1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VĂN HỌC TỪ NHỮNG GÓC NHÌN RIÊNG

111 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 452,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi nhắc các học sinh lớp mười hai rằng nhà văn Nguyễn Tuân đã điểmmột câu thơ của Lí Bạch tiễn bạn thơ này trong bài tùy bút Người lái đò sôngĐà.. Nhân nói về hình ảnh thơ, tôi sẽ dẫn t

Trang 1

Sau nhiều năm học văn, dạy văn, đặc biệt là dạy ở trường chuyên tại

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã nghiền ngẫm, hứng khởi, suy tư lâu dàibền bỉ về các bài giảng văn, về các vấn đề văn học Lắm lúc chỉ một từ, mộtcâu một ý cũng tiêu tốn của tôi bao nhiêu thời gian, sức lực Dẫu sao, đôi khivẫn là đường xa vô tận, đích vô cùng (thơ Tố Hữu) Tuy sức đã kém đi nhưngtôi ráng làm việc để trình các bạn văn một cuốn sách văn Sách gồm haiphần:

- Phần một chủ yếu là những bài viết ngắn gọn về tác phẩm trong sáchgiáo khoa phổ thông Một vài bài ở phần này đã in trên báo chí

- Phần hai gồm các bài mở rộng: những hồi ức về tác giả mà tôi có cơduyên được quen biết, chắc rằng cũng góp vào việc hiểu tác phẩm một cáchphong phú hơn

Cảm thụ, tiếp nhận văn chương thể nào cũng mang tính chủ quan Tôi

cố gắng tránh thiên kiến, cực đoan nhưng vẫn giữ những chủ ý, khám pháriêng của mình Rất mong được sự đồng cảm của bạn đọc yêu thích văn học

Và từ những gợi ý của tôi, hy vọng các bạn sẽ phát triển trên tinh thần sángtạo

Tôi xin gửi lời cám ơn các em học sinh và bạn bè đã thúc đẩy, giúp đỡtôi ra cuốn sách này

Trần Đồng Minh

Trang 2

Phần một THÂN EM

- Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

- Thân em như cá rô thia

Ra sông mắc lưới, vào đìa mắc câu

- Thân em như cái quả xoài trên cây

Gió đông gió tây gió nam gió bắc

Gió đánh lúc la lúc lắc trên cành

Tôi đã nghe, đọc và nhớ được chừng vài chục câu tương tự như vậy.Sách giáo khoa văn học lớp 10 tuyển cho học sinh học bốn câu rất phổ biến:

- Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

- Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

- Thân em như miếng cau khô

Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày

- Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

và xếp vào những câu hát than thân của người lao động nghèo, của ngườicon gái bình dân thuở trước Những câu ca dao cũ này đều có chung hai đặcđiểm:

Trang 3

Một là chúng khởi đầu bằng ba chữ "Thân em như" Đó là vật liệu đầutiên, không thể thiếu để dân gian tạo nên nhiều câu tương đồng Đó hầu như

là mẫu số chung cho loại lời hát than thân trách phận này

Hai là đều nói về thân phận người con gái, người phụ nữ trong xã hộiphong kiến Thân phận của họ là lệ thuộc, vướng mắc; hoặc bấp bênh, chìmnổi; hoặc cảnh ngộ, kiếp sống đối lập với bản chất, phẩm chất

Hãy cùng tham khảo thêm một số câu tiêu biểu:

- Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

- Thân em như ớt trên cây

Càng tươi vào vỏ, càng cay trong lòng

- Thân em như lá đài bi

Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương

- Thân em như đóa hoa rơi

Phải chăng chàng thật là người yêu hoa

Trong văn học viết, văn học bác học, các nhà thơ cũng thường nói đếnthân phận người con gái, người đàn bà bất hạnh, bạc mệnh Có thể câu thơkhông dùng so sánh hoặc lẩn đi đại từ "em" nhưng vẫn nổi lên hình ảnh biểutượng về phận liễu bồ Bản lĩnh và xuất chúng như Hồ Xuân Hương mà cũngphải ngậm ngùi:

Thân em thì trắng phận em tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Nguyễn Du thương Kiều, người thiếu nữ "sắc đành đòi một, tài đànhhọa hai", đã để cho nàng bật lên những tiếng than xót lòng:

- Thân lươn bao quản lấm đầu

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa

Trang 4

- Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

- Thân sao thân đến thế này?

Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi

Những chữ "thân" và "phận dội lên nhức nhối cả một thời quá khứ!Cũng dễ hiểu thôi Trong cái "đêm trường dạ tối tăm trời đất (Nguyễn

Du - Văn chiêu hồn) ấy, khách má hồng chịu nhiều nỗi truân chuyên cay cựcnhất Đoạn trường tân thanh Long Thành cầm giả ca, Chinh phụ ngâm khúc,Cung oán ngâm khúc, Văn tế Trương Quỳnh Như òa vang nức nở quằnquại cả thời đại, làm nát lòng bao lớp người

Trở lại văn học dân gian, những câu ca dao - dân ca than thân nói ởtrên, đôi khi thay đổi một chút trong cách mở đầu Có khi là:

- Thân em mười sáu tuổi đầu

Cha mẹ ép gã làm dâu nhà người

- Thân em làm lẽ chẳng hề

Có như chính thất mà lê giữa giường

Có khi lại là:

Em như con hạc đầu đình

Muốn bay không cất nổi mình mà bay

Xét về hình thức, chúng không hoàn toàn nằm trong hệ thống ca dao dân ca sử dụng mô típ "thân em như" nhưng vẫn cùng nội dung than tráchphận gái Những câu ca "Thân em" thường diễn tả trực tiếp, ít dùng so sánh,hiếm tạo hình ảnh ẩn dụ

-Khảo sát đầy đủ, có thể thấy các câu, bài ca dao - dân ca mở đầu với

"Thân em như" không chỉ cất tiếng than thở, lo toan, trách oán Chúng có thểchia làm 3 nội dung:

Trang 5

1 Than vãn: Loại này nhiều nhất Phần trên bài viết này đã đưa ra mộtloạt câu ca mang nội dung than thân Thử "lấy tin" thêm trên mạng dân ca,truyện thơ dân gian:

- Thân em như cây thầu đâu (cây xoan)

Ngoài tươi, trong héo, giữa sầu tương tư

(Hát phường vải Nghệ Tĩnh)

- Thân em như con từ quy (một loại chim rừng)

Đêm thì họp bạn, ngày thì đi đâu?

(Dân ca Mường)( ) Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa

(Truyện thơ Thái: Tiễn dặn người yêu)

2 Tự tôn: Loại này tuy ít hơn nhưng đã đưa ra những lời tự tôn, khẳngđịnh, đề cao phẩm hạnh, thân phận người phụ nữ Những lời đề cao rất đáng

tự hào:

- Thân em như thước lụa điều (đào)

Đã đông nơi chuộng, lại nhiều nơi thương

- Thân em như thể trái chanh

Lắt lẻo trên cành lắm kẻ ước mơ

- Thân em như thể hoa hồng

Anh xem có ý kẻo mắc đường chông gai

(Dân ca Nam Trung bộ)

Có thể kể thêm vào đây những câu trích trong một bài ca dao đẹp:

- Thân em như chẹn lúa đòng đòng

Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai

3 Phê phán: Loại này hiếm Tôi đã nghe một cụ bà nông dân rất nghèovùng Ninh Giang - Hải Dương "diễn xướng" như sau:

Trang 6

Thân em như thể vịt bầu

Bán trôn nuôi miệng, không giàu cũng sang!

Qua các câu trong hệ thống "Thân em như ", "Thân em " rõ ràng vănhọc dân gian nói riêng, văn học Việt Nam nhìn chung dạt dào nguồn mạchnhân đạo và giàu phẩm chất hiện thực - vị nhân sinh

BUỒN TRÔNG

Còn nhớ hồi nhỏ tôi được mẹ tôi ru những lời buồn Tôi cứ ngủ yên đi,chẳng hiểu đó là những vần điệu nào Khi tôi lớn lên, giọng mẹ lại dìu dặt bênnôi em nhỏ tôi Hóa ra, mẹ đã ru chúng tôi bằng truyện Kiều, bằng cái đoạn

"Buồn trông" cùng đôi đoạn sầu thương khác Rồi đến lượt mình, chính tôilại ru con, "ru" nhiều lớp học sinh bằng hợp khúc "Buồn trông" của thi hàoNguyễn Du:

"… Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông cỏ nội dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Lại như thêm những dịp chuyện trò cùng anh bạn ham dốc sức vàongôn ngữ văn chương Anh bảo rằng lời thơ Nguyễn Du có ma lực ghê gớm.Tôi không am tường sâu phép tổ chức những con chữ và phối thanh bằnganh Nhưng thú thật mỗi khi nhắc đoạn thơ đó, đúng là một tổng thể tâm trạngcảm thương, buồn nhớ, đợi chờ ùa đến, xâm chiếm tức thời tim óc tôi Cứ y

Trang 7

như của tôi, từ trong tôi bật ra vậy Cả một khối lời, không ẩn chứa một tích cổnhư thường thấy trong thơ xưa Thử đọc lại và ngẫm thêm:

"Buồn trông cửa bể chiều hôm"

Sáu chữ thôi, chẳng có tu từ gì cả, mà câu mở đoạn đã mở ra một tâmtrạng thoáng buồn (Buồn trông), một không gian gợi buồn (cửa bể), một thờigian đượm buồn (chiều hôm), của người đang lẻ loi ngóng đợi Bạn tôi gật gùtâm đắc: đọc kỹ mà xem, cả đoạn thơ chỉ gồm bốn cặp lục bát mà sao chấtchứa lắm từ láy đến thế: thấp thoáng, xa xa, man mác, dầu dầu, xanh xanh,

ầm ầm Những con chữ láy lại làm ý tưởng trầm xuống, lan tỏa ra, nhập vàohồn mình

Tôi nhẩm lại, quả thật những từ láy - những nốt luyến láy ấy cộnghưởng với bốn điệp ngữ "Buồn trông" trỗi lên ngay đầu các câu lục, tạo nênmột hợp âm dồi dào thanh bằng, thấm thía bao nỗi niềm Đoạn thơ - cũngnhư nhiều khúc tiêu tao - chiếm lĩnh người đọc trước hết bằng thanh âm,nhạc điệu Những sóng âm huyền diệu đó chở các hình ảnh thơ đến thẳnglòng người Vương trong con mắt người con gái bán mình đang buồn trôngmọi hình ảnh vừa nổi chìm, trôi dạt (con thuyền, cánh buồm, ngọn nước sa,hoa trôi theo dòng chảy ), vừa có gì mờ mịt, nhạt nhòa (nội cỏ dầu dầu, chânmây mặt đất một màu ) Đấy là những hình ảnh thật hay hình ảnh tưởngtượng, huyễn hoặc trong tâm trạng cô thiếu nữ đáng thương? Có thể cả hai.Lúc này, Kiều lần đầu xa nhà, bị khóa trong lầu Ngưng Bích của Tú Bà Nàngtuy phải thất thân cùng họ Mã nhưng cũng chưa chịu dấn thân mình vào đờimưa gió ê chề Phải chăng vì thế hình ảnh đầu tiên "thuyền ai thấp thoáng "

ẩn chứa thấp thoáng tia hy vọng Cuối cùng âm thanh ghê người của tiếngsóng ầm ầm làm nổi lên nỗi sợ hãi Từ bắt nhận những thứ hữu hình, nhânvật trữ tình đã nghe, nhìn thấy cái vô hình: số phận, định mệnh khắc nghiệt!Nhưng dẫu sao đó mới chỉ là linh cảm sự đe dọa cuốn vùi Cho nên buồn lohãi hùng mà chưa đau đớn Phải đến khi đã "bướm chán ong chường trongcảnh "mưa dập gió dìu" chốn lầu xanh, Kiều mới thật thấm nỗi đau tê tái, sỉnhục Khi ấy Nguyễn Du mới viết:

