1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÁC CẤU TRÚC XÃ HỘI HỌC

303 788 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 303
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Rousseau, đối tượng của môn khoa học xã hội trở thành sự nghiên cứu những thể thức hiện tồn hay lý tưởng của khế ước ấy và tất thảy những sự tủa rễ và những sự phát triển mà khế

Trang 1

TỦ SÁCH VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

1 Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật là cơ quan nghiên cứu, lý luận và thông tin của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ngoài việc mỗi tháng ra một kỳ tạp chí, chúng tôi còn chủ trương xuất bản tủ sách Văn hóa nghệ thuật Tủ sách này in những công trình nghiên cứu và dịch thuật của các tác giả trong và ngoài nước nhằm cung cấp tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà giáo, các nhà quản lý và hoạch định chính sách cũng như đông đảo bạn đọc yêu văn hóa nghệ thuật

2 Tủ sách Văn lóa nghệ thuật gồm có các bộ sách như sau:

- Bộ sách Văn hóa học (trước đây gọi là “tủ sách văn hóa học") nhằm dịch và giới thiệu các tác phẩm nghiên cứu văn hóa đã trở thành kinh điển của thế giới như Văn hóa nguyên thủy (2000) của E.B Tylor, Hình thái học truyện cổ tích, Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ (2003) của V.I Propp, Cành vàng (2007) của J.Frazer, Không gian văn hóa nguyên thủy nhìn theo lý thuyết chức năng (2008) của R.Lowie

- Bộ sách Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu văn hóa biên soạn, giới thiệu và trích dịch những trường phái nghiên cứu văn hóa trên thế giới như Sự đỏng đảnh của phương pháp (2004), Theo vết chân những người khổng lồ (2006)

- Bộ sách Nghiên cứu văn hóa Việt Nam tổng quát giới thiệu những công trình nghiên cứu văn hóa của các học giả Việt Nam có uy tín như Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người (1997) của giáo sư Từ Chi, Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm (2000) của giáo sư Trần Quốc Vượng

Trang 2

- Bộ sách Nghiên cứu văn hóa các vùng miền tập hợp các bài viết về văn hóa theo từng vùng, chủ yếu là các bài đã công bố trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, của nhiều tác giả khác nhau, như Văn hóa nghệ thuật Nam Bộ (1997), Văn hóa nghệ thuật Trung Bộ (1998), Văn hóa nghệ thuật Tây Bắc (2002)

- Bộ sách Nghiên cứu văn hóa theo chuyên đề tổ chức, tập hợp các bài viết về văn hóa, nghệ thuật chủ yếu các bài đã đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, của các tác giả khác nhau theo các chuyên đề như điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, hoặc về văn hóa gia đình, về nhà rông - nhà rông văn hóa , như Hành trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam (2007), Trước hết là giá trị con người (nghiên cứu mỹ thuật - 2008)

3 Với năm bộ sách như vậy, Tủ sách Văn hóa nghệ thuật hy vọng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam vừa bảo

vệ được những đặc sắc của văn hóa dân tộc, vừa có khả năng hội nhập vào thế giới hiện đại Làm sao càng hiện đại hóa thì bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam càng được mài chuốt và tỏa sáng? Với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, để thực hiện được cái biện chứng nói trên, cần sự đóng góp trái tim và khối óc của nhiều nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc Trong công việc khó khăn này, Tủ sách Văn hóa nghệ thuật chỉ là một nhịp cầu, một địa chỉ cho hội quần anh

4 Tiếp theo cuốn Khảo về quà tặng (Nxb Thế giới và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2009) của Marcel Mauss, tác phẩm tiền thân của chủ nghĩa cấu trúc trong xã hội học, lần này, Tủ sách Văn hóa nghệ thuật giới thiệu một tác phẩm khác nằm trong xu hướng xã hội học cấu trúc Đó là Các cấu trúc xã hội học của nhà xã hội học Pháp Gaston Bouthoul Coi xã hội học như là một cấu trúc, nên phương pháp tiếp cận của Bouthoul là đồng đại Vì thế, trước hết, ông phải xác định lại một loạt những dữ kiện đã biết theo đường hướng cấu trúc luận, như đối tượng, phương pháp, sự kiện xã hội học, quy luật xã hội học Sau đó tác giả mới đi sâu vào nghiên cứu các cấu trúc con trong lòng

xã hội như cấu trúc nhóm xã hội, cấu trúc tộc người, cấu trúc thời gian, cấu

Trang 3

trúc tinh thần, các cấu trúc đẳng thứ Nhưng, có lẽ, đặc sắc nhất của cuốn sách là Bouthoul đưa ra khái niệm thăng bằng xã hội Chính sự thăng bằng này đảm bảo cho xã hội như là một cấu trúc được ổn định Còn sự phá vỡ thăng bằng sẽ làm cho cấu trúc sụp đổ, lúc ấy xã hội hoặc rơi vào hỗn độn, hoặc sẽ phải đi tìm một sự ổn định mới, tức một cấu trúc mới Đó là sự vận động xã hội theo chiều lịch đại.

5 Các cấu trúc xã hội học là một tác phẩm khó dịch Bởi vậy, trong quá trình chuyển ngữ, chắc khó tránh khỏi những sai sót Tủ sách Văn hóa nghệ thuật rất mong nhận được những lời góp ý, chỉ bảo tận tình của bạn đọc gần

xa Xin trân trọng cảm ơn

Tháng 10-2011TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

LỜI GIỚI THIỆU

ĐỖ LAI THÚYNhững thành tựu rực rỡ của khoa học tự nhiên thế kỷ XVIII đã hình thành triết học thực chứng của August Comte Nhà triết học này coi sự phát triển của tư tưởng loài người đến nay đã trải qua ba giai đoạn/trạng thái: thần học (ma thuật và tôn giáo), triết học và giờ đây là khoa học Như vậy, khoa học là ga cuối của hành trình tư tưởng nhân loại Từ lối tư duy triết học này

đã nảy sinh ra ý tưởng áp dụng những phương pháp của khoa học tự nhiên vào nghiên cứu xã hội Thế là xã hội học ra đời Như vậy, A.Comte là người sáng lập ra vừa chủ nghĩa thực chứng vừa xã hội học, một thứ ông tổ kép, hay, nói theo ngôn ngữ bây giờ, là hai trong một

Không phải do A.Comte là người Pháp mà xã hội học rất phát triển ở Pháp Đó là do văn hóa và xã hội ở mỗi nước hình thành nên những kiểu và phạm vi quan tâm khác nhau: xã hội học Pháp, kinh tế học Anh và triết học Đức Ở trong lời giới thiệu này, tôi chỉ xin nói mấy lời về một nhánh mỏng, nhưng quan trọng, của xã hội học Pháp là xã hội học cấu trúc Xã hội học

Trang 4

này, có lẽ, bắt đầu với tác phẩm Khảo về quà tặng (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2010) của M.Mauss với khái niệm "sự kiện xã hội tổng thể" đã manh nha lý thuyết cấu trúc xã hội Lý thuyết này cũng còn được phát triển bởi A.Durkheim (1858-1917) trong tác phẩm Những hình thái sơ khai của tôn giáo, L.Lévy Bruhl (1857-1939) trong Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy (Nxb Thế giới và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2008) Rồi được Lévi Strauss (1908- 2008) phát triển thành chủ nghĩa cấu trúc trong xã hội học và dân tộc học.

Các cấu trúc xã hội học của Gaston Bouthoul, giáo sư Trường Cao đẳng Xã hội, Phó chủ tịch Viện Quốc tế Xã hội học, là một chuyên luận theo hướng xã hội học cấu trúc Bởi thế, ở đây, tác giả tiếp cận xã hội theo trục đồng đại: xã hội như một lát cắt đồng đại, một cấu trúc Một cách nhìn mới bao giờ cũng mang lại cho các dữ kiện cũ, quen thuộc, một ý nghĩa mới Bởi thế, G.Bouthoul phải dành cả phần một của cuốn sách để xác định lại, hoặc giới thuyết, những phạm trù xã hội học cơ bản, như đối tượng, phương pháp,

sự kiện xã hội học, quy luật xã hội học

Sau đó, tác giả nghiên cứu các cấu trúc con trong lòng xã hội như cấu trúc nhóm xã hội, cấu trúc tộc người, cấu trúc thời gian, cấu trúc tinh thần, cấu trúc đẳng thứ Tuy theo cái nhìn đồng đại, nhưng tác giả không tuyệt đối hóa nó Vì thế, khi miêu tả cấu trúc của từng cấu trúc kể trên, khi cần phải giải thích, diễn giải, tác giả vẫn đưa vào một cái nhìn lịch đại, tức cấu trúc ấy đã từng diễn ra trong thời gian như thế nào Tuy nhiên, nghiên cứu các cấu trúc

xã hội, hoặc xã hội như một cấu trúc, điều quan trọng là trả lời được câu hỏi cái gì làm cho cấu trúc ấy bền vững, có tính ổn đính lâu dài và cái gì làm cho

xã hội có thể chuyển từ mô hình cấu trúc này sang một mô hình cấu trúc khác Theo G.Bouthoul đó chính là thăng bằng xã hội, nếu giữ được thăng bằng, dù là thăng bằng động, thì cấu trúc được bảo toàn, xã hội ổn định Còn nếu thăng bằng bị phá vỡ, thì xã hội rơi vào trạng thái hỗn loạn, entropi âm,

có thể dẫn đến sự thay đổi cấu trúc xã hội

Trang 5

Xã hội học vào Việt Nam đầu tiên, và sau đó là duy nhất trong một giai đoạn dài, là xã hội học mác xít Đầu tiên phải kể đến Đào Duy Anh với bộ sách Quan hải tùng thư, sau đó là Hải Triều với các bài tranh luận "Duy tâm, duy vật", "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị dân/ nhân sinh", Đặng Thai Mai với Văn học khái luận Đặc biệt nhóm Hàn Thuyên với Xã hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp và Tâm lý và tư tưởng của Nguyễn Công Trứ của Nguyễn Bách Khoa Từ sau 1954, các công trình xã hội học của Plékhanov (Nghệ thuật và đời sống xã hội, Bàn về quan niệm nhất nguyên trong lịch sử)

và của Lênin, được dịch và giới thiệu nhiều ở Việt Nam Tuy nhiên có một điều lạ lùng là ngành xã hội học ở Việt Nam (cũng như ở các nước XHCN khác) là không phát triển Ban, sau đó là Viện, xã hội học thuộc diện được thành lập sau cùng ở ủy ban KHXH Việt Nam Chỉ sau đổi mới và mở cửa thì

xã hội học ở Việt Nam mới khởi sắc Các lý thuyết và phương pháp xã hội học khác nhau được du nhập và vận dụng ở Việt Nam, nhất là khi nhiều nhà

xã hội học nước ngoài nghiên cứu các vấn đề của xã hội Việt Nam cần đến

sự hợp tác, hỗ trợ của Viện Xã hội học và của các cán bộ xã hội học Việt Nam Nhờ thế, về phương diện lý thuyết, các tác phẩm kinh điển của xã hội học thế giới cũng được dịch và giới thiệu cho độc giả trong nước Tiêu biểu nhất là tác phẩm Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản (Nxb Tri thức, 2008, 2010) của Max Weber, Sự thống trị của nam giới (Nxb Tri thức, 2010) của P.Bourdieu, Đường về nô lệ (Tri thức, 2008) của Friedrich August von Hayek

Cuối cùng, tôi muốn nhắc đến thành công của một cuốn sách nghiên cứu làng xã (đồng bằng Bắc Bộ) như là một cấu trúc Đó là cuốn Cơ Cấu tổ Chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Từ Chi Nghiên cứu làng xã Việt trước đây thường rơi vào hai xu hướng: một là, lấy quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp để xem xét làng xã cổ truyền (như Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong), nên thường có nhiều gượng ép, suy đoán, chặt chân cho vừa giày; hai là, dùng phương pháp khảo tả của văn hóa dân gian, của người làm dân tộc chí, đi điền dã gặp gì ghi ấy, nên tài liệu có thể nhiều nhưng rối vì không có một định hướng lý thuyết Bởi thế, các công trình

Trang 6

nghiên cứu về làng xã rất nhiều, nhưng một cái nhìn sáng sủa, chân thực về làng xã thì hình như còn chưa có Bằng việc nghiên cứu cấu trúc (được/ bị gọi tránh đi là cơ cấu tổ chức) làng, Từ Chi đã tìm ra được thực chất của một cái làng, đặc biệt là cơ chế hoạt động của nó Cái tạo ra tính làng xã của mỗi người nông dân Việt, rộng ra mỗi người Việt Từ nghiên cứu xã hội Mường, rồi chuyển sang xã hội Việt, làng Việt, Từ Chi chú ý đến cái giáp mà nhiều người tưởng là "mẩu thịt thừa" trong cơ thể làng Rồi khi tìm hiểu chức năng của nó, Từ Chi mới ngớ ra rằng chính cái giáp giữ vai trò làm ổn định cấu trúc làng Việt, cái làm cho làng Việt vận hành mà vẫn ổn định, vận hành trong ổn định, vận hành để ổn định Nếu tham chiếu sang Các cấu trúc xã hội học của Bouthoul, thì cái giáp chính là cái thăng bằng xã hội.

