộng đất khẩn hoang mà không phải là thục địa Điền
trang thuộc sở hữu tư nhân của các vương hầu quý tộc mà không thuộc sở hữu nhà
nước như thái ấp Địa bàn điền trang chủ yếu là nơi lao động sản xuất đem lại lợi ích
kinh tế cho chủ mà không phải là nơi làm việc và cư trú như ở thái ấp Các vương hầu chỉ xây dựng nhà ở trong điền trang mà không xây dựng phủ đệ quy mô như ở
thái ấp Nếu như thái ấp do nhà nước chủ động ban cấp thì điền trang quyền chủ động là do các vương hầu, quý tộc tôn thất khai khẩn
6 2 Quá trình tồn tại của chế độ thái ấp là nhân tố hạn chế nguồn tài chính Nhà nước và dù có nằm ngoài ý muốn thì nó trở thành nguyên nhân mâu thuẫn với Nhà nước về mặt tài chính Ban cấp thái ấp cũng đồng thời với quá trình thu hẹp ruộng công làng xã cũng đồng nghĩa với việc hạn chế đến thu nhập từ thuế Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quốc khố trống rỗng vào
Trang 11335
những thập niên cuối thời Trần Khoảng thời gian cuối thế kỷ XIV, kinh tế nước nhà
suy kiệt, nhiều lần Nhà nước phải ra Chiếu kêu gọi các nhà giàu cấp thóc, phát chẩn
cho dân nghèo, cứu đói, bán thóc gạo với giá phải chăng cho dân hoặc cho Nhà nước, hoặc nộp thóc vào kho để cung cấp cho quân đội Đổi lại, Nhà nước sẽ thưởng chức tước cho những người nào thực hiện lệnh trên Thực chất, đó là cách Nhà nước bán chức tước để giải quyết nạn khủng hoảng ngân sách quốc gia
6.3 Trong khi thu nhập của Nhà nước ngày càng nghèo đi thì hiện tượng giàu
có của các quí tộc được sử chép đến nhiều, thể hiện dưới nhiều hình thức Các quí tộc dùng tiền của chi phí vào các hoạt động phi sản xuất như xây dựng phủ đệ lộng lẫy, đánh bạc, yến ẩm, nghe chèo hát suốt ngày, nuôi sống đội quân đông hàng nghìn người để hầu hạ Họ dùng tiền bạc, ruộng đất cúng vào chùa Số ruộng và tiền cúng vào chùa không phải là ít, hàng nghìn mẫu ruộng, hàng nghìn nô cùng nhiều tiền bạc, nuôi sống đội ngũ tăng ni đông đảo trong cả nước Chính vì thế mà có trường hợp gặp những năm mất mùa, đói kém, dân tình khốn khổ lại đua nhau vào chùa xin làm tăng Từ đó có thể thấy, nhà Trần đánh giặc rất giỏi nhưng trong quản lý kinh tế
(nhất là quản lý ruộng công, tư) đã tỏ ra thiếu chặt chẽ, thiếu định hướng và đã buông lỏng vấn đề này trong thời gian dài
Tài liệu tham khảo
1 Đào Duy Anh, Từ điển Hán- Việt, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, Quyển Hạ, tr 360
2 A.B.Pôliacốp, Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ XXIV, Nxb Chính trị Quốc gia
-Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội - 1996
3 Bộ Quốc phòng- Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Trần Hưng Đạo nhà quân sự thiên tài, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2000
4 Nguyễn Thị Phương Chi, Thử tìm hiểu vị trí, vai trò của một số thái ấp ở các ngã ba sông thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4- 1998, tr 53- 58
5 Nguyễn Thị Phương Chi: Tìm hiểu thái ấp của Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, trong sách
"Anh hùng dân tộc - thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định" Nxb
Quân đội nhân dân Hà Nội-2000, tr 225-230
6 Nguyễn Thị Phương Chi, Thái ấp- điền trang thời Trần (Thế kỷ XIII- XIV) Nxb Khoa
Trang 12336
9 Nguyễn Thị Phương Chi, Vân Đồn và vùng Đông Bắc dưới các triều Lý, Trần (Thế kỷ XIV), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10 -2010, tr.24-33
XI-10 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội 1992
11 Đại Việt sử ký toàn thư (viết tắt là ĐVSKTT), Tập I , Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội-1972
12 Đại Việt sử ký toàn thư, tập II , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội-1971
13 Đại Nam nhất thống chí, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972), tr 142
14 Lê Quý Đôn, Kiến Văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch và chú giải, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, tr 510;
15 Hoàng Giáp “Tư liệu về đền thờ Trần Quốc Nghiễn” trong: Núi Bài thơ lịch sử và danh thắng, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, 1992
16 Hoàng Văn Giáp, “Bia chùa Vĩnh Báo”, trong: Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, 2 tập (Hà Nội: National Chung Cheng Univesty Chia Yi- Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2002”, II, Thời Trần, tập Hạ: 711
17 Khâm định Việt sử thông giám cương mục (viết tắt là Cương mục), tập I, Nxb.Giáo Dục, Hà Nội 1998, tr 499
18 Hoàng Văn Lâu, “Bia đất Tam Bảo núi Thiên Liêu”, trong: Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, 2 tập (Hà Nội: National Chung Cheng Univesty Chia Yi- Viện Nghiên cứu Hán Nôm,
2002”, II, Thời Trần, quyển Thượng, tr.333-334
19 Đỗ Văn Ninh, Khảo cổ học và lịch sử nhà Trần, Tạp chí Khảo Cổ học, số (11-12)-1971,
23 Nguyễn Trãi toàn tập, (Hà Nội: KHXH, 1976), 567
24 Hà Văn Tấn-Phạm Thị Tâm, Bài minh trên chuông Thông Thánh quán và một số vấn đề
về lịch sử đời Trần, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 88-1966
25 Thơ Văn Lý – Trần, Quyển thượng, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, 1989
26 Đào Đình Tửu- Đặng Văn Nhiên, Thái ấp của Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải Trong: Thời Trần và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà, Sở Văn hoá -Thông tin Nam Hà xuất bản 1996, tr 278-290
27 Phạm Thị Thoa, Thử tìm hiểu địa danh Binh Hợp, Tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm, số 2 -
1990, tr.43
28 Nguyễn Văn Trò, Di tích Trần Quốc Tảng ở Hà Nam Ninh, NPHMVKCH năm 1984,
Nxb KHXH, Hà Nội, 1985
Trang 14338
QUAN ĐIỂM CỦA MINH MẠNG VỀ CUỘC CHIẾN TRANH ANH – MIẾN ĐIỆN LẦN THỨ NHẤT
VÀ Ý TƯỞNG VỀ “SỰ ĐOÀN KẾT ĐÔNG NAM Á”
PGS.TS Choi Byung Wook
Đại học Inha, Hàn Quốc
Giới thiệu
Là một nhà nghiên cứu đến từ Hàn Quốc (Đông Bắc Á) nghiên cứu về Việt Nam (Đông Nam Á), tôi dự định tìm hiểu về Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong phạm vi rộng là lịch sử Đông Á mà theo quan điểm của tôi, bao gồm
cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á Khi tôi chọn đề tài nghiên cứu, tìm hiểu và viết bài nghiên cứu, trong đầu tôi luôn có sự so sánh mặc dù tôi không trình bày các yếu tố so sánh trong bài viết và phần trình bày của mình
Tuy nhiên, lần này, khi chúng ta bàn luận về cách nhìn nhận về lịch sử và những văn bản lịch sử, với tư cách là một nhà nghiên cứu về Việt Nam thế kỷ XIX, tôi nghĩ rằng việc trình bày những ý định của mình khi chọn đề tài nghiên cứu sẽ giúp ích cho những người tham gia hội thảo này
Tôi xin được bắt đầu bằng việc trình bày tóm tắt rất ngắn gọn về lịch sử gia đình tôi Tôi thuộc thế hệ thứ 20 của một gia đình có dòng dõi quan đại thần từng tham gia vào việc xây dựng nên triều đại Choseon (1392-1910) Tổ tiên của tôi là một người rất năng động và được cử sang Nhật Bản, Nam Kinh và Bắc Kinh ở Trung Quốc Tuy nhiên, thật ngạc nhiên là trong gia phả dòng họ nhà mình, tôi không thấy ghi có bất cứ ai đã từng đi ra nước ngoài cho đến tận cuối thế kỷ XIX khi Nhật Bản
và các nước Đế quốc buộc Hàn Quốc phải mở cửa Trong suốt năm trăm năm, Hàn
Quốc bị đóng kín và con cháu gia đình quý tộc Yangban đã bị đẩy xuống địa vị nông
dân gắn với ruộng đồng và nương rẫy cho dù một số người đỗ đạt các kỳ thi quốc gia
và từng nắm các vị trí quan lại triều đình Trong suốt thế kỷ XIX, một số ít quan chức nhà nước có cơ hội được đi đến Bắc Kinh và Nhật Bản với tư cách là phái viên, phần lớn tầng lớp trí thức Hàn Quốc và con cháu của họ đều sống biệt lập trong lãnh thổ Hàn Quốc
Trang 15339
Dù trong bối cảnh đó, chúng ta vẫn có thể thấy làn sóng những ý tưởng cải cách của những người trí thức từ cuối thế kỷ XVIII khi chế độ trị vì của ông vua theo chủ nghĩa cải cách Chính Tô (1776- 1800 giống với thời kỳ Quang Trung ở Việt Nam) phát triển cực thịnh ở Hàn Quốc Tuy nhiên, vào thế kỷ XIX, sau khi Chính Tô qua đời và con trai lên kế vị dưới sự kiểm soát quyền lực của gia đình hoàng hậu và hoàng thái hậu, cuộc nổi dậy của các nhà cải cách đã nhanh chóng bị đẩy xuống cấp
độ các nhóm có tổ chức ở triều đình; và việc bàn luận về việc cải cách bị đẩy ra ngoài cung điện
Trong giai đoạn đen tối này, rất nhiều học giả đã đưa ra các ý tưởng cải cách bao gồm việc hạn chế bớt quyền sở hữu ruộng đất, phân phối đất đai, sự phát triển của thương mại quốc tế, nghề đóng tàu, cải cách trong quân đội, sự phát triển của lực lượng vũ trang, sự mở rộng những mối liên hệ với nước ngoài… Song, những ý tưởng chỉ là ý tưởng trên sách vở mà không có phản hồi từ nhà vua và chính quyền Điều duy nhất mà họ chia sẻ với những người sống bên ngoài Hàn Quốc là bầu trời