Trang 8

"Ôm lòng đòi đoạn xa gần,

Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau"

Cũng lúc đó, Kiều mới nghĩ mình "tan tác như hoa giữa đường" Cònbây giờ, trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, thân gái xa nhà chỉ thấy "hoa trôiman mác" Cánh hoa thân phận Kiều nhi đang trôi theo dòng nước đời chẳngbiết điểm dừng

Trong không gian nghiệt ngã cầm hãm, con người lỡ bước luôn cốvọng trông, tìm ra không gian mơ ước Từ trong cái "phòng giam" chật chộicủa mụ trùm nhà chứa, nàng Kiều hướng tới quê nhà, hướng tới mọt lối thoát.Nhưng ác thay, nàng chỉ đón nhận thêm lo buồn Làm sao có đường thoát khi

"sóng gió" vây bủa bốn bên Lạ lùng và ghê gớm chưa, "tiếng sóng" không chỉ

ầm ầm một phía, "tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

Đúng như một ý kiến thẩm định rằng đọc Kiều, có thể mỗi sự kiện, mỗitâm trạng là một câu, thì về phương điện ngữ pháp, mỗi câu ấy đều được kếtthúc bằng một chấm than Những dấu chấm than ấy, một mặt là những trùngđiệp tha thiết của thơ, mặt khác luôn mang thêm ý nghĩa mới Nhận xét nàyrất hợp với đoạn "Buồn trông Kết đoạn, đúng là một dấu than lớn Và tôimuốn bổ sung thêm, trong mạch thơ ngổn ngang tâm trạng Kiều, không chỉkhép lại bằng dấu than mà còn ngầm trỗi lên những dấu chấm hỏi, những câuhỏi:

- Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

- Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn bã xót xa và thấp thỏm lo sợ, đó chính là hai mạch chính của nỗiniềm buồn trông

Với gam màu lạnh, nhà thơ họa sĩ Nguyễn Du đã vẽ và treo liên tiếpbốn bức tứ bình liên hoàn tâm trạng (cứ mỗi cặp lục bát một bức họa): từmong đợi đến băn khoăn, day dứt, tiếp tới chán nản, thất vọng và cuối cùng làbàng hoàng ghê sợ

Trang 9

Đồng thời, dùng giai điệu trầm, nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Du đã tấu lêntiếng tơ lòng nhân vật Cho đến từng âm tiết cũng rung động nỗi buồn Kếtđoạn thơ, hòa tấu, phức điệu sóng biển - sóng lòng - sóng đời không chỉ vanglên tiếng gõ cửa của định mệnh mà rung chuyển tiếng gầm gào của hiểm họamuốn hất tung người con gái đơn côi yếu đuối trên điểm tựa chiếc ghế đờimỏng manh chông chênh.

Người đối thoại với tôi bỗng giật mình trước cái tiếng sóng ầm ầm ấy:

- Này, anh còn nghe thấy chứ, tiếng trống ngực Thúy Kiều dồn dập quamấy chữ xô đẩy mạnh mẽ: "Gió cuốn - ầm ầm tiếng sóng"? Trước đó anh cốcảm thấy tiếng thở dài của nàng qua năm thanh bằng: "Dầu dầu - màu xanhxanh" nối tiếp? Và thoạt đầu, anh có nhìn thấy cái nhướng mắt của ngườitrông qua ba thanh trắc "thấp thoáng cánh" đó không?

Tôi lặng đi miên man trong thế giới huyền vi của cõi thơ Tâm trí tôikhông còn tách bạch rạch ròi chỗ nào là họa, là ảnh hình, chỗ nào là nhạc, là

âm thanh, đâu thể hiện tâm tư chủ thể trữ tình, đâu bộc lộ nỗi lòng đối tượngtrữ tình và đâu mối đồng điệu của người tiếp nhận đa tình Bất giác như mộtlinh ứng màu nhiệm, những vần ca dao ùa đến:

… "Buồn trông con nhện chăng tơ,

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai

Buồn trông chênh chếch sao mai,

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ."

Nhân vật Truyện Kiều nhiều lần buồn trông (Kim Trọng cũng đã từng:buồn trông phong cảnh quê người - Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạnthưa ") Nhân vật ca dao cũng nhiều lần buồn trông Phải chăng điệp khúc

"Buồn trông " của Tố Như âm vang nét điển hình của tâm trạng con ngườitrong quá khứ Mà có lẽ không chỉ vậy Con người ngày nay, và cả mai sau,

"mai sau dù có bao giờ" vẫn cứ còn trải lòng mình trên khúc nhạc buồntrông

Trang 10

Một cô em gái tôi - do đưa đẩy của số phận - đã định cư ở phương trờiTây xa lắc Viết thư về, em tôi thổ lộ đôi lúc một mình một bóng giữa ngôi nhàhiện đại đủ tiện nghi, dù không có cửa biển nào trước mặt, nó lại nhớ đếnnhững câu "Buồn trông… ấy Và nó chỉ muốn chạy về liền với mẹ Mẹ tôikhông còn nữa! Người viết Truyện Kiều cũng không còn nữa! Nhưng nhữngvần thơ Nguyễn Tiên Điền vẫn sống trong lòng chúng tôi, đôi khi cuộn sóngdạt dào.

ĐỘC ĐÁO "CẢNH RỪNG VIỆT BẮC"

Độc đáo ngay từ câu mở đầu: "Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Xưa naythường chỉ nói, viết rừng đẹp nên thơ hoặc hùng vĩ, mấy ai đã thấy rừng ẩnchứa cái hay Từng dòng tiếp nối, nhà thơ Hồ Chí Minh cho biết vì sao cảnhrừng Việt Bắc thật hay Nơi đây suốt ngày ngân nhạc rừng "vượn hót chimkêu lại đủ những phẩm vật vừa cần thiết vừa ấm áp ngọt ngào Nào "ngô nếpnương", "thịt rừng quay", nào "rượu ngọt chè tươi" Rừng Việt Bắc hay vìcòn sẵn "non xanh nước biếc" sơn thủy hữu tình đón bước chân ngườithưởng ngoạn Vui tai, đẹp mắt, ấm lòng còn gì hay hơn thế nữa! Ở khoảngnăm 1947 này, rừng Việt Bắc còn âm u hoang dại lắm, chả thế mà đôi văn sĩ,thi sĩ tên tuổi đã quyết đeo ba lô lên chiến khu vẫn thấy Việt Bắc như cõi "u tìquốc", "thiếu chân giời" Trải nghiệm đầu tiên và bao trùm của người thơ HồChí Minh về cảnh rừng Việt Bắc đọng lại, ngời lên trong một chữ "nay" Đó là

từ lạ trong ngữ cảnh mà không cầu kì, bí hiểm Trái lại nó giàu ý nghĩa mới

mẻ, chuẩn xác Một chữ "hay" độc đáo tỏ rõ thái độ, đánh giá ngoại cảnh, bộc

lộ tâm hồn nhà thơ lớn của thời đại mới Bật ra tấm lòng yêu hết mình cảnhrừng Việt Bắc, con chữ ấy lung linh cảm nhận thú vị khác thường Đúng lànhất tự thiên kim, nhất ngôn cửu đỉnh! Rõ ràng nhân sinh quan cách mạng với

"Đôi mắt thần: chủ nghĩa" tạo nên lời tuyệt tác Và toàn cảnh rừng Việt Bắchiện ra như một bức tranh hài hòa, sống động âm thanh, đường nét, sắc màu,như một khúc nhạc lòng rộn ràng Cảnh ấy, tình này, "trần mà như thế kém gìtiên" (Hồ Chí Minh)

Trang 11

Song nếu chỉ tiếp cận thi phẩm thất ngôn bát cú này theo hướng trênthì mới nhìn ngọn mà chưa ngắm gốc, thấy bì phu mà chưa thấu cốt cách,thần thái của cây đại thụ thơ giữa rừng phía Bắc nước Việt Chính nhóm từ

"Kháng chiến thành công đột xuất khởi đầu hai câu kết một cách đắc địa, đắc

ý mới bừng sáng, tỏa rạng thêm cái hay toàn áng thơ Cảnh rừng Việt Bắc kìthú thật, đủ cho ta thụ hưởng, thường thức thoải mái thật nhưng chính từkhông gian tốt lành ấy, cách mạng sẽ tiến triển, kháng chiến được đẩy tớithành công Ngữ "kháng chiến thành công giúp người đọc soi lại, hiểu hàmnghĩa sâu xa những ý "thường chén "tha hồ dạo mặc sức say" ở trên Chúngkhông chỉ thu vào nghĩa hẹp, cụ thể Bởi lẽ "Rượu ngọt chè tươi mặc sứcsay thì làm sao "Kháng chiến thành công" được Có thể nói tác giả nối tiếpnhững Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến tiếp tục Việt hóa, dângian hóa, hơn nữa còn kháng chiến hóa thể thơ Đường vốn cổ kính, trangnghiêm Không mới sao, khi qua thơ Người, Việt Bắc vừa là cõi thơ mộng, annhiên, vừa là căn cứ địa thuận lợi, có một không hai Với Hồ Chí Minh, ViệtBắc là nơi "Cảnh khuya như vẽ" (Cảnh khuya), là chốn "Xem sách chim rừngvào cửa đậu - Phê văn hoa núi ghé nghiên soi" động cụ Bùi) lại là địa điểm

để "dịch sử Đảng (Tức cảnh Pác Bó) để "lo nỗi nước nhà (Cảnh khuya), "giữadòng bàn bạc việc quân (Rằm tháng giêng) và "Sẵn sàng tiêu diệt quân thù"(Tặng các cụ lão du kích) Cái hay bao gồm vẻ đẹp và sự hữu ích, thuận lợicho hoạt động giải phóng đất nước Hay như thế mới "thật là hay"!

Rừng núi đã hóa tâm hồn, Việt Bắc không chỉ hay khi cuộc đấu tranhcần nương dựa vào "non xanh, nước biếc mà cả đến ngày thu hồi toàn cõigiang sơn gấm vóc Cái ta trữ tình thầm nhủ lòng sẽ "trở lại" nơi đã từng gắn

bó, cưu mang, trở lại với "trăng xưa, hạc cũ xuân này" Đừng vội lướt qua mộtchữ "này" tưởng chừng đơn giản, như thuận tay đặt cuối bài thơ "Trăng xưa,hạc cũ" là kỉ niệm đã qua, là cái muôn đời nhưng "xuân này" thì mới mẻ,không hề phủ bụi thời gian "Trăng xưa, hạc cũ với xuân này", xa xôi mà gầngụi, cổ điển mà hiện đại Có ý kiến cho rằng hai câu cuối có vẻ "vênh" vớiphần trên Sáu câu đầu đầy hào hứng, nặng về hướng ngoại Kết bài trầmngâm thiên về trường nội Nghĩ thế e chưa đầy đủ Ba cặp đề, thực, luận tả

Trang 12

cảnh đều chiếu qua lăng kính nội tâm Hơn nữa, hai câu kết thật đằm gópphần làm rõ hơn cái hay của cảnh rừng Việt Bắc, bổ sung, cụ thể hóa thêmchi tiết gợi cảm (trăng, hạc) và nhấn mạnh: với thi nhân, với Người, Việt Bắcbao giờ cũng là xuân "Xuân này" của quá khứ mà cũng hiện diện trong tươnglai, lúc Người "trở lại" "rừng xưa núi cũ yêu thương lại về" (Tố Hữu) Ngẫmthêm, phải chăng ý thơ khép lại như thế, ngoài tình sâu nghĩa nặng còn mở rangụ ý rằng hoàn cảnh kháng chiến cứu quốc chưa phải lúc hoàn toàn có thểbuông hồn thưởng trăng, đón hạc Thi từ, thi tứ chất chứa dư ba hồi hoàn độcđáo rất Đường thi mà khác hơn Đường thi.