Đ L.T

Phần thứ nhất: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG CỦA XÃ HỘI HỌC

1 Những giả thuyết khởi đầu

Descartes (1) đã tách triết học khỏi thần học Đến lượt mình, August Comte làm cho xã hội học thành một môn học tách khỏi triết học

Nhìn chung, các khoa học được phát triển bằng những nhảy vọt kế tiếp, mỗi bước mới đều có một giả thiết phong phú ở điểm xuất phát của nó Khoa học về các xã hội cũng không thoát khỏi quy tắc chung ấy Đối với mỗi một trong các dạng thái kế tiếp của khoa học về các xã hội đều có những giả thiết tương ứng mà cần phải cầu viện đến các sự kiện và tư duy biện luận để kiểm nghiệm

Nhưng đời sống xã hội mang tính chất phức tạp đặc biệt

Tính khách quan toàn phần ở đây là đặc biệt khó khăn vì người quan sát hay nhà tư tưởng, bản thân mình là thành phần của cái toàn bộ mà mình nghiên cứu Vậy là khoa học này bao hàm những điều kiện riêng biệt Điểm

Trang 7

đặc biệt nhất là chính ngay sự xác định đối tượng của nó rất thường khi giả định trước những quan điểm đã được định đoạt.

Việc nghiên cứu các xã hội đã được tiến hành đặc biệt tích cực trong những thời kỳ có những dao động xã hội Bằng một khía cạnh nào đấy trong công trình của họ, các tên tuổi lớn nhất của triết học xã hội hoặc của xã hội học đã hành động là những người đồng phe, những "người cảm tình", hay ít nhất cũng là những trọng tài Họ đã gợi ra những luận điểm gây nên những đụng độ công khai hoặc ngầm ẩn giữa những đối lập xã hội hay chính trị Họ

đã bênh vực một phe nào đó hoặc họ đã đề xuất một sự hòa giải

Những người tiền đạo và những người sáng lập xã hội học đã bị hấp dẫn bởi những dao động xã hội trọng đại Nói chung, họ là những người đồng thời với những thời kỳ quá độ, trong đó xã hội đã chịu đựng những biến thiên sâu sắc Họ đã sống trong những nỗi bất an của thời kỳ thai nghén, trong những tình thế nhiễu loạn và cực nhọc sầu khổ diễn ra khi chuyển đoạn từ một tình trạng xã hội này sang tình trạng khác Họ đã chứng kiến những thời

kỳ trong đó tính tất nhiên của một số tín ngưỡng hay của một số thể chế tỏ ra thiếu tất nhiên, trong đó tất cả đều đã được đặt lại thành vấn đề để xem xét

Xã hội học là khoa học duy nhất, ngay từ khi nó ra đời, theo đuổi sự nghiên cứu một đối tượng đang trên đường biến đổi hằng xuyên Nó được ra đời từ

sự tranh cãi của các môn học ra đời trước nó Các môn ấy tất cả đều là những lý thuyết lịch sử hoặc tư biện, tức là chúng bình luận, chú giải hoặc trưng dẫn ra những sự kiện đang thay đổi hoặc thất thường Ngay từ những người tiền đạo của mình, xã hội học tìm cách giải thích ý nghĩa sâu xa của tính năng động, của sự biến đổi các kiểu loại xã hội, những giai đoạn khác nhau mà các thể chế người và các hình thái mà có thể xã hội đi qua

Sự khảo nghiệm tính đa dạng của các thể chế người trong thời gian và trong không gian đã, ngay từ bước tiếp cận đầu tiên, có tính chất đề xuất ý kiến về sự không cố kết hay về quy ước của chúng Bởi thế phản ứng triết học đầu tiên ai cũng biết đối với các sự kiện xã hội, phản ứng của những người phái ngụy biện, là hoài nghi, thì điều ấy cũng lôgich thôi Họ cho rằng,

Trang 8

ngoài những tất nhiên sinh lý và tự nhiên, tất thảy các thể chế người đều là kết quả của ý chí võ đoán của con người Như vậy nên họ phân biệt hai cách tồn tại: "cách bản chất" và "cách nhân tạo" hoặc "cách quan điểm" Họ đặt đối lập đời sống xã hội, nhất là tính tầng bậc (hierarchie) đối với họ là có tính quy ước, với tự nhiên.

Sự phê phán ấy đã quyết định hai quan điểm khởi đầu của triết học xã hội thời cổ đại Một quan điểm nghĩ rằng: "Phải, các xã hội không hoàn hảo, đầy mâu thuẫn và bất công Nhưng sự không cố kết ấy bắt nguồn từ sự biến chất của những thể chế hoàn hảo và tự nhiên ở thuở cội nguồn" Nhiệm vụ của các nhà bác học là tìm lại chúng Ấy là quan điểm phái Platon

Quan điểm thứ hai, của Aristote, cũng đã được khích động bởi sự phê phán cực kỳ phong phú của phái ngụy biện Quan điểm Anstote cho rằng mục tiêu của khoa học về các xã hội là kép đôi: 1 - Khoa học ấy trước hết phải phân biệt cái "thích hợp với tự nhiên", tức là cái gì là thường trực trong những

sự kiện xã hội, đằng sau những sự ngẫu hứng (incidents), những phụ tháp (épisodes) và cái võ đoán 2- Khi đã quy định một số trong những yếu tố ấy Aristote chuyển sang một dạng vẻ khác của vấn đề Ông đưa vào một phân tố mới phức hợp Phân tố ấy, còn chưa thành một phân tố, là ý niệm thăng bằng, ý niệm về những mối liên hệ giữa các điều kiện sinh tồn và cấu trúc của nhóm với các thể chế Hai yếu tố ấy phải tương ứng nhau Các thể chế khi thích hợp với yếu tố này lại không thích hợp với yếu tố khác Vậy nên ý niệm

về tính tương đối đã được đưa vào sự nghiên cứu các xã hội Ý niệm ấy cũng đặt chúng ta đang cách ly giữa cái bất động với cái võ đoán; như vậy người ta thoát khỏi thể lưỡng đề (dilemme) do phái ngụy biện đặt ra

Từ đó, có thể nói, mỗi khi đặt ra vấn đề xác định đối tượng của xã hội học, người ta thấy lại cái cốt yếu của hai luận điểm Một bên là thái độ giáo điều và duy tâm, một bên là tinh thần quan sát và sự thừa nhận thuyết tương đối và tính đa dạng Bởi thế, chính là đối chiếu hai quan điểm ấy mà chúng tôi

đề nghị xếp các quan niệm tương đối vào đối tượng của xã hội học

Trang 9

Xã hội học gắn liền với những mệnh đề công thức hóa một cách tiên nghiệm

Jean Jacques Rousseau Đối với những người xuất phát từ quan điểm này, đối tượng của khoa học xã hội là tái dựng, ngay từ nguyên lý, theo những cách nhìn lý tưởng, cái xã hội đích thực, tức là cái xã hội phải phù hợp với một chân lý tiền tồn mà nhiệm vụ của nhà bác học là đưa nó ra ánh sáng Chúng tôi sẽ dẫn trường hợp nổi bật nhất của quan niệm này về xã hội học (còn chưa thành hình), quan điểm của J.J.Rousseau

Phương pháp của Rousseau có thể được xác định là một phương pháp

hư vô Nó nhằm trừu suất mọi dữ kiện truyền thống và lịch sử Nguồn gốc của quan điểm này là dễ hiểu Nếu như Rousseau sa đà vào những sự kiện lịch

sử và truyền thống, hẳn là ông đã tìm thấy ở đấy những suy lý để chứng minh một tổ chức mà ông cho là khả lên án và phải lên án

Quan điểm của Rousseau là một phản ứng trước chống lại thuyết định mệnh lịch sử của thế kỷ tiếp sau đấy Ông đã thấy rằng lịch sử, nếu người ta coi lịch sử như một giải nghĩa đầy đủ, đáo đầu đến biện minh cho tất thảy những gì đang là Những nhà triết, đã cùng với Hegel dành cho Rousseau một địa vị lớn nhất, tất cả đều cuối cùng đi đến ý niệm vạn năng (passe - partout) của tính bức thiết lịch sử, ý niệm, như Fouillée nói, suy cho cùng nghĩa là sùng bái sự việc đã rồi và tôn thờ kết quả

Rousseau không có khái niệm tiến hóa, cũng không có khái niệm về tính liên tiếp của các giai đoạn tâm lý (tương tự với lý thuyết cửa Sang - Sim non về các thời kỳ "hữu cơ” và "kịch liệt" là cái đã tạo thuận lợi cho nhiệm vụ của August Comte) không đã chỉ có thể phản ứng lại hình thái ấy của lịch sử một cách tàn nhẫn: ông triệt bỏ nó Từ trước cho tới Rousseau, những giải thích duy nhất về hiện thực xã hội, những nguyên nhân duy nhất mà người ta

đã đưa vào hiện thực xã hội "chỉ đặt mối liên hệ xã hội trên cơ sở một nguyên

lý duy nhất là quyền lực, nguyên lý này gán buộc quyền lực vào với sức mạnh vật chất, với sự thừa kế hay sự biểu thị của một ý chí siêu cảm giác" (2)

Trang 10

Lý thuyết khế ước muốn thay thế nguyên nhân độc đoán và ngoại tại ấy bằng một nguyên nhân không kém độc đoán, nhưng ít ra cũng đã có giá trị cố hữu và không ở bên ngoài ý chí Đời sống xã hội, đối với Rousseau, là sự ganh đua tự do và tự phát của những người hữu quan Ấy chính là lý thuyết của sự tự lập của nhân thân người (la persone humaine), một lý thuyết vẫn còn giữ tầm quan trọng của nó đến tận nay trong lĩnh vực pháp quyền Những con người Rousseau nói, xuất phát từ một trạng thái giả định tự do toàn phần, hẳn đã tự do quyết định liên hiệp với nhau bằng cách gắn bó nhau bởi một khế ước Đó là khế ước xã hội nổi tiếng Đối với Rousseau, đối tượng của môn khoa học xã hội trở thành sự nghiên cứu những thể thức hiện tồn hay lý tưởng của khế ước ấy và tất thảy những sự tủa rễ và những sự phát triển mà khế ước có thể trình ra qua các xã hội.