và những vì sao và họ bị gắn chặt với đất đai và núi đồi cho đến lúc chết giống như
tổ tiên thế kỷ XIX của tôi
Tuy nhiên, điều thú vị là tôi đã tìm thấy rất nhiều những ý tưởng của các nhà tri thức Hàn Quốc đã được hưởng ứng mạnh mẽ ở Việt Nam Trong suốt nửa đầu thế
kỷ XIX, đặc biệt là dưới thời trị vì của vua Minh Mạng (1820-1841), cuộc cải cách ruộng đất đã được tiến hành ở Bình Định, việc phân phối lại ruộng đất đã bắt đầu ở Gia Định, những con tàu lớn và vững chãi đã được đóng theo kiểu cách châu Âu, tàu hơi nước đã có và được sửa chữa lại; những vũ khí tân tiến và hiện đại đã được mua
về, việc liên hệ với các nước bên ngoài đã được mở rộng và phát triển mạnh mẽ Các đời vua trị vì đều năng động và mẫn cán Họ rất giỏi trong việc sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm và sẵn sàng học kỹ nghệ bắn súng Họ thích uống không chỉ thuốc Bắc mà cả rượu Pháp, và thỉnh thoảng nhân sâm Hàn Quốc; điều này đã khích lệ chúng ta tìm hiểu con đường lưu thông từ Hàn Quốc đến Việt Nam Trên các con tàu đóng kiểu châu Âu, các trí thức, thủy thủ và binh lính Việt Nam một mặt đã đi tới các nước Đông Nam Á như: Manila, Singapo, Jakarta, Malacca, Mã Lai, Brunei, vùng Bengal và mặt khác cũng tới Quảng Đông cạnh tranh với rất nhiều tàu thuyền của châu Âu để trải nghiệm thế giới bên ngoài
Trong số các đề tài có tiếng ở Việt Nam, trong 10 năm vừa qua, tôi đã được tìm hiểu một số và tìm kiếm sự hiện đại của người Việt Nam ở thế kỷ XIX Gần đây, tôi đã hoàn thành một nghiên cứu về mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam và kết quả
là nó được xuất bản dưới tiêu đề “Trật tự thế giới ở Việt Nam thế kỷ XIX” Trong nghiên cứu này, tôi phát hiện ra rằng Việt Nam ở thế kỷ XIX đối lập với Hàn Quốc,
đã nhìn nhận Bắc Kinh từ vị thế của một nước thấp hơn trên trật tự có phân cấp bậc
Trang 16340
của thế giới; triều Nguyễn đã giữ một mối quan hệ cân bằng với không chỉ Trung Quốc mà cả với các nước ở Đông Nam Á, đặc biệt là với Thái Lan và Miến Điện Dựa trên kết quả này, tôi nghĩ có thể đặt giả định rằng Minh Mạng đã tạo lập nên cảm giác về sự đoàn kết Đông Nam Á Đây là một đặc điểm rất thú vị của Việt Nam
ở thế kỷ XIX Việt Nam đã mở rộng cơ sở an ninh của mình ra Đông Nam Á và ngược lại, Đông Nam Á trở thành một tổng thể mà Việt Nam thuộc về đó trong suốt thế kỷ XX
Trong phần trình bày này, tôi muốn thảo luận về đề tài tính thống nhất của Đông Nam Á với việc xem xét quan niệm của Minh Mạng về cuộc chiến tranh giữa
Anh và Miến Điện bằng cách phân tích bộ Đại Nam Thực Lục Đề tài này sẽ cung
cấp cho chúng ta cách thức để hiểu được Minh Mạng đã nhìn nhận tầm quan trọng của hợp tác khu vực sâu xa đến mức nào
1 Chiến tranh đến tai Minh Mạng
Tôi đã dùng thuật ngữ “sự đoàn kết Đông Nam Á” trong một cuốn sách xuất bản gần đây của Owen có tiêu đề “Sự trỗi dậy của Đông Nam Á hiện đại” trong đó tập trung vào đặc tính hiện đại của thế giới Đông Nam Á Một trong những tác giả của cuốn sách này (có thể là giáo sư Woodside) lập luận rằng “Minh Mạng cảm thấy cần thiết có cái mà bây giờ chúng ta gọi là sự đoàn kết Đông Nam Á Nhà vua đã thuyết phục các nhà ngoại giao Xiêm- những người đã đến triều đình của Minh Mạng năm 1826 để hỗ trợ Myanma trong cuộc chiến với quân “Hồng Mao” (người Anh)”1 Cuốn sách không đề cấp đến nguồn tài liệu mà tác giả đã tham khảo Song, tất nhiên là nguồn tài liệu duy nhất hiện nay về cuộc chiến Anh- Miến Điện và “sự
đoàn kết Đông Nam Á” là cuốn Đại Nam Thực Lục
Những giải thích của Giáo sư Woodside về những ghi chép lịch sử vẫn có giá trị giúp chúng ta trong việc nhìn nhận quan điểm của Minh Mạng về Cuộc chiến như
là một thay đổi lịch sử đối với nhận thức về quốc tế của Minh Mạng và những người cai trị bao gồm các sử gia của triều đình Việt Nam ở thế kỷ XIX trước sự bành trướng đế quốc của các nước Phương Tây Tất nhiên, họ đã cảm nhận được nhu cầu
về sự thống nhất Lúc đó, nó mang ý rộng lớn hơn cái mà ngày nay chúng ta gọi là sự đoàn kết Đông Nam Á
Dưới con mắt của những nhà trị vì triều Nguyễn, Hồng Mao (người Anh) là
sự tồn tại nguy hiểm và nhiều đe dọa nhất Chúng ta nhớ rằng Gia Long (1804) đã
1
Norman G Owen, Sự trỗi dậy của Đông Nam Á hiện đại, Một lịch sử mới, NXB Đại học Hawaii,
2005, tr 115
Trang 17341
cảnh báo rằng “Hồng Mao rất xảo quyệt và nguy hiểm”1 Chúng ta có thể đoán được bối cảnh tồi tệ về Hồng Mao dựa trên một vài yếu tố Một là sự phản ảnh của phe hậu thuẫn người Pháp đã ở bên Gia Long một vài thập kỷ Hai là sự mở rộng không ngừng của quyền lực Anh ở Châu Á bao gồm Ấn Độ, Penang, Malacca… Trong suốt thời kỳ trị vì của Minh Mạng, sự mở rộng của Anh Quốc đã được chứng minh ở Miến Điện (1824-1826) và ở Trung Quốc (1840) Về phía Minh Mạng, hai cuộc chiến tranh là bằng chứng rõ ràng cho chủ nghĩa hoài nghi của cha ông đối với Hồng Mao
Vậy thì khi nào Minh Mạng biết về cuộc chiến Anh - Miến Điện? Làm thế nào mà ông có được thông tin về chiến tranh ở Miến Điện trong khi nó nằm phía ngoài Thái Lan và chưa hề thiết lập mối quan hệ ngoại giao nào?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải tìm hiểu lại các sự kiện trước khi cuộc chiến Anh- Miến Điện lần thứ nhất nổ ra kể từ khi vua Minh Mạng lên ngôi vào
năm 1920 Trong cuốn Đại Nam Thực Lục có viết về giai đoạn Minh Mạng những
năm 1820-1824, chúng ta có thể thấy những ghi chép quan trọng cho thấy sự quan tâm của Minh Mạng đến thế giới bên ngoài
1 Vào tháng 6 năm 1822 (âm lịch), cử Phái viên đến Quảng Đông để mua hàng hóa2
2 Cùng tháng đó, Phái viên của John Crawfurd tới thăm Việt Nam3
3 Tháng Giêng năm 1823 (âm lịch), Phái viên do Ngô Văn Trung và Hoàng Trung Đồng dẫn đầu đến Hà Châu 4
4 Tháng 5 năm 1823 (âm lịch), Đóng con tàu lớn Thụy Long theo phong cách phương Tây dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Tài Năng5
5 Tháng 6 năm 1823 (âm lịch), Phái viên đến Quảng Đông 6
6 Tháng Chạp năm 1823 (âm lịch), Phái viên Miến Điện tới Việt Nam7
7 Tháng Giêng năm 1824 (âm lịch), Phái viên đến Hà Châu8
Trang 18342
Nội dung của danh mục này có thể được tóm tắt thành 2 phần: Một phần là phái viên đi ra ngoài Việt Nam và phần còn lại là phái viên nước ngoài đến Việt Nam Con tàu theo phong cách phương Tây đã được sử dụng thường xuyên cho các chuyến đi thăm thế giới bên ngoài
Trong thời kỳ trị vì của Minh Mạng, bên cạnh con tàu Thụy Long, các con tàu lớn khác đã tiếp tục được đóng và hành trình thường xuyên của chúng là đến hai địa điểm Hà Châu và Quảng Đông nơi ngoại thương của Trung Quốc được độc quyền bởi 13 chư hầu và là nơi tập trung rất nhiều tàu thuyền phương Tây Bằng các hoạt động này, người Việt Nam đã có được những nguyên vật liệu tiên tiến và thu thập được thông tin về những thay đổi của thế giới Hồng Mao lúc đó có ở cả Hà Châu và Quảng Đông Rất có thể là Minh Mạng có được thông tin về cuộc chiến qua việc báo cáo của các phái viên này
Về khả năng thứ hai chúng ta phải xem xét việc phái viên Miến Điện đến Việt
Nam vào năm 1823 Bộ Đại Nam Thực Lục giới thiệu rất chi tiết về phái viên này và
gần đây Giáo sư Nguyễn Thế Anh đã cung cấp cho chúng ta một bài báo rất thú vị về
sự kiện này, trong đó nghiên cứu rất sâu về các tài liệu từ phía Anh.1 Qua cuốn Đại Nam Thực Lục và nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh, chúng ta hiểu được vai trò của
Lê Văn Duyệt – người giữ chức vụ Gia Định Thành Tổng Trấn Phái viên Miến Điện
là sự đáp lễ chuyến đi của Lê Văn Duyệt đến thế giới Đông Nam Á, trong đó gồm cả các thuộc địa của Anh và có thể tới cả khu vực đông bắc Ấn Độ Ở cấp độ địa phương, Lê Văn Duyệt cũng rất năng động trong việc lấy nguyên liệu và thông tin từ bên ngoài Thêm vào đó, khu vực Bến Nghé/Sài Gòn có rất đông khách nước ngoài tham quan, các nhà truyền giáo đạo Thiên Chúa Và đó là sự xâm nhập của các đoàn ngoại giao từ các nước bên ngoài Tin tức về cuộc chiến Anh- Miến Điện có thể đã được truyền tới Huế qua Gia Định
Khả năng 3: Theo Đại Nam Thực Lục, Hoàng Trung Đồng được cử đi hộ tống