"Cảnh rừng Việt Bắc còn độc đáo thêm nữa ở hoàn cảnh khai bút củanhà thơ Năm 1947 ấy, thời gian đầu của cuộc đánh Pháp gian nan, bộ đội tacòn áo rách, quần vá, chân không giầy, đầu không mọc tóc, thiếu vũ khí thiếu

cả thuốc men (thơ Chính Hữu, Hồng Nguyên, Quang Dũng, Huỳnh VănNghệ ghi rõ hiện thực này) Cũng thời điểm đó cuộc họp chính phủ khángchiến đầu tiên được mở ra nơi chiến khu xa ngái Với tư cách vị tổng chỉ huy,chủ tịch Hồ Chí Minh điều hành cuộc họp quan trọng, và từ những cảnh,những sinh hoạt cụ thể, rất thật, Người xuất thần "tặng" bài thơ này chonhững ai có mặt, cho các nhân sĩ yêu nước rời phố phường lên rừng núichống giặc Xuất phát từ cảnh nước non Việt Bắc, từ một cuộc "săn về" nghĩa là thực tiễn muôn phần cam go, Hồ Chí Minh thả lâng lâng tứ thơ vuisay, tin tưởng, giàu tình, giàu thép đủ sức nâng đỡ tám hồn, ý chí mọi ngườibước chân trên đường kháng chiến trường kỳ gian khổ

Thế đó, "Cảnh rừng Việt Bắc" ngời ngợi phong cách độc đáo của nhàthơ Hồ Chí Minh Phong cách ấy kết tinh tinh hoa, bản sắc Việt Nam, kết đọngtính cách vui đời dí dỏm của nhân dân Việt cùng lý tưởng chiến đấu cao cả.Phong cách ấy chứa chan niềm tin vững chắc, tươi sáng trong lời lẽ, hình ảnhhồn nhiên, phóng túng, hàm súc, không một chút gò bó, gọt đẽo Có thểkhẳng định: dụng ý hòa hợp với chân tình, chính trị hòa nhập với tâm tư, xúccảm hòa đồng với tài năng, đó là "Cảnh rừng Việt Bắc" nói riêng, là thơ HồChí Minh nói chung Đó cũng là nguyên nhân thành công của những vần thơ

Trang 13

cách mạng xuất sắc, là kinh nghiệm quý để cất lên tiếng thơ vừa rung độnglòng người vừa âm vang hồn thời đại, để "vung bút thành thơ" đuổi mọi thứgiặc thù.

Chiến khu Việt Bắc một thời, qua cảm nhận và bút lực của các nhà thơ

Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi đã thực sự in sâu vào lịch sử, trởthành thơ muôn đời, tạo nên "Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng" (Hồ ChíMinh)

Viết cùng với Trận Đồng quang

TỐNG BIỆT TRONG THƠ XƯA

Tôi nghĩ rằng một học sinh bậc phổ thông của ta phải nằm lòng ít nhấtmười bài thơ Đường Nhiều hơn càng tốt, càng thuận cho việc cảm hiểu thơViệt, nhất là cổ thi Một đề tài phổ biến của thơ trước đây là tống biệt Riêngchương trình văn lớp mười một đã có hai bài tống biệt: Tống biệt của Tản Đà

và Tống biệt hành của Thâm Tâm Ở lớp mười các em được học bài "HoàngHạc lâu tống Mạnh Hao Nhiên chi Quảng Lăng" (Tại lầu Hoàng Hạc tiễn MạnhHao Nhiên đi Quảng Lăng) của thi tiên Lí Bạch:

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu.

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

Cô phàm viễn ảnh bích không tận.

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Nhà văn Ngô Tất Tố đã dịch sang thể lục bát:

Bạn từ lầu Hạc lên đường,

Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng

Bóng buồm đã khuất bầu không

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.

Trang 14

Tôi nhắc các học sinh lớp mười hai rằng nhà văn Nguyễn Tuân đã điểmmột câu thơ của Lí Bạch tiễn bạn thơ này trong bài tùy bút Người lái đò sông

Đà Và nếu có vốn Đường thi kha khá thì tuổi học trò có thể hiểu ngay rằngyếu tố "yên" (khói) trong thơ xưa vốn gợi buồn Cộng thêm yếu tố "ba" (sóng)thì càng buồn hơn Bài Hoàng Hạc lâu vang danh Thôi Hiệu (được đưa vàosách giáo khoa văn học lớp 10 - tập hai) đã kết bằng hai câu đầy khói sóng vànỗi sầu tha hương: "Nhật mộ hương quan hà xứ thị? - Yên ba giang thượng

sử nhân sầu" Nhà thơ Tản Đà dịch: "Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?" "Yên ba" vừa ngăn cách, vừa chemờ đến mức Bạch Cư Dị đã buông một tiếng thở dài não ruột: "Yên ba sầusát nhân" (Khói sóng buồn chết người) Chất Đường thi, chất "yên ba" thấmsâu vào hồn Cao Bá Quát khi ông hạ bút: "Thế sự thăng trầm quân mạc vấn -Yên ba thâm xứ hữu ngư châu" (Việc đời lên xuống anh đừng hỏi - Xa xămkhói sóng chiếc thuyền con) Nhưng xin lưu ý rằng cũng chất liệu "yên ba",bằng cảm quan cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh trong tuyệt cú Nguyên tiêu(Rằm tháng giêng) viết: "Yên ba thâm xứ đàm quân sự" (Xa xăm khói sóng,bàn quân sự) đã đẩy ý thơ từ thế giới nghệ thuật này tới thế giới nghệ thuậtkhác, từ vùng trời tâm tưởng cũ sang vùng trời tâm tưởng mới Có thể nóingười dùng cái khuôn cũ những đã đổ vào đó chất thép mới Trở lại thơ Tốngbiệt của Lí Bạch, cũng có thể thấy chữ "cô" thường vương vấn vòm trời cổ thi,Đường thi Cô phàm, cô chu, cô vân, cô lâu, cô phòng, cô đăng, cô mộng, côbồng Người xưa thường ôm mối cô sầu cho đến nỗi cả ngọn cỏ cũng lẻ loiđơn độc Trong nỗi buồn chia biệt, các thi hào, thi bá đã tạo ra những hìnhảnh, những mối tương quan sự vật rất thâm trầm, kì thú Cái hình ảnh cánhbuồm đơn (cô phàm) chạy về cuối trời lẫn vào khoảng không xanh biếc (bíchkhông tận) và như mất bóng trên sông dài (Trường Giang thiên tế lưu) trongcon mắt cố dõi theo kia đã nói lên rất nhiều tình người đưa tiễn Bóng buồm lẻloi càng trở nên cô đơn vô cùng - và cả con người cũng thế - giữa không gianmênh mông vô tận

-Bài Tặng biệt của Đỗ Mục - Một nhà thơ thời Vãn Đường - cũng là loại

"vô ngôn" mà đa tình:

Trang 15

Đa tình khước thị tổng vô tình

Duy giác tôn tiền tiếu bãi thành

Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt

Thế nhân thùy lệ đảo thiên minh.

Tương Như dịch:

Đa tình mà lại hóa vô tình

Thật khó làm vui trước chén quỳnh.

Chiến nến có lòng còn luyến tiếc

Thay người nhỏ lệ suốt năm canh.

Câu thứ hai, giá như thay chữ "làm" bằng chữ "cười" (thật khó cườivui ) thì dịch sẽ tín hơn Hình ảnh cây nến trong đêm nhỏ lệ cho đến sángtrước bữa rượu chia tay, vừa rất nến lại vừa rất người Hai người - tôi đồ rằngđây là hai bạn thơ - chẳng thể cười, và chắc cũng có nói gì đâu, nhưng câynến âm thầm khóc tiếc thương, những giọt khóc lặng rơi vào lòng người Thật

là lặng lẽ mà âm vang, lung linh mà sâu thẳm Tất cả chỉ có hai mươi bốnchữ Thơ ngày nay mang hồn thời đại mới với những tìm tòi mới nhưng dễ rơivào một nhược điểm là lời nhiều, tả dài mà ít tạo ra hình ảnh đột xuất giàu dư

vị, dư ba, nói thay con người những điều cần nói hoặc khó giãi bày

Nhân nói về hình ảnh thơ, tôi sẽ dẫn thêm ra sau đây một bài cổ thicùng đề tài tống biệt của Trần Mĩ Dung:

Nhất áp xuân giao vạn lý tình

Đoạn trường phương thảo đoạn trường oanh

Nguyện tương song lệ đề vi vũ

Minh nhật lưu quân bất xuất hành

Nhiều khách văn chương đã dịch bài thơ này Bản dịch của nhà thơNguyễn Bính có lẽ là nhã hơn cả:

Chén xuân chan chứa bao tình

Trang 16

Cỏ non xơ xác con oanh thẫn thờ

Sáng mai chàng đã đi chưa

Xin đem nước mắt làm mưa giữ chàng.

Hình ảnh đôi dòng lệ làm mưa giữ người ra đi (người xưa thường cho

là "Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách" mà) thật đặc sắc, thật hay Cần gì phải kể

lể nỗi buồn đau, thương tiếc Cần gì phải dài dòng về tình thiếp với chàng.Tâm nguyện đem nước mắt làm mưa giữ chàng lại đã nói tất cả nói nhiều vàthấm thía hơn muôn nghìn lần lời nói, tiếng than, giọng sầu Nữ sĩ Mĩ Dungthật đã góp một chất liệu quý xây lâu đài cổ thi thanh cao, sáng đẹp

Cũng như Trần Mĩ Dung, nhà thơ Vi Thừa Khánh không ngồi ghế nhất,ghế nhì trong vương quốc Đường thi nhưng cũng để lại tinh phẩm Nam hànhbiệt đệ nén chặt hai mươi chữ miên man vô hạn ý tình:

Đạm đạm trường giang thủy

Hoa rơi dường cũng hận

Tới đất chẳng âm vang.

Con người vô ngôn, cảnh vật vô thanh ấy vậy mà tình man mác nhưnước sông kia lờ lững chảy hoài Những chữ "Đạm đạm "Du du" rất khó dịchhết nghĩa, sát nghĩa (Trong bài "Hoàng Hạc lâu đã nhắc tới ở trên có câu:

"Bạch vân thiên tải không du du" Tản Đà dịch là: "Ngàn năm mây trắng bâygiờ còn bay") Hai câu "Lạc hoa tương dữ hận - Đạo địa nhất vô thanh" thậtxứng hai câu tuyệt bút Đúng là "Thử thời vô thanh thắng hữu thanh" như lời

Trang 17

thơ Bạch Cư Dị "Vô thanh" như thế bằng mười "đa thanh"! Thơ Đường quatay các bậc tài tình đã nói những ý ngoài lời vô cùng súc tích.

Để thấy rõ hơn cái "ý tại ngôn ngoại" này, chúng ta hãy cùng thưởngthức mấy vần ngũ ngôn tứ tuyệt Dịch thủy tống biệt của Lạc Tân Vương:

Thử địa biệt Yên Đan

Lâu rồi khuất bóng người xưa

Nước sông lạnh đến bây giở chưa thôi!

Cũng là biệt, cũng sông nước, cũng mối hận (Vi Thừa Khách hận vì bị

đi đày; Yên Đan hận bạo chúa Tần Thủy Hoàng) nhưng cách lập ý, biểu cảm

ở bài này khác hẳn bài trên Hình ảnh "Tráng sĩ phát xung quan thật phẫnkhích, cuồng nộ, ý "Kim nhật thủy do hàn" thật trầm lặng, lắng đọng đến têngười!

Bớt đi để tăng thêm, lấy ít gợi nhiều, lấy cái không nói cái có đó vốn làtuyệt chiêu nghệ thuật của thơ Đường, thơ cổ Viết đến đây, tôi muốn họctheo tinh thần, phẩm chất cổ thi mà dừng bút Chắc có bạn đọc yêu thơ, sànhthơ sẽ thầm nhắc còn nhị biệt (hai bài Tống biệt của Vương Duy), tam biệt(Tân hôn biệt, Thùy lão biệt, Vô gia biệt của Đỗ Phủ) và nhiều tống biệt khácnữa đã làm rơi lệ bao người, bao đời Đành hẹn dịp khác

NGUỜI CHƯA NGỦ

Năm 1948 ấy

Trang 18

Một năm đáng ghi nhớ Một năm rộn ràng không khí kháng chiến, rộnràng không khí thơ.