Những trường phái bắt nguồn từ khế ước xã hội - Khế ước luận, của Rousseau đã không hoàn toàn biến mất trong xã hội học Phái liên đới luận (3) (solidarisme), có một ảnh hưởng chính trị nào đó ở Pháp, là một thứ khế ước luận Đối với quan điểm trung gian này, một trong những phương diện của tính liên đới là "chuẩn khế ước” (le "quasi - contrat"), tức là mối liên hệ pháp lý được tạo ra giữa các nhân thân theo sau một số tình huống và về phần họ đã không có một sự biểu thị ý chí hình thức được định thức hóa Đối với phái liên đới luận, đời sống xã hội là một nguồn vô số những quan hệ nửa

- pháp lý giữa các cá nhân; những quan hệ ấy tạo thành mối liên hệ xã hội

Cũng có thể đặt bên cạnh quan niệm khế ước luận này về xã hội quan điểm của Fouillée Đối với Fouillée, trái ngược lại Rousseau, những liên hệ khế ước tính không ở từ đầu nguồn của đời sống xã hội, mà chúng là kết quả (l'aboutissement) Chúng tương ứng với giai đoạn hữu thức nhất, hoàn thiện nhất của đời sống xã hội Các xã hội có hai phương diện: thứ nhất là phương diện vô thức và hữu cơ, nó là thời kỳ ấu thơ của chúng, là điểm xuất phát của chúng Các xã hội nảy sinh từ ý chí của các cơ chế và thoạt tiên được sắp đặt theo cùng những quy luật của các cơ chế ấy Sau đó các xã hội tiến bộ bởi một phương thức đặc thù người, bằng cách đi tới một lý tưởng được nhận

Trang 11

thức bởi văn minh, lý tưởng hòa bình, công bằng, tự do và ánh sáng (4) Do

đó chúng nghiêng tới thực hiện một sự bình đẳng và một sự liên đới khế ước giữa các thành viên của chúng Từ thế giới hữu cơ, người ta chuyển sang thế giới xã hội, không có những chấn động và bằng trung gian của thế giới tâm thần Xã hội, ít ra cũng là như thời đại chúng ta nhận thức và mong muốn sẽ đích thực là, theo từ ngữ của A Fouillée, "một cơ chế khế ước" Tư tưởng tiến hóa đặt hai hạng mục của công thức lại gần nhau và cho ta hiểu tính thống nhất của chúng

Quan điểm thứ hai này làm phong phú và như vậy là làm phức tạp thêm đối tượng của xã hội học Vấn đề không phải là chỉ phân tích, như Rousseau đã muốn, khế ước xã hội và các thể thức của nó, mà là khảo cứu

sự chuyển từ tình trạng cơ hữu hay bản năng sang tình trạng pháp lý được tiến hành như thế nào Sẽ chỉ có thể hiểu được sự chuyển đoạn ấy, những người của lý thuyết ấy nói, khi người ta bắt đầu bằng nghiên cứu xã hội như một cơ chế

Trường phái cơ chế luận Một đối tượng mới, cũng mang tính tiên nghiệm, của xã hội học vậy là đã tới để gia thêm quá nhiều: sự chứng minh tính tương tự (đối chiếu với các cơ chế và miêu tả sự vận hành của nó) Đó

đã chủ yếu là nhiệm vụ của cơ chế luận của Spencer và của Schaeffié, G De Greef và René Worms được đưa ra trong một phần các tác phẩm của họ René Worms viết: "Cũng như các cơ chế tác nhân, các cơ chế xã hội có một đời sống hữu cơ, một đời sống tái sản sinh, một đời sống liên hệ Chúng cũng phải tuân thủ những nguyên lý lớn về thích nghi, về thừa kế, về tuyển chọn Cũng như các cơ chế cá nhân, chúng cũng phải chịu đựng các bệnh tật các khủng hoảng và cũng làm quen với các giai đoạn liên tiếp là sự ra đời, sinh trưởng, viên mãn, suy tàn và tử vong Như thế, sự so sánh có thể được tiếp tục tiến hành giữa các yếu tố cấu thành của hai thứ hỗn hợp cũng như giữa chính các hỗn hợp ấy với nhau (5)

Đối với trường phái này, vậy là phải quan tâm nhất đến sự tìm tòi những đối chiếu ấy và giải thích những chức năng hữu cơ hoặc giả - hữu cơ

Trang 12

ấy để tìm thấy ở đấy sự giải thích các nguồn gốc và các hình thái khởi đầu của đời sống xã hội, cũng như giải thích sự tiến hóa của các xã hội.

Vấn đề cũng sẽ là tìm kiếm các cấu trúc, giải thích sự vận hành của các

cơ quan của mỗi cấu trúc và sự tiến hóa của chúng, bằng cách luôn luôn, ít nhất cũng là lấy làm điểm xuất phát hay làm giả thuyết khởi đầu, đặt trên cơ

sở so sánh với các cơ chế sống

Thuyết định mệnh lịch sử Phương pháp này có điểm chung với thuyết

hư vô ở chỗ nó ngầm kín pha trộn những ý niệm pháp lý Phương pháp của Rousseau chủ yếu nhằm đặt lại vấn đề tất cả và tái xuất phát từ những nguyên lý mới được suy diễn cách duy lý

Ngược lại, phương pháp thứ hai nhằm vứt bỏ mọi xem xét duy lý Luận điểm này được ra đời sau những thái quá của chủ nghĩa duy lý là cái đã đặc định thời kỳ cách mạng Có thể nói, nó cũng nghiêm ngặt và "cực đoan" như luận điểm đối nghịch mà nó chống lại Đối với Rousseau, đối tượng của khoa học xã hội là dựng một xã hội trên một pháp quyền mới Đối với de Maistre đối tượng ấy lại là bảo vệ và biện minh cho cái đang là, cái truyền thống Ấy là

sự cầu viện đến phong tục cổ truyền của những người Rô - manh (nhưng điều này đã không ngăn cản việc cấu tạo luật pháp quan) (droit prétorien), như là biện pháp cuối cùng (ultima ratio) của sự suy lý áp dụng vào các sự vật của xã hội

Vậy là thuyết định mệnh lịch sử có khuynh hướng loại bỏ sự giải thích

xã hội học các phân tố tự giác, hữu thức và duy lý Đối với nó, đây chỉ là những phó hiện tượng (épiphénomenes) hoặc là những tư biện vô căn cứ, nếu không nói là những sự dông dài

Trường phái Hegel, về thực chất là tiên nghiệm luận, có quan điểm phức tạp hơn của de Maistre Nó khám phá thí dụ sự phản bác thường diễn

ra đối với thuyết định mệnh lịch sử, tức là khám phá rằng mọi thể chế (nhất là thể chế chính trị), dù đáng tôn kính, đều đã có một sự bắt đầu

Trang 13

Hegel xây dựng một siêu hình học nhằm để dùng làm tiền đề cho những phát triển xã hội học Người ta đã biết rõ tư tưởng của Hegel được xác định trong những điều kiện nào Ông tự cho mình là người vô địch của nhà nước Phổ của Friedrich Đại đế chống lại những tư tưởng dân chủ của các nhà triết học Anh và Mỹ và những tư tưởng của Cách mạng Pháp.

Hegel cố sức chứng minh tiên nghiệm rằng một thứ trí tuệ nội tại điều hòa sự phát triển của lịch sử Trí tuệ ấy (ý niệm) thâm nhập hiện thực, cõi tự nhiên, cõi xã hội Biểu thị cao nhất của trí tuệ ấy, là Nhà nước mà Hegel đối lập nó với những quan niệm dân chủ của dân tộc hoặc của nhân loại Hegel cũng đối lập Nhà nước với cá nhân, và ông tỏ ra đầy khinh bỉ đối với những

cá nhân tự cho phép mình có những ý kiến riêng hoặc những ước vọng Ông cũng khinh bi những ai có "tham vọng hiểu biết hơn những người khác”, bởi

lẽ họ "không biết đến chân lý sâu xa của hiện thực lịch sử”

Nếu cố gắng cụ thể hóa những mệnh đề thuộc trật tự xã hội học bắt nguồn từ thứ siêu hình học khá khó hiểu ấy, như môn đệ của Hegel đã làm, người ta sẽ đi đến một định mệnh luận lịch sử gần như toàn phần Ấy là sự tán dương thắng lợi sự thần thánh hóa và nhân cách hóa Nhà nước, tức là những người nắm chính quyền Những người này được coi là ipso facto (đương nhiên theo thực tế), do chức năng của họ, là những người thiên khởi (Réinspirés), từ đây trở đi được tấn phong vai trò "biểu đạt tinh thần" và như vậy được miễn trừ khỏi mọi phê phán về cá nhân họ Giữa họ với chủ thể của

họ, là cái có thể toan tính phê phán được, có sự khác biệt chủng loại như đã

có giữa người với các thần linh

Sự thần thánh hóa Nhà nước ấy, nhất là những "người đang tại chức", bản thân nó chẳng giải thích gì nhiều về phương diện sự tiến triển của các xã hội Quan điểm của de Maistre mạch lạc hơn, vì nó hầu như phủ nhận khả năng thay đổi gì đó vào sự tiến hóa xã hội của những con người, trong đó có những người cầm đầu Những Hegel lại cố giữ không làm buồn rầu các lãnh

tụ bằng cách rút bỏ đặc quyền ấy ở họ

Trang 14

Bởi vậy, ông khởi dựng một lý thuyết khá rối rắm và trong đó hai đề xuất quấn quện vào nhau Một nhằm nói rằng "cái bổn phận của cá nhân xuất sinh trực tiếp từ vị trí của hắn trong xã hội, chẳng cần họ phải nghĩ ngợi để tìm thấy chúng" Đó cũng là cái vị trí trong triết học cổ truyền Trung Hoa, là không thích hợp khi một người quan tâm đến cái gì vượt khỏi vị trí của hắn trong xã hội Ấy là điều răn cấm "nghĩ cao hơn chức vị của mình" Đề xuất thứ hai chủ yếu nhằm tuyên bố rằng những người lãnh đạo Nhà nước là “biểu thị sinh động của Tinh thần" Hegel tìm thấy sự biểu hiện chân chính của Nhà nước ở bộ máy thơ lại "Chính phủ là ở trong thế giới công chức" và nhất là, tất nhiên thế, trong bộ máy cai trị Phổ của thời đại ông" (6).

Cuối cùng, Hegel nhấn mạnh thời điểm mà nhà nước đạt tới tính thống nhất lý tưởng của nó là chiến tranh, bởi khi ấy "mọi mục đích khác, mọi tài sản khác, quyền sở hữu tài sản và bản thân sự sống đều được tập trung và được thu hút vào Nhà nước"(7)

Nhiệm vụ của nhà xã hội học, theo Hegel (và những người kế thừa ông còn mở rộng hơn nữa xu hướng này) chủ yếu là bao giờ cũng xuất phát từ tình trạng hiện thời bằng cách xem xét như là kết quả cần thiết và tất yếu của toàn bộ lịch sử trước kia Đây là một định mệnh luận hậu nghiệm (a posteriori) Rút cục ấy là chủ nghĩa lạc quan của bác sĩ Pangloss và cái thế giới tốt hơn cả trong các thế giới khả thể nhưng được chuyển dịch vào lĩnh vực chính trị Từ đấy các hình thái khác nhau của định mệnh luận ấy đã được phát triển tiếp sau Hegel

Về thực chất, người ta có thể nói sự khác biệt giữa tiên nghiệm luận của Rousseau và quan điểm Hegel - phải là ở điểm xuất phát Trường phái Rousseau xuất phát từ sự miêu tả một tình trạng lý tưởng, lấy nó làm cái để người ta trực tiếp cấu tứ cho công việc tổ chức xã hội Ngược lại trường phái Hegel coi tình trạng hiện thời là lý tưởng duy nhất khả thể Bởi tình trạng hiện thời là một thứ kết luận và kết quả của lý trí nội tại trong mọi sự vật Con đường đã đi theo chiều nghịch

Trang 15

Duy vật luận biện chứng và phương pháp của Marx Chúng ta đã thấy

nó là cái gì, triết học hay chính xác hơn siêu hình học xã hội của Kant và những sự phê phán mà nó gây nên Triết học của Hegel đã có một thành tựu

to lớn và gây một ảnh hưởng quan trọng Nó là hấp dẫn trước hết bởi sự kiện

nó đã đem tới cho diễn biến của những sự cố lịch sử một ý nghĩa sâu xa và

cố gắng nêu bật ý nghĩa ấy Nó cũng còn là hấp dẫn bởi tính duy tâm lãng mạn của nó, là cái tương ứng với thời kiểu văn học của thời đại ấy Với những ai đã toan tính chỉ nhìn trong những đoạn bất thường của lịch sử thấy

sự rời rạc và sự phi lý, nó đem lại một an ủi, lý thuyết tam thức (la triade) chính đề, phản đề, hợp đề cho phép tích hợp những rời rạc của hiện thực vào một sự giải thích hài hòa Thứ siêu hình học ấy dễ dãi hơn học thuyết Kant về tính tương xung (antinomies)

