1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư liệu tổ chức Liên Hiệp Quốc

31 467 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư liệu tổ chức Liên Hiệp Quốc
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 1945
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 204 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 1 của Hiến chương nêu rõ bốn 04 mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc là: 1 Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; 2 Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyê

Trang 1

THÔNG TIN CƠ BẢN

VỀ LIÊN HIỆP QUỐC VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

Trang web chính thức: www.un.org

I SỰ HÌNH THÀNH CỦA LIÊN HỢP QUỐC

1 Thành lập:

Tổ chức Liên hợp quốc đã chính thức được thành lập ngày 24/10/1945 với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập Tên "Liên hợp quốc" do Tổng thống Mỹ Franklin D Roosevelt sử dụng trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc (01/01/1942)

Trước năm 1945 Trước sự yếu kém của Hội Quốc Liên và nguy cơ xảy ra chiến tranh thế giới thứ ba, và bảo đảm một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh là Anh, Mỹ và Liên Xô đã tiến hành hai hội nghị Thượng đỉnh quan trọng (Tê-hê-ran 11/1943 và I-an-ta 02/1945) Nội dung trao đổi chính giữa Trớc-trin, Xta-lin và Ru-dơ-ven bao gồm số phận châu Âu

và tương lai của Liên hợp quốc Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên hợp quốc tại Hội nghị I-an-ta mở ra khả năng hợp tác giữa các nước đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh Tại I-an-ta, ba cường quốc trên đã thống nhất với nhau về một số điểm then chốt trong việc thiết lập tổ chức Liên hợp quốc: chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ của U-cờ-rai-na và Bạch Nga (nay là Bê-la-rút), dành quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Liênhợp quốc có quyền giám sát việc tạo dựng trật tự châu Âu Đến Hội nghị Pốt-xđam từ 17/7 đến 2/8/1945, ba cường quốc nhất trí thoả thuận thành lập cơ chế để giải quyết các vấn đề sau chiến tranh (bồi thường chiến tranh của Đức; xác định lại biên giới cácquốc gia vv ) Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập và trên cơ sở thoả thuận tại Hội nghị I-an-ta, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô (Mỹ) tháng 4/1945 và dự thảo Hiến chương của Liên hợp quốc Sự ra đời của Liên hợp quốc là một sự kiện quan trọng: Liên hợp quốc đã thay thế Hội Quốc Liên (hoạt động kém hiệu quả), trở thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững

2 Tôn chỉ và mục đích:

LHQ hoạt động theo các mục tiêu và nguyên tắc qui định trong Hiến chương Liên hợpquốc Điều 1 của Hiến chương nêu rõ bốn (04) mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc là: (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế;

(2) Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết;

(3) Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo;

(4) Xây dựng Liên hợp quốc làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung

Trang 2

Và 6 nguyên tắc hoạt động chủ yếu của Liên hợp quốc là:

(1) Bình đẳng về chủ quyền quốc gia;

(2) Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia;

(3) Cấm đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế;

(4) Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước;

(5) Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế; và

(6) Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình

Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của Liên hợp quốc mang tính bao quát, phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia Các quan tâm ưu tiên này thay đổituỳ theo sự chuyển biến cán cân lực lượng chính trị bên trong tổ chức này Thời gian đầu khi mới ra đời, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành viên, Liên hợp quốc tập trung vào các vấn đề phi thực dân hoá, quyền tự quyết dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apácthai Trong thời kỳ gần đây Liên hợp quốc ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề kinh tế và phát triển Hoạt động của Liên hợp quốc trong gần 60 năm qua cho thấy trọng tâm chính của Liên hợp quốc là duy trì hòa bình an ninh quốc

tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các quốc gia thành viên

Đặc điểm bao trùm của Liên hợp quốc là tổ chức này không phải là một nhà nước siêuquốc gia Liên hợp quốc là tổ chức đa phương toàn cầu đầu tiên có những hoạt động thực chất và đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp và điều tiết các mối quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền bình đẳng của các quốc gia Theo Điều 2 mục 7 của Hiến Chương, Liên hợp quốc không được can thiệp vào các vấn đề thuộc quyền tài phán nội bộ của các nước Tất cả các quốc gia tham gia Liên hợp quốc theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền Nguyên tắc này được phản ánh triệt để nhất trong cơ chế tham gia bỏ phiếu các quyết định và nghịquyết tại Đại Hội Đồng Liên hợp quốc (các quốc gia lớn nhỏ đều có một phiếu).Một đặc điểm nổi bật khác của Liên hợp quốc là tổ chức này phản ánh sự dàn xếp và cân bằng quyền lực giữa các cường quốc thắng trận Thực tế này được thể hiện trong

cơ chế hoạt động của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc - cơ quan chấp hành có thực quyền nhất của Liên hợp quốc và đảm nhiệm trách nhiệm hàng đầu của Liên hợp quốc

là duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Chỉ các quyết định của Hội đồng Bảo an mới

có tính cưỡng chế thực hiện Các nghị quyết tại các cơ quan chính khác của Liên hợp quốc như Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, và cả Toà án Quốc tế chỉ có tính khuyến nghị, đạo lý và tạo sức ép dư luận Để bảo đảm lợi ích và thu hút sự tham gia của cho các cường quốc, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là cơ quan duy nhất dành cho 5 cường quốc quyền phủ quyết (veto) khi thông qua các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Quyền hạn của Hội đồng Bảo an tập trung vào hai lĩnh vực hoạt động chính là giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và tiến hành các biện pháp cưỡng chế

So với Hội Quốc Liên, Liên hợp quốc chứng tỏ đầy đủ hơn tính chất toàn cầu (thành phần gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên mọi châu lục) và đặc biệt là tính toàn diệncủa nó: chương trình nghị sự không bó hẹp vào vấn đề duy trì hoà bình, an ninh, mà bao gồm cả việc thúc đẩy hợp tác vì phát triển kinh tế–xã hội của cộng đồng các dân tộc; bản thân hệ thống Liên hợp quốc bao gồm hàng loạt cơ quan, chương trình, quỹ,

tổ chức chuyên môn tập trung vào mọi lĩnh vực của đời sống các quốc gia và quan hệ

Trang 3

quốc tế ngoài lĩnh vực chính trị - quốc phòng, từ tiền tệ đến nông nghiệp, văn hoá, khoa học–kỹ thuật