đoàn Miến Điện trở lại quê hương2 Nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh cho chúng ta biết rằng cuộc chiến Anh- Miến Điện lần thứ nhất nổ ra khi con tàu chở người Miến Điện và Việt Nam cập bến Miến Điện Họ đã bị binh lính Anh bắt giữ một thời gian ngắn rồi sau đó được phóng thích.3 Chúng ta không biết rõ được khi nào nhóm của Hoàng Trung Đồng trở lại Huế Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét theo hướng gió mùa, thì Hoàng Trung Đồng có lẽ đã trở về trước khi phái viên Thái Lan đến Huế; do vậy, Minh Mạng có thể biết về cuộc chiến tranh từ phái viên của Hoàng Trung Đồng
1
Nguyễn Thế Anh, “Vài nhận xét về thế cờ ngoại giao trong bán đảo Đông Dương đầu thế kỷ XIX,”
Triều Nguyễn & lịch sử của chúng ta, Xưa và Nay, 2008
2
DNTL2, 24:26b
3
Nguyễn Thế Anh, tr 31
Trang 19343
2 Dự đoán của Minh Mạng về cuộc chiến
Chúng ta không biết những thông tin được báo lại cho Minh Mạng chi tiết đến mức nào Để kiểm tra nội dung này, tất nhiên, chúng ta phải có thêm tài liệu ví dụ như các báo cáo mà quan thần triều đại Nguyễn gửi lên cho các vị vua Nếu chúng ta được tiếp cận Châu Bản thì rất nhiều thông tin liên quan đến mối quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn sẽ được sáng tỏ Tuy nhiên, trong bối cảnh không tiếp cận được với Châu Bản, các nhà sử học vẫn hài lòng vì có được một vài ghi chép có liên quan từ
cuốn Chính sử Đại Nam Thực Lục Trong cuốn sách này, các nhà sử học triều
Nguyễn đã khéo léo để cho chúng ta biết những hiểu biết của Minh Mạng về cuộc chiến và nhận thức của Minh Mạng về tác động của cuộc chiến ở một vài đoạn ghi chép nhất định
Cuộc chiến Anh- Miến Điện bùng nổ do Anh tuyên chiến vào đầu tháng 5 để đáp trả lại sự xâm phạm của binh lính Miến Điện vào lãnh thổ Ấn Độ Quân đội Anh
đã chiếm đóng Rangoon vào ngày 10 tháng 5 Kể từ ngày này, cuộc chiến đã kéo dài trong vòng 02 năm và cuối cùng chính phủ Miến Điện phải từ bỏ chủ quyền đối với Arakan và Tennasserim theo Hiệp ước Yandabo
Minh Mạng chắc chắn đã được báo cáo về cuộc chiến tranh trước thời điểm phái viên Thái Lan đến triều đình Huế vào tháng 7 âm lịch năm 1824 Nhưng các tác giả của bộ Đại Nam Thực Lục đã chọn sự kiện gặp gỡ giữa Minh Mạng với phái đoàn Xiêm đến báo tin Vua Rama II (1809-1824) băng hà để lần đầu tiên thể hiện ý kiến của nhà vua về cuộc chiến thông qua việc trích dẫn cuộc hội thoại giữa Minh Mạng với các thành viên của phái đoàn Xiêm Điều này khiến cho bối cảnh quốc tế trở nên kịch tính: không chỉ Miến Điện mà cả Thái Lan cũng đang nằm trong tình thế
vô cùng nguy hiểm Cuộc chiến được đề cập lại vào tháng 7 năm 1826 qua tình huống tiếp kiến của người Xiêm với Minh Mạng để thông báo tin buồn rằng bà của vua Thái đã qua đời; nhờ vậy, một lần nữa sự rủi ro của Thái Lan lại được nhấn mạnh
Để đối phó với tình hình không hay của Miến Điện và Xiêm La, Đại Nam Thực Lục thể hiện mối quan tâm của Minh Mạng đến những tác động xấu của cuộc
chiến tranh đến Việt Nam Bằng việc mô tả hai trường hợp, các sử gia triều đình đã cung cấp cho chúng ta thực tế rằng các vị vua trị vì triều Nguyễn đã ngày một nhận
ra rằng ba quốc gia Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam chịu chung một số phận trước
sự bành trướng của Anh ở Đông Nam Á
Chúng ta hãy cùng nhìn lại ghi chép đầu tiên về cuộc chiến tranh vào tháng 7 năm 1824
Trang 20344
“[Nhà vua hỏi] „Xiêm La và Miến Diện là hai kẻ thù truyền kiếp Hiện nay, Hồng Mao đang tấn công Miến Điện Ngươi [phái viên người Thái] không thấy rất vui mừng sao?‟ [Phái viên người Thái] trả lời „có‟ Nhà vua cười và nói rằng „sự tồn tại của Miến Diện giống như hàng rào cho Xiêm La Nếu Hồng Mao chiến thắng, Xiêm sẽ bị đe dọa Những ai quan tâm đến sự an toàn của Xiêm sẽ thấy lo lắng chứ không thể vui mừng‟”1
Từ đoạn mô tả này, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng những tính toán của Minh Mạng Ông không muốn người Anh thắng Miến Điện vì sự an toàn của Thái Lan Ông biết rằng Miến Điện đã từng hùng mạnh như thế nào Ông hy vọng rằng Miến Điện sẽ đẩy lùi cuộc tấn công của người Anh Tuy nhiên, trong trường hợp đó, Miến Điện sẽ đe dọa nhiều hơn đến Thái Lan Nhưng nếu người Anh thắng, Thái Lan sẽ là nạn nhân tiếp theo
Vậy thì Việt Nam mong đợi kết quả của cuộc chiến sẽ thế nào? Đại Nam Thực Lục không viết rõ về điều này Nhưng nếu xem xét kỹ các ghi chép khác năm 1826,
chúng ta có thể thấy Minh Mạng đã ám chỉ kết quả mà mình mong muốn:
“Nhà vua cẩn thận hỏi họ [phái viên Thái] „Hiện nay Hồng Mao và Miến Điện đang đối đầu về quân sự Các ngươi muốn ai thắng?‟ [Phái viên Xiêm] trả lời, Hồng Mao biết tận dụng cơ hội và rất xảo quyệt, do đó, chúng tôi muốn Miến Điện thắng‟”2
Ở giai đoạn này, quan điểm của phái viên Xiêm khác với năm 1824 khi họ cảm thấy mừng thầm khi quân đội Anh tấn công Miến Điện Tuy nhiên, ở cuối cuộc chiến, phái viên Xiêm đã cho thấy họ lo lắng trước quyền lực của người Anh, nhưng
họ muốn Miến Điện thắng Ở điểm này, các sử gia triều Nguyễn đã rất thành công khi để ba quốc gia Miến Điện - Thái Lan - Việt Nam đi đến nhân thức về việc chống lại Hồng Mao Chung một kẻ thù, ba quốc gia thành một
Tuy nhiên, quan điểm của Minh Mạng không dừng lại ở một cảm giác thụ động về sự thống nhất giữa ba quốc gia trước mối đe dọa Hồng Mao Ngược lại, ông bình tĩnh đưa ra một giải pháp thực tế cho một bối cảnh ổn định của Đại lục Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng Sau đây là phần trả lời của Minh Mạng đối với quan điểm của phái viên Xiêm về việc họ muốn Miến Điện thắng
“Theo quan điểm của trẫm, trẫm không nghĩ như vậy Trong trường hợp hai quốc gia đang tranh chấp, quốc gia của các ngươi có thể lôi kéo một nước [Miến
Trang 21Miến Điện có thể ngăn sức mạnh của Anh Đại Nam Thực Lục cung cấp cho chúng
ta câu trả lời qua một vài ghi chép:
“[Sau khi phái viên Xiêm đi khỏi] nhà vua mở một bản đồ và nói với quần thần bằng cách chỉ ra [một điểm trên bản đồ] „Ta nghe nói rằng Xiêm La và Hồng Mao đã trở thành kẻ thù Trong trường hợp họ sử dụng lực lượng quân đội, Hà Tiên
sẽ là khu vực mà 2 nước giao tranh Chúng ta cần chuẩn bị cẩn thận để không phải lo lắng Xiêm và chúng ta là láng giềng hữu nghị Nếu bạo loạn xảy ra [đối với Xiêm], chúng ta sẽ rất khó để quyết định liệu có cứu Xiêm hay không‟”2
Lý do mà Minh Mạng đưa ra dựa trên mối lo lắng về sự bành trướng của Anh đến lãnh thổ Việt Nam về sau Một khi sự cân bằng giữa Miến Điện và Anh bị phá
vỡ theo hướng có lợi cho Anh, mục tiêu tiếp theo của Anh sẽ là Thái Lan và Việt Nam nằm ở vị trí kế tiếp; hoặc ít nhất cũng có mối liên hệ trực tiếp tới sự de dọa của Anh Kết quả như vậy là một ác mộng đối với Minh Mạng Như Minh Mạng đã thẳng thắn thừa nhận, thật khó để nhà vua quyết định giúp đỡ Xiêm trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự giữa Xiêm và Anh Điều đó giải thích tại sao Minh Mạng cho rằng tốt nhất là quân Anh bị cầm chân ở Miến Điện
Kết luận
Có thể là phóng đại nếu chúng áp dụng cụm từ „sự đoàn kết Đông Nam Á‟ vào quan niệm của Minh Mạng và phản ứng của ông đối với cuộc chiến tranh lần thứ nhất giữa Anh và Miến Điện Phản ứng của Minh Mạng không bao gồm sự hợp tác
và hỗ trợ lẫn nhau giữa ba quốc gia; ông không thể hiện sự đồng cảm với Miến Điện
và ông đã bị miễn cưỡng tham dự vào cuộc đối đầu giữa Hồng Mao và Thái Lan Sự quan tâm của ông đối với vấn đề an toàn cho Thái Lan không phải vì Thái Lan mà vì Việt Nam
Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, chúng ta vẫn có thể nhất trí rằng Minh Mạng và quần thần đã bắt đầu hình thành một cảm giác về sự đoàn kết Đông Nam Á, đặc biệt là giữa ba quốc gia hùng mạnh – Miến Điện/Thái Lan/Việt Nam - trong Đại
Trang 22346
lục Đông Nam Á Điều quan trọng nhất là họ đã bắt đầu nhìn nhận ba quốc gia cùng nhau Quan điểm của Minh Mạng được dựa trên sự hình thành chiến lược quốc tế Trước mối đe dọa là nước Anh, ba nước được xem là có chung một số phận Vai trò của Miến Điện là điểm then chốt đối với sự an toàn của Việt Nam Sự liên quan của Việt Nam đến xung đột giữa Hồng Mao và Thái Lan dường như là không thể tránh khỏi An toàn của Thái Lan dù là từ Miến Điện hay từ Hồng Mao đều là vấn đề đáng quan tâm Hầu hết các vị vua triều Nguyễn đều bắt đầu nhận thấy ba nước ở cùng một thời điểm là một với cùng một số phận và tiếp cận với cuộc chiến Anh-Miến Điện một cách chiến lược