Trong lĩnh vực triết học xã hội, Hegel đã ảnh hưởng nhiều nhất đến hai nhà tư tưởng gần như đồng thời Proudhon và Karl Marx Khi còn sống, hai người đã đụng vấp nhau bằng những luận chiến nảy lửa (8) Hình như, những luận chiến ấy do từ sự kiện là cả hai người đều bị kích động bởi cùng một tư tưởng rộng rãi, song đã có những tính cách rất khác nhau Proudhon bộc lộ sự xúc động và sự hăng hái đặc định cả một thế hệ đã chuẩn bị ở Pháp cuộc cách mạng 1848 Marx là một khối óc xác thực hơn nhiều Ấy là một nhà quan sát chính xác và sắc nhọn Hơn nữa, trẻ hơn Proudhon (Marx sống từ 1818 đến 1883), Marx mang dấu ấn sâu đậm của trào lưu cay đắng

và bi quan đã lan khắp châu âu sau thất bại hoàn toàn của Cách mạng 1848

mà Marx đã tham gia tích cực, và sự chấm dứt những hi vọng do cuộc cách mạng đã khơi động

Trong khi Proudhon tỏ ra là một đầu óc có dáng dấp tôn giáo sẵn sàng pha trộn những bình luận siêu hình học và thần học vào những luận văn xã hội của ông, thì Marx, bằng thái độ của ông, thuộc ngay vào tinh thần thực chứng Cũng như August Comte, Marx xa rời những vấn đề siêu hình và giới hạn mình ở sự nghiên cứa những hiện tượng xã hội (9) Người ta có thể, bằng một số khía cạnh, phân biệt một sự song hành trong những tiền đề của

Trang 16

triết học August Comte với những tiền đề của tác phẩm Marx Cả hai đều bắt đầu bằng khởi dựng một phương pháp, rồi áp dụng phương pháp nhằm tìm

ra những tuyến lớn thống trị toàn bộ các thời đoạn của lịch sử người

Đây là những điểm chính của phương pháp và của xã hội học của MarxMarx xa rời rõ rệt tiên nghiệm luận của phép biện chứng Hegel Ông thừa nhận nguyên lý những đối lập và những tương ứng tồn tại trong lịch sử, chúng có thể được diễn tả theo đồ thức chính đề và phản đề Nhưng chỉ có

sự phân tích hiện thực mới có thể phát hiện cho ta thấy chúng Chính từ những sự cố toát ra như những kết thúc xuất sinh từ đấy một cách hậu nghiệm chứ không như những nguyên lý tiên nghiệm quyết định trước các sự

cố Bằng ngữ ngôn triết, Marx nói: "Thay vì cho tư tưởng quyết định lịch sử,

ấy là lịch sử quyết định tư tưởng"

Marx cũng nói: "Đối với Hegel, sự vận động của tư tưởng mà ông nhân cách hóa là ý niệm, là tạo hóa (le démiurge) của hiện thực, hiện thực chỉ là hình thức hiện tượng của ý niệm Đối với tôi, ngược lại, sự vận động của tư tưởng chỉ là sự phản ánh của sự vận động hiện thực được chuyển di và chuyển vị vào trí óc người" (10)

Marx thừa nhận quan niệm về một sự tương ứng giữa các thiết chế thuộc phạm vi tâm lý với các sự kiện xã hội thuộc phạm vi vật chất Khẳng định này cũng bắt nguồn từ triết học của Hegel Nhưng đối với Marx, tư tưởng không như đối với Hegel là một nguyên lý siêu hình hay một bản thể Đối với Marx, ấy là cái trong ngữ ngôn xã hội học hiện nay chúng ta gọi là những tâm cánh và những thể chế, tức là tất thảy những gì là kết quả của nỗ lực lãnh hội

và diễn giải mà mỗi xã hội hoàn thành Những tin tưởng (croyances) ấy đổi thay theo với các cấu trúc xã hội: chỉ có, ông nói, những sự thật lịch sử Ông giả định (postuler) sự hiện tồn của "hai loại quy luật đồng nhất trong thực chất, nhưng khác biệt trong hình thái của chúng" (11)

Marx đem lại trong quan niệm về tính biện chứng một đổi mới khác: ông khẳng định giữa tư tưởng và các sự kiện, hoặc giữa nhiều hiện tượng khác nhau, không phải chỉ có những đối lập hay những song hành, mà còn có

Trang 17

một vận động vĩnh hằng của những ảnh hưởng tương hỗ (un jeu perpétuel d'inpluences réciprogues) Chính đề và phản đề không đáo đầu tới một thứ phức hợp (composé) ổn định là hợp đề, mà chúng ảnh hưởng tương hỗ nhau với những ưu thắng khả biến, bằng một thứ trao đổi qua lại, về cảm ứng (des prédominances variables de reactions et d'induction) Như thế, trong các khoa học xã hội, ý niệm kết quả biện chứng, tức là "trong hai chiều” thay thế cho ý niệm thông tục về nhân quả.

Sự sử dụng phép biện chứng đối với Marx không nhằm khẳng định tiên nghiệm sự hiện tồn những chính đề và phản đề và làm cho lịch sử rơi vào một thứ tranh chấp ngữ chiến giữa chúng với nhau Mà trước hết, nó nhằm

để tiến hành một phân tích thực chứng những sự kiện xã hội Nhưng thái độ đặc định tư tưởng của Marx, ấy là sự ưu thắng của quan điểm năng động (là cái “sinh thành” trong ngữ ngôn siêu hình của Hegel) Biểu thị chính yếu của tính năng động ấy, nó dẫn đến những biến động xã hội, chủ yếu ngụ trong sự tác động của những lực lượng đối kháng thuộc mọi phạm vi Bằng cách cố gắng phân biệt những đối lập hiện tồn trong lòng các xã hội, Marx đã khởi dựng lý thuyết đấu tranh giai cấp được xem là sự đối lập cơ bản và nó thống trị từ xa tất thảy những đối lập khác của đời sống hiện đại Bởi, ông nói, ấy là cuộc đấu tranh giai cấp đảm bảo sự thích nghi giữa các lực lượng kinh tế với đời sống xã hội

Với Hegel, yếu tố cơ bản của tiến hóa là ý niệm, được nhận thức với tư cách là nguyên lý siêu hình Sau này, August Comte, trong khi vứt bỏ siêu hình học, khẳng định cái quyết định sự tiến bộ của các xã hội, ấy là vị trí của chúng khi đứng trước những vấn đề triết học (luật Ba trạng (12)) Về phía Marx, như chúng ta đã thấy, Marx bắt đầu bằng thừa nhận một tính song hành nào đó, một sự tương ứng cần thiết giữa các tin tưởng, các thể chế với các sự kiện xã hội khác Song phản đối hai tác giả nọ, ông dành địa vị ưu tiên cho cái ông gọi là cấu trúc hạ tầng của các xã hội, tức là cái nền ngồi vật chất (assiette matérielle) của chúng Nền ngồi vật chất này vừa gồm môi trường tự nhiên với các tài nguyên và các đặc điểm của nó, và, mặt khác, cả tình trạng

Trang 18

kỹ thuật Nền ngồi vật chất, sớm hay muộn, cuối cùng đi đến ảnh hưởng tới các thể chế (13) là những cái thường là sự phóng chiếu trí tuệ của cấu trúc vật chất Chính bởi thái độ ấy, đối lập với thuyết duy tâm của Hegel, mà người

ta đặc danh là thuyết duy vật lịch sử

Nhưng trong tác phẩm của Marx, cũng như của Engels tính ưu tiên ấy của cấu trúc hạ tầng, được nhận thức là cơ sở của đời sống xã hội, đã được trình bày một cách rất súc tích Đối với hai ông, cấu trúc hạ tầng đang ở bình diện thứ nhất bởi nó là một nguồn thường trực của những dẫn khởi (suggestions) Nhưng đến lượt nó, nó cũng bị ảnh hưởng bởi những tin tưởng, nhưng thể chế và những sự cố Thực tế, học thuyết của Marx, mặc dầu cái tên được gọi theo truyền thống, không phải duy vật theo nghĩa tầm thường của từ này (14) Chắc chắn, Marx đã chọn tính ngữ ấy vì những thời kiểu trí tuệ khi ấy, nhất là để đối lập với trường phái của Hegel và với sự lạm dụng những từ "tinh thần" và "duy tâm" Trong tập III bộ Tư bản, Marx chỉ ra rằng trong một số thời điểm quyết định, nhân tố hữu thức và chủ quan có thể làm biến đổi hiện thực; tư duy hữu thức khi ấy trở thành sáng tạo Ấy là, ông nói, “sự nhảy vọt của tính bức thiết trong sự tự do"

Một khi những quy tắc về phương pháp như vậy đã được đặt ra Marx chuyển sang phân tích các cấu trúc xã hội, chính yếu là các cấu trúc kinh tế của thời đại ông Rất khác biệt với phần lớn các nhà xã hội chủ nghĩa trước ông, ông nhìn thấy trong các quá trình đáo đầu đến sự áp bức và đến những đau khổ của một dân tộc không phải hiệu quả của tính hiểm độc của các giai cấp lãnh đạo, nhưng kết quả của những quá trình không cố ý Ở điểm này, Ông thừa nhận cách nhìn của các nhà kinh tế học cổ điển về tính chất không

cố ý, và nhất là về tính chất độc lập với những động cá nhân của các hiện tượng kinh tế Các nhà kinh tế học cổ điển Khi họ là lạc quan chủ nghĩa như Adam Smith, đã tán tụng cạnh chủ nghĩa, như Ricardo, đã lật mặt trái của vấn

đề, tức là cái cách mà quy luật lợi nhuận và quy luật tiền công đã khiến những

kẻ này thì giàu có vô tận và nếu những kẻ khác vào một cùng khốn sát nhân Khác với kinh tế học cổ điển, Marx cho rằng những quá trình ấy chỉ trình ra

Trang 19

tính chất định mệnh khôn tránh nổi chừng nào chúng là vô thức Khi nào, nhờ

ở phép biện chứng và sự phân tích, chúng ra khỏi lĩnh vực của những lực lượng thần bí, thì khi ấy bắt đầu khả năng của sự tác động của chúng ta đến chúng Đấy chính là thời điểm quyết định trong đó diễn ra cái Marx gọi là "sự

có ý thức": khi ấy chúng ta có thể đạt tới vượt được những đối lập xã hội và tới chỉnh hướng hoặc tránh được những quá trình có hại

Đó là những cống hiến chính yếu của Marx vào xã hội học Bên cạnh

sự nghiệp xã hội học đúng nghĩa của ông, Marx đã sản ra một sự nghiệp kinh

tế học và chính trị học rất lớn lao ảnh hưởng trọng đại từ gần một trăm năm nay đến sự định hướng trí tuệ và đến các sự cố (15)

Những giải thích đơn tuyến Bên cạnh những hệ thống lớn xã hội học tiên nghiệm ấy, người ta thường thấy trong xã hội học những quan điểm tương tự nhưng cục bộ Chúng nhằm nhiều nhất vào sự ứng dụng để tìm ra chìa khóa cho sự giải thích các hiện tượng xã hội bằng một sự kiện hay bằng một nhóm sự kiện, loại trừ toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ những sự kiện khác Phần lớn các lý thuyết xã hội học thuộc phương pháp ấy Chính vì thế

mà P.A Sorokin đã có thể xếp loại, một cách có lý, các lý thuyết xã bội học hiện nay (16) theo sự giải nghĩa ưu thắng hay chuyên thuộc của chúng về sự sinh thành của các thể chế Trong tác phẩm của ông, Sorokin xếp loại chúng theo cách sau đây: Phái địa lý (Brunhes, Vallaux, Ratjel), Phái chủng tộc (Gobineau, de La pouge, Ammon, Galton, Pearson, v.v), Phái chiến tranh, Phái nhân khẩu học, v.v

Tất cả các trường phái ấy đã phục vụ nhiều cho xã hội học, nhờ ở những nghiên cứu mà các giả định ban đầu của chúng đã là điểm xuất phát Mỗi trường phái đã hiển nhiên hóa tầm quan trọng của một hiện tượng Những mặt khác, phương pháp ấy hàm chứa một số bất thuận Các môn đệ của mỗi phái đều tiến hành một sự xếp hạng lại (un reclassement) tất cả mọi tri thức xã hội và một sự diễn giải các sự kiện lịch sử quen thuộc bằng cách coi mình là duy nhất trên quan điểm của yếu tố ưa thích của họ Do đấy sinh

ra những rối rắm, những thái độ phe phái, những lạm dụng lý luận chứng giải

Trang 20

và đôi khi cả những bóp méo hiện thực một cách quá tinh xảo Người ta đã muốn làm cho một số trong các lý thuyết ấy thực sự trở thành những cái thường của Procuste (17) Bởi thế, theo ý kiến chúng tôi, một trong những đối tượng, có thể là đối tượng chính của xã hội học và làm bằng chứng cho một tinh thần phê bình sắc nhọn và bằng sự so sánh các sự kiện với các học thuyết, xác định cho mỗi lý thuyết tầm quan trọng xứng đáng của nó và cho mỗi một trong số các nhân tố giải thích được đề xuất vị trí đúng hợp của nó.