Tổ chức Liên hợp quốc ra đời thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị quốc

tế trong gần 60 năm qua Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của các hoạt động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát triển của nền ngoại giao đa phương nói chung Tuy nhiên, sự ra đời của Liên hợpquốc và bản thân Hiến chương Liên hợp quốc tất nhiên chưa đủ để bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn và triệt để giữa các quốc gia lớn nhỏ Sự đóng góp của Liên hợp quốc đối với hoà bình an ninh quốc tế trong hơn 60 năm qua là rất đáng kể Tuy nhiên, thực

tế cho thấy trong nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, Liên hợp quốc không thể hiện được vai trò của mình hoặc có thể nói Liên hợp quốc chưa làm tròn sứ mệnh của mình Các siêu cường vẫn có vai trò lớn và nhiều khi giữ vai trò quyết định trong quá trình ra quyết định của Liên hợp quốc, đặc biệt là cơ cấu và cơ chế hoạt động của Hội đồng Bảo an, Hiến chương Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc

II CƠ CẤU VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN HỢP QUỐC

Liên hợp quốc gồm 6 cơ quan chính là: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, Toà án Quốc tế và Ban Thư ký

1 Đại Hội đồng Liên hợp quốc:

Các qui định của Hiến chương liên quan đến Đại hội đồng được đề cập trong chương

IV (từ Điều 9 đến 22), đã xác định thành phần, chức năng quyền hạn, bầu cử và thủ tục Những qui định khác liên quan đến Đại hội đồng còn được nêu ở một số điều khoản khác

1.1 Thành viên

Đại hội đồng là cơ quan đại diện rộng rãi nhất của Liên hợp quốc Từ 51 thành viên ban đầu (những nướsc có đại diện dự Hội nghị tại Xan Phranxixcô hoặc đã ký Tuyên ngôn của Liên hợp quốc ngày 1/1/1942, và những nước đã ký và phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc), số thành viên Liên hợp quốc cho đến nay là 192 Khác với Hội đồng Bảo an, các thành viên Đại hội đồng đều là các thành viên bình đẳng, khôngphân biệt quốc gia lớn hay nhỏ, mỗi quốc gia thành viên đều được 1 phiếu bầu

Các nước thành viên được chia theo nhóm khu vực để phân bổ vị trí khi bầu vào các

cơ quan cơ chế Liên hợp quốc Hiện nay có 5 nhóm khu vực: châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê, Đông Âu, Tây Âu và các nước khác

1.2 Chức năng quyền hạn

1.2.1 Xem xét và kiến nghị về các nguyên tắc hợp tác trong việc duy trì hoà bình và

an ninh quốc tế, kể cả những nguyên tắc liên quan đến giải trừ quân bị và các qui định

về quân bị;

1.2.2 Bàn bạc về các vấn đề liên quan tới hoà bình và an ninh quốc tế, trừ trường hợp tình hình hoặc tranh chấp hiện đang được thảo luận tại Hội đồng Bảo an, và đưa ra các khuyến nghị về các vấn đề đó;

1.2.3 Bàn bạc và khuyến nghị về các vấn đề theo qui định của Hiến chương có tác động đến chức năng, quyền hạn của các cơ quan thuộc Liên hợp quốc;

1.2.4 Nghiên cứu và khuyến nghị để thúc đẩy hợp tác chính trị quốc tế, phát triển và pháp điển hoá luật pháp quốc tế; thực hiện các quyền con người và các quyền tự do cơ

Trang 4

bản cho mọi người, và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và y tế;

1.2.5 Khuyến nghị các giải pháp hoà bình cho mọi tình huống có thể làm phương hại quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc;

1.2.6 Nhận và xem xét các báo cáo của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cơ quan khác thuộc Liên hợp quốc;

1.2.7 Xem xét, thông qua ngân sách Liên hợp quốc và phân bổ đóng góp của các nước thành viên;

1.2.8 Bầu các thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội, các thành viên được bầu vào Hội đồng Quản thác, cùng Hội đồng Bảo an bầu các thẩm phán Toà án quốc tế, và bầu Tổng thư ký Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 5 năm) theo khuyến nghị của Hội đồng Bảo an

Theo nghị quyết "Đoàn kết vì hoà bình" (Uniting for Peace) thông qua tại Đại hội đồng tháng 11/1950, Đại hội đồng có thể hành động nếu Hội đồng Bảo an, vì không đạt được sự nhất trí giữa các thành viên, không thể có hành động trong một trường hợp có nguy cơ đe doạ hoà bình, phá vỡ hoà bình hoặc hành động xâm lược Đại hội đồng được quyền xem xét vấn đề ngay lập tức để có khuyến nghị với các nước thành viên thực hiện các biện pháp tập thể, trong trường hợp phá hoại hoà bình hoặc xâm lược, bao gồm biện pháp sử dụng vũ lực khi cần thiết, để duy trì và khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế

1.3 Các khoá họp và Cơ cấu:

1.3.1 Các khoá họp: Có các loại là khoá họp thường kỳ, khoá đặc biệt thường kỳ và khoá họp đặc biệt khẩn cấp của Đại hội đồng Liên hợp quốc

* Khoá họp thường kỳ: Theo Nghị quyết 57/301 (2002), Đại hội đồng quyết định khoá họp thường kỳ hàng năm của Đại hội đồng sẽ bắt đầu vào ngày thứ 3 của tuần thứ 3 của tháng 9, tính từ tuần đầu tiên có ít nhất một ngày làm việc Nghị quyết cũng quy định buổi thảo luận chung của Đại hội đồng sẽ được tiến hành vào ngày thứ 3 saukhi khai mạc khoá họp thường kỳ và sẽ kéo dài liên tục trong 9 ngày Các quy định này được áp dụng từ khóa họp thường kỳ thứ 58 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Cáckhoá họp sẽ được tổ chức tại trụ sở của Liên hợp quốc ở Niu Oóc, trừ khi tại khoá họptrước đó Đại hội đồng quyết định hoặc đa số các thành viên Liên hợp quốc yêu cầu tổ chức họp ở nơi khác Mỗi khoá họp có một Chủ tịch chủ trì, do các nhóm khu vực luân phiên đề cử Sau tuần đầu thống nhất chương trình nghị sự, Đại hội đồng sẽ tiến hành thảo thuận chung của các trưởng đoàn Cấp tham gia thường ở cấp cao như Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng ngoại giao Các nước thành viên bày tỏ lập trường quan điểm về những vấn đề quốc tế quan tâm Sau đó, 6 Uỷ ban của Đại hội đồng bắt đầu nhóm họp song song với Đại hội đồng Phần lớn các đề mục được thảo luận tại Uỷ ban trước khi đưa ra Đại hội đồng, một số được thảo luận thẳng tại Đại hội đồng