Tại khu Việt Bắc, năm 1948, chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Báo tiệp,nguyên văn chữ Hán, phiên theo âm Hán Việt là:

"Nguyệt thôi song vấn: - Thi thành vị?

- Quân vụ nhưng mang vị tố thi

Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,

Chính thị Liên khu báo tiệp thì."

Đã tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về một số chữ nghĩa trong bài tứtuyệt này Xin ghi thêm bản dịch ra tiếng Việt của Huy Cận để tiện bề trao đổi:

TIN THẮNG TRẬN

"Trăng vào cửa sổ đòi thơ,

- Việc quân đang bận xin chờ hôm sau

Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu

Ấy tin thắng trận Liên khu báo về."

Chưa nói đến bản dịch có nhã mà chưa thật tín và đạt; cũng chưa nói

về những cách hiểu khác hẳn nhau quanh các ý niệm "chuông", "lầu" Chỉ đivào ý "kinh thu mộng" (tỉnh giấc thu) Trên sách báo và cả trong giảng dạy đã

có hai cách hiểu về điều này:

- Cách thứ nhất cho rằng tác giả - cái tôi trữ tình của bài thơ đã ngủ rồi,chợt nghe tiếng chuông mà tỉnh Tiêu biểu cho cách hiểu này là của nhà giáoĐoàn Như Phương: "Câu mở đầu miêu tả cảnh thực một đêm trăng sáng ởViệt Bắc Nhưng còn có cảnh trong mơ nữa, trong mơ Bác thấy mình và trăngđang tâm sự trò chuyện với nhau Cách hiểu ấy được trình bày tiếp: " cáithức ở trong mơ, cái tỉnh táo ngay trong mộng tưởng ấy…" và "Nếu hai câutrên là mơ thì hai câu sau là tỉnh Dù lập luận mơ - tỉnh thế nào đi nữa, ngườiviết như vậy vẫn khẳng định tác giả đang mơ (tức là đã ngủ) Bạn đọc có thể

Trang 19

tham khảo toàn văn ý kiến này trong cuốn Học Văn 12 - NXB Giáo dục - 1955hoặc cuốn Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh (trong "Tủ sách văn học trong nhàtrường") - NXB Văn Nghệ - 1997.

- Cách thứ hai cho rằng cảnh vật nơi Hồ Chí Minh làm việc như đangchìm trong giấc mộng đêm thu, chợt tiếng chuông khuấy động cái yên tĩnhcủa cảnh vật (Xem sách giáo khoa văn học 12 - Tập một - trang 37 - NXBGiáo dục - 1992, phần biên soạn của giáo sư Hoàng Như Mai) Theo cáchhiểu này thì vị lãnh tụ đang làm việc, Người chưa ngủ lúc trăng vào cửa sổđêm ấy

Không ít bạn đọc, nhất là các em học sinh phân vân giữa hai cách hiểuhoàn toàn khác nhau như thế Theo tôi, để hiểu thỏa đáng, có lí hình tưởngthơ, ý tưởng thơ, cần:

- Trước hết, khảo sát kĩ văn bản toàn tác phẩm đang tìm hiểu, phântích

- Đồng thời xem xét, đối chiếu liên văn bản, đặt tác phẩm đó trong hệthống văn bản nglnệ thuật của cùng tác giả Nhờ đó có thể thẩm định đầy đủ,chính xác hơn

Tôi sẽ luận bàn trên cơ sở hai tiêu chí trọng yếu ấy

Xét trong văn bản Báo tiệp, đáp lại câu hỏi của trăng: "(Người làm) thơxong chưa?", nhà thơ Hồ Chí Minh trả lời rõ rằng: "Việc quân đang bận (chưalàm thơ được)" Năm 1948 ấy cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp đang

đi tới với muôn vàn khó khăn gian khổ Người tổng chỉ huy cuộc chiến đấucứu nước đang bận bịu với trăm mối lo toan, xếp đặt Lẽ nào đang bận việcquân, và giàu tâm hồn thơ, Người lại có thể ngủ đi được trong đêm trăngsáng đó

Tìm hiểu một số bài thơ khác của Hồ Chí Minh, việc "giải mã nghệthuật" của chúng ta càng chuẩn và rõ hơn Năm 1947; Người viết bài Cảnhkhuya, kết thúc bằng hai câu:

"Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Trang 20

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà."

Năm 1948, cùng ra đời với Báo tiệp, còn có bài Nguyên tiêu (Rằmtháng giêng):

"Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền."

Xuân Thủy dịch.Cũng năm 1948, Người còn sáng tác bài Thu dạ (Đêm thu):

"Bàn việc canh chầy mới tạm ngơi

Gió mưa thu báo lạnh thu rồi

Còi thu bỗng rúc vang từng núi

Du kích về thôn, rượu chửa vơi"

Ý câu đầu rất rõ: Người bàn tính công việc đến khuya mới tạm nghỉngơi (nguyên bản là "tiệm đắc nhàn"), chứ không phải là tạm ngủ đi

Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Hồ Chí Minh kết bài "Đi thuyền trên sôngĐáy" với ý lo toan, trăn trở việc nước suốt đêm trong chuyến đi công tác trênsông:

"Dòng sông lạnh ngắt như tờ,

Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.

Bốn bề phong cảnh vắng teo,

Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan.

Lòng riêng riêng những bàn hoàn,

Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng.

Thuyền về, trời đã rạng đông

Trang 21

Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi"

Rõ ràng, vì “lo nỗi nước nhà”, vì "bàn việc quân", vì "lo khôi phục giangsơn", Người đâu có ngủ Thậm chí việc quân việc nước bàn xong rồi, Ngườicòn thức ngắm ánh trăng soi hoặc đón rạng đông tươi hồng

Những tâm hồn kín thường có niềm thao thức lớn Cảm nhận niềm thao - thức - Hồ - Chí - Minh ấy, nhiều nhà thơ đã viết:

Đêm nay Bác không ngủ

Vì một lẽ thường tình

Bác là Hồ Cho Minh

(Minh Huệ - Đêm nay Bác không ngủ)

- Bác Hồ thức Năm canh không ngru

Nghe phong ba gào thét đá ghềnh

Vững tay lái Ôi người thủy thủ

Đã từng quen bốn biển lênh đênh

(Tố Hữu - Theo chân Bác)

Vì những lẽ đã nêu, hình tượng Hồ Chí Minh trong thơ "Báo tiệp" làhình tượng Người chưa ngủ Người tỉnh thức hoàn toàn để lo việc quân, nghetin thắng trận và cũng có phần để làm thơ thưởng nguyệt

NHÂN VẬT ĐẶC BIỆT CỦA TRUYỆN

Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân có lần nhận xét rằng các nhân vật trongtrang văn của chúng ta cứ lùi lũi đi trên đường không một bóng cây! Điều nàyđúng với một số tác phẩm mà người viết hoặc không cần đến, hoặc "quên"thiên nhiên Cũng còn khá nhiều tác giả văn xuôi Việt Nam đã yêu mến, coitrọng cây lá, hoa cỏ và đã miêu tả chúng như những sinh - thể - người Tôi coi

đó là những nhân vật đặc biệt trong truyện

Trang 22

"Dưới bóng hoàng lan" của Thạch Lam là một minh chứng tiêu biểu.

Câu chuyện ngắn gọn, đầy dư vị ngọt ngào trong một không gian nghệthuật, không gian tình cảm thơm thoảng hương hoa lá hoàng lan Nhân vậtThanh từ tỉnh trở về mái nhà xưa chốn quê, không phải chỉ trở về với người

bà "lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu chàng" với cô hàng xóm xinhxắn, thân tình mà còn trở về với thửa vườn mát mẻ, hiền lành thơm thảo hoalan, hoa lí Từ góc độ này, đọc truyện, tôi luôn đinh ninh cây hoàng lan cùnganh chàng Thanh xinh trai tựa như hai anh em song sinh Vậy Không phải thếsao khi nhà văn hé mở cho biết rằng từ nhỏ Thanh "thường hay chơi dướigốc nhặt hoa"và bây giờ "cây đã lớn"

Nhập vào văn bản truyện, người đọc nhận ra cây hoàng lan - cái nhânvật đặc biệt ấy - xuất hiện trực tiếp bốn lần từ lúc Thanh về nhà đến lúc anhbước chân ra đi

Lần thứ nhất, Thạch Lam viết: "Một thân cầy vút cao lên trước mặt.Cùng một lúc, chàng (tức là Thanh - T.Đ.M) lẩm bẩm: "Cây hoàng lan!", mùihương thơm thoang thoảng đưa vào Thanh nhắm mắt ngửi hương thơm vànhớ đến cái cây ấy chàng thường hay chơi dưới gốc nhặt hoa" "Hương gâymùi nhớ", hương thơm gợi Thanh nhớ đến "đứa em hoàng lan nhớ đếnnhững ngày xa thơ ấu Và, kì diệu thay, không khí tươi mát, thơm tho củavườn cây, của hoàng lan đã thanh lọc tâm hồn chàng! Trong hai câu văn ngắn

kề liền nhau, nhà văn nhấn mạnh hai lần chữ "tắm giàu ý nghĩa: "Thanh thấytâm hồn nhẹ nhõm tươi mát như vừa tắm ở suối Chàng tắm trong cái khôngkhí tươi mát này

Lần thứ hai, tác giả “dưới bóng hoàng lan” lại tạo một khoảng lặng

trên khúc nhạc văn trữ tình của mình Ông tả Thanh nằm yên vờ ngủ để bàquạt cho Rồi "chàng lẳng lặng ngồi dậy, tỳ trên cửa sỗ, cúi mình nhìn raphía ao Bóng cây hoàng lan lay động cả một vùng Chàng chợt nhớ, chạyvùng xuống nhà ngang, gọi vui vẻ: Cô Nga " Bóng hoàng lan lay động mộtvùng không gian, lay động kí ức của Thanh Bóng hoàng lan giúp như bóngngười Bóng cây hoàng lan "gọi" Thanh đến với Nga, để thấy lại bóng dáng

Trang 23

yêu kiều, thấy bàn tay trắng hồng nhỏ nhắn bên lá rau tươi xanh ngắt Chút

đó thôi, Thanh lại được sống không khí gia đình không phải chỉ có một bà mộtcháu

Lấn thứ ba, Thanh và Nga đến với cây hoàng lan Nhân vật hoàng lan

rủ tóc, nghiêng mình chào đón, tặng cho đôi trai gái chút thơm thảo mếnthương "Thanh thấy mái tóc Nga thoang thoảng như có giắt hoàng lan" dùhoa "vẫn còn tươi xanh ở trên cành" Đó là hương dĩ vãng, hương kỉ niệmngày nào ẩn nhập vào mái tóc cô bạn gái Và đôi bạn trẻ thấy gần gũi, thânmật hơn Thanh vít cành lá xuống giữ trong tay để Nga tìm hái hoa Hai ngườitay bên tay

Lấn thứ tư, ngày đã chuyển sang đêm, đêm khuya nhưng không tối,ánh trăng soi thanh tiễn Nga về "Mùi hoàng lan thoang thoảng bay trong gióngát Thanh cầm lấy tay Nga, để yên trong tay mình" Hương hoàng lan kếtnối đôi tay, đôi lòng Từ chỗ tay bên tay, bây giờ đã tay trong tay, và ThạchLam đã buông một câu văn rất Thạch Lam: "Có cái gì dịu ngọt chăng tơ ở đâuđây, khiến chàng vương phải" Cái gì dịu ngọt chăng tơ phải chăng đó làkhông khí thơm hương hoàng lan, là tình cảm vừa độ "chín", êm đềm trongtrẻo, "phi vật thể" mà ràng buộc dịu dàng Nhà văn đã đẩy ý thơ Xuân Diệulên đến cao độ: "Không gian như có dây tơ " Cái dây tơ dịu ngọt lòng người