Người ta chỉ có thể nhắc những ai có khuynh hướng dễ bằng lòng với những giải thích giản đơn hay phiến diện và cố tình không biết đến tính phức tạp của hiện thực tư tưởng của Benjamin Constant: "Chân lý nằm trong các sắc thái" (18)

Xã hội học với tư cách sự tổng hệ các khoa học xã hội khác nhau

Với August Comte, xã hội học là khoa học đại cương về các xã hội Ở thời đại ông, đề xuất ấy đã không gây ra những tranh cãi lớn, nhưng từ bấy đến nay, sự nghiên cứu các xã hội đã được mở rộng rất nhiều Từ bản thân

sự lớn lên ấy nhiều vấn đề mới nảy sinh Nó được ứng dụng vào các dạng thái luôn luôn nhiều thêm của mọi loại xã hội; nó đã khiến ra đời những tác phẩm quan trọng và những bộ môn mà mỗi một đều có tính chất riêng biệt và

đã đem lại một mùa gặt phong phú về sự kiện và về diễn giải Vậy liệu có là yêu sách quá nhiều ở xã hội học khi tiếp tục gán cho nó một sự khuyếch phát như thế

Nhiều tranh luận đã nảy sinh về chiều nghĩa mà người ta đồng ý cho định nghĩa toàn bộ do August Comte đề xướng Nên hiểu từ "khoa học đại cương về các xã hội" trong chiều nghĩa "khoa học toàn phần" hay là "khoa học về các phương diện đại cương của các xã hội"

Trường phái Durkheim đã theo định nghĩa thứ nhất: "E.Durkheim thừa nhận định nghĩa thứ nhất trong các định nghĩa Với ông, xã hội học chỉ là và chỉ có thể là hệ thống, là điển tập (le corpus) các khoa học xã hội"(19) Nói đúng, các khoa học xã hội là những thành phần không thể phân chia của cơ thể rộng lớn: xã hội học Trong các tập liên tiếp của Niên kỷ xã hột học

Trang 21

(Année Sociologique), người ta thấy chúng được xử lý như vậy, ấn phẩm ấy, liệt kê bằng cách tóm tắt tất cả các công trình xã hội học đã ra đời, nhóm hợp các khoa học xã hội ấy lại trong các cột mục: xã hội học tôn giáo, xã hội học luân lý; xã hội học pháp lý; xã hội học kinh tế, v.v Khoa học các tôn giáo, khoa học các phong tục, khoa học pháp quyền, khoa học kinh tế trong trường hợp ấy được coi là những mảnh của xã hội học; đó là các chương mục của cùng một cuốn sách và lẽ tự nhiên chúng phải được cấu tứ từ những nguyên

lý chung Xã hội học ở trong sự bố trí chúng (leur juxtaposition), trong sự tích hợp chúng; xã hội học là số tổng các yếu tố được cộng lại

Ý niệm triết học của các khoa học xã hội Khuynh hướng thứ hai có nhiều đại diện, nhất là René Worms, người đã xác định nó trong câu: "Bây giờ đây là quan niệm thứ hai Theo nó mỗi khoa học mà chúng ta vừa kể đều có tính độc lập và những tính chất riêng biệt Khoa học tôn giáo quá khác với khoa học pháp quyền, khoa học phong hóa quá khác với khoa học chính trị

để ta có thể dùng chung cho chúng một tên Vậy thì không thường mà nói chúng phải được vun bón bởi những người nghiên cứu khác nhau: những bức thiết của sự phân công lao động, khoa học đòi hỏi điều ấy Tuy nhiên, có chỗ cho sự tiếp cận nhau giữa các khoa học Mỗi khoa học nghiên cứu một phương diện của hiện thực xã hội Khi chúng đã đứng riêng rẽ đẩy mạnh nhiệm vụ riêng của chúng một cách xa nhau nhất, thì có dịp để so sánh kết quả của chúng, hội hợp chúng lại với nhau, để lập thành một quan niệm về toàn bộ mà mỗi chúng đã khảo sát một mảnh Đấy chính là nhiệm vụ của xã hội học Vậy là xã hội học không thu hút vào nó khoa học xã hội riêng biệt Đúng hơn, xã hội học tự trình ra như là sự hoàn thành chúng (leur courunement) Xã hội học không hề là tất cả cấu tạo của chúng, xã hội học chỉ hình thành điểm đỉnh chung (le faite commun) của chúng"(20)

Worms đã đề nghị coi xã hội học như là triết học của các khoa học xã hội Đó cũng chính là nhan đề ông đã đặt cho một trong những tác phẩm chính của ông "Triết học của một khoa học, ông viết, là sự khảo sát những

Trang 22

vấn đề đại cương nhất được đặt ra cho chủ đề của khoa học ấy Một bên là những vấn đề khởi đầu, một bên là những vấn đề cuối cùng”.

Tuy nhiên, ta sẽ nhận thấy triết học về sử học khá khác biệt với triết học về các khoa học đúng nghĩa Các biện pháp của nó thuộc về sự thử nghiệm nhiều hơn là sự nghiêm ngặt biện chứng của triết học Vậy xã hội học

sẽ phải tránh để không lẫn lộn với triết học về lịch sử và với những khái quát hóa mà sử học thường thích dùng Xã hội học chủ yếu sẽ là một sự đối chất những vấn đề được đặt ra bởi những khoa học xã hội riêng biệt và một sự so sánh những kết quả sở đắc bởi chúng Nhưng sự tổng hợp ấy sẽ phải tiến hành bằng một tinh thần phê phán và khoa học chân chính

Triết học và lịch sử Xã hội học cố gắng cung cấp một số dữ kiện chung cho các khoa học xã hội riêng biệt, những dữ kiện mà bản thân xã hội học lấy ngay ở sự nghiên cứu tổng hợp các khoa bọc nọ Cũng như thế xã hội học cố gắng rút tỉa những phương pháp chung cho các khoa học xã hội hoặc những phương pháp có thể trở thành chung Xã hội học cung cấp cho các khoa học

xã hội những đề xuất thuộc phạm vi đại cương và nó tiến hành việc kéo gần lại nhau các kết quả sở đắc bởi mỗi khoa học

Triết học về lịch sử đã được thực hành bằng nhiều cách khác nhau Một cách nhằm cố gắng dẫn dắt mọi sự kiện lịch sử đến một giải thích duy nhất, được nhận thức như nguyên nhân đầu tiên Thí dụ, trường hợp ấy là

"Diễn từ về lịch sử thế giới" của Bossuet người ta có thể, vô luận thế nào, xích gần phương pháp ấy lại những tác phẩm xã hội học đã nói trên là những tác phẩm cũng cố gắng giải thích các sự kiện lịch sử bằng sự ưu thắng tuyệt đối của một số phân tố (facteurs), và như vậy, thường là hay làm phương hại đến tính phức tạp hiện thực của các sự kiện xã hội Như khi người ta giải thích sự tiến hóa xã hội duy nhất bằng phân tố chủng tộc, hoặc bằng phân tố địa lý, v.v bằng cách loại bỏ hầu hết các phân tố khác hoặc bằng cách đẩy lùi chúng xuống hàng thứ yếu (21)

Sự thực, thông thường đó là do những nhu cầu về một sự trình bày nhanh gọn và biện biệt những học thuyết mà người ta gán cho tác phẩm của

Trang 23

một số nhà xã hội học những nhãn hiệu hơi lòe loẹt quá đáng và độc quyền Trong thực tế, số đông đã chỉ ra trong tác phẩm của họ nhiều ý nghĩa của các sắc thái và của tính phức tạp hiện thực của các hiện tượng xã hội.

Một dạng thức cổ truyền khác của sử học, khiến nó khu biệt xã hội học,

là sử học trình bày, liệt kê và tìm kiếm các "sự kiện khác nhau của lịch sử (tức

là sự nối tiếp của các sự cố vào các thời đoạn hơn là sự nối tiếp của các thể chế (22)) Sử học và triết học lịch sử bao giờ cũng có khuynh hướng gia ban tính ưu đẳng (la préeminence) cho các sự cố xuất sắc nhất, nổi bật nhất, mà chiếm địa vị hàng đầu là: chiến tranh, điều chỉnh biên giới; như thế nên khuynh hướng "Plutarque" là tìm kiếm những nhân vật đứng ở cận cảnh, là những nhân vật hoặc ngoạn mục hoặc ồn ào mà người ta thấy tái xuất hiện theo cách định kỳ, như ở Carlyle và Nietzsche

Ngược lại, xã hội học quan tâm nhiều đến nghiên cứu sự tiến hóa, các thể chế, các huyền thoại, các tâm cách (des mentalites) và các cấu trúc, mà không quan tâm tới các tình tiết đơn thể (des épisodes singuliers) Xã hội học tìm cách tách gỡ ra những chức năng cốt yếu (les fonctions essentielles) như chúng đang tồn tại, đồng chủng những trường hợp cụ thể, của những hoàn cảnh và của những thời đoạn

Sự khái quát hóa

Chỉ có khoa học của cái chung Và con người luôn luôn cảm thấy nhu cầu về những khái quát hóa "đội khăn" cho các khoa học tiếng biệt (23)

Xưa kia, sự khái quát hóa ở trình độ cao nhất đã được tiến hành trên bình diện triết học Các tác phẩm thuộc loại này mang tên: Triết học Luật pháp, Triết học các Khoa học, v v Ngày nay, khuynh hướng là tiến hành những khái quát hóa ấy trên bình diện của xã hội học Và người ta khởi dựng những "Xã hội học Luật pháp”, "Xã hội học Chính trị", "Xã hội học Văn học" v.v

Góc độ trong đó được thực thao sự khái quát hóa và sự tổng hợp đã thay đổi Người ta thấy những đặc điểm chính yếu của một chủ nghĩa nhân

Trang 24

bản mới, đương thời được phác họa Con người - bất khả chia tách các xã hội mà nó là bộ phận cấu thành - vừa là chủ thể vừa là khách thể của tri thức, sau những khúc khuỷu trí tuệ mênh mông (apres d'immenses détours intelectuels) và những sự tha hóa vô lượng vô số của quá khứ, hai mươi nhăm thế kỷ sau Protagoras, lại trở lại là tiêu chuẩn của mọi sự vật (la mesure

de toutes choses) Xã hội học trở thành hình thái của chủ nghĩa nhân bản đương thời (24)