Có thể so sánh tình trạng này với trường hợp xảy ra với một nước láng giềng khác là Trung Quốc năm 1840 Minh Mạng nghe được tin tức về cuộc chiến Anh - Trung Quốc (Chiến tranh Thuốc phiện) qua các chuyến đi đến Quảng Đông Phản ứng lại cuộc va chạm này, Minh Mạng đã không thể hiện bất cứ sự lo lắng nào về khả năng lan rộng mối đe dọa của người Anh sang Việt Nam, song ông chỉ đổ lỗi cho sai lầm trong chính sách của nhà Thanh; một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc củng cố hệ thống phòng thủ và tiếp tục gửi các con tàu hiện đại ra nước ngoài để thu thập thông tin và vũ khí tối tân.1 Sau 6-7 tháng mà cuộc chiến chưa có kết quả cuối cùng, điều duy nhất khiến Minh Mạng lo lắng là việc buôn bán qua đường biển giữa Trung Quốc và Việt Nam không được thuận tiện.2 Dưới con mắt của Minh Mạng, Đông Nam Á đã gần hơn với Việt Nam Đây là kết quả mối quan hệ đối ngoại với Đông Nam Á của triều Nguyễn bắt đầu từ Gia Long để gia nhập vào thế giới Đông Nam Á từ thế giới của Trung Quốc
Trên thực tế, Triều Nguyễn Việt Nam đã nhận thấy chỉ còn ba quốc gia có độc lập trong khu vực nơi các quan thuyền được đi theo hướng Hà Châu Trong số các quốc gia thời hiện đại, Malaysia, Singapo, Indonesia, Brunei, và Phillipin thuộc quyền lực phương Tây Campuchia và Lào thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam hoặc Thái Lan Miến Điện và Thái Lan chỉ là 2 quốc gia độc lập với Việt Nam Đây
là một bối cảnh tạo cho Minh Mạng có cảm giác về sự thống nhất Nó có thể được gọi là sự thống nhất bị động, song nó là một cảm giác khá rõ ràng, phản ánh sự thay đổi lịch sử của thế kỷ XIX Nếu không có mối liên hệ với thế giới bên ngoài và những nghiên cứu sâu về quyền lực Phương Tây bắt đầu từ thời kỳ trị vì của Minh Mạng, cảm giác nói trên hoặc mối quan tâm ở trên đã không được hình thành
Hiện nay, các nhà sử học đã có các ghi chép về nơi đến của quan thuyền nhưng không có những ghi chép về các báo cáo mà người đi trên quan thuyền ghi lại Với việc nghiên cứu sâu hơn về các báo cáo – có thể là có trong các Châu Bản, ý
Trang 23347
tưởng về sự đoàn kết Đông Nam Á vào thế kỷ XIX có thể được minh chứng rõ ràng hơn So sánh với Hàn Quốc – quốc gia mà lịch sử thế kỷ XIX không để lại bất cứ một ghi chép nào về các hoạt động đường biển, Việt Nam có tiềm năng lớn và có triển vọng để phát triển các nghiên cứu về thế kỷ XIX của Việt Nam nói riêng và thế
kỷ XIX của Đông Á nói chung để làm cho lịch sử thời kỳ này phong phú và khoa học hơn
Trang 24348
SO SÁNH NGUỒN SỬ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
PGS, TS Vũ Quang Hiển
Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội
Trong nhiều công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng có hiện tượng trình bày khác nhau về một số sự kiện và quá trình Lịch sử Đảng, mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu sự thẩm định, so sánh nguồn sử liệu
1 Nguồn sử liệu Lịch sử Đảng rất phong phú, thể hiện qua nhiều loại tài liệu khác nhau
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là một chuyên ngành của khoa học lịch sử, có đối tượng nghiên cứu không chỉ là tổ chức và hoạt động của Đảng (kể
cả hoạt động lý luận, thực tiễn), mà cả những phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Hoạt động của Đảng rất phong phú, diễn ra trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi bí mật, lúc công khai; khi chưa có chính quyền, khi có chính quyền; khi tiến hành khởi nghĩa, khi tiến hành chiến tranh; khi tiến hành một chiến lược cách mạng, khi đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng…, trong tình hình quốc
tế cũng có nhiều biến đổi Nguồn sử liệu lịch sử Đảng rất phong phú, có thể khai thác qua nhiều loại tài liệu khác nhau:
- Các Văn kiện Đảng (phần lớn đã được công bố trong một bộ sách 54 tập), trong đó nhiều văn kiên trực tiếp phản ánh hoạt động của Đảng, nhưng cũng có những văn kiện phản ánh nhận thức của Đảng về những sự kiện đã xảy ra
- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh (phần lớn đã công bố trong bộ sách 12 tập)
- Những bài nói, bài viết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội…
- Các sách nghiên cứu về Lịch sử Đảng, lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương, lịch sử đảng bộ địa phương, hoặc nghiên cứu về những lĩnh vực khác nhau của đất nước hoặc mỗi địa phương (chính trị, kinh tế quân sự, văn hoá…) có liên quan đến lịch sử Đảng
- Tài liệu được khai thác qua các nhân chứng lịch sử, những người tham gia hoặc chứng kiến diễn biến lịch sử Nguồn tài liệu này có thể đã thành văn hoặc chưa
Trang 25Có thể phân chia nguồn sử liệu lịch sử Đảng thành hai loai cơ bản: 1- Nguồn
sử liệu trực tiếp (phản ánh lịch sử khách quan), 2- Nguồn sử liệu gián tiếp (phản ánh
sự kiện được nhận thức thông qua yếu tố chủ quan)
Nguồn sử liệu trực tiếp có độ chính xác tuyệt đối, chẳng hạn như các tài liệu lưu trữ văn bản có nội dung về những chủ trương, biện pháp của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, hoặc phim ảnh tư liệu phản ánh những hoạt động của Đảng trong mỗi giai đoạn, thời kỳ Những người làm công tác nghiên cứu có thể được đối diện trực tiếp với những mảnh, những mảng của hiện thực lịch sử Nội dung của nguồn sử liệu này là không thể tranh cãi Tuy nhiên, không phải tất cả các sự kiện Lịch sử Đảng đều được phản ánh một cách trực tiếp trong các tài liệu thành văn hoặc ảnh tư liệu, mà thường được phản ánh sau khi sự kiện đã diễn ra, qua các báo cáo, tổng kết, những công trình nghiên cứu, hồi ký… Nhiều sự kiện không được ghi chép lại một cách tức thời, mà phải sau một thời gian dài mới được nhận thức lại, và thường không được ghi chép đầy đủ Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải khai thác sử liệu qua các nhân chứng lịch sử, những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến sự thật lịch
sử, nhưng đồng thời phải so sánh sử liệu để phục dựng lại sự thật lịch sử Trên thực
tế, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nguồn sử liệu phản ánh gián tiếp các sự kiện vẫn có sự sai lệch
Nhiều nguồn sử liệu khác nhau có tác dụng bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho nhà nghiên cứu so sánh, xác minh để tiếp cận chân lý Nhưng mọi khó khăn chỉ bắt đầu khi chỉnh lý tài liệu Không ít những sự kiện bị phản ánh không đầy đủ, thậm chí không đúng thực tiễn
2 Xuất phát từ những nguồn sử liệu khác nhau, đã có nhiều nội dung lịch
sử Đảng được trình bày khác nhau
Trong nghiên cứu lịch sử Đảng, đã và đang có nhiều nội dung sự kiện được trình bày khác nhau do căn cứ vào những nguồn sử liệu khác nhau Sau đây là một số
ví dụ về sự sai lệch trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng:
Trang 26350
1- Về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Căn cứ vào Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản1 của Nguyễn Ái Quốc 1930), thời gian bắt đầu họp Hội nghị là ngày 6-1-1930 Thời gian kết thúc Hội nghị không ghi rõ, mà chỉ biết ngày 8-2-1930 các đại biểu dự Hội nghị về nước Thành phần dự Hội nghị ngoài Nguyễn Ái Quốc, có đại biểu của hai tổ chức Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng Theo đó, Nguyễn Ái Quốc là người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị, chứ không phải là “theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản”, hoặc “được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản”
(18-11-Tuy nhiên, vào thời điểm họp Đại hội lần thứ ba của Đảng (9-1960), các nhà
nghiên cứu chưa được tiếp cận với Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản của Nguyễn Ái Quốc Khi đó, phía Liên Xô cung cấp cho Việt Nam bài viết Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương của Hà Huy Tập với bút danh Hồng Thế
Công đăng trên báo Bolsévick Theo bài báo này, Hội nghị thành lập Đảng họp từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 Trong khi một số đại biểu dự Hội nghị thành lập Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Thiệu) lại không nhớ chính xác thời gian họp Hội nghị, Đại hội lần thứ III của Đảng đã ra Nghị quyết lấy ngày 3-2 dương lịch hàng năm
“làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng” Từ đó, các sách đều viết Hội nghị thành lập Đảng họp từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930
Điều đáng chú ý là, chính Hà Huy Tập, trong tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương, có một mục riêng với tiêu đề “Hội nghị hợp nhất
ngày 6-1-1930”, và cuối trang, ông có ghi chú thích, cải chính rằng Hội nghị hợp nhất họp ngày 6-1-1930