* Khoá đặc biệt thường kỳ: Do Tổng thư ký Liên hợp quốc triệu tập, theo yêu cầu củaHội đồng Bảo an hoặc đa số các nước thành viên Liên hợp quốc Khoá họp đặc biệt thường kỳ sẽ được tổ chức trong vòng 15 ngày kể từ khi Tổng thư ký nhận được yêu cầu trừ khi Đại hội đồng đã ấn định ngày tổ chức khoá họp đặc biệt từ trước Sau đó, Tổng thư ký sẽ thông báo cho các nước thành viên ít nhất 14 ngày trước khi khai mạc

Trang 5

khoá họp đặc biệt, nếu không thì phải trước 10 ngày Cho tới nay, đã có 27 khoá họp đặc biệt thường kỳ trong đó chủ yếu là theo yêu cầu của Đại hội đồng Chủ đề của cáckhoá họp bao gồm các vấn đề chính trị, kinh tế, môi trường, xã hội Từ năm 1990 trở lại đây, các khoá họp đặc biệt thường kỳ của Đại hội đồng chủ yếu xoay quanh các vấn đề như: hợp tác kinh tế quốc tế, ma tuý, dân số, môi trường, bình đẳng giới, HIV/AIDS Điều này cho thấy rõ xu thế của của Liên hợp quốc sau chiến tranh lạnh là tập trung bàn về vấn đề phát triển.

* Khoá họp đặc biệt khẩn cấp: Có thể được triệu tập trong vòng 24 giờ kể từ khi Tổngthư ký nhận được yêu cầu của Hội đồng Bảo an, hoặc yêu cầu hoặc thông báo của đa

số các nước thành viên Liên hợp quốc Khoá họp này phải được thông báo cho các nước thành viên ít nhất trước 12 giờ Cho tới nay đã có 10 khóa họp đặc biệt khẩn cấpđược triệu tập, trong đó đa số được triệu tập theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an còn lại

là của các nước đặc biệt quan tâm đến tình hình xung đột Vì mang tính khẩn cấp nên chủ đề của các khoá họp này cũng có những nét khác so với các khoá họp đặc biệt thường kỳ ở chỗ các khoá họp đặc biệt khẩn cấp thường bàn về các vấn đề chính trị cụthể như giải quyết xung đột khu vực hoặc trong bản thân một nước (vấn đề Trung đông 1956, Hungary 1956, Trung đông 1958, Congo 1960 )

Khi muốn yêu cầu triệu tập một khoá họp đặc biệt, Hội đồng Bảo an phải có một quyết định chính thức về vấn đề này được 9 thành viên Hội đồng Bảo an bỏ phiếu ủng

hộ Mặc dù Hiến chương quy định các khoá họp đặc biệt được triệu tập theo yêu cầu của đa số thành viên Liên hợp quốc nhưng trên thực tế cho đến nay chưa có một yêu cầu nào được đưa ra và có chữ ký của đa số nước thành viên Thay vào đó, một nước thành viên sẽ trình yêu cầu triệu tập khoá họp đặc biệt lên Tổng thư ký Liên hợp quốc.Tổng thư ký sẽ ngay lập tức thông báo các nước thành viên khác và hỏi ý kiến của họ

về yêu cầu này Nếu đa số các nước bỏ phiếu thuận trong vòng 30 ngày thì một khoá họp đặc biệt sẽ được triệu tập

* Kết quả của các khoá họp thể hiện bằng các nghị quyết và quyết định được thông qua (các hình thức thông qua văn kiện được đề cập ở phần thủ tục hoạt động) Các nghị quyết và quyết định này không có giá trị ràng buộc pháp lý mà chỉ có giá trị khuyến nghị và đạo lý phản ánh ý chí, nguyện vọng chung của đông đảo các nước thành viên Liên hợp quốc

1.3.2 Cơ cấu: Có 6 Uỷ ban chính:

+ Uỷ ban 1: Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế

+ Uỷ ban 2: Kinh tế - Tài chính

+ Uỷ ban 3: Văn hoá - Xã hội - Nhân đạo

+ Uỷ ban 4: Chính trị đặc biệt và Phi thực dân hoá

+ Uỷ ban 5: Hành chính - Ngân sách Liên hợp quốc

+ Uỷ ban 6: Luật pháp quốc tế

Ngoài ra còn có các Uỷ ban sau được thành lập theo các nguyên tắc thủ tục của Đại hội đồng:

* Các Uỷ ban thủ tục;

* Các Uỷ ban thường trực;

* Các cơ quan đặc biệt và phụ trợ

* Các Uỷ ban thủ tục

Trang 6

+ Uỷ ban chung

Uỷ ban này gồm Chủ tịch Đại hội đồng, 21 phó chủ tịch và 6 chủ tịch các uỷ ban chính Uỷ ban này xem xét chương trình nghị sự tạm thời và danh sách các vấn đề bổ sung, xem xét các đề nghị về việc bổ sung các đề mục vào chương trình nghị sự, bố trísắp xếp các đề mục vào các uỷ ban và trình báo cáo lên Đại hội đồng để được phê duyệt Uỷ ban này giúp Chủ tịch Đại hội đồng vạch ra chương trình nghị sự cho các cuộc họp toàn thể, quyết định các đề mục trọng tâm, phối hợp công việc giữa các Uỷ ban, và nói chung làm các việc của Đại hội đồng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban cũng có thể đưa khuyến nghị cho Đại hội đồng về thời gian kết thúc của các khoá họp Tuy nhiên, Uỷ ban không thể quyết định bất cứ vấn đề gì có tính chất chính trị.+ Uỷ ban kiểm tra tư cách đại biểu

Uỷ ban này gồm 9 thành viên được bầu ngay lúc bắt đầu mỗi khóa họp theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban xem xét và báo cáo về các uỷ nhiệm thư của các đại biểu Nếu một đại diện bị một thành viên Uỷ ban phản đối sẽ tạm thời ngồi trong Đại hội đồng với các quyền như các đại diện khác cho tới khi Uỷ ban đã báo cáo và Đại hội đồng

có quyết định về vấn đề đó

* Các Uỷ ban thường trực

Có 2 Uỷ ban thường trực được thành lập, theo qui định thủ tục của Đại hội đồng, để giải quyết các vấn đề tiếp theo trong và giữa các khoá họp thường kỳ

+ Uỷ ban tư vấn về các vấn đề hành chính và ngân sách

Uỷ ban này được thành lập tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng theo Nghị quyết 14A(I)(1946) Uỷ ban có trách nhiệm kiểm tra và báo cáo về ngân sách thường của Liên hợp quốc và ngân sách của việc gìn giữ hoà bình và các tài khoản của Liên hợp quốc, và ngân sách hành chính của các cơ quan chuyên môn Uỷ ban này cũng tư vấn cho Đại hội đồng về các vấn đề hành chính và tài chính khác Số thành viên của Uỷ ban tăng lên nhiều lần, hiện nay có 16 thành viên (theo Nghị quyết 32/103(1977) của Đại hội đồng)