2 Các dạng vẻ khác nhau của xã hội học đại cương và những vấn

đề chính của nó

Phương pháp luận và tổng hợp

Từ August Comte, quan điểm của trường phái Pháp đã là tổng hợp Chúng ta nhớ lại rằng August Comte coi xã hội học là một thứ khoa học cực điểm (une sorte de science culminaté), như đỉnh một hình tháp Đối với A.Comte, các cống hiến của mọi ngành khoa học móc nối ngành nọ với ngành kia theo trật tự phức tạp tăng trưởng cho đến xã hội học

Quan niệm ấy tồn tại là điểm chủ yếu của các trường phái chính trong

xã hội học Pháp Dù chúng mệnh danh là "triết học" hay "điển tập" ("corpus") các khoa học xã hội, thì cũng là chúng từ chối tách rời xã hội học với các khoa học xã hội riêng biệt Quan hệ giữa chúng với xã hội học trước hết là những quan hệ về phê bình và phương pháp luận Vì vậy mà sau này Durkheim sẽ nói rằng "sự cải cách cần kíp nhất vậy là làm cho tư tưởng xã hội học đến với những kỹ thuật chuyên biệt" Cái riêng thuộc của xã hội học,

ấy là nó đem lại ý thức về tính thống nhất ấy (la conscience de cette unité) Như vậy, Durkheim nói tiếp, "khoa học xã hội đại cương sẽ không còn là một

tư biện trừu suất và về phía mình, các công trình của các chuyên gia sẽ không còn là những địa phương chỉ không liên hệ với nhau và không giá trị giải thích" Quan điểm này cũng là của rất nhiều nhà xã hội học nước ngoài Chúng ta có thể kể P.A.Sorokin, người cho rằng xã hội học là "khoa học về những tính cách chung của các hiện tượng xã hội và về những tương liên hệ giữa chúng"(25)

Trang 25

Các dạng vẻ khác nhau của xã hội học tổng hợp xuất xứ từ những định nghĩa rất chung ấy Từ quan điểm ấy mà xã hội học đại cương đề xuất ngày nay những mục đích sau đây:

a- Nó cố gắng là một phương pháp luận Với tư cách ấy, nó phân biệt các quy tắc chung về phương pháp cho tất cả các khoa học xã hội với những quy tắc chuyên biệt về phương pháp hay về tra vấn của mỗi ngành trong chúng theo những yếu tố mà chúng thực hiện riêng và những môn học (matières) mà chúng nghiên cứu

b- Nó cố gắng bằng một cái nhìn tổng hợp khách quan trị liệu sự chia cắt từng mảnh hiện thực xã hội Xã hội học tự đề ra "điểm duyệt” ("faire le tour”) hiện thực xã hội, vừa trong không gian (tĩnh, tức là xác định những sự kiện về cấu trúc và về chung sống - dé terminant les faits de structure et de coexistence), vừa trong thời gian (động), bằng cách xem xét các hình thái và các thể thức kế tục của chúng (en examinant les formes et les modalités de leur succession)

Các hiện tượng chuyển tiếp

Bên cạnh những mục đích tổng hợp, xã hội học có một nhiệm vụ dường như ngày càng giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển sau này của nó

Ấy là cái người ta có thể gọi là những hiện tượng chuyển đoạn từ một trật tự này sang một trật tự khác

Nói như thế chúng tôi muốn nói những ảnh hưởng mà những sự kiện xuất hiện từ một khoa học xã hội riêng biệt có thể có đối với những sự kiện gắn bó với một khoa học khác, thí dụ ảnh hưởng của những sự kiện kinh tế đến những sự kiện về cấu trúc, hoặc ảnh hưởng sự tiến hóa của pháp luật đến sự phát triển kinh tế, hoặc sau rốt, những dạng vẻ tâm lý của những liên quan (colmexions) khác nhau ấy

Đấy là một lĩnh vực rất quan trọng và đòi hỏi một nghiên cứu tinh tế rất mực, mà tất thảy các hiện tượng như sự chuyển vị (transpositions), các giội hưởng (retentissements), các cảm ứng (inductions), các tác động phản hồi

Trang 26

hay gián tiếp (repercussions),.v.v là bộ phận cấu thành Đặc điểm chung của chúng là chúng đứng "ở giữa" các trật tự khác nhau của sự kiện Có thể nói chúng tạo thành những đường viền giao thoa (les franges d'interférence) chung cho chúng.

Trong số những hiện tượng chuyển tiếp ấy, dường như có dịp để dành một địa vị đặc biệt quan trọng cho những liên hệ giữa các hiện tượng về tâm

lý cá nhân với các hiện tượng xã hội Đó là một trong những vấn đề mà xã hội học hay đụng phải, vấn đề những mối quan hệ giữa cái cá nhân với cái xã hội (le social)

Chắc chắn, người ta có thể định rõ lĩnh vực riêng của hai cái ấy bằng cách nói rằng cái cá nhân (l'individuel) và cái đơn lẻ (le singulier), còn cái xã hội là cái lặp lại (le répété) Nhưng lại là những vấn đề khác, nhất là trong xã hội học động khi lại là những "sự bắt đầu", tức là trật tự của tính tiền diễn (l'ordre d'antériorité) tồn tại một cách tất nhiên khi người ta khảo cứu những

sự kiện kế tiếp

Tất nhiên, không phải là tính nhân quả theo ý nghĩa triết học Nhưng sự loại trừ cuộc tranh cãi ấy để tồn dư một vấn đề không kém quan trọng và nó thuộc phạm vi của sự phân tích khoa học Xã hội liên tiếp cho thí dụ về những

sự kiện chứa đựng vừa một trật tự kế tiếp đồng thời vừa một sự chuyển tiếp một “ngăn" ("compartiment") này sang một ngăn khác của hiện thực xã hội

Thí dụ nếu người ta thừa nhận các cấu trúc xã hội quy định điều kiện cho các thể chế, thì còn phải miêu tả mối liên hệ ấy diễn ra theo những quá trình - mô hình nào (processus types) Nếu người ta chỉ ra rằng một tâm cách nào đó tương ứng với một số phương thức tổ chức xã hội, thì phải tự hỏi xem

tổ chức ấy phản ánh qua quá trình nào trên các tâm cách các cá nhân đơn lẻ (singuliers) là những người đảm đương biểu đạt chúng và làm cho chúng trở thành có hiệu lực (agissantes) Các giá trị cấu thành tâm cách ấy đã được sáng tạo và khởi dựng như thế nào?

Đời sống xã hội được cấu thành không chỉ bởi những cấu trúc vật chất, nhưng cũng và còn có thể nhiều hơn bởi những biểu hiện Một trong những

Trang 27

đối tượng của xã hội học đại cương là tìm hiểu các biểu hiện ấy (représentations) đã được khởi dựng thế nào, tức là cái cách mà các sự kiện vật chất hoặc các sự kiện về cấu trúc được diễn giải bởi những con người và cái cách mà một số diễn giải (interprétations) ưu thắng những diễn tả khác Bởi những diễn lả ấy, bản thân chúng, cũng là những sự kiện xã hội, đến lượt chúng, khả thể trở thành những nguyên nhân Chúng cũng hiện thực bằng như các sự kiện vật chất Các tư tưởng cũng là những sự kiện Thực chất, người ta cũng có thể nói được rằng chúng ta chỉ có thể tri giác những sự kiện vật chất qua sự biểu hiện của chúng ta Như những người phái khắc kỷ đã nói: "Không phải các sự vật nhiễm vào chúng ta, nhưng là quan niệm mà chúng ta có về chúng” Vấn đề là biết xem các quan niệm ấy đã được hình thành như thế nào, chúng nảy sinh như thế nào trong tư tưởng một số người

và chúng được lan truyền hay được áp đặt như thế nào, cũng còn phải biết cả xem chúng tàn tạ như thế nào để nhường chỗ cho những quan niệm khác

Mặt khác, người ta không thể nghiêm túc chủ trương rằng các quan niệm của chúng ta và các thể chế từ các quan niệm của chúng ta mà ra chỉ là phản ánh thụ động của các cấu trúc vật chất Tất cả chúng ta đều biết, chẳng cần phải lấy thí dụ, trong nhiều trường hợp lại là ngược lại, quan niệm và tư tưởng tiên giác (préconcues) của chúng ta áp đặt vào những thể chế Thí dụ khi người Anh cấm tục thiêu sống những người đàn bà chồng chết ở Ấn Độ, thì người ta không thể nói việc ấy được quyết định bởi một sự biến đổi của xã hội Ấn

Cũng là như thế đối với các vấn đề của sự truyền bá tư tưởng hay hình thái xã hội Nghiên cứu sự bắt chước, sự ám thị, tất cả những hiện tượng hàm chứa sự truyền bá nhanh chóng một hệ ý thức, như sự thực dân hóa, sự cải hóa (la conversion),.v.v là những vấn đề xã hội học về "chuyển tiếp" đứng ở hàng đầu

Sự giới định lĩnh vực của xã hội học

Từ quá lâu, một trong những đối tượng của xã hội học đã được gắn chặt vào việc chứng minh rằng thể chế này hay nọ, phương thức tư tưởng

Trang 28

hoặc hành động này hay nọ có nguồn gốc xã hội Sự quan tâm ấy được biện minh bởi những lý do lịch sử thuộc thời kỳ xa xưa, thời kỳ mà người ta không thừa nhận quyền tồn tại của xã hội học và nó phải nhấn mạnh đến tính chất

xã hội của một số hiện tượng, cả khi tính chất ấy đã là tất nhiên Ngày nay, cuộc tranh chấp giữa các nhà tâm lý học và xã hội học về vấn đề những "lãnh thổ dành riêng" cho mỗi họ tỏ ra quá ít vẻ thời sự so với vụ án nổi tiếng, ở thế

kỷ XVII, đặt đối lập liên đoàn những người nấu bếp với liên đoàn những người quăng thịt (26)

Chúng ta không hề biết đến đời sống con người mà lại không phải là xã hội Có thể rằng trước khi có con người đã tồn tại một giống trung gian nào đó

mà sự cô lập là nguyên tắc Chẳng có gì cho phép ta khẳng định điều ấy, nhân vì ngay loài khỉ cũng sống thành đàn Có cần nhắc lại rằng các quy luật vật chất (lois physiques) của sự trưởng thành người là khi một đứa trẻ đã đạt tuổi mà nó có thể tự túc được, thì nó đã được "xã hội hóa" bởi sự pác dục tối thiểu nhận được ở người mẹ? Do đó mà tất cả những gì không phải một dữ kiện sinh lý thuần túy - tức là chủ yếu tất cả những gì là biểu hiện - đều đã được khởi dựng trong đời sống xã hội Vả chăng cũng cần thêm rằng ngay cả những tính cách vật chất đến lượt chúng, chắc chắn cũng đã chịu ảnh hưởng của đời sống xã hội, tùy theo kỹ thuật, tùy theo cả thẩm mỹ và các kiểu – lối, nhất là trong sự ăn uống, mặc, v.v , thì sự phân phối theo tuổi tác, theo tầm vóc con người, các bệnh tật thống trị, v.v tất nhiên cũng đã biến đổi

Vậy nên ngày nay dường như người ta phải lướt qua rất nhanh thứ chứng minh ấy Chương trình của xã hội học không cốt ở chiến đấu với các khoa học khác để sáp nhập các mảnh nhỏ thuộc đất đai săn bắt của chúng

Nó nhằm cốt tử vào miêu tả sự vận hành và sự khởi dựng (le fonctionnement

et l'elaboration) của các cấu trúc xã hội, và những biểu hiện tập thể (des représentations oollectives), ngoài ra không lo lắng gì khác

Durkheim đã phê phán quan điểm của những người chủ trương rằng

"tất thảy những gì trong xã hội đều là xã hội tính” (27) Nhân vấn đề này cũng cần phân biệt dạng kẹp đôi của các hiện tượng Mỗi sự kiện người vừa ta cá