ấy không bao giờ đứt, dù Thanh bước ra đi, bởi vì chàng sẽ lại về, "trở lại tráitim mình", và "Nga sẽ vẫn đợi chàng, vẫn nhớ mong chàng Mỗi mùa cô lạigiắt hoàng lan trong mái tóc để tưởng nhớ mùi hương"

Như thế, nhân vật - hoàng lan gắn quyện với nhân vật - người, giúp chotâm hồn đôi bạn mở ra ngập tràn thương mến kín đáo mà bền sâu Chính nhờnhân vật - hoàng lan mà Thạch Lam tạo nên mạch truyện trữ tình, kết cấutruyện chuồi theo nguồn cảm xúc, hòa nhập ngoại giới với nội tâm nhân vậtmột cách tài tình Có thể nói "Dưới bóng hoàng lan" xứng đáng là truyện ngắntrong sáng nhất, trữ tình nhất trong văn xuôi hiện đại của ta; và có thể sánhvới thứ "văn xuôi mọc cánh như "Những vì sao của A.Daudet

Trang 24

Cây xà nu, rừng xà nu cũng là nhân vật đặc biệt trong truyện ngắn

"Rừng xà nu" của nhà văn Nguyên Ngọc Phép giao hoán cây và người, vớicác thủ pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, tượng trưng đã phát huy tối đa hiệunăng nghệ thuật phục vụ cho chủ ý của tác giả Vết thương ứa nhựa cây xà

nu do đại bác kẻ thù - thì "đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lan"; còn

cụ Mết-già làng thì "ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn" Và rừng xà nu

cứ "ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng" Xô Man đứng lênchống giặc Mĩ Thấy cây nhớ người, trông người nhớ cây, Nguyên Ngọc -Nguyễn Trung Thành hứng khởi, say mê và hào hứng phóng trào những câuvăn, lời văn đẹp hào hùng Sức mạnh của cây xà nu sánh với vũ khí củangười Tây Nguyên: ở đầu truyện, mấy cây con mới mọc "ngọn xanh rờn, hìnhnhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời"; đến cuối truyện "có những cây mới nhúkhỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê" Cây rừng xà nu sống động quahàng loạt động từ mạnh đầy sức vươn tới thật lôi cuốn: "Cũng có ít loại câyham ánh sáng mặt trời đến thế Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng,thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lónglánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng Có những câyvượt lên được đầu người chúng vượt lên rất nhanh "

Nhân vật xà nu rất Tây Nguyên ấy đã giúp cho thiên truyện ngắn hùngtráng thành hình, ra đời trong sự mang nặng đẻ đau và cơn cao hứng sángtạo Nhà văn thổ lộ: "Tôi yêu say mê cây xà nu từ ngày đó (Ngày NguyễnTrung Thành đi dọc Trường Sơn hồi tháng 5 năm 1962, và chia tay vớiNguyễn Thi tại khu rừng xà nu bát ngát tít tắp tận chân trời - T.Đ.M) Ấy là mộtloại cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm

vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống

tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây

vô tận Không khí ở đây thơm lừng Tại sao cái đêm giữa năm 1965 ấy, ngồiviết, rừng xà nu lại bỗng đột ngột đến với tôi, chảy ra ngay dưới ngòi bút tôi?(Theo nhà văn, thì có thể do nhớ Nguyễn Thi, cũng có thể vì không khí đánh

Mĩ hừng hực rất tráng ca T.Đ.M) Nhưng vậy đấy, rừng xà nu chợt đến Vàlập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều rồi Và

Trang 25

cũng lập tức đã nhập được vào không khí và không gian ấy" Vậy đấy, nhânvật cây rừng xà nu đã tạo nên không khí cần cho câu chuyện, đã khiến cácnhân vật - người khác như cụ Mết, T’nú, Mai, Pít, bé Heng và tập thể dân làng

Xô Man sống được không bị ngạt thở hoặc xám nhợt đi vì thiếu không khí,thiếu không gian nghệ thuật cần thiết Hơn thế, nó còn góp sức làm bật lên rờ

rỡ sức sống, sức chiến đấu mãnh liệt của nhiều thế hệ người Tây Nguyêncầm vũ khí quật khởi chống lại bạo lực phản cách mạng

Trong mối giao hoán ngời đẹp và đau thương tột cùng, lửa rừng TâyNguyên bừng cháy như ngọn lửa trong lồng ngực T’nú, lồng ngực đồng bàoTây Nguyên rừng rực bốc cao thiêu cháy mọi ý đồ cuồng bạo của kẻ thù

LẠI ĐỌC CHÍ PHÈO

Bạn tôi, một nhà báo thi thoảng làm thơ, khi ngẫm về truyện ngắn NamCao, đã viết mấy vần:

“Đọc lại Nam Cao, bỗng khóc Chí Phèo

Một bát cháo hành nên lễ cưới

Đời còn xua đuổi

Đến lìa nhau!”

Quả như vậáy, truyện Chí Phèo (1941), nhân vật Chí Phèo, bất cứ lúcnào đọc lại cũng đáng suy nghĩ, đáng khóc nhiều lắm Tôi đã đến với ChíPhèo không biết bao nhiêu lần, nhận thấy đôi ba điều chưa được nói thấu triệt

về thiên truyện ngắn này, về nhân vật điển hình ghê gớm này

Cảm thức vừa xót xa vừa cay đắng đầu tiên ở tôi khi đọc truyện ChíPhèo là chế độ thực dân phong kiến - qua trang viết Nam Cao - đã đưa ngườilương thiện vào tù, và đưa ra một kẻ lưu manh Trước cái ngày bị Lí Kiến vìghen hão mà "cho đi ở tù" thì Chí là một anh nông dân hoàn toàn lương thiện.Lại tự trọng nữa Anh đem sức trai đi ở, đi làm canh điền mà sống Và chỉthấy nhục khi bị mụ chủ, cái bà Ba lẳng lơ nhà ông Lí sai làm một việc không

Trang 26

chính đáng, một việc đáng khinh! Rồi chỉ vì tự trọng một cách lương thiện màChí "phải đi tù" đến bảy, tám năm! Lúc ra tù, lù lù Về làng thì hắn thay đổihắn, thay đổi đến mức người làng Vũ Đại thoạt đầu không nhận ra hắn là ai,

"trông đặc như thằng sắng cá"! Tức là rất giống thằng lính tây với cái mặt thìđen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm, ngực và cả hai cánh tay đầynhững hình xăm! Hôm sau hắn uống rượu đến say khướt và hung hăng đigây sự Nghĩa là hắn đã lưu manh hóa mất rồi! Nói cho thấu lí thì khi ở tù về,Chí có khả năng, có cơ hội dù khó khăn, mong manh để sống đời bìnhthường lương thiện Chí đã mãn cái hạn tù oan uổng, vô lí Tiếc thay anh tanhiễm vào người nhiều thói hư tật xấu; vả lại tuy mãn hạn tù với nhà nước,Chí chưa hoàn toàn "mãn hạn tù với cái làng Vũ Đại như "cái ao tù đóng vángkia" Dân làng ngại thuê một thằng đầu trọc lốc vừa ra tù kia lắm chứ Tai hạihơn, Chí lại rơi vào một cái "nhà tù" khác - đó là vòng tay tội ác của tên địachủ cường hào Bá Kiến Cái lần đến nhà kẻ thù - kẻ đã ném anh vào chốnbùn nhơ để trả thù trút hận, Chí đinh ninh mình thắng lớn, thật ra hắn thua toi.Chí "nộp mình" cho con cáo già, con sói thành tinh Bá Kiến và từ đó hắn càngngập mình trong rượu, máu và nước mắt, bị xô vào bao nhiêu hành động tànhại, bất nhân Rất mau chóng, Chí Phèo hóa thành tên du côn, thành con quỷ

dữ của cả cái làng Vũ Đại đã cưu mang hắn từ thuở sơ sinh Thái độ, có thểnói là chính kiến của Nam Cao rất rõ khi ông đay lại hai lần cái sự thực tànnhẵn, đau xót: "Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại,người ta giao cho hắn" (tôi nhấn mạnh - T.Đ.M.) và "Hắn biết đâu hắn đã phábao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnhphúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện Hắn saythì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm" (sic) Thật là rành mạch Chonên khó có thể đồng ý với ai cho rằng Nam Cao là thứ văn khách quan lạnhlùng, thậm chí có chỗ nhẫn tâm! (Vấn đề này tôi sẽ trình bày đầy đủ hơn trongmột bài viết khác) Cũng cần nói thêm rằng trước nay giải phê bình nghiêncứu thường dùng chữ "lưu manh hóa" để chỉ sự tha hóa của nhân vật ChíPhèo Như thế đúng nhưng chưa đủ Một kẻ lưu manh thường có hành vi lừangười khác để ăn cắp vặt hoặc làm việc xấu mà chưa đắm mình vào máu một

Trang 27

cách hết sức hung hãn, trắng trợn Chí Phèo - như Nam Cao đã diễn tả rõràng - thực sự là kẻ bạo hành côn đồ hóa (Tôi nhấn mạnh - T.Đ.M.) đến mứckhủng khiếp Vâng, cần nhận rõ như tác giả Chí Phèo đã bi phẫn chỉ ra, cuộcđời cũ biến con người thành con quỷ dữ!

Nhưng rồi có lúc Chí Phèo tỉnh cơn say tội lỗi của mình Ấy là sau mộtđêm trăng trong trẻo, một đêm "quan hệ" với Thị Nở Nếu con người - quỷ đótỉnh tức thời, biến chuyển ngay một cách rõ rệt thì không hợp lôgic cuộc sống.Ngòi bút rất giỏi triển khai, phân tích tâm lí nhân vật của nhà văn đã để nhânvật Chí Phèo tỉnh dần trong trạng thái chơi vơi, chập chờn giữa ranh giớinhận thức và cảm tính, giữa ranh giới thiện và ác Vì thế sau câu: "Nhưng bâygiờ hắn tỉnh", Nam Cao viết tiếp "Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy lòng mơ hồbuồn" Ta chú ý hai ngữ như tỉnh dậy và "mơ hồ buồn" Nhân vật của chúng ta

mở mắt khi trời sáng rồi mà mới như tỉnh dậy và buồn một cách mơ hồ Sau

đó nhà văn để cho Chí Phèo nhớ và lo sợ: hình như có một thời hắn đã aoước có một gia đình nho nhỏ và "Chí Phèo hình như đã trông thấy tuổi giàcủa hắn, đói rét và ốm đau, cô độc " "Hình như", "hình như Và còn hìnhnhư" nữa Khi Thị Nở nấu cháo mang sang cho Chí Phèo thì " hắn thấy mắthắn hình như ươn ướt" Rồi nhìn bát cháo bốc khói, "hắn thấy vừa vui vừabuồn Và một cái gì nữa giống như là ăn năn" Mới "giống như là, tương tự làchứ chưa hẳn là ăn năn, ăn xong cháo rồi, ngẫm ngợi vẩn vơ mơ hồ một hồi,Chí Phèo mới chợt "thèm lương thiện", "muốn làm hòa với mọi người biếtbao" Nhưng dòng ý thức - nếu có thể gọi như vậy - của con người quen sốngbản năng và mới bừng tỉnh này không dừng lại ở đó Đến lúc Thị Nở nghe lời

bà cô thị, quay trở lại nhà "người tình năm ngày đêm" mà trút vào mặt hắnnhững lời rủa xả thì Chí Phèo "nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu." Người đàn

bà kia đã cự tuyệt hắn, đã dứt khoát bỏ ra về rồi Chí muốn đập đầu bằng hòngạch vỡ "Nhưng hình như hắn chưa thật say" Nhà văn như nhập vào nhânvật của mình mà viết vậy Trước đó một chút, trong khi đợi Thị Nở, Chí đã lôirượu ra uống Đau uất thay, giờ đây, uống mấy chai rượu mà càng uống càngtỉnh ra! Chí đã hiểu ra cái điều cay đắng nhất, cay đắng hơn rượu muôn vànlần Lần đầu tiên trong đời "Hắn ôm mặt khóc rưng rức" và hắn phải đi cùng

Trang 28

với con dao để đâm chết kẻ đã dồn hắn vào tuyệt vọng khốn cùng! Đọc đếnđây, không khó nhận ra mạch văn đi rất nhanh và năm chữ "hình như" ngưngđọng rất ám ảnh Nam Cao quả có tài diễn tả chính xác, gọn gàng, rành rọtnhững ý mơ hồ, những tâm trạng không được định hình rõ rệt ngay.