Các thành viên của Uỷ ban được Đại hội đồng bầu ra theo khuyến nghị của Uỷ ban 5 trên cơ sở đại diện cho một khu vực địa lý rộng rãi, và có quyền tái cử Phải có ít nhất

3 thành viên là các chuyên gia tài chính giỏi Các chuyên gia tài chính này không được nghỉ hưu cùng một lúc

+ Uỷ ban đóng góp

Uỷ ban này được thành lập theo Nghị quyết 14(I)(1946) của Đại hội đồng nhằm tư vấn Đại hội đồng về mức đóng góp của các nước thành viên vào chi tiêu của Liên hợpquốc, định số tiền đóng góp của các nước thành viên mới, xem xét đề nghị của các nước thành viên về thay đổi mức đóng, xem xét việc áp dụng Điều 19 Hiến chương Liên hợp quốc trong các trường hợp chậm đóng niên liễm Uỷ ban cũng được quyền khuyến nghị hoặc tư vấn về mức đóng góp cho một tổ chức chuyên môn nếu được tổ chức đó yêu cầu Thành viên của Uỷ ban này được tăng lên nhiều lần, hiện nay có 18 thành viên (theo Nghị quyết 31/96 (1976) của Đại hội đồng)

Các thành viên của Uỷ ban được Đại hội đồng chọn theo khuyến nghị của Uỷ ban 5 trên cơ sở đại diện cho một khu vực địa lý rộng rãi và có trình độ và kinh nghiệm Nhiệm kỳ là 3 năm, và có quyền được bầu lại

Thêm vào đó, các cơ quan Hiệp định được thành lập bởi các Công ước quốc tế phải

Trang 7

trình báo cáo lên Đại hội đồng về các hoạt động của họ.

* Các cơ quan đặc biệt và phụ trợ

+ Các cơ quan liên chính phủ:

Uỷ ban hoà giải cho Palestine (1948); Uỷ ban khoa học của Liên hợp quốc về đánh giá ảnh hưởng của phóng xạ nguyên tử (UNSCEAR) (1955); Uỷ ban về sử dụng hoà bình khoảng không vũ trụ (thành lập năm 1959); Uỷ ban đặc biệt về thực hiện Tuyên

bố về Phi thực dân hoá-Uỷ ban 24 (1961); Uỷ ban đặc biệt về các hoạt động gìn giữ hoà bình (1965); Uỷ ban đặc biệt điều tra các hành động của Israel làm tổn hại các quyền con người của nhân dân Palestine và các nước Arập khác trên những lãnh thổ

bị họ chiếm đóng (1968); Nhóm làm việc về chi tiêu cho các công việc cứu trợ của Liên hợp quốc và các cơ quan khác cho tị nạn Palextin vùng Cận Đông (UNRWA) (1970); Uỷ ban quan hệ với nước chủ nhà (1971); Uỷ ban đặc biệt về Ấn Độ Dương (1972); Uỷ ban thực hiện các quyền bất khả xâm phạm của nhân dân Palestine (1975);

Uỷ ban đặc biệt về Hiến chương LHQ (1975); Uỷ ban thông tin (1978); Uỷ ban giải trừ quân bị (1978); Hội nghị giải trừ quân bị (1978); Uỷ ban về các hội nghị (1988); Tiến trình tham vấn mở không chính thức về đại dương và luật biển (1999); Uỷ ban đặc biệt Công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy các quyền và nhân phẩm của người tàn tật (2001), Nhóm làm việc đặc biệt của Đại hội đồng về các hoạt động tiến hành sau các hội nghị lớn của Liên hợp quốc và các cuộc họp thượng đỉnh trong lĩnh vực kinh tế-xã hội (2002)

+ Các cơ quan tư vấn:

- Uỷ ban tư vấn về các chương trình viện trợ của Liên hợp quốc về giáo dục, truyền bákiến thức về luật quốc tế (1965)

- Ban tư vấn về các vấn đề về giải trừ quân bị (1982)

+ Các cơ quan chuyên gia:

- Ban kiểm toán (1946)

- Uỷ ban luật quốc tế (ILC) (1947)

- Uỷ ban đầu tư (1947)

- Quỹ hưu của nhân viên Liên hợp quốc (1948)

- Toà án hành chính Liên hợp quốc (1949)

- Ban các kiểm toán viên đối ngoại (1959)

- Đơn vị thanh tra chung (JIU) (1966)

Trang 8

- Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) (1966)

- Uỷ ban quốc tế về dịch vụ dân sự (1972)

- Uỷ ban giải quyết vấn đề nhà ở cho con người (UN-HABITAT) (1977)

1.4 Thủ tục hoạt động của Đại hội đồng Liên hợp quốc

Chương trình nghị sự

* Tại các khoá họp thường kỳ, thông thường, chương trình nghị sự của Đại hội đồng Liên hợp quốc gồm khoảng 150 đề mục, liên quan đến tất cả các lĩnh vực thuộc sự quan tâm của cộng đồng quốc tế

* Chương trình nghị sự tạm thời của khoá họp thường kỳ do Tổng thư ký soạn thảo vàchuyển cho các nước thành viên chậm nhất là 60 ngày trước ngày khai mạc, bao gồm:+ Báo cáo của Tổng thư ký;

+ Báo cáo của các cơ quan chính của Liên hợp quốc, các cơ quan thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn thuộc Liên hợp quốc;

+ Các đề mục do Đại hội đồng quyết định tại khoá họp trước;

+ Các đề mục do các cơ quan chính của Liên hợp quốc kiến nghị;

+ Các đề mục do bất cứ thành viên nào đề nghị;

+ Các đề mục liên quan đến ngân sách;

+ Các đề mục thuộc Điều 35, đoạn 2 của Hiến chương do các nước không phải thành viên đề nghị

* Bổ sung đề mục

Các nước thành viên, các cơ quan chính của Liên hợp quốc và Tổng thư ký được đưa

đề mục bổ sung 30 ngày trước khi khai mạc khoá họp

* Thông qua chương trình nghị sự

+ Chương trình nghị sự tạm thời và danh sách đề mục bổ sung cùng báo cáo của Uỷ ban chung (gồm Chủ tịch và các Phó chủ tịch Đại hội đồng) được chuyển cho Đại hội đồng thông qua khi khai mạc

+ Muốn đưa một đề mục phải kèm theo một bản giải thích hoặc dự thảo nghị quyết.+ Việc sửa đổi hoặc gạt bỏ một đề mục phải do Đại hội đồng thông qua bằng bỏ phiếuvới số phiếu quá bán của những nước có mặt và tham gia bỏ phiếu