Theo GS, TS Đỗ Quang Hưng, trong hồ sơ ký hiệu 405-154-676 của Quốc tế Cộng sản (bản báo cáo của Ban chỉ huy ở ngoài, bằng tiếng Pháp, gồm 8 trang chữ nhỏ, đề ngày 20-12-1934) có ghi: “giai cấp công nông và nhân dân lao động Việt Nam đã có hai tuần lễ đỏ trong nước từ ngày 6-1 (thành lập Đảng) đến ngày 21-1 (ngày mất của Lênin)…”2
Như vậy, phải khẳng định ngày họp Hội nghị thành lập Đảng là ngày
6-1-1930 Ngày 8-2-1930 các đại biểu dự Hội nghị về nước Nhưng Hội nghị kết thúc vào ngày nào thì đến nay vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn Mặc dù một số công trình nghiên cứu viết ngày 7-2-1930, nhưng hoàn toàn không có cơ sở khoa học Vào
đúng ngày này Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo tóm tắt Hội nghị, và theo Hồi kí của
1
Bản báo cáo này viết bằng tiếng Anh (ký tên Nguyễn Ái Quốc bằng tiếng Nga), lưu tại Kho Lưu
trữ Trung ương Đảng, đã được xuất bản trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2000, tr 11-18), và Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2 (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1998,
tr 18-25)
2
Đỗ Quang Hưng, Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999, tr 279
Trang 27351
Trịnh Đình Cửu thì “chiều ngày 7 tháng 2, ông Nguyễn làm một bữa tiệc liên hoan nhỏ để tiễn các đại biểu, các đồng chí, học trò của ông về nước” Có ý kiến cho rằng, Hội nghị đã kết thúc từ ngày 3-2-1930, nhưng các đại biểu phải chờ đến ngày 8-2-
1930 mới có tàu (mỗi tháng có hai chuyến từ Hồng Kông) về nước Những thông tin này cho phép nghĩ đến việc kết thúc Hội nghị sớm hơn ngày 7-2-1930
Về thành phần dự Hội nghị, theo Báo cáo tóm tắt Hội nghị, chỉ có 5 người1 Nhưng nhiều tác phẩm nghiên cứu, luận văn, luận án lại viết là 7 nguời
Như vậy, xung quanh một sự kiện Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã có tới 3 chi tiết được trình bày khác nhau, do căn cứ vào những nguồn sử liệu khác nhau
2- Về Luận cương chính trị tháng 10-1930
Đã từng có nhiều sách và công trình nghiên cứu cho rằng, Hội nghị Hợp nhất
đã thông qua Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, nhưng cách mạng ngày càng
phát triển, đòi hỏi phải có một cương lĩnh đầy đủ hơn, nên Hội nghị lần thứ nhất Ban
chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 10-1930 đã “thông qua” bản Luận cương chính trị tháng 10-1930, và đi tới kết luận rằng Luận cương chính trị tháng 10-1930
đã “phát triển” Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Thậm chí có ý kiến cho rằng
Chính cương và Sách lược của Hội nghị thành lập Đảng là một “đề cương”, còn Luận Cương tháng 10-1930 là một văn bản “hoàn chỉnh” Nhưng qua tài liệu lưu trữ
thì không phải như vậy Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị tháng
10-19302 cho thấy Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng đã phê phán
Hội nghị hợp nhất và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng có “sai lầm”, “chỉ lo
đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu”, “ấy là một sự rất nguy hiểm” Từ đó Hội nghị đi tới quyết định “Thủ tiêu Chánh cương Sách lược và Điều
lệ cũ của Đảng”3 Như vậy, Luận cương chính trị tháng 10-1930 không phải là sự kế thừa và phát triển, mà là một sự thay đổi so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Trên thực tế, Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương chưa được Hội nghị thông qua, mà chỉ được công bố như một “Dự án để thảo luận trong
1
Một đại biểu Quốc tế Cộng sản, hai đại biểu của Cộng sản Đảng, hai đại biểu của An Nam Cộng
sản Đảng Xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, t 2, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1998, 2000, tr 10
2
Nguyên văn là: Án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội nói về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng 10-1930, tài liệu lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2 (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 104-117)
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, sđd, tr 112-113
Trang 28352
Đảng”1 Tuy nhiên, ngay sau đó, cao trào cách mạng năm 1930 bị thực dân Pháp đàn
áp đẫm máu, toàn bộ Ban chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, không sót một người nào, và Luận cương tiếp tục được lưu hành trong Đảng như một Cương lĩnh chính thức
Nếu mới chỉ nhìn qua một số câu chữ, nhiều nhà nghiên cứu nhầm tưởng rằng
sự giống nhau giữa hai cương lĩnh này là “cơ bản” Nhưng rõ ràng là trên một loạt vấn đề quan trọng nhất như chiến lược cách mạng ở thuộc địa (bước đi), nhiệm vụ cách mạng (làm gì?) và lực lượng cách mạng (ai làm?) thì giữa hai cương lĩnh này
hoàn toàn khác nhau Bản thân khái niệm cách mạng tư sản dân quyền cũng có nội dung khác nhau Nếu như Cương lĩnh chính trị đầu tiên nhấn mạnh chiến lược giải
phóng dân tộc thì Luận cương chính trị tháng 10-1930 lại nhấn mạnh chiến lược đấu
tranh giai cấp, nhấn mạnh cách mạng ruộng đất Điều đáng quan tâm là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, còn tiếp tục bị phê phán trong nhiều văn kiện của Đảng sau Hội nghị thàng 10-1930 Nếu căn cứ vào những nguồn sử liệu khác, như Án nghị quyết Trung ương toàn thể Hội nghị tháng 10-1930, một số tác phẩm của Hà Huy
Tập , thì nổi lên sự khác nhau mới là cơ bản
3- Bản chỉ thị Toàn dân kháng chiến2 của Trung ương Đảng
Theo nguồn tài liệu lưu trữ thì Trung ương Đảng ra bản chỉ thị này không phải vào ngày 22-12-1946, tức là sau ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19-12-1946),
mà là ngày 12-12-1946 Vấn đề thời gian này có liên quan tới những kết luận khác nhau về chủ trương kháng chiến của Đảng
4- Về chủ trương “thay đổi chiến lược” trong giai đoạn 1939-1945
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) ghi
rõ: "Cần phải thay đổi chiến lược” Hội nghị phân tích: “Sự thay đổi về kinh tế,
chính trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương…" Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật "không phải riêng của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương", "cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền
1
Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Dự án để thảo luận trong Đảng), lưutại
Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã được xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 88-103
2
Bản chỉ thị này lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, đã được xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8 (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 150-155)
Trang 29353
địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng""1
“Thay đổi chiến lược” là vấn đề không thể bàn cãi, nhưng xuất phát từ những
tư liệu ngoài văn kiện Đảng, nhiều giáo trình và bài viết khi trình bày về chủ trương của Đảng trong thời kỳ vận động cứu nước 1939-1945, đã sử dụng những khái niệm như: “chuyển hướng chỉ đạo chiến lược”, “chuyển hướng chiến lược”, “điều chỉnh chiến lược” và “chuyển hướng đấu tranh”
Tựu chung, việc sử dụng nhiều khái niệm trên đây có thể phân chia thành hai
loại ý kiến: 1- Có sự thay đổi chiến lược (chuyển hướng chiến lược, điều chỉnh chiến lược – tương đồng với thay đổi chiến lược); 2- Không có sự thay đổi chiến lược, mà
chỉ là sự thay đổi về chỉ đạo (thực hiện) chiến lược Về mặt lôgic, giữa hai ý kiến khác nhau thì chỉ có thể có một ý kiến đúng, hoặc cả hai cùng sai
Như vậy, có hai vấn đề cần quan tâm nghiên cứu:
Một là, không có sự thay đổi chiến lược như trong nghị quyết Hội nghị lần thứ
8 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã trình bày Như thế sẽ đi tới kết luận: nghị quyết của Đảng viết là A, nhưng chúng ta có thể hiểu là B Điều đó không đúng thực
tế, hơn nữa sẽ tạo ra một tiền đề rất nguy hiểm Đáng tiếc là hiện nay vẫn còn không
ít nhà nghiên cứu vẫn theo hướng tư duy này
Hai là, có sự thay đổi về chiến lược, đúng như văn kiện Đảng đã trình bày Nhưng cần làm rõ nội dung thay đổi là gì? Phải chăng ngay từ năm 1930, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên đến Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã có sự thay đổi, từ
chiến lược đấu tranh giải phóng dân tộc sang chiến lược đấu tranh giai cấp? Và đến giai đoạn 1939-1945 có sự thay đổi lại, từ chiến lược đấu tranh giai cấp trở về với
chiến lược đấu tranh giải phóng dân tộc, đúng như Cương lĩnh chính trị đầu tiên?