Văn tài Nam Cao còn bộc lộ rõ ràng trong đoạn Chí Phèo đến nhà BáKiến lần chót Chí Phèo xông vào tận giường cụ Bá trong trạng thái say màtỉnh Say vì hắn đã nốc vài chai rượu rồi, và hắn định đến đâm chết cả nhà Thị

Nở mà quên rẽ vào nơi cần đến Tác giả cũng khéo "nhắc người đọc rằng

"những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái

mà lúc ra đi chúng định làm" Nhưng Chí lại rất tỉnh vì Chí đã đến đúng chỗ,gặp đúng "chính thủ phạm" đã phá hoại đời mình Tỉnh táo biết chừng nào khiđối diện kẻ thù, Chí dõng dạc: "Tao muốn làm người lương thiện!"; "Ai cho taolương thiện?"; "Tao không thể là người lương thiện nữa" Ba câu nói mở ra vàkhép lại tấn bi kịch hoàn lương! Đầu tiên là câu khắng định chắc nịch Tiếptheo là câu nghi vấn uất hận Cuối cùng là câu phủ định xót xa, nghẹn đắng

Và con chữ, ý niệm "lương thiện" lăn đi lăn lại trong ba câu nói rất tỉnh ấy,vang dội tâm trí nhân vật và cả người đọc Không thể nào khác, khi chưa cóánh sáng soi rọi, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình Nếu ai đó bănkhoăn rằng đến cuối truyện, kết thúc như thế, Chí Phèo là kẻ sát nhân hay làngười lương thiện thì tôi mạn phép được thưa rằng, theo ý riêng, đến phútchót của kiếp nạn trùng trùng, Chí Phèo là kẻ sát nhân lương thiện Tôi nhấnmạnh lại: theo diễn tiến của thiên truyện, kết cục Chí Phèo là kẻ sát nhân -lương thiện

Nói một cách thận trọng thì cho đến nay, có lẽ trong các văn phẩm ngắncủa chúng ta, chưa có nhân vật nào vượt được mức độ điển hình xuất sắccủa nhân vật Chí Phèo Cứ mỗi lần đến với Chí Phèo, tôi lại ngờ ngợ sao

"con người này" rất lạ mà rất quen, và có lẽ hắn ta đang ngồi ngật ngừ uốngrượu trong cái không gian cư trú chật chội, mờ tối giữa nhịp đời sôi động, rộnràng ngày nay và cả mai này

Trang 29

ĐỜI THỪA TRONG SƯ ĐỐI SÁNH LIÊN VĂN BẢN

Truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao ra đời năm 1943

Tiểu thuyết Mực mài nước mắt gồm 9 chương của Lan Khai được innăm 1941

Truyện ngắn Nghệ sĩ của Băng Hồ trình làng năm 1951

Cả ba truyện này đều có những nét tương tự về nội dung

Nhưng trước hết, hẵng nói đôi lời về các tác giả:

Lan Khai là bút danh của Nguyễn Lan Khai, sinh năm 1906 ông mấtnăm 1946, để lại nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử, lãng mạn và hiện thực được

dư luận chú ý

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915, hi sinh năm 1951.Chạm vào khuynh hướng lãng mạn, rồi ông nhanh chóng chuyển sang chủnghĩa hiện thực với nhiều truyện ngắn, truyện dài rất giá trị

Băng Hồ, tên khai sinh: Đặng Trần Phiến, sinh năm 1927 Ông sáng táctrong khung cảnh Hà Nội bị tạm chiếm, làm người đọc cảm mến những câuchuyện đầy ắp mộng mơ mà thấu đậm sắc màu hiện thực" (Hoàng CôngKhanh - Dấu ấn thời gian

Đời thừa, Mực mài nước mắt và Nghệ sĩ đều xây dựng nhân vật chính

là nhà văn, đều có chung cốt truyện: tấn bi kịch vật chất, tinh thần của ngườicầm bút trong cuộc đời cũ giữa mục đích, lòng say mê đeo đuổi văn chương,

lí tưởng sáng tạo sáng đẹp và gánh nặng cơm áo, gia đình cùng những sựthật phũ phàng trong xã hội

Lấy điểm tựa, điểm xuất phát là truyện ngắn Đời thừa, bài viết này sẽlàm sự đối chiếu so sánh với tiểu thuyết Mực mài nước mắt và truyện ngắnNghệ sĩ để chủ yếu rút ra giá trị, thành công của một văn phẩm Nam Caođược đưa vào chương trình phổ thông trung học Dĩ nhiên bạn đọc cũng từ

đó sẽ nhận ra một loại đề tài, một mảng hiện thực trong văn xuôi của chúngta

Trang 30

Trong Đời thừa, nhà văn Hộ sống nghèo, cực khổ nhưng lại rất giàulòng yêu văn "Tôi mê văn quá nên mới khổ Nhưng thử có người giàu bạcvạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi" Nhân vật Hộtâm sự như vậy Anh ta mang một hoài bão lớn, những muốn "khơi nhữngnguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có", những hằng khaokhát viết được "một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờcõi và giới hạn, một tác phẩm chung cho cả loài người" Anh ta lại có mộttấm lòng đẹp, biết cưu mang người cùng quẫn Nhà văn ấy có tương lai, triểnvọng lắm chứ - nếu anh ta sống trong một xã hội tốt đẹp Nhưng sự thựcnghiệt ngã của cuộc đời đã trói cánh sáng tạo và cắt cánh ước mơ Hộ phảiviết vội vàng, cẩu thả, viết "toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tìnhcảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong mộtthứ văn chương bằng phẳng và quá ư dễ dãi để kiếm tiền nuôi vợ dại và đàncon nhếch nhác, yếu đau Lương tâm nghề nghiệp, lương tâm người nghệ sĩchân chính và trách nhiệm công dân của người chồng, người cha cứ dằn vặt,giằng xé tâm tư Hộ Đã thế, anh ta càng quằn quại thêm sau những giờ phútbốc máu văn chương lên, ném hết chút tiền còm nhuận bút vào bia, rượu Cứthế con người đáng thương ấy luẩn quẩn, mắc vướng trong cái vòng luân hồitội nghiệp của cõi nhân sinh bé mọn Thành ra - cũng giống khá nhiều nhânvật của Nam Cao - nhà văn Hộ phần nào biến dạng và biến chất Vâng, tôinhắc lại, Hộ đã thay đổi cả ngoại hình lẫn tính cách Ngay đầu truyện, quaánh nhìn của người vợ, Hộ hiện ra với vẻ khắc khổ đến thành dữ tợn "Đôimắt sáng quắc" lại "có vẻ lồi ra" "Cái trán rộng" lại "hơi nhăn" Cái mặt thì hốchác , trông dễ sợ Thương người, yêu vợ, quý con thế mà Hộ trở nên mộtngười chồng cộc cằn, vũ phu; một ông bố ích kỉ đến mức chính anh tự thấy

"Ta đã hỏng đứt rồi", đã phải tự sỉ vả mình là "một thằng khốn nạn" Để rồi lại

tự dìm mình trong nước mắt của nỗi ân hận đắng cay, tự thấy mình là "mộtngười thừa”!

Con người thừa này, cuộc đời thừa này không phải là hiếm trong cáccon phố tối tăm, các xóm làng héo hắt của nước ta trước năm 1945

Trang 31

Khải, nhà văn trẻ tuổi trong Mực mài nước mắt cũng lâm vào căn bệnhnghèo! Lan Khai viết: "Đời sống của Khải thành ra một chuỗi dài hoảng hốt và

lo sợ vì "nợ cũ chồng chất thêm nợ mới" Khải cũng mang một gánh nặng giađình gồm bốn đứa trẻ, một người đàn bà không nghề, không vốn Anh ta lạicòn đeo thêm cái bệnh suyễn dai dẳng hơn mười năm trời Khải cũng mê vănchương như người ta mê gái, tên anh cũng đã được nhiều người nhắc tới.Giống như Hộ, "anh đã quyết định sẽ không bao giờ lấy ngòi bút làm cái vậtmưu sinh" Muốn có tiền, Khải đã phải làm nhiều nghề phụ Nhưng rồi anhcũng phải "đánh đĩ ngòi bút" - chữ Lan Khai dùng Vì thế, cả cuộc đời nhà văn

ba nhăm tuổi ấy "ngửa nghiêng và lỡ dở một cách vô cùng tuyệt vọng" VàKhải cũng uống rượu, lại còn hút thuốc phiện nữa Rồi Khải đưa cả gia đìnhnheo nhếch của anh về sinh sống tận vùng quê cũ ở Tuyên Quang Cơ mayrun rủi, vợ chồng anh có được một "cái dinh cơ lí tưởng" để trồng hoa màu vànuôi súc Vật Ở đây Khải bộc bạch, phát triển cái lí thuyết thay đổi cách sốngcho mình, cho người chung quanh Ý hướng của anh càng được tô đậm hơnkhi tác giả Mực mài nước mắt dùng cả chương truyện cuối cùng ghi lại bứcthư dài của một người bạn văn trả lời thư Khải, nhấn mạnh những ý tưởngtích cực và xác định "Ta phải tạo ra tương lai !"

Tất cả nội dung trên, Lan Khai trình bày trong 90 trang sách in khổ 13 x19cm

Nghệ sĩ Hoàng vừa làm thơ, vừa viết tiểu thuyết cũng "cùng một lứabên trời lận đận như Hộ, như Khải Con người ấy hiện ra khá rõ khí chất nghệ

sĩ trong truyện ngắn Nghệ sĩ của Băng Hồ - một nhà văn Hà Nội Hoàng "đãlàm bao độc giả phải mê mệt bên những dòng bay bướm" của anh Nhưngnỗi khổ cực của văn nhân gần như là một nghiệp đĩ, đó là nói theo cách nóiLan Khai đã viết Hoàng đích thị là một anh chàng "kiết xác, kiết xơ và thấttha, thất thểu" Anh sống buông thả, đồng thời miệt mài bên cán bút, lọ mựcđến nỗi quên cả một lời hoan hỉ khi đứa con của anh ra đời! Gánh gia đìnhcủa Hoàng không đến nỗi oằn vai như hai đồng nghiệp Hộ và Khải, nhưng vợanh luôn muốn chồng bớt đi một chút "nghệ sĩ" để "nhớ phần nào đến trách

Trang 32

nhiệm của người đàn ông với một mái nhà, với vợ, với con" Tác giả Băng Hồ

đã hai lần dùng một chữ rất chính xác để nói về những nghệ sĩ như Hoàng:

"bốc đồng mà vợ anh cho đó là căn bệnh "điên điên" của những người cầmbút (!) Chỉ cần gặp một vài bạn văn chương, bao nhiêu tiền có trong túi sẽ