Đoàn tham gia

* Mỗi nước thành viên gồm 5 đại biểu chính thức, 5 đại biểu dự khuyết và không hạn chế số lượng cố vấn

* Đại biểu dự khuyết có thể trở thành đại biểu chính thức theo bổ nhiệm của trưởng đoàn

* Uỷ nhiệm thư và danh sách thành viên phải được người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ hoặc Bộ trưởng Ngoại giao cấp và gửi cho Tổng thư ký Liên hợp quốc một tuần trước ngày khai mạc

Các hình thức thông qua văn kiện

* Tại các Uỷ ban, các nghị quyết được thông qua bằng đa số thường hoặc thông qua không cần bỏ phiếu

* Các quyết định về các vấn đề quan trọng tại Đại hội đồng Liên hợp quốc được thôngqua bằng đa số áp đảo (2/3) của các thành viên có mặt và tham gia bỏ phiếu Các vấn

đề quan trọng gồm: các vấn đề liên quan đến các khuyến nghị về hoà bình, an ninh quốc tế, bầu uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an, các thành viên Hội đồng

Trang 9

Kinh tế - Xã hội, Hội đồng Quản thác theo Điều 86, mục 1e của Hiến chương Liên hợp quốc, kết nạp thành viên mới, treo quyền thành viên, khai trừ thành viên và các vấn đề ngân sách.

* Các vấn đề khác được thông qua bằng đa số thường

* Khi có nhất trí cao, các nghị quyết có thể được thông qua không cần bỏ phiếu

Tại Đại hội đồng Liên hợp quốc có các hình thức bỏ phiếu: kín (bầu cử), công khai, ghi tên, gọi tên

* Chủ tịch không tham gia bỏ phiếu

Vai trò của Ban thư ký

Ban thư ký tiếp nhận dịch, in và phát các tài liệu, báo cáo, nghị quyết, biên bản, các bài phát biểu tại phiên họp và các công việc khác theo yêu cầu của Đại hội đồng.Qui trình hội nghị

* Phát biểu

+ Chủ tịch có thể khai mạc phiên họp khi có ít nhất là 1/3 đại biểu

+ Không đại biểu nào được phát biểu khi chưa được Chủ tịch cho phép Chủ tịch cho phép các đoàn phát biểu theo thứ tự đăng ký và có quyền yêu cầu các đại biểu ngừng phát biểu khi vấn đề không liên quan tới chủ đề đang thảo luận

+ Khi đã hết thời hạn đăng ký phát biểu, các đại biểu có thể được phát biểu bằng cách

sử dụng quyền trả lời

* Kiến nghị về thủ tục (points of order)

Trong quá trình thảo luận, đại biểu có thể sử dụng kiến nghị về thủ tục và Chủ tịch sẽ quyết định ngay về việc này Đại biểu sử dụng kiến nghị về thủ tục không được phát biểu về nội dung vấn đề đang thảo luận

* Thủ tục đưa ra hoặc rút các quyết định

+ Người đưa ra đề nghị (motion) có thể rút lại bất cứ lúc nào trước khi bắt đầu bỏ phiếu, trừ trường hợp đề nghị đã được bổ sung Đề nghị đã rút có thể được đưa trở lại với bất cứ đại biểu nào

+ Các đề nghị và các bổ sung phải được nộp cho Tổng thư ký bằng văn bản Theo quyđịnh chung, không thảo luận và bỏ phiếu các đề nghị khi văn bản chưa được Ban thư

ký xem và gửi cho các đại biểu ngày hôm trước Chủ tịch có thể cho phép thảo luận

và thông qua các đề nghị và bổ sung mặc dù văn bản sao mới phát cho đại biểu trong ngày hôm đó

+ Đề nghị đã thông qua hoặc bác bỏ có thể đem ra xét lại nếu 2/3 đại biểu có mặt đồng ý Về đề nghị xét lại quyết định, chỉ 2 đại biểu trong số các nước chống đề nghị

Trang 10

đó được quyền phát biểu.

Thủ tục kết nạp, khai trừ thành viên

* Đơn xin làm thành viên

Các quốc gia muốn gia nhập Liên hợp quốc phải nộp đơn cho Tổng thư ký, tuyên bố chấp nhận các nghĩa vụ ghi trong Hiến chương Tổng thư ký sẽ sao và gửi đơn cho Đại hội đồng và các nước thành viên Hội đồng Bảo an kiến nghị Đại hội đồng kết nạp Đại hội đồng sẽ xem xét quốc gia đó có phải là quốc gia yêu chuộng hoà bình và

có khả năng sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ qui định trong Hiến chương hay không,

và quyết định bằng bỏ phiếu đa số áp đảo (2/3)

* Nước thành viên hiện đang là đối tượng bị Hội đồng Bảo an áp dụng các biện pháp phòng ngừa hoặc cưỡng chế sẽ bị treo quyền thành viên tại Đại hội đồng theo khuyến nghị của Hội đồng Bảo an Hội đồng Bảo an có thể khôi phục quyền thành viên cho nước bị tước quyền thành viên trong trường hợp này

* Nước thành viên liên tục vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương có thể bị Đại hội đồng khai trừ khỏi Liên hợp quốc theo khuyến nghị của Hội đồng Bảo an

* Hiến chương Liên hợp quốc không qui định về việc nước thành viên rút ra khỏi Liên hợp quốc, thực tế chưa xảy ra trường hợp nào

2 Hội đồng Bảo an:

Theo Điều 24 của Hiến chương Liên hợp quốc, các nước thành viên Liên hợp quốc trao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế Theo đó, Hội đồng Bảo an có thể áp dụng các biện pháp nhằm giải quyết hoà bình các tranh chấp, xung đột và khi cần thiết, có thể sử dụng các biện pháp, kể cả cưỡng chế và vũ lực, nhằm loại trừ các mối đe doạ, phá hoại hoà bình, hoặc các hành động xâm lược

Các quy định của Hiến chương liên quan đến Hội đồng Bảo an nằm trong các chương

V, VI, VII, VIII và XII

2.1 Thành viên

Hội đồng Bảo an gồm 15 nước thành viên, trong đó có 5 nước uỷ viên thường trực là:

Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và 10 thành viên không thường trực do Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu ra với nhiệm kỳ hai năm trên cơ sở phân chia công bằng về mặt địa lý và có tính tới sự đóng góp của những nước này cho tôn chỉ và mục đích củaLiên hợp quốc và không được bầu lại nhiệm kỳ kế ngay sau khi mãn nhiệm