Trang 29

nhân vừa là xã hội Với tư cách là sự kiện cô lập chỉ bắt nhiễu vào một cá nhân, thí dụ một chứng bệnh, một tai nạn, một hôn phối, một tử vong hay một tính cách tế bào thể (caractère somatique) như màu của mắt, nó là cá nhân Nhưng cũng sự kiện ấy lại là xã hội, bởi nó là một sự kiện được lặp lại làm bộ phận cấu thành những đồng dạng (des uniformites) mà thống kê học điều tra liệt kê và những đồng dạng ấy khả thể được xử lý theo cách toán học Mặt khác, cũng sự kiện ấy, dù có những nguyên do cá nhân, trong khi ấy lại gắn chặt với một tập nguyên do xã hội Thí dụ, các cuộc hôn nhân chịu ảnh hưởng của luật pháp, của tín ngưỡng tôn giáo, của hoàn cảnh kinh tế, của sự phân bố tuổi tác, của những bệnh truyền nhiễm, v.v Sự sản xuất thứ hàng hóa này hay nọ chịu ảnh hưởng của kiểu lối hoặc của tình trạng kỹ thuật, v.v

Dưới hình thái ấy, mọi hành vi tầm thường nhất của chúng ta, uống, ăn, v.v theo một ý nghĩa nào đó đều là những sự kiện xã hội, bởi chúng là bộ phận cấu thành những đồng dạng (uniformités) mà xã hội học nghiên cứu, và như vậy là chúng tham gia những liên hệ tồn tại giữa các đồng dạng ấy

Vậy có dịp để lướt qua cuộc tranh luận này Xin lưu ý là dưới hình thức

"kịch liệt" nhất của nó, cuộc tranh luận đã làm sống lại (và điều này thường được nhắc lại, nhất là vào hồi xảy ra những luận chiến kịch liệt giữa Tarde với Durkheim) vấn đề siêu hình học cũ kỹ về sự cá tính hóa (l'individuation) là vấn

đề đã đóng vai trò cực lớn trong triết học kinh viện thời Trung cổ Như thế nào

mà một tính cách có thể là cá nhân đồng thời vẫn lại là một tư tưởng chung?

Có lẽ thật rằng sự dai dẳng của vấn đề cá tính hóa qua các thời đại và các học thuyết là do ở chỗ đúng nó tồn tại là vấn đề điển hình của triết học xã hội Trong những cố gắng khách quan hóa các sự kiện xã hội, Durkheim đã tất nhiên bị dẫn đến đụng độ với nó Dưới hình thái siêu hình của nó, sự cá tính hóa được gắn liền với vấn đề những cái phổ biến (des universaux) đã chiếm một địa vị lớn trong triết học thời Trung cổ Nhưng sự tìm tòi một liên

hệ về thật chất (une relation de substance) tất nhiên chỉ là một vấn đề siêu hình học, không thuộc phạm vi của xã hội học

Trang 30

Sự vật sẽ thay đổi nếu người ta xem xét những quan hệ giữa các ý thức cá nhân với đời sống xã hội Bởi những ý thức này phản ánh những thể thức khác nhau các cấu trúc xã hội Mặt khác, những cấu trúc xã hội chỉ có đời sống hiện thực với tư cách chúng được thể hiện bằng những cá nhân sinh động Một tư tưởng mà không là đối tượng tri thức được suy tư và được nhận biết bởi những con người sống động thì chỉ là một tiềm năng trừu tượng

và gần như không thể hiểu nổi Cũng như thế, một thể chế hay một giá trị mà không phải là đối tượng của niềm tin thì chỉ là một tư tưởng trừu tượng

Nhưng tất nhiên xã hội học không thể khuôn mình ở sự tri thức chủ quan về những quan hệ ấy Đối tượng của xã hội học là tiến hành những nghiên cứu và những phân tích khách quan nhằm xác định những quá trình

mô hình hoặc những quy luật theo đó diễn ra sự trao đổi giữa xã hội với cá nhân

Tính đặc thù của cái xã hội và lôgich về những biểu hiện tập thể

August Comte đã xác định rõ rệt quan điểm về vấn đề này Người ta có thể nói ông đã chủ trương một thứ "hoàn toàn - xã hội học luận" ("pansociologisme") bởi đối với ông việc nghiên cứu tất cả đời sống tâm lý về biểu hiện phải dành cho xã hội học Trong khi muốn "xóa bỏ" tâm lý học như vậy, A.Comte muốn chỉ ra rằng tất thảy những tư tưởng và những khái niệm

mà tư duy chúng ta thực hành không phải những sự kiện đơn nhất, mà là những sự kiện xã hội Ông nhấn mạnh nhiều nhất đến sự kiện là chúng tồn tại trước khi mỗi chúng ta ra đời

Quả thực đã như thế nhất là đối với các giá trị là những biểu hiện tập thể đặc biệt Trong quảng đại đa số trường hợp, quan điểm ấy là chính xác

Là như thế trong tất thảy các trường hợp hậu nghiệm (a posteriori): khi một giá trị đã tồn tại, nó là sự vật xã hội, nó có một vật tiền tồn mà - như Durkheim nói - các cá nhân thấy nó đã có sẵn Nhưng sẽ không phải như vậy khi là sự canh cải những giá trị hiện tồn, hay hơn nữa khi là sự khởi dựng những giá trị mới, tóm lại khi sự sáng tạo những giá trị, là cái tạo thành một trong những

Trang 31

vấn đề quan trọng nhất của xã hội học động Trong trường hợp này, vấn đề tồn tại nguyên vẹn (28).

Trong bài viết nổi tiếng của ông về những "Biểu hiện tập thể"(29), Durkheim đánh dấu một biến đổi thật sự trong tư tưởng: cho đến tận khi ấy, ông có khuynh hướng dành vị trí hàng đầu cho những sự kiện vật chất về hình thái xã hội (nhất là ông xác định cụ thể các ý niệm về mật độ và về cấu trúc (les notions de densité et de structure)) Nhưng từ đây trở đi ông thừa nhận là ưa đẳng của các biểu hiện tập thể là những cái, một khi được tạo thành, trở thành "những hiện thực tự lập cách cục bộ sống đời sống riêng của chúng" Vậy nên, ông nói, "nguyên nhân trực tiếp của chúng là những biểu hiện tập thể khác chứ không phải tính cái này hay nọ của cấu trúc xã hội" Ông còn kết luận rằng đời sống xã hội được xác định bởi một "tính quá đa cảm" (hypersensibilité) và rằng "tâm lý học tập thể, đó là toàn bộ xã bội học"

Nhưng điều quan trọng để lưu giữ trong nhận xét trên của Durkheim là,

từ khi những biểu hiện tập thể sống đời sống riêng và cái này sinh ra cái nọ, thì cần phải tìm biết những nguyên tắc và những quy luật y theo chúng mà đời sống ấy diễn ra Bởi nếu các khái niệm của chúng ta và nhất là các giá trị không phải sản phẩm tự động của những canh cải (modifications) của các cấu trúc vật chất, mà là chúng được sáng tạo hay được đề xuất theo những nguyên tắc riêng của chúng Vậy người ta được dẫn đến việc tìm tòi những nét lớn của một lôgich riêng biệt, theo đó các biểu hiện tập thể cái này móc nối vào cái nọ, một lôgich sẽ chỉ ra các biểu hiện tập thể này phái sinh ra các biểu hiện tập thể khác và trong những điều kiện nào

Sự tìm tòi ấy tất nhiên là một bộ phận cấu thành đối tượng của xã hội học Từ lâu nó đã được nhận thấy và mở đường bởi các nhà nghiên cứu Như ý niệm sự liên lạc của các tư tưởng, như Cournot đã nghiên cứu, đụng đến vấn đề này bằng cách chỉ ra, trong một chừng mực đã kế tiếp nhau hay

đã diễn ra từ khái niệm này đến nọ như thế nào

Các tác giả khác đã nỗ lực phân tích các quá trình theo đó các xúc động đã sản sinh, mà các xúc động, về phía chúng, là sáng tạo về những

Trang 32

phán định luân lý và về những giá trị Ý đồ này đã được tiến hành nhất là bởi Th.Ribot, trong một số chương của các tác phẩm của ông về tâm lý học cảm tính (la psychologie affective)(30) và bởi G.Tarde trong cuốn Lôgich xã hội ("Logique sociale").

Cũng xin lưu ý những nhận xét của Gustave Belot về vấn đề này (trong những Nghiên cứu về lô gích thực chứng) về những tính riêng biệt của cái mà ông gọi là "những hiện tượng phản hồi" ("les phénomenes de récunence"), chúng chủ yếu nằm trong "một quan hệ phản ứng lại bản thân" ("un rapport

de récunation sur soi même") Về phía mình, V Pareto đã vạch ra, trong lý thuyết của ông về những phái sinh (31) và về những thừa thải (des résidus)

và về những phương thức phối hóa của chúng, bản phác thảo về một lôgich riêng biệt

Tất cả những nghiên cứu ấy, ít nhất cũng một số dạng vẻ của chúng, đi vào tìm tòi liệu có tồn tại một lôgich đặc thù xã hội (une logique spécifiquement sociale) hay không Phần chúng tôi, chúng tôi đã dành cho vấn đề này nhiều chương trong cuốn sách về "Sự sáng tạo" (L'invention)

Quan hệ giữa các biểu hiện tập thể với các cấu trúc vật chất

Cấp (classe) quan hệ này tạo thành một trong những vấn đề hấp dẫn nhất của xã hội học Là bất khả phản bác rằng có sự hiện tồn của những quan hệ giữa các biểu hiện tập thể tức là những điều tin (les croyances) những giá trị với các cấu trúc vật chất, bởi tư tưởng chúng ta và những điều tin của chúng ta ảnh hưởng đến các thể chế, đến các cấu trúc và đến nền ngồi vật chất (l’assiette matérielle) của xã hội Thí dụ, trong một xã hội khi người ta tin rằng lợn là một con vật uế tạp, thì kết quả sẽ là phế bỏ sự chăn nuôi nó Cuộc điều tra một số vùng thuộc Mêhico do Cores tiến hành đã được thuận lợi lớn nhờ sự có mặt của một trong số lính của ông có một bộ râu rậm màu hung hung, mà bộ râu ấy đã được thổ dân nhất nhất tôn sùng, vì theo một vài truyền thuyết xưa cũ, thổ dân nhìn thấy ở người lính ấy sự thể hiện của Thần - Mặt Trời Một kiểu lối đơn giản thôi (sự phán định về giá trị) có thể dẫn đến những biến đổi thật sự tinh thần một xứ sở hoặc ngay cả những cư

Trang 33

dân của xứ sở ấy Cũng như các kiểu lối và các giác thức thẩm mỹ (gouts esthétiques) điều khiển trong một phạm vi rộng lớn các kỹ thuật.