Điều đáng chú ý là vai trò chủ trì của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị thành lập Đảng
và Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đảng (5-1941) Những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 1930-
1935 bị phê phán rất gay gắt, chưa nhận được sự đồng thuận trong ban lãnh đạo của Đảng cũng như của Quốc tế Cộng sản
Cũng cần nói thêm rằng, là người đã vận dụng có phê phán và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác vào phong trào giải phóng dân tộc, nhưng Nguyễn Ái Quốc bị quy kết là người “dân tộc chủ nghĩa” Trong những năm 1923-1924, 1927-1928, 1934-
1938, Người không được Quốc tế Cộng sản đồng tình, nên bị kiềm chế, bị phê phán, thậm chí có lúc bị “bỏ rơi” Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và tên Đảng
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,
tr 118 và 119
Trang 30354
Cộng sản Việt Nam (1930) bị bác bỏ Những người cộng sản trẻ tuổi Việt Nam lúc
đó, như Trần Phú, Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản đào tạo, ý chí cách mạng kiên trung, nhưng ít kinh nghiệm thực tiễn, nên chỉ có thể đi theo hướng của Quốc tế Cộng sản
Sự phủ nhận Cương lĩnh chính trị đầu tiên và việc khẳng định Luận cương
chính trị tháng 10-1930 thể hiện hai quan điểm hoàn toàn khác nhau về chiến lược cách mạng ở một nước thuộc địa
5- Về Chính phủ cộng hòa và là quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng năm cánh:
Hồi ký của Nguyễn Thiệu - tức Nghĩa - người cùng bị giam với Trần Phú tại
Khám Lớn (Sài Gòn) năm 1931, cho biết: "Trần Phú thường xuyên trao đổi với anh
em tù chính trị về tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Anh tổ chức những buổi huấn luyện chính trị cho anh em trong tù Khi giảng về thời kỳ Đảng lãnh đạo chính quyền, đồng chí Trần Phú nói rằng: Ở một nước thuộc địa như ta nếu đánh đổ được đế quốc phong kiến thì cần thành lập một chính phủ cộng hoà và lá quốc kỳ nên là một lá cờ nền đỏ và sao vàng năm cánh"1
Căn cứ vào các văn kiện Đảng trong thời gian Trần Phú làm Tổng Bí thư của Đảng (từ tháng 10-1930 đến tháng 4-1931), nổi lên chủ trương nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền với hai nhiệm vụ điền địa và phản đế, coi “vấn đề thổ địa là cái cốt của cuộc cách mạng tư sản dân quyền”, thành lập chính quyền công-nông-binh (chính quyền của quần chúng lao động), thì ý tưởng thành lập một “chính phủ cộng hòa” (chính quyền của tất cả lực lượng đã tham gia cách mạng giải phóng dân tộc) là một vấn đề rất mới mẻ Hơn nữa, từ khi đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương, vấn đề chính quyền cũng được đặt ra trên phạm vi toàn Đông Dương Trần Phú có ý tưởng thành lập “ở nước ta” một “Chính phủ cộng hòa” thì quả là khó hình dung, vì như thế Trần Phú đã ý thức được phải giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương Phải chăng đây
là một bước ngoặt mang tính cách mạng trong tư tưởng của Trần Phú sau khi bị thực dân Pháp bắt giam? Liệu Hồi ký của Nguyễn Thiệu có đủ độ tin cậy để khẳng định vấn đề này?
Căn cứ vào nguồn tài liệu lưu trữ, có thể khẳng định chủ trương của Đảng về việc thành lập chính quyền nhà nước với hình thức cộng hòa dân chủ được đề ra lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (11-1939) Nghị
quyết của Hội nghị ghi rõ: “Lập Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông
1
Một số hồi ký cách mạng Hà Tĩnh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Tĩnh xuất bản, 1965, tập 1,
tr.21
Trang 31355
Dương”1 Đến Hội nghị lần thứ 8 (5-1941), cùng với chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, Trung ương Đảng chủ trương: “các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một dân tộc quốc gia tùy ý” “Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật, và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy” Trong công tác tuyên truyền, “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết, mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”2
Về lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, Hồi ký của Nguyễn Thiệu cho rằng Trần Phú
đã nghĩ tới từ đầu năm 1931, nhưng theo tập thể tác giả Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ
thì người vẽ lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên là Nguyễn Hữu Tiến - tức giáo Hoài, khi bị bắt (30.7.1940) đang tham gia Xứ uỷ Nam kỳ3 Liệu có đúng không vào thời điểm đầu năm 1931, Trần Phú đã nghĩ tới một là cờ riêng của “nước ta”? Trong các văn kiện của Đảng từ khi Đảng ra đời đến trước Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung
ương (5-1941) không có bất cứ tài liệu nào nói tới việc đó Trong Chương trình Việt Minh, một văn kiện kèm theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, nêu rõ: “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”4 Ý kiến của Nguyễn Thiệu trong Hồi ký của ông không phù hợp với lôgíc trong tư duy của Trần Phú và xu hướng nhấn mạnh cuộc đấu tranh giai cấp ở thuộc địa kể từ Hội nghị tháng 10-1930 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Hồi ký của Nguyễn Thiệu cần được thẩm định lại một cách nghiêm túc
3 Phải so sánh nguồn sử liệu lịch sử Đảng là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu
Trang 32356
Trên cơ sở so sánh nguồn sử liệu, việc nghiên cứu Lịch sử Đảng mới có điều kiện tiếp cận các sự kiện, thấy được các sự kiện đầy đủ và chính xác Điều đó không chỉ liên quan đến nội dung mỗi sự kiện, mà quan trọng hơn là quyết định cả sự luận giải khoa học
Yêu cầu có tính nguyên tắc là phải nghiên cứu một cách toàn diện các nguồn
sử liệu, so sánh và thẩm định độ chính xác của mỗi nguồn
Trước hết, cần có quan điểm toàn diện, nghiên cứu đầy đủ các nguồn sử liệu,
trước hết là các văn kiện của Đảng Bản thân các văn kiện Đảng cũng càn được
nghiên cứu so sánh để có nhận thức đúng về lịch sử Đảng Ví dụ, trở lại với chủ trương “thay đổi chiến lược” của Đảng trong giai đoạn 1939-1945 đã nói ở trên, thì không chỉ căn cứ vào nghị quyết các hội nghị lần thứ 6 (11-1939) và lần thứ 8 (5-1941) của Ban chấp hành Trung ương Đảng, mà cả một số văn kiện trước đó, nhất là
tác phẩm Đường kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, Ngay trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng khái niệm “dân tộc cách mạng” Hội nghị lần thứ
6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (11-1939) cho rằng “chiến lược cách mệnh tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới”1
Liên quan đến chủ trương thay đổi chiến lược còn có nhiều văn kiện trong
thời gian sau Hội nghị lần thứ 8, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng (và đã được
xuất bản), nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, như Lời kêu gọi đồng bào, các đảng phái cách mạng và các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, Thư của Ban Trung ương đảng gửi các chiến sĩ Bắc Sơn, Cuộc chiến tranh Thái Bình dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng
Nghị quyết Ban Thường vụ Trung ương Đảng (2-1943) khẳng định “không thể hoàn thành luôn một lúc hai nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân chủ là: cách mạng dân tộc giải phóng và cách mạng thổ địa” “Lúc này, nhiệm vụ dân tộc giải phóng cần kíp và quan trọng hơn Nên Đảng phải thống nhất mọi lực lượng cách mạng đặng mau hoàn thành nhiệm vụ ấy trước Do đó khẩu hiệu thổ địa cách mạng
không thể đặt ra lúc này Như thế chiến lược của Đảng có thay đổi ít nhiều chứ
không phải chỉ có chiến thuật mà thôi ”2
Bản báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân,
tiến tới chủ nghĩa xã hội (Luận cương cách mạng Việt Nam) tại Đại hội II của Đảng
(2-1951) khẳng định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam là quá trình phát
Trang 33Bản báo cáo khẳng định: “Trong điều kiện cách mạng của nước ta, đánh đổ
đế quốc xâm lược là một chiến lược, nằm trong một giai đoạn chiến lược Thủ tiêu mọi di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện người cày có ruộng lại là một chiến lược khác, nằm trong một giai đoạn chiến lược khác (TG nhấn mạnh)”
“Xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị điều kiện để tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội lại là một chiến lược khác, nằm trong một giai đoạn chiến lược khác (TG nhấn mạnh) Trong giai đoạn đó, ta làm trọn nhiệm vụ dân chủ nhân