10 nước thành viên không thường trực được bầu theo sự phân bổ khu vực địa lý như sau: 5 nước thuộc châu Phi và châu Á (3 nước châu Phi, 2 nước châu Á); 1 nước thuộc Đông Âu; 2 nước thuộc vùng Mỹ Latinh và Caribê; 2 nước thuộc Tây Âu và cácnước khác

2.2 Chức năng, quyền hạn

Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, Hội đông Bảo an được thành lập nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Theo Điều 39 của Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có quyền quyết định đánh giá thực tại của các mối đe doạ đối với hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành động xâm lược, và sẽ khuyến nghị hoặc quyết định các biện pháp cần được tiến hành phù hợp với các Điều 41 và 42, để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế

Trang 11

Trong khi thực thi chức năng này, Hội đồng Bảo an được coi là hành động với tư cáchthay mặt cho tất cả các thành viên Liên hợp quốc Trên thực tế, những chức năng mà Hội đồng Bảo an được trao có thể được coi là để nhằm 3 mục tiêu: gìn giữ hoà bình, vãn hồi hoà bình và kiến tạo hoà bình.

Trong khi các cơ quan khác của Liên hợp quốc chỉ có thể đưa ra các quyết định mang tính khuyến nghị đối với các chính phủ của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, các quyết định và nghị quyết của Hội đồng Bảo an, theo chương VII Hiến chương, khi

đã được thông qua đều mang tính chất ràng buộc và tất cả các thành viên của Liên hợp quốc đều có trách nhiệm phải tôn trọng và thi hành

Những quyền hạn cụ thể giao cho Hội đồng Bảo an được quy định ở các chương VI, VII, XII của Hiến chương Liên hợp quốc, song những điều khoản quan trọng nhất có liên quan tới việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, đặc biệt là việc giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và sử dụng những biện pháp an ninh tập thể cưỡng chế, được quy định cụ thể và chi tiết nhất ở chương VI và VII

Theo Hiến chương, Hội đồng Bảo an có thể tiến hành điều tra bất cứ một tranh chấp nào hoặc bất cứ một tình thế nào có thể dẫn tới những xung đột quốc tế hoặc đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế, và có thể đưa ra những khuyến nghị về các phương thức cũng như nội dung cụ thể để giải quyết những xung đột đó Những xung đột và nhữngtình huống có khả năng đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế có thể do các nước thành viên Liên hợp quốc, Đại hội đồng hoặc Tổng thư ký Liên hợp quốc nêu ra trước Hội đồng Bảo an Một nước không phải thành viên Liên hợp quốc cũng có thể đưa cuộc tranh chấp, trong đó bản thân nước đó là một bên tham gia tranh chấp, ra trước Hội đồng Bảo an để cơ quan này xem xét giải quyết, với điều kiện là nước đó phải thừa nhận trước là sẽ tuân thủ trách nhiệm giải quyết hoà bình cuộc tranh chấp theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc

Theo Hiến chương, tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc phải cam kết cung ứng cho Hội đồng Bảo an, căn cứ theo những thoả thuận đặc biệt thông qua thương lượng đối với những đề xuất của Hội đồng Bảo an, những lực lượng vũ trang, những trợ giúp và các phương tiện cần thiết khác để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế

2.3 Cơ cấu

Hội đồng Bảo an có các uỷ ban và cơ quan phụ trợ sau:

2.3.1 Các Uỷ ban thường trực: gồm Uỷ ban chuyên gia về các vấn đề thủ tục, Uỷ ban

về các cuộc họp của Hội đồng Bảo an không diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc và Uỷ ban về việc kết nạp thành viên mới Các Uỷ ban này đều có đại diện của các nước thành viên Hội đồng Bảo an

2.3.2 Ban Tham mưu quân sự: bao gồm các Tổng chỉ huy quân đội (Chiefs of staff) của tất cả các nước thành viên hoăc đại diện của họ Chức năng nhiệm vụ của Ban là

tư vấn cho Hội đồng về tất cả các vấn đề liên quan đến các yêu cầu quân sự để bảo vệ

và duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, việc sử dụng và chỉ huy các lực lượng đặt dưới

sự chỉ đạo của Ban, kể cả các qui định về vũ trang, và giải trừ quân bị nếu có thể.2.3.3 Uỷ ban chống khủng bố: Uỷ ban này được thành lập theo Nghị quyết 1373 (2001) về một số biện pháp chống lại các mối đe doạ đối với hoà bình và an ninh quốc

tế của các hành động khủng bố, nhằm giám sát việc thực hiện nghị quyết này Các nước thành viên Liên hợp quốc phải trình bản báo cáo về các bước tiến hành để thực

Trang 12

hiện Nghị quyết 1373 lên Uỷ ban, lần đầu tiên trong vòng 90 ngày và các lần sau theo thời gian biểu của Uỷ ban Uỷ ban gồm tất cả 15 thành viên của Hội đồng Bảo an Uỷ ban thành lập 3 tiểu ban, mỗi tiểu ban do một Phó Chủ tịch Uỷ ban làm chủ tịch, để xem xét sơ bộ bản báo cáo của các nước thành viên.

2.3.4 Các Uỷ ban trừng phạt: hiện nay có 10 Uỷ ban trừng phạt đang hoạt động là:

Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 751 (1992) về Xô-ma-li; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 918 (1994) về Ru-an-đa; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1132 (1997) về Xi-ê-ra Lê-ôn; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1267 (1999) về Al Qaida và Taliban; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1518 (2003) về I-rắc; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1521 (2003)

về Li-bê-ri-a; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1533 (2004) về Cộng hoà Dân chủ Công-gô; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1572 (2004) về Bờ Biển Ngà; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1591 (2005) về Xu-đăng; Uỷ ban trừng phạt thành lập theo nghị quyết 1636 (2005) về vụ ám sát cựu Thủ tướng Li-băng Rafiq Hariri

2.3.5 Các hoạt động và lực lượng gìn giữ hoà bình: gồm Tổ chức giám sát ngừng bắn

ở Trung Đông (UNTSO) (1948), Nhóm quan sát viên quân sự ở Ấn Độ và Pakistan (UNMOGIP) (1949), Lực lượng ở Síp (UNFICYP) (1964), Lực lượng quan sát viên không can dự (UNDOF) (1974), Lực lượng lâm thời ở Libăng (UNIFIL) (1978), Phái đoàn quan sát Irắc-Côét (UNIKOM) (1991)…

2.3.6 Các lực lượng chính trị và kiến tạo hoà bình: gồm Văn phòng chính trị ở

Bougainville (UNPOB) (1998), Văn phòng kiến tạo hoà bình ở Cộng hoà Trung Phi (BONUCA) (1999), Lực lượng trợ giúp ở Ápghanixtan (UNAMA) (2002), Văn phòng đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc về vấn đề Irắc (2003)…