"tan ngay trong cơn điên dại của họ" Giống và còn tệ hơn văn sĩ Hộ, anhchàng Hoàng này từng đã qua đêm và cạn túi vài ba gã nghệ sĩ trong khi ởnhà con anh lên cơn sài, vợ anh ngóng suốt đêm, chờ anh lãnh lương ở tòabáo đem về để mua thuốc cho con Hoàng chưa phải trải qua cái day dứt vìviết cẩu thả, bôi bác để cứu đói, cứu bệnh cho vợ con, nhưng anh cũng có cáitâm sự, cách ứng xử như là đồng nghiệp Hộ trong Đời thừa Chàng ta thathiết nói với vợ: "Riêng bọn nghệ sĩ các anh chỉ thèm những phút gặp nhaumấy kẻ, dốc cạn chén rượu đầy trong những quán vắng chiều mưa mà nóivung lên cho hả một cái gì ấm ức" Vì thế Hoàng nhiều lần ném trọn tiềnnhuận bút, tiền lương vào "chén rượu đầy" Và giải pháp tình thế của chàngnghệ sĩ đó là đi vay cào cấu ở đâu đó rồi về nhà đóng chặt cửa để viết trảnợ

Trở lên trên, tôi đã tóm tắt truyện và bước đầu đối chiếu sơ lược ba vănphẩm có chung giao điểm về đời sống của văn nghệ sĩ trong cuộc đời cũ Sựthực hiển nhiên là ít nhiều họ đều lâm vào trạng huống bi kịch Theo sự diễn

tả của cả ba tác giả và sự tiếp nhận rộng ra của độc giả thì nhân của cái "quả

bi đát" đó là do tội của xã hội, đồng thời cũng do lỗi của chính bản thân ngườinghệ sĩ Đó là nhìn chung, còn cảm nhận riêng thì tuy cùng một đề tài và vớinội dung tương hợp, thiên truyện Đời thừa có nhiều điểm đặc sắc hơn NamCao dùng số câu, số chữ ít hơn (trong ba truyện, Đời thừa là ngắn nhất) màlại khắc sâu hơn tấn bi kịch, phân tích sắc hơn diễn biến tâm trạng của nhânvật chính Ở Khải (Mực mài nước mắt) và Hoàng (Nghệ sĩ) chưa thể hiện thật

rõ, thật sầu nỗi xé ruột, xé lòng khi phải hạ thấp ngòi bút, phải đem ngòi bútkiếm tiền Khải và Hoàng cũng thiếu nỗi ân hận xót xa khi làm khổ vợ khổ con

vì những cơn bốc đồng nghệ sĩ Khải muốn "tạo ra tương lai", nhưng đó mớichỉ là ý nghĩ, lời nói, là thuyết lí và thuyết lí hơi nhiều Còn Hoàng thì vô tưnhư không khi phá đến đồng bạc cuối cùng trong túi Kết thúc truyện, chàng

Trang 33

ta thản nhiên nói với bạn: " Tao sẽ đi vay chỗ khác Tao vay thì chỗ nàocũng dễ Vợ tao hiền và tốt lắm, biết quý bạn chồng không nói gì đâu ", dùrằng vợ anh và cả vợ Khải không hiền bằng vợ của Hộ Văn sĩ Hộ quằn quại,

ăn năn đau đớn nhiều hơn nên được cảm thông hơn và cũng tiềm ẩn sự tìmđến một đời sống có ý nghĩa hơn

Cho nên, theo ý riêng của người viết bài này, cứ theo cách tái tạo, triểnkhai của mạch truyện thì nhân vật Hộ dễ có khả năng thay đổi hơn, một khingọn gió Cách mạng thổi tới Và cũng vì vậy, chất nhân bản, nhân đạo củaĐời thừa cũng đằm hơn, dễ "làm cho người gần người hơn"

Nghĩ rộng thêm, các nhân vật Hộ, Khải, Hoàng phải chăng ít nhiều cũng

là hóa thân mang bóng dáng của những Nam Cao, Lan Khai, Vũ TrọngPhụng, Nguyễn Vỹ, Thạch Lam, Băng Hồ Họ sinh ra trong bóng tối nô lệ,sống nghèo cực mòn mỏi, nhưng họ không mất đi trong con mắt và cõi lòngcủa lớp người sau Xét ở một vài khía cạnh nào đó họ cũng treo một tấmgương soi cho những ai đã, đang là sẽ cầm bút làm người nghệ sĩ

CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG SỰ SÁNG TẠO KHÔNG CÙNG

Đi sâu vào thi pháp sáng tác văn học - đặc biệt là của truyện, ngoài việcchiếm lĩnh không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, con người nghệthuật còn cần lưu ý nắm bắt các chi tiết nghệ thuật quan trọng Các tácphẩm văn chương sống động, chân thật và có hồn cũng một phần nhờ ở sựsáng tạo chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa tư tưởng, thấm đẫm giá trị thẩm mỹcao Ở Truyện Kiều, trong buổi chiều du xuân của chị em nàng Kiều, hầu nhưcùng một khoảng không gian, thời gian xác định, thế mà "ngọn cỏ hiện ra vớisắc độ khác nhau Bên mộ người con gái bạc mệnh Đạm Tiên thì ngọn cỏ

"dàu dàu nữa vàng nửa xanh" và cả "một vùng cỏ áy bóng tà" Nghĩa là cỏhéo úa đượm nỗi buồn đau Thế nhưng một lúc sau, vẫn ở nơi ấy, khi chàngvăn nhân Kim Trọng "lưng túi gió trăng" xuất hiện, bỗng nhiên ngọn cỏ xanhtươi lạ thường: "Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời Tươi tắn biết bao nhiêu

Trang 34

cả một khoảng không gian cao rộng chan chứa hòa sắc xanh dịu mắt Dướingòi bút thiên tài của Nguyễn Du, chi tiết nhỏ nhoi cũng biến ảo và in rõ tâmtrạng con người Phong cảnh chiều xuân thanh minh đồng thời là tâm cảnhtrong sự lặng im của cỏ cây, sự lặng im đầy âm vang nghệ thuật và "sâu sắcnhư vĩnh hằng”.

Chi tiết "bát cháo hành ở phần gần cuối truyện ngắn Chí Phèo của NamCao cũng là một chi tiết rất đắt, rất hay mặc dù nó dễ lọt thỏm giữa nhữngtình tiết đầy lôi cuốn những sự việc nổi bật khác Ta hãy đi sâu vào nhữngdòng văn bản biểu hiện bát cháo hành Sau bao nhiêu chai rượu, bát rượu,sau những cơn say vô tận, "con quỉ dữ" Chí Phèo bỗng dưng gặp Thị Nởcùng bát cháo hành của người đàn bà xấu người tốt bụng đó Nhà văn đãdụng công hết mức, có thể nói như vậy để xây dựng chi tiết nghệ thuật sánggiá này Không vội để Chí Phèo vừa qua một trận ói mửa ghê gớm làm dămbảy hơi hết chỗ bát cháo hành, như thế thì thường quá, không bộc lộ đầy đủ,sắc nét tâm trạng của nhân vật, Nam Cao dùng tiết tấu chậm cho màn kịchđặc biệt có tên là Cháo hành Trước tiên Chí Phèo đón nhận bát cháo bằngmắt đã: "hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng" Nhìn đồng thời cảm,hắn thấy Thị Nở "thế mà có duyên" và "hắn vừa vui vừa buồn" Qua làn khóicháo hành thơm ấm tình người, kẻ từng côn đồ hóa nảy nở những cảm xúcmới mẻ Tiếp theo, Chí Phèo vẫn chưa ăn mà ngửi: "Hắn cầm bát cháo đưalên mồm Trời ơi cháo mùi thơm làm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làmngười nhẹ nhõm" Rồi con người khốn khổ chưa từng nếm vị cháo hành trongđời mới bắt đầu "húp một húp" Một húp cháo làm nảy nở biết bao trăn trở,suy nghĩ! Hàng loạt câu hỏi, câu cảm phát sinh trong tâm trí Chí Anh ta hỏi rồi

tự trả lời, rồi nhớ lại những ngày nhục nhã, rồi lo lắng và bừng lên cơn thèmkhát lạ lùng, tốt đẹp: "thèm lương thiện" Cháo càng "ngấm" – chữ của NamCao - Chí càng thấy người nhẹ nhõm, vui vẻ Anh, lần đầu tiên trong cuộc đờicùng khốn và dữ dội, cất tiếng cười, tiếng cười vang và hiền Như vậy đấy,quá trình tiếp nhận bát cháo hành - mà tôi có cảm tưởng gần như là một cuộchành lễ trang trọng, thiêng liêng - chính là quá trình Chí Phèo phát lộ tâm tưsâu kín, phục hiện quá khứ đắng cay và phục hồi tính người trong một hiện tại

Trang 35

chông chênh Nam Cao thật giỏi phơi bày và phân tích, khắc họa gọn mà rõdiễn biến tâm lí tính cách nhân vật qua một chi tiết nhỏ tưởng chừng bìnhthường, đơn giản Đến đây dường như ai cũng nghĩ chi tiết bát cháo hành đãhoàn tất xuất sắc nhiệm vụ của nó Nhưng không Khoảng hơn một trang saucủa truyện, bát cháo hành tuy không trở lại nhưng vẫn có mặt Cây bút hiệnthực tài năng Nam Cao đẩy chi tiết nghệ thuật lên đến điểm tận cùng của sựsáng tạo Khi Thị Nở nghe lời bà cô già cay độc, chạy đến nhà người đàn ôngmình đã từng thương yêu, săn sóc để tuyệt tình một cách nặng nề, đứt khoátthì "thoáng một cái", Chí "lại như hít thấy hơi cháo hành" Hơn thế nữa, uất ứcquá, Chí Phèo lôi rượu ra uống Khủng khiếp thay, uống đến chai thứ hai mà

"hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành" Hơicháo hành của thời gian trước đã át đi hơi rượu hiện tại của con người vừachợt tỉnh Làm sao quên được hương vị cháo hành làm anh ta "trở lại người",làm sao người được nếu phải sống như trước và thiếu vắng tình người! Thậtđáng kính cẩn nghiêng mình trước bát cháo hành trong trang văn Nam Cao

Viết đến đây tôi những muốn dừng bút nhưng lại thấy tiêng tiếc nếukhông nói đến chi tiết truyện của tay bút lão luyện Tô Hoài Truyện ngắn Vợchồng A Phủ diễn tả rất điển hình tâm trạng và số phận nhân vật Mỵ, điều này

ai cũng rõ Nhưng cần lắng thật sâu vào tiếng sáo vút lên nỗi niềm cô gái Mèonày trong đoạn văn dài kể về "những đêm tình mùa xuân đã tới" Tiếng sáo làngôn ngữ giao tiếp đặc biệt, là lời nói bằng âm thanh nghệ thuật trong đờisống giữa núi rừng của người Mèo, điều này nhà văn Tô Hoài - người đã từngsống ở vùng núi cao Tây Bắc nắm rất vững Vì thế ông công phu sáng tạo chitiết "tiếng sáo", tiếng sáo đến với cô Mỵ đang bị cấm giữ trong căn buồng tốităm đến ngột ngạt Tiếng sáo trở đi trở lại nhiều lần như những lời nhắc nhở,

rủ rê, thúc gọi đầy ám ảnh Trước hết tiếng sáo vọng lại từ xa, từ ngoài đầunúi: "Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi" Vì từ ngoàiđầu núi nên tiếng sáo mới chỉ "lấp ló" Sau đó tiếng sáo vắng lên gần hơn, ởđầu làng: "Tai Mỵ văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng" Rồi tiếng sáo đếngần thêm: "Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường" Lúc nàytiếng sáo không chỉ "gọi bạn" mà "gọi bạn yêu"; nó cũng không còn "lấp ló"