dân, đồng thời xúc tiến việc xây dựng và phát triển cơ sở của chủ nghĩa xã hội”
“Song giai đoạn thứ ba không phải hoàn toàn là giai đoạn của cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà chính là một quá trình trong đó cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân Việt Nam hoàn thành và biến chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa”2
“Những bước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hình trong nước và ngoài nước khi đó mà quyết định”3
Từ sự phân tích trên, bản Báo cáo khẳng định: “Đó là nguyên nhân chính khiến ta phải qua ba giai đoạn mới đạt tới chủ nghĩa xã hội được Thuyết một giai đoạn hoàn toàn không có căn cứ, thậm chí lại nguy hiểm nữa”
Báo cáo cũng phê phán quan điểm không đúng, cho rằng “ta chỉ cần qua hai giai đoạn cũng đạt tới chủ nghĩa xã hội được: giai đoạn thứ nhất tức là giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản, trong đó ta vừa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, vừa thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”; giai đoạn thứ hai là giai đoạn cách mạng
xã hội chủ nghĩa, trong đó ta thực hiện chủ nghĩa xã hội” “Nếu cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc và nhiệm vụ thực hiện người cày có ruộng vào một giai đoạn, thì sẽ dễ
có khuynh hướng coi hai nhiệm vụ đó ngang nhau, không nhận rõ rằng: lúc này phải
Trang 34358
tập trung mọi lực lượng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc trước, và chỉ có thể bài trừ một phần nhỏ những di tích phong kiến (giảm tô, giảm tức, v v.) Quyết không thể thực hiện hẳn hoi khẩu hiệu “người cày có ruộng” cùng với nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc xâm lược Vì làm như thế khác nào “đánh cả hai tay”, rất không lợi”1
Hoạch định con đường giải phóng và phát triển của Việt Nam là lâu dài, qua
ba chiến lược cách mạng khác nhau Đó chính là một quá trình cải biến cách mạng
lâu dài, chứ “không thể giang chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay chủ nghĩa xã hội Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi”2
Như vậy, nếu như căn cứ vào nhiều văn kiện của Đảng, chúng ta mới hiểu một cách chắc chắn chủ trương “thay đổi chiến lược” trong giai đoạn 1939-1945 là đúng
Thứ hai, cần quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể Mỗi nguồn sử liệu có xuất
sứ khác nhau Đáng chú ý là một số tài liệu được biên soạn lại, bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử, nên không phản ánh đúng thực tế lịch sử, chẳng hạn như tác phẩm
“Kháng chiến nhất định thắng lợi” xuất bản lại vào những năm 60 hoặc 70 của thế kỷ trước có những sai lệch so với lần xuất bản năm 1947 Do sự chi phối của quan điểm nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp, một chủ trương của Đảng giai đoạn 1930-
1945 cũng được giải thích khác so với tinh thần những văn kiện ra đời trước Cách mạng tháng Tám 1945 Để trình bày đúng sự thật lịch sử, người làm công tác nghiên cứu cần so sánh nguồn sử liệu, và phải căn cứ vào nguồn sử liệu xuất hiện vào thời điểm mà sự kiện đang diễn ra để đảm bảo tính khách quan, khoa học
Trong sự nghiệp đổi mới, khoa học Lịch sử Đảng có điều kiện phát triển và đạt được nhiều thành tựu Nhiệm vụ của khoa học Lịch sử Đảng hết sức nặng nề Trên Tạp chí Lịch sử Đảng hơn 20 năm qua đã có nhiều bài viết thẳng thắn yêu cầu khắc phục những hạn chế trong các công trình nghiên cứu Lịch sử Đảng, xác định nhiệm vụ cụ thể đối với khoa học Lịch sử Đảng: “Khi trình bày những quyết sách của Đảng, không chỉ giới thiệu tóm tắt các văn kiện, mà cần phản ánh nhiều chiều bằng những quan điểm, luận cứ được đưa ra thảo luận để đi tới quyết định: những biện pháp tổ chức, triển khai đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong thực tiễn, tính chủ động sáng tạo của các cấp bộ đảng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân” “Trình bày đúng mức vai trò và cống hiến, hy sinh lớn lao của các tầng lớp nhân dân trong tiến trình lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước” “Nêu bật mối quan hệ hữu cơ, sâu rộng giữa Đảng và dân tộc” Phải trình bày theo hai chiều mối quan hệ giữa Đảng ta với các Đảng Cộng sản và nhiều tổ chức
Trang 35359
quốc tế; phản ánh đúng những thành công, nhưng đồng thời phải “trình bày và lý giải những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng ” “Cần vận dụng tư duy và phương pháp đổi mới để nghiên cứu và xử lý những vấn đề tồn đọng, chưa được nghiên cứu thấu đáo, chưa được làm sáng tỏ do thiếu tư liệu hoặc
sử dụng các tư liệu chưa đảm bảo độ tin cậy, do định kiến hoặc cách xem xét lý giải một chiều Thêm nữa, có những vấn đề, sự kiện và nhân vật tuy đã được nghiên cứu, đánh giá, nhưng xét thấy chưa thỏa đáng, cũng cần cải chính, hiệu chỉnh cho phù hợp với sự thật”1
Để hoàn thành những tâm nguyện đó, các cơ quan và nhà nghiên cứu cần so sánh nguồn sử liệu, tạo cơ sở vững chắc, nhất là cần căn cứ vào nguồn tài liệu trực tiếp, một trong những nguồn tài liệu cơ bản nhất, với độ tin cậy cao nhất, cung cấp những sử liệu chính xác Hy vọng rằng với nỗ lực tập hợp và so sánh các nguồn sử liệu ngày càng được quan tâm, giúp cho việc nghiên cứu Lịch sử Đảng đạt được những thành công mới
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy: trong những thời gian áp dụng lý luận máy móc, thiếu sáng tạo, đã phạm sai lầm giáo điều, tả khuynh Trong thời gian vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tiến lên dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng có đường lối độc lập tự chủ, và đưa cách mạng giành thắng lợi
Thực tiễn đó cũng cho thấy, những người làm công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng không bao giờ được lãng quên vấn đề thuộc phương pháp luận là so sánh các nguồn sử liệu; phải xuất phát từ thực tiễn khách quan, quán triệt quan điểm toàn diện
và lịch sử cụ thể, tranh luận học thuật công khai và vô tư, để khoa học lịch sử hoàn thành cả hai chức năng: nhận thức khoa học và giáo dục tư tưởng
1
Viện Lịch sử Đảng: Về phương pháp nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 2008, tr 51, 53 và 56
Trang 36360
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ VIẾT LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN
(từ cái chết của Albert Peter Dewey)
Phan Văn Hoàng
Nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Bất cứ nhầm lẫn nào nếu được phát hiện và sửa chữa đều có ý nghĩa như một kinh nghiệm quý Trong tinh thần ấy, từ cái chết của Albert Peter Dewey, chúng tôi
có mấy suy nghĩ về viết lịch sử kháng chiến
1 “Chiến công” đầu tiên
Chiều ngày 26-9-1945, thiếu tá tình báo Dewey ngã xuống trên một con
đường vắng ở ngoại ô Sài Gòn Anh là quân nhân Mỹ đầu tiên chết và mất tích tại
Việt Nam
Dewey sinh năm 1916 tại Chicago (bang Illinois, Mỹ), con của Charles Schuveldt Dewey (nguyên trợ lý Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ, nghị sĩ bang Illinois) và là cháu họ của Thomas E Dewey (Thống đốc bang New York, hai lần
ra tranh chức Tổng thống Mỹ vào các năm 1944 và 1948 nhưng đều thất cử) Từ 1943, Dewey hoạt động cho tổ chức tình báo Mỹ OSS1 ở Pháp (lúc đó bị Đức quốc xã chiếm đóng) vì anh thông thạo tiếng Pháp
Vào lúc chiến tranh sắp kết thúc, OSS giao cho
Dewey cầm đầu Phân đội 404 sang Sài Gòn thực hiện “Dự án Đường đê” (Project Embankment) nhằm tổ chức hồi hương tù binh Mỹ, tìm mồ mả những người đã chết,
bảo vệ tài sản của kiều dân Mỹ, điều tra tội ác chiến tranh của Nhật, tìm hiểu tình hình chính trị ở Nam Bộ …
Ngày 4-9-1945, Dewey đến Sài Gòn Anh đã tổ chức đưa 214 tù binh về nước trên 7 chiếc máy bay DC3 Hai mươi hai ngày sau, anh bị du kích Việt Minh bắn chết
1
OSS (viết tắt của Office of Strategic Services, Cơ quan phục vụ chiến lược) thành lập năm 1942, là
tổ chức tình báo tiền thân của CIA (Central Intelligence Agency, Cơ quan tình báo trung ương) hiện
nay
Trang 37361
Trong nhiều thập niên qua, phần lớn (nếu không muốn nói là tất cả) các sách
lịch sử Việt Nam đều xem cái chết của viên sĩ quan tình báo Mỹ này như một trong
những “chiến công” đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Xin trích
dẫn vài đoạn sau đây làm ví dụ (chép lại đúng nguyên văn, kể cả những chi tiết không chính xác về họ tên, cấp bậc, ngày giờ …) :