2.3.7 Các Uỷ ban khác: gồm Uỷ ban đền bù Liên hợp quốc (UNCC) (1991), Uỷ ban giám sát, kiểm tra và thanh tra (UNMOVIC) (1999)

2.3.8 Các toà án quốc tế:

* Toà án tội phạm quốc tế Ruanđa được thành lập năm 1994 theo Nghị quyết 955 của Hội đồng Bảo an, theo chương VII của Hiến chương để xử các cá nhân phạm tội diệt chủng và các tội ác chống loài người trên lãnh thổ Ruanđa và lãnh thổ các nước láng giềng trong năm 1994

* Toà án tội phạm quốc tế về Nam Tư cũ thành lập năm 1993 theo Nghị quyết 808 của Hội đồng Bảo an để xét xử các cá nhân chịu trách nhiệm cho các vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế gây ra trên lãnh thổ Nam Tư cũ từ 1991

2.3.9 Các tổ chức khác như Cơ quan chỉ huy của Liên hợp quốc tại bán đảo Triều Tiên (UNC) (1950) được thành lập theo Nghị quyết 85 (1950) của Hội đồng Bảo an

Cơ quan này yêu cầu tất cả các thành viên cung cấp lực lượng quân sự ở bán đảo Triều Tiên cho phép đặt các lực lượng này dưới quyền chỉ huy thống nhất của Mỹ Các đơn vị chiến đấu được đưa đến từ 16 nước, phần lớn là phương Tây, ngoài ra có các nước đang phát triển như Côlombia, Êtiôpia, Philípin, Nam Phi, Thái Lan

2.4 Thủ tục hoạt động của Hội đồng Bảo an

Theo Hiến chương, Hội đồng Bảo an phải được tổ chức một cách phù hợp để có thể hoạt động thường xuyên và liên tục nhằm ứng phó với các tình huống liên quan đến hoà bình và an ninh quốc tế có thể đặt ra ở bất cứ thời điểm nào Hiện tại, hoạt động

Trang 13

của Hội đồng Bảo an được tiến hành dựa trên Các qui tắc thủ tục tạm thời (gồm 61 qui tắc) được Hội đồng Bảo an thông qua và liên tục cập nhật tại các phiên họp.

* Các phiên họp: Các hình thức họp của Hội đồng Bảo an bao gồm họp chính thức, họp kín và trao đổi không chính thức Hội đồng Bảo an có thể triệu tập phiên họp bất thường (periodic meetings) theo yêu cầu của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc hoặc của Tổng thư ký Liên hợp quốc khi có những xung đột hoặc những tình huống

có khả năng đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế Một nước không phải thành viên Liên hợp quốc cũng có thể đưa cuộc tranh chấp, trong đó bản thân nước đó là một bêntham gia tranh chấp, ra trước Hội đồng Bảo an để cơ quan này xem xét giải quyết với điều kiện là nước đó phải thừa nhận trước là sẽ tuân thủ trách nhiệm giải quyết hoà bình cuộc tranh chấp theo qui định của Hiến chương Liên hợp quốc Sau khi nhận được yêu cầu như vậy của các đối tượng trên, Chủ tịch Hội đồng Bảo an sẽ lập tức thông báo cho các nước uỷ viên tình hình trên và tiến hành các thủ tục khác để tổ chức cuộc họp của Hội đồng Bảo an để xem xét vấn đề Ngoài những cuộc họp thuộc dạng trên, Hội đồng Bảo an còn tiến hành các cuộc họp trên cơ sở thường xuyên (continuous basis) nhằm có thể ứng phó được một cách nhanh chóng những biến chuyển của tình hình và để kiểm phối các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc trên cơ sở các báo cáo của Tổng thư ký Liên hợp quốc

Các cuộc họp của Hội đồng Bảo an có thể được tổ chức tại trụ sở Liên hợp quốc hoặc

ở bất cứ nơi nào ngoài trụ sở mà Hội đồng xét thấy thuận tiện

* Mỗi uỷ viên Hội đồng Bảo an phải luôn có một đại diện tại Trụ sở Liên hợp quốc Chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an được luân phiên hàng tháng giữa các nước uỷ viên theo thứ tự vần chữ cái của tiếng Anh

* Tham gia các phiên họp: Ngoài các thành viên Hội đồng Bảo an, bất cứ thành viên nào của Liên hợp quốc, hay một quốc gia nào không phải thành viên Liên hợp quốc, nếu là đương sự trong vụ tranh chấp mà Hội đồng Bảo an đang xem xét, cũng được mời đến tham dự nhưng không có quyền biểu quyết trong những cuộc thảo luận liên quan đến vụ tranh chấp ấy Hội đồng Bảo an ấn định những điều kiện mà Hội đồng xét thấy để cho một nước không phải thành viên Liên hợp quốc được tham gia các cuộc thảo luận ấy là hợp lý Trong các phiên họp kín, chỉ có các nước uỷ viên và các nước mà Hội đồng Bảo an thấy trực tiếp có liên quan hoặc cần thiết phải tham dự mớiđược tham dự theo thoả thuận chung của thành viên Hội đồng Bảo an

* Kết quả phiên họp: Trong tất cả các phiên họp như vậy, Hội đồng Bảo an có thể thông qua những nghị quyết, khuyến nghị, hoặc đơn thuần chỉ là tuyên bố của chủ tịch Hàng năm, Hội đồng Bảo an còn phải đệ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc một bản báo cáo về công việc của mình để thành viên Hội đồng xem xét, thảo luận và đưa ra những khuyến nghị

Để tăng cường tính hữu hiệu và sự rõ ràng trong hoạt động của mình theo yêu cầu củađại đa số thành viên Liên hợp quốc, hiện nay Hội đồng Bảo an đang có những thay đổi trong phương thức hoạt động so với cách làm việc cũ Hội đồng Bảo an hiện nay đang nỗ lực giảm các cuộc họp kín và trao đổi không chính thức, thông báo chi tiết chương trình nghị sự các cuộc họp của mình trong các nhật trình của Liên hợp quốc Ngoài ra, thay vì tiến hành các cuộc họp chính thức, Hội đồng Bảo an hiện nay

thường thiết lập các nhóm làm việc toàn thể (Working Groups of the Whole) ở mức

Trang 14

chuyên viên ở các cấp nhằm soạn thảo các dự thảo nghị quyết và tuyên bố của chủ tịch.