Trang 36

mà trở nên "lửng lơ", nghĩa là có đường nét hơn và gợi cảm hơn Cuối cùngtiếng sáo ở ngay trong đầu cô gái đáng thương đang khát khao tự do và tìnhyêu: "Trong đầu Mỵ đang rập rờn tiếng sáo" Nhà văn khéo mô tả tiếng sáovừa vô hình lại vừa hữu hình, vì thế mà nó hết "lấp ló" lại "lửng lơ", "rập rờn".Bây giờ tiếng sáo bên ngoài cộng hưởng với tiếng sáo trong đầu tạo nên một

vũ điệu, một nhạc điệu tình cảm Hơn thế nữa khi tiếng sáo văng vẳng đầulàng thì nhà văn để Mỵ nhớ lại "ngày trước, Mỵ thổi sáo giỏi Có bao nhiêungười mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mỵ" Vậy là còn có sự cộng hưởngrung vang bao cảm xúc giữa tiếng sáo của phút giây hiện tại và tiếng sáo củanhững ngày xuân trước, giữa tiếng sáo của bạn và tiếng sáo của Mỵ Diễn tảnhư thế thật hết sức chính xác và tinh tế, một lối văn "đa thanh" tuyệt diệu.Cho đến khi Mỵ bị A Sử trói đứng lại trong buồng thì tuy vẫn nghe tiếng sáođưa Mỵ đi theo những cuộc chơi, những đám chơi" Sợi dây mây tàn ác củatên A Sử bạo chúa có thể trói buộc thân xác Mỵ, nhưng không trói buộc đượctâm hồn cô, một khi tiếng sáo tha thiết đã vang lên trong lòng Chỉ có tiếngsáo cũng đủ ngân lên "bản giao hưởng tâm tình" của nhân vật

Sự sáng tạo khôn cùng đã đem lại những giá trị lớn cho các chi tiếtnhỏ Quả là có lý khi người ta kết luận: chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG CÒN NHIỀU THI VỊ

Thi sĩ Hoàng Cầm viết Bên kia sông Đuống trong những giây phút xuấtthần Bài thơ được làm ra nửa đêm dưới ngọn đèn dầu sở năm 1948 sẽ cònsống mãi, chảy mãi trong mọi thứ ánh sáng của hôm nay và mai sau Các nhànghiên cứu, các nhà giáo đã khai thác sâu nhiều khía cạnh thú vị của Bên kiasông Đuống nhưng bản thân thi phẩm gồm 134 dòng thơ tự do này còn chấtchứa những thi vị không ngờ

Phái chăng, với Bên kia sông Đuống, lần đầu tiên Hoàng Cầm đã tạo ra

mô típ thơ "anh đưa em về bên sông":

“Em ơi buồn làm chi

Trang 37

Anh đưa em về sông Đuống

“Anh cùng em sang bên kia cầu

Nơi có những miền quê êm ả.”

"Sang bên kia cầu là từ bờ này qua bờ kia, từ bên này sang bên kia đểđến, để trở về những miền quê êm ả", trong đó có miền quê riêng của mình

Rồi Xuân Hoài cũng viết: "Anh đưa em về thăm lại sông quê" (Trướcsông quê) Có thể các thi sĩ đã và còn viết theo mô típ anh đưa em về ",nhưng vinh dự sáng tạo mở đường chắc hẳn thuộc về Hoàng Cầm

Bên kia sông Đuống còn sớm nêu một đặc điểm thi vị là con sông gắnliền với quê hương bị ngăn cách, với cuộc đời của mỗi nhà thơ, mỗi conngười Việt Nam chiến đấu Năm 1948 sông Đuống vùng Kinh Bắc chảy trànlòng Hoàng Cầm, chảy tràn Bên kia sông Đuống Gần mười năm sau, năm

1956, nhà thơ Tế Hanh "Nhớ con sông quê hương" lai láng hồn mình:

"Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre".

Trang 38

và rồi thầm gọi: "Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông" , thầm nguyệnước: "Tôi sẽ về sông nước của quê hương" Năm 1958, Nguyễn Đình Thi ca

"Bài thơ Hắc Hải" cũng không quên nhắc tới những con sông: "Nước bângkhuâng những chuyến đò - Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi" Hơnmười lăm năm sau nữa, năm 1964, Ca Lê Hiến - người con Bến Tre xa quê -thổn thức tự nhủ: "Anh là con sông chảy trước nhà em - Em có nghe tiếngsóng vỗ ngày đêm" Còn nhiều lắm Tố Hữu gắn với: "Hương giang dòngsông êm", Hoài Vũ gắn với con sông Vàm Cỏ Đông "nước xanh biêng biếcchẳng thay dòng" những con sông phản chiếu hình bóng quê hương trongkhói lửa, những con sông mang hồn quê, những con sông đọng lắng nỗiniềm, tâm tưởng thi nhân

Hiển nhiên con sông Đuống là mạch nguồn quan trọng tạo nên thanhsắc cho quê hương Hoàng Cầm, cho bài thơ Bên kia sông Đuống Kinh Bắc

là quê hương quan họ, cũng là quê hương tranh gà lợn Khi mới tiếp nhận thiphẩm vào loại hay nhất trong thơ ca kháng chiến này, tôi không khỏi thắcthỏm là Bên kia sông Đuống đầy màu sắc, gợi tả rất đạt rất sống về tranhnghệ thuật dân gian nhưng hình như nó chưa ngân lên giai điệu, âm hưởngcủa những khúc dân ca trữ tình nổi tiếng Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong mộtbài viết năm 1988 cũng đã nhìn nhận một cách tinh tường: "Trong thơ ca ta,

kể từ xưa đến nay, chưa có bài thơ nào viết về quê hương quan họ mà màusắc văn hoa, văn hóa đông kết một cách xuất sắc như bài thơ này của HoàngCầm Dường như dòng nào cũng có màu Đến mức ta sờ tay lên trang thơ

mà ngón tay e cũng vương màu quý của phẩm thợ nhuộm " và "Sông Đuốngtrôi trong bài thơ của Hoàng Cầm như một dòng sông ngũ sắc, chảy chìm màkhỏe mà bền " Hết sức đúng Từ đầu bài thơ, sông Đuống hiện ra với "cáttrắng phẳng lì", "xanh xanh bãi mía bờ dâu - Ngô khoai biêng biếc Đến giữabài thơ, con người của Kinh Bắc của sông Đuống như đi ra từ những bứctranh làng Hồ đậm đà màu sắc: "Những nàng môi cắn chỉ quết trầu - Những

cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu ", "Những cô hàngxén răng đen - Cười như mùa thu tỏa nắng" Và cuối cùng "Em mặc yếmthắm - Em thắt lụa hồng - Em đi trẩy hội non sông - Cười mê ánh sáng muôn

Trang 39

lòng xuân xanh" Đúng là "màu dân tộc sáng bừng từng dòng thơ Nhưng cònthanh điệu dân tộc sao chưa nghe vang lên? Nhà thơ Phạm Tiến Duật bướcđầu có cảm nhận: "Mấy tiếng Bên kia sông Đuống nếu bị cắt đi, sửa đi, đổi đithì mất đến nửa bài thơ, bởi đấy là âm hình chủ đạo của cả bản sô-nát thơdào dạt tình đời (Tội nhấn mạnh - TĐM) này Nó cũng gợi một tình thế dân

ca sẽ là dòng nhạc chính trong cả phức điệu trôi xuôi (sic) và chỉ rõ "cả bàiBên kia sông Đuống là thơ tự do; câu chữ loi thoi, dòng dài dòng vắn, thế mànghe kĩ, lắng kĩ thì dòng chảy chính lại là thơ lục ngôn" Từ gợi ý đó, tôi đọc

kĩ, lắng kĩ thì toàn bài Bên kia sông Đuống có đến hai mươi bảy dòng lụcngôn Mà lục ngôn lại là vế đầu của hai dòng lục bát cổ truyền của ca dao,dân ca Và chắc không phải là vô tình, ngẫu nhiên, khi chen vào, nối tiếpnhững câu bốn chữ, bảy chữ, dòng thơ lại đổ về những cặp lục bát êm mượt,dịu lắng Tất cả có đến chín cặp sáu - tám, đặc biệt có đoạn thơ rầu rầu lặnglặng, năm cặp sáu - tám rất dân tộc, rất ca dao tiếp liền nhau và thường chốtlại các đoạn thơ Kết thúc bài thơ cũng là hai dòng lục bát Cũng không phảingẫu nhiên, bên cạnh tiếng súng (tiếng súng dồn tựa sấm), nhà thơ lại nhắcđến tiếng chuông chùa (Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu), tiếng hát(Gió đưa tiếng hát về gần), tiếng ru (Tiếng bà ru cháu xế trưa) Những âmthanh quen thuộc đến nao lòng ấy ngân lên nét nhạc của làn điệu dân canghìn đời, vọng lên chất trữ tình của lời hát câu hò bên bờ tre, trên sông nướcxao xuyến lung linh Lắng nghe kĩ mà xem, âm điệu chung của toàn bài thơ là

âm điệu của những khúc ca dân dã khi xót xa ngậm ngùi trầm lắng, khi hờnhận mạnh mẽ đang trào

Vậy đó Bên kia sông Đuống không chỉ hắt lên sắc màu dân họa mà cònlan tỏa thanh điệu dân ca Đó là bức tranh, là khúc nhạc đậm tình quê hương,đất nước Cảm giác hội họa dân gian lồng vào cảm giác âm nhạc đồng quê

Và chính động - mạch - thơ - sông – Đuống góp phần tạo nên điều thi vị hiếmthấy ấy Người con của xứ Kinh Bắc cồn cào nhớ con sông Đuống quê nhà.Con sông Đuống cũng hết lòng thương nhớ, hàm ơn người thơ đã làm cho nótrở nên vinh danh, bất tử Nhà thơ Phùng Quán rất có lí khi "viết tặng thi sĩHoàng Cầm trong giây phút anh ngã lòng suy sụp" đã hình dung ra:

Trang 40

"Ngày mai anh nhắm mắt

Đi sau linh cữu anh

Ngoài bạn hữu gia đình

Có cả con sông Đuống

sông Đuống mặc đại tang

Khóc bên bồi bên lở

Sóng vỗ bờ nức nỡ

Ngàn đời chịu tang anh "

BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG CÂU CHUYỆN NHẶT VỢ

Điều đáng chú ý ở "Vợ nhặt" là ngay từ đầu tác phẩm, nhà văn Kim Lân

đã tạo một không khí cần thiết cho câu chuyện Truyện, đặc biệt truyện ngắn cũng như con người, không thể thiếu không khí, hiểu cả nghĩa đen lẫn nghĩabóng, để sinh tồn, phát triển Dòng thứ nhất truyện (vợ nhặt đã tái hiện nhậpnhoạng buổi chiều chạng vạng mặt người Nhân vật Tràng xuất hiện, đi trongbóng chiều nhá nhem", mắt "đắm vào bóng chiều" Người đọc chợt nhớ đếnkhông khí thiếu sáng, ngưng đọng, thấm buồn trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ.Thạch Lam cũng khởi đầu bằng "buổi chiều, rồi nhấn lại: "Chiều, chiều rồi và

-để cho đôi mắt nhân vật "bóng tối ngập đầy dần" Dường như bóng tối củacuộc đời đùn ra, ập lấy con người Truyện "Vợ nhặt thật tối tăm, nặng nề, thêlương Không khí "tối sầm lại vì đói khát" tất cả đều tối om", không nhà nào cóánh đèn, lửa Chuyển theo bước chân nhân vật kéo xe thóc thuê trở về,không gian ngày càng tối hơn: từ "chạng vạng, nhá nhem" đến "tối sầm "tốiom" Những con người nhợt đi, mất dần nhân ảnh: họ xanh xám, dật dờ nhưnhững bóng ma" Chữ "bóng ma trở đi trở lại hai lần như một ám ảnh thêthảm, âm thanh cũng rợn lên, kinh hãi: tiếng quạ gào thê thiết, tiếng hờ khóc tỉ

tê chen tiếng trống thúc thuế Thêm mùi đốt đống rấm khét lẹt từ nhà cóngười chết tỏa ra Không khí tang tóc! Tuồng như đang diễn ra đám tang

Ngày đăng: 08/03/2017, 06:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w