“Ngày 28 tháng 9, một chiếc xe jeep chở 2 sĩ quan địch từ cầu Kiệu theo đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng) lên Gò Vấp để dò xét tình hình Đến hẻm Cây Dương ngang chùa Bà Chúa, cách ngã ba Chú Ía vài trăm mét, xe lọt vào trận địa phục kích của ta Du kích đã bắn chết tên sĩ quan da trắng và bắt sống tên sĩ quan Nhật
[Chú thích cuối trang] Ngay hôm sau, báo chí địch ở Sài Gòn đưa tin : Người
bị giết là đại tá Mỹ Peter Dewey Dewey là cháu viên thống đốc Dewey bang New York, là cố vấn tình báo cho Pháp và Đồng Minh Đó là tên sĩ quan cao cấp Mỹ đầu tiên bị giết chết ở Việt Nam” 1
“Chiều ngày 28 tháng 9 năm 1945, khoảng bốn giờ chiều, một chiếc xe jeep
từ Phú Nhuận chạy vào Gò Vấp Ngồi trên xe là một tên sĩ quan to lớn, đeo ống nhòm quan sát Đến ngả ba Chú Ía thì đụng phải một tiểu đội du kích đang phục kích Du kích ta nổ súng Tên sĩ quan ngã gục trên xe, tên lái xe dừng lại, nhảy xuống
xe và chạy trốn Du kích ta không quan tâm đến tên lái xe người Việt mà lo thu chiến lợi phẩm… Anh em du kích được lệnh đem xác tên giặc chôn trong xóm gần bên đường
Trận đánh diễn ra nhanh gọn Một loạt súng giết được một tên sĩ quan của địch, thu được một xe jeep và một khẩu súng lục…Hai hôm sau, báo chí Sài Gòn đưa tin đại tá Dewey, bang New York (Mỹ), con trai của thống tướng Dewey, bị mất tích… Chỉ bằng mấy phát súng, du kích Gia Định đã diệt được một tên đại tá Mỹ Có
lẽ đây là tên Mỹ đầu tiên bỏ mạng ở Việt Nam… Đây là một trận đánh nhỏ trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, nhưng tiếng vang của nó, ảnh hưởng của nó như một trận đánh lớn, một chiến dịch lớn của quân đội chính quy, nó được lưu truyền như một huyền thoại trong cuộc kháng chiến trên đất Gia Định” 2
Trang 382 Sự thật không phải như thế
Sau khi đưa hết tù binh Mỹ về nước, Dewey cùng Phân đội đến ở trong biệt
thự Ferrier tại rìa phía nam của một sân golf (nay là công viên Gia Định)
Để nắm tình hình chính trị ở Nam Bộ, Dewey thường gặp gỡ trao đổi với các thành viên của Ủy ban nhân dân Nam Bộ, đặc biệt là với chủ tịch - Tiến sĩ luật khoa Phạm Văn Bạch và Ủy trưởng ngoại giao - bác sĩ y khoa Phạm Ngọc Thạch “Đặc biệt Dewey có ấn tượng với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người đỡ đầu cho Thanh niên
Tiền phong, tổ chức bình phong của Việt Minh” (Dewey was particularly impressed with Dr Pham Ngoc Thach, the sponser of the Viet Minh front organization, Vanguard Youth)1 Ủy ban nhân dân Nam Bộ “đề nghị OSS chuyển lời thỉnh cầu của
họ đến tổng thống Harry Truman để có được sự ủng hộ tinh thần của Washington”2 Qua họ, Dewey biết được quá trình đấu tranh cam go của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và phát-xít Nhật Anh có cảm tình với công cuộc bảo vệ nền độc lập
mà người Việt Nam mới giành được
Tiến sĩ Arthur J Dommen viết: “Theo như thuật lại, Dewey đã thảo luận với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch về việc Mỹ ủng hộ sự nghiệp của Việt Minh Một sĩ quan OSS – trở về Washington vào đầu tháng 12 [năm 1945] - nói rằng Dewey có kế hoạch đưa bác sĩ Thạch bí mật sang Washington… Các báo cáo khác nói đến việc
Dewey hứa [cung cấp] vũ khí cho Việt Minh” (Dewey had reportedly been discussing with Dr Pham Ngoc Thach… American support for the Viet Minh cause
An OSS officer who returned to Washington in early December stated that Colonel Dewey had a plan to get Dr Thach to Washington incognito…Other reports speak of Dewey‟s promises of arms to the Viet Minh)3
Giáo sư sử học Trần Văn Giàu xác nhận thông tin này: “Một hôm, tiếp chuyện với Thạch ở Dinh hành chánh Nam Bộ, [Dewey] nói Mỹ không tán thành để Pháp trở
Arthur J Dommen, The Indochinese Experience of the French and the Americans, Indiana
University Press xuất bản, Bloomington, 2001, tr.129
Trang 39363
lại Đông Dương như trước Ông ta đề nghị với Thạch nên đi Mỹ ít hôm để nói chuyện thẳng với Chính phủ Mỹ”1
Theo nghị quyết của Hội nghị Potsdam, Anh đưa quân vào phía nam vĩ tuyến
16 của Đông Dương để giải giới và hồi hương quân Nhật
Đúng như nhận xét của thiếu tá Archimedes L.A Patti, trưởng nhóm OSS ở
Hà Nội, “trong Nam, người Anh lo đập tan chính quyền của Việt Minh và dọn đường
cho Pháp tái chiếm [Việt Nam] hơn là theo đuổi sứ mệnh đã được tuyên bố”(the British in the south were doing more toward dismantling the Viet Minh government and paving the way for a French reoccupation than in pursuing their declared mission)2
Ngày 12-9-1945, Anh cho phép một đại đội lính Pháp (mặc quân phục của Anh) trà trộn trong một tiểu đoàn lính Anh - Ấn3 tới Sài Gòn
Ngày 22-9, thiếu tướng Douglas D Gracey, tư lệnh quân Anh ở nam Đông Dương, ra lệnh thả 1400 tù binh Pháp (bị Nhật giam trong trại 11è RIC ở Sài Gòn từ ngày đảo chính 9-3-1945) và trang bị súng đạn cho chúng Như bầy thú sổng chuồng, chúng “đổ về khu trung tâm Sài Gòn, tấn công những người Việt Nam vô tội mà
chúng gặp trên đường”(the soldiers gravitated instead toward the center of Saigon, where they pounced on any harmless Vietnamese who happened to be within reach)4
Trước những việc làm sai trái của Gracey, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công
hàm cho Truman “phản đối mạnh mẽ” (lodges most emphatic protest) các biện pháp
mà ông cho là “vi phạm rõ ràng đến những quyền đương nhiên của người Việt Nam”
(these measures constitute obvious violation of Vietnamese natural rights) và đề nghị tổng thống Mỹ “can thiệp để nhà chức trách Anh bãi bỏ các biện pháp đó”(requests through your intervention the British authorities concerned will cancel these measures) Ủy ban nhân dân Nam Bộ cũng ra tuyên bố “lên án Anh đã từ chối công
nhận Ủy ban là chính quyền hợp pháp duy nhất ở Nam Bộ và phớt lờ đề nghị của Ủy
ban thu xếp hợp tác để quản lý miền đất này”(accusing the British of refusing to recognize the only legal government in Cochinchina – the Provisional Executive Committee of the South – and ignoring its proposal for cooperative arrangements to administer the area) Ủy ban kêu gọi dân chúng tổ chức một cuộc tổng bãi công để
Trang 40364
“phản đối điều mà Ủy ban xem là một âm mưu của Pháp và Anh nhằm lật đổ chính
quyền của người Việt Nam” (to protest what it considered a French British cabal to overthrow the Vietnamese government) Sáng 18-9, Ủy ban gửi cho Phái bộ Đồng
minh ở Hà Nội một văn thư khẳng định “nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập,
người Việt Nam có quyền quyết định vận mệnh của mình” (Viet Nam completely independent The Vietnamese have right to decide their own fate)1
“Đối với Dewey, anh không thấy có điểm chung với [Gracey], viên tướng mà
một trong những sĩ quan của anh gọi là „một sản phẩm cổ lỗ sĩ của Đế quốc Anh” (As for Dewey, he was unlikely to find common ground with a general whom one of his officers called „an old-fashioned product of the British Empire‟)2 Tối 18-9, Dewey gặp các thành viên chủ chốt của Ủy ban Ngoài Phạm Văn Bạch và Phạm Ngọc Thạch, còn có Phó chủ tịch kiêm Ủy trưởng quân sự Trần Văn Giàu, Tổng thư ký kiêm Ủy trưởng nội vụ Nguyễn Văn Tạo và Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc (tức Công
an Nam Bộ) Dương Bạch Mai
Gracey “coi việc Dewey gặp gỡ các nhóm người Việt là hành động ủng hộ ngầm cho các hành động của người Việt Nam và gây ra rắc rối”3 Ông ta yêu cầu
Dewey “ngưng giao thiệp với bọn phiến loạn” (to stop consorting with the rebels)4
Dewey phải nhờ George Wickes thay mình đi gặp các nhà cách mạng Việt Nam
Wickes lúc đó mới 22 tuổi, biết tiếng Pháp và một ít tiếng Việt, là nhân viên mật mã của Phân đội (sau này, làm giáo sư văn học Anh tại Đại học Oregon)
Wickes nhớ lại: “Dewey không thể gặp người Việt Nam mà không bị [người Anh và người Pháp] theo dõi Vì vậy, nhiều lần anh nhờ tôi đi gặp họ vào buổi tối Đường sá tối tăm, còn nhiều cựu tù binh lang thang đây đó và tôi ăn mặc giống như
họ để tránh bị chú ý Tôi đến một ngôi nhà nằm trên một con đường yên tĩnh Ở đó, tôi gặp 3 hay 4 người trong chừng 2 tiếng đồng hồ Rõ ràng họ là những người dấn thân vào công cuộc giải phóng đất nước… Tôi biết họ là những lãnh tụ của phong trào độc lập Họ muốn chúng tôi làm cho [chính phủ] Washington biết rằng nhân dân
Việt Nam quyết tâm giành độc lập từ tay Pháp” (he could not very well meet with any Vietnamese without being observed So he sent me several times to meet with them in the evening The streets were dark, there were still many former prisons of war