* Bỏ phiếu: Mỗi thành viên Hội đồng Bảo an có một phiếu Các quyết định liên quan đến thủ tục được thông qua với số phiếu thuận của ít nhất là 9 trong số 15 thành viên bất kể là thường trực hay không thường trực Các quyết định về các vấn đề thực chất chỉ được thông qua khi có ít nhất 9 phiếu thuận, trong đó theo Hiến chương phải gồm các phiếu tán thành (concurring vote) của tất cả các nước thành viên thường trực Điều này có nghĩa là khi Hội đồng Bảo an thông qua các quyết định có liên quan đến việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, thì cần phải có được sự nhất trí của các nước

uỷ viên thường trực, nếu một trong năm nước này bỏ phiếu chống, quyết định sẽ không được thông qua, dù có đạt được đủ 9 phiếu thuận Đây được gọi là nguyên tắc nhất trí hay quyền phủ quyết của các nước uỷ viên thường trực Trong thực tế áp dụngqui tắc này, việc một nước uỷ viên thường trực bỏ phiếu trắng, hoặc không tham gia

bỏ phiếu, không bị coi là phủ quyết Bất cứ quốc gia nào, dù là thành viên thường trựchay không thường trực, cũng không được phép tham gia bỏ phiếu về các quyết định

có liên quan tới các biện pháp giải quyết tranh chấp mà quốc gia đó là một thành viên tham gia

* Quyền phủ quyết (veto): Là việc một nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an

có khả năng ngăn cản việc thông qua một nghị quyết không liên quan đến thủ tục bằng một phiếu chống của mình kể cả khi tất cả các nước thành viên khác, thường trực và không thường trực, bỏ phiếu tán thành Nói cách khác, đây là việc thực hiện nguyên tắc nhất trí giữa năm nước lớn uỷ viên thường trực Trong suốt quá trình hoạt động của mình với tư cách uỷ viên thường trực, tất cả năm nước này đều đã áp dụng quyền phủ quyết của mình trong đó hai nước Mỹ và Liên Xô (cũ) là những nước sử dụng nhiều nhất Trên thực tế, không nhất thiết nghị quyết có mang tính thực chất (có liên quan đến thủ tục) nào được thông qua cũng cần phải có đủ năm phiếu thuận của năm uỷ viên thường trực Nếu như một nước uỷ viên thường trực không ủng hộ hoặc không muốn biểu thị sự ủng hộ của mình đối với một nghị quyết, đồng thời cũng không muốn ngăn cản việc thông qua nghị quyết, nước đó có thể bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia bỏ phiếu, hành động này không bị coi là phủ quyết và nghị quyết vẫn được thông qua Thông thường, các nước uỷ viên Hội đồng Bảo an cố tìm cách dàn xếp trước để nghị quyết có thể được thông qua Tuy nhiên, đã không ít lần, nhiều nước, cho dù biết trước dự thảo nghị quyết của mình sẽ bị phủ quyết nhưng vẫn đưa

ra bỏ phiếu nhằm gây sức ép chính trị

3 Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc:

3.1 Cơ sở pháp lý và tôn chỉ mục đích

Hội Đồng Kinh tế Xã Hội Liên hợp quốc (Economic and Social Council - ECOSOC)

là một trong 6 cơ quan chính của Liên hợp quốc

Theo Hiến chương Liên hợp quốc, một trong những mục tiêu chính của Tổ chức này là: "Thực hiện hợp tác quốc tế trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế,

xã hội, văn hóa hoặc nhân đạo, thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo" (Chương I, điều 1, điểm 3) Cụ thể, Liên hợp quốc sẽ thúc

Trang 15

đẩy (Chương IX, điều 55, điểm a,b,c):

- Nâng cao mức sống, đầy đủ việc làm, điều kiện tiến bộ và phát triển kinh tế xã hội

- Giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, y tế và các vấn đề liên quan, và

sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục, và

- Tôn trọng và thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo

Trách nhiệm thực hiện những chức năng trên trước hết thuộc về Đại hội đồng Liên hợp quốc Theo điều 60 của Hiến chương Liên hợp quốc, ECOSOC được đặt dưới quyền của Đại hội đồng và được Đại hội đồng giao trách nhiệm trực tiếp thực hiện cácchức năng về kinh tế, xã hội của Liên hợp quốc

3.2 Thành viên:

Số thành viên ban đầu của ECOSOC là 18 Từ tháng 8/1965 tăng lên 27 và từ tháng 10/1973 cho đến nay là 54 nước thành viên Liên hợp quốc do Đại hội đồng bầu Các ghế được phân theo khu vực địa lý : 14 nước Châu Phi, 11 nước Châu Á, 6 nước Đông Âu, 10 nước Mỹ La tinh và Caribe, 13 nước Tây Âu và các nước khác

Hàng năm Đại hội đồng Liên hợp quốc phải bầu lại 18 nước thành viên ECOSOC với nhiệm kỳ 3 năm, thông thường bắt đầu từ 1/1 đến 31/12 Nước thành viên vừa hết nhiệm kỳ có thể tái ứng cử

3.3 Chức năng và quyền hạn:

ECOSOC là cơ quan soạn thảo và điều phối các chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và nhân quyền của Liên hợp quốc Phần lớn các Nghị quyết và Quyết định của Đại hội đồng Liên hợp quốc về kinh tế, xã hội, nhân quyền, nhân đạo đều bắt nguồn từ các khuyến nghị do ECOSOC trình lên

Theo Hiến chương Liên hợp quốc, ECOSOC có những chức năng và quyền hạn chínhsau:

- Thực hiện hoặc đề xuất những nghiên cứu, điều tra và làm báo cáo về các vấn đề quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, và giáo dục, y tế và những vấn đề liên quan khác, và có thể đưa ra những khuyến nghị về các vấn đề đó đối với Đại hội đồng, các nước thành viên Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn hữu quan;

- ECOSOC có thể đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy tôn trọng và thực hiện quyền con người;

- ECOSOC soạn thảo các văn kiện và điều ước quốc tế về những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình để trình Đại hội đồng và có thể triệu tập các Hội nghị quốc tế về những vấn đề đó, theo các thủ tục của Liên hợp quốc;

- ECOSOC có thể phối hợp hoạt động với những tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc, thông qua tham khảo và khuyến nghị với các tổ chức đó, cũng như bằng cách khuyến nghị với Đại hội đồng và các thành viên Liên hợp quốc;

- ECOSOC có quyền tiến hành mọi biện pháp thích hợp để các tổ chức chuyên môn phải báo cáo đều đặn cho mình những công việc của họ Hội đồng có thể thỏa thuận với các thành viên Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn về việc các thành viên

và các tổ chức này báo cáo về những biện pháp đã được áp dụng trong việc thi hành những khuyến nghị của Hội đồng và trong việc thi hành những khuyến nghị của Đại

Ngày đăng: 26/06/2013, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w