Đã đôi khi người ta chủ trương rằng trong kinh tế chính trị học cung đi trước cầu (32) Đôi khi đó là sự thật, nhưng còn thường thấy hơn là cầu kích thích sự sản xuất và cả sự tìm tòi kỹ thuật “Quy luật thay thế" ("loi de subotitution") một trong những quy luật chủ yếu của động học kinh tế, chỉ có nghĩa như vậy mà thôi Một cầu không được thỏa mãn kích thích sự tìm tòi những thế dụng phẩm (succédanes) hay những sản phẩm thay thế (prodints

de remplacemento)

Đối tượng của xã hội học tĩnh

Đối tượng của xã hội học tĩnh là xác định trước hết những kiện xã hội chung nhất Bằng tiến hành so sánh các xã hội khác nhau, bằng phân tích các chức năng của chúng, bằng sự xác định những tương tự giữa các chức năng

ấy, nó cho phép tìm thấy những yếu tố cốt tử (les élements essentiels), ít nhất cũng là những yếu tố thường không thể tách rời khỏi mọi đời sống xã hội Ấy

là những yếu tố người ta thấy có trong mọi xã hội (33), bất kể tầm quan trọng hay thời đại của chúng

Những yếu tố cốt tử ấy nằm trong:

1 - Một số chức năng (chức năng kinh tế, chức năng thờ phượng, kỹ thuật, đẳng thức, giá trị, lĩnh vực cái linh thiêng và cái trần tục, v.v );

2- Những tác nhân (agents) của các chức năng khác nhau ấy

Như thế, nhiệm vụ của tĩnh học xã hội sẽ là, như A Comte nói, tiến hành sự giải phẫu các xã hội, bằng cách phân biệt các cơ quan chủ yếu của chúng, các chức năng chúng phải làm và cách vận hành của chúng Nó cũng

sẽ phải làm có thể nói sự giải phẩu tư tưởng của chúng, tức là tách ra những khái niệm chủ yếu mà người ta tìm thấy trong các xã hội rất khác nhau và chỉ

ra các hình thái mà các khái niệm ấy mang khoác đã có thể gắn bó như thế nào với các hình thái xã hội hoặc với các thể chế đi theo chúng

Trang 34

Sự "giải phẫu xã hội" còn bao hàm một dạng vẻ khác: ấy là sự miêu tả cái cấu trúc khác nhau (34) Tiếp theo, đến mức khả thể cao nhất, sự xác định một số mối liên hệ giữa các cấu trúc vật chất với các biểu hiện tập thể, tức là cái cách mà các xã hội quan niệm về tổ chức của chúng Như vậy người ta sẽ

đi tới sự xác định một số mô hình (types) xã hội; đơn giản hay phức tạp Các

mô hình xã hội mỗi loại được đặc định bởi các thể chế của nó là một mặt, và bởi tâm cách (mentalité) của nó là mặt khác, tức là luôn luôn tồn tại một tương ứng nhất định giữa cơ sở vật chất và pháp lý của xã hội với tâm cách của các thành viên của nó

Sự xác định các mô hình (35) (la de termination des types) nhóm hay

xã hội có tầm quan trọng lớn nhất cho sự khởi dựng một xã hội học thực sự khách quan Nó có tầm quan trọng như sự phân loại (classification) trong các khoa học tự nhiên, thí dụ trong động vật học, tất nhiên, với những biệt tính và nhất là một phức hợp tính cách mà động vật học không biết tới

Song, để không thuần túy trừu suất, sự xác định các mô hình phải vừa tính đếm đến những tính cách bên ngoài vừa đến tâm cách, ít nhất cũng là những biểu hiện đặc biệt nhất kèm theo các thể chế và các hình thái xã hội Chỉ với giá ấy, lý thuyết mới có thể, theo từ ngữ của Simiand, "theo được đích những khớp lắp của hiện thực” Tính phức tạp của hiện thực lịch sử, ông nói,

"không làm tổn hại tính chính thức của những nghiên cứu so sánh, cũng như những sự xây dựng các mô hình"(36)

Đối tượng của xã hội học động

Đối tượng của động học xã hội có thể được tóm tắt trong:

1- Sự xác định trình độ của tính năng biến (degré de vanabilité) của những yếu tố đã được tách riêng bởi tĩnh học xã hội Nói khác, là sự xác định tính mềm dẻo riêng (la plasticité respective) và những hình thái mà chúng mang khoác;

2- Sự xác định những phân tố của sự biến đổi (facteurs de vanations), tức là những hoàn cảnh sinh ra hay kèm theo những biến hóa

Trang 35

(transformations) mà người ta nghiệm thấy trong các yếu tố khác nhau cấu thành các xã hội; hoặc trong thời gian, hoặc trong không gian;

3- Đối tượng của xã hội học động cũng là xác định các phương thức tác động khác nhau của các phân tố ấy Nó cũng tìm cách miêu tả các kiểu loại khác nhau về hiện tượng chuyển tiếp thường đi theo những sự đổi thay xã hội Hình như đó là những dạng thái chính mà cái được A.Comte và J.Stuart Mill gọi là những "bất biến về kế tục" (les "uniformités de successions")(37) mang khoác, khi chúng được ứng dụng vào những đổi thay hay những biến đổi của các xã hội

Ý niệm hiện tượng chuyển tiếp có thể được hiểu theo nhiều cách: người ta có thể, khi nghiên cứu các lĩnh vực của các khoa học riêng biệt khác nhau, thí dụ như luật pháp, kinh tế, lịch sử, kỹ luật hoặc ngay cả nhận thức luận (theo cách hiểu của A Lalande, sự nghiên cứu của các khoa học được coi là những sản phẩm nhà quan sát bởi tinh thần người), chỉ ra những hiện tượng chung tên từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác nhau như thế nào Tổng lại, ấy là sự tìm tòi những quy luật của sự chuyển vị, sự phản hồi, sự cảm ứng,v.v

Thí dụ, một phát minh kỹ thuật sẽ dần dần dẫn tới những đổi thay trong cấu trúc kinh tế, rồi trong những thể chế Trong các trường hợp khác, một tín ngưỡng tôn giáo vừa canh cải các thể chế và, trong một chừng mực, kỹ thuật: thí dụ sự truyền bá đạo Hồi, hoặc ở thế kỷ XIX, sự truyền bá chủ nghĩa dân tộc Ở những khi khác sẽ là một hiện tượng lịch sử, do một loạt những đảo lộn, sẽ là kẻ sáng tạo nên những thể chế mới Như sự sáng tạo ra chế độ phong kiến, sau đế quốc Byzantin và những cuộc xâm lược man rợ Tất cả đó đều là những hiện tượng chuyển tiếp, mà xã hội học phải miêu tả, xếp loại và giải thích bằng cách tất nhiên phải sử dụng sự cống hiến của các khoa học khác Bởi hiển nhiên rằng khoa học về các thể chế phải cầu viện đến dân tộc học pháp lý, đến luật pháp, đến kinh tế học và sử học, tức là đến các khoa học miêu tả, phân tích và xếp loại: 1 Các hình thái của mỗi thể chế qua các

Trang 36

thế kỷ và các xứ sở, cũng như 2 Những diễn giải khác mau về chúng đã được đưa ra.

Một loại hiện tượng chuyển tiếp khác là những hiện tượng đã được nêu trên và chúng tạo nên những sự trao đổi hai chiều giữa cá nhân và xã hội hoặc giữa các nhóm xã hội khác nhau, có kích thước và nhất là có sự khuyếch phát không đều nhau Sự kiện rằng hai trật tự (ordres) ấy thâm nhập nhau và tồn tại đồng thời, không loại trừ việc người ta phải miêu tả những cảnh chính mà những sự trao đổi ấy diễn ra Sự xã hội hóa của các cá nhân

đã xảy ra như thế nào, những sự kiện xã hội hay lịch sử có đôi chút quan trọng đã vang giội đến họ như thế nào? Họ đã phản ứng lại những hiện tượng

ấy như thế nào, nhất khi sự phản ứng ấy mang hình thái những thôi động (forme d'impulsions) hoặc những phản ứng sáng tạo, tức là hình thái những phát minh? Như thế nào mà một số những phản ứng ấy bằng một hiệu năng đơn biệt (vertu singulier) đạt đến chỗ được một số nhóm chấp nhận và trở thành mầm mống của những thể chế mới? Bên cạnh những sự kiện ngoại lệ

ấy, cũng đã xảy ra như thế nào những canh cải trong các thể chế do những chuỗi dài phản ứng song hành và đồng thời (réactions paralleles et concomitantes), đáo đầu một thay đổi chiều hướng của những trào lưu tư tưởng, đáo đầu những canh cải của công luận là cái hoặc nó tự thân tác động, hoặc nó tạo nên một trạng thái thụ nhận (un état de receptivité)

Những thăng bằng xã hội

Ý niệm thăng bằng là một ý niệm rất chung mà người ta quan sát thấy trong tất cả các khoa học tự nhiên Đã từ lâu, một số khoa học xã hội, nhất là kinh tế học, đã nghiên cứu ý niệm thăng bằng và cũng đã đưa nó đến một sự hoàn thiện nào đó (38) Xã hội học phải đào sâu ý niệm này và nghiên cứu xem liệu nó có thể mở rộng ra ngoài lĩnh vực kinh tế Bởi, trong mọi trường hợp, ý niệm thăng bằng đều không thể tách khỏi những cơ chế phức hợp và canh cải bất thân (des modifications survenant) do tác động của những phân

tố bên ngoài và bên trong

Trang 37

Tóm lại, tính phức tạp của đời sống xã hội buộc phải dùng nhiều phương sách khác nhau để tiếp cận nó Sự cần thiết buộc nhà nghiên cứu phải chia nhỏ nó, phù hợp với phương pháp cartesien, thành nhiều khu vực,

mà mỗi khu vực có đối tượng ứng của nó Dù cách tiến hành nào, chúng ta cũng trở lại nói rằng mục đích của xã hội học là đạt tới sự lĩnh hội (la compréhension) rộng nhất (và bất kể những khó khăn liên quan mật thiết đến vấn đề) các hiện tượng xã hội Sự lĩnh hội được nhận thức bằng loại suy với

sự lĩnh hội mà các khoa học quan sát khác chiếm lĩnh được (39)

3 Xã hội học với tư cách một môn riêng biệt

Như C.Bougli (40) nói rất đúng rằng cái riêng của xã hội học là nó làm việc gián tiếp (de seconde main) trên các yếu tố do các khoa học khác cung cấp Nhưng một số tác giả không bằng lòng coi xã hội học là một khoa học của sự khái quát hóa (science de généralisation), sử dụng và tổng hợp những cống hiến của các khoa học xã hội khác Có thể kể như một sự phê phán đặc biệt xác định quan điểm ấy, sự phê phán của Vierkandt, đánh giá rằng xã hội học bách khoa, như nó đã được quan niệm bởi Comte và Spencer, rút cục chỉ

là một sự nối dài của khoa triết học lịch sử

Nói chung, tham vọng của mọi nhà xã hội học đã tỏ ra có khuynh hướng nói trên là muốn xã hội học nói cho đúng là một môn riêng biệt, không phải sự nối dài và sự phối hợp ít nhiều nhịp nhàng với các môn học khác Nhất là, một trong những tham vọng của họ là sáng tạo một khoa học xã hội học có một quan điểm riêng biệt, và nguyên tắc là nêu ra những khái niệm không hề có chút gì chung với những khái niệm của các khoa học xã hội khác

Người ta có thể xếp trong số các môn đệ của một xã hội học riêng biệt, tức là sử dụng những khái niệm mà người ta không tìm thấy cái tương đương trong các khoa học xã hội khác, phải của Ferdinand Toennies F.Toennies phân biệt giữa cộng đồng với xã hội Cộng đồng đặt trên cơ sở "những phương thức này của sự muốn có cội rễ trong tính mẫn cảm và bản năng và, được tăng cường bởi sự luyện tập, chúng trở thành tập quán và được hoàn

Trang 38

tất dưới hình thức tín ngưỡng và lòng tin"(41) Ông gắn buộc vào hình thái xã hội này các nhóm tự nhiên, xây dựng trên cơ sở tộc họ, mối thiện cảm và một cách chung là mối đồng cảm tự phát (le consensus spontanné) của các cá nhân Phong tục thống trị ở đây Trái lại, xã hội (Gesellschaft) phát triển dần dần nhờ ở ý chí tự do, "ý chí về chọn lựa" Ông gắn buộc cho nó các nhóm dành một phần rộng lớn cho sự tự do và cho ý chí cá nhân và lấy mục đích là một hình thức bên ngoài bản thân chúng Phong tục ở đây được biến thành kiểu lối.

Dù lý thuyết này đã có kết quả lớn ở Đức, cũng vẫn dễ dàng thấy sự phân biệt cơ bản, mà nó dùng làm chỗ dựa, chủ yếu là vũ đoán Là vũ đoán khi khẳng định sự tự do chọn lựa chiếm một chỗ rộng trong xã hội hơn trong cộng đồng (42), ít nhất là cũng ngay từ khi người vượt ra khỏi nhóm gia đình

là nhóm được coi là một thực tế, hàm chứa một liên hệ thể chất giữa các thành viên của nó Các nhà lý thuyết của sự vô chính phủ, thí dụ thế, đánh giá

là các nhóm xã hội (tức là theo cách tự do chọn lựa), mà theo định nghĩa của Toeunies thì các nhóm ấy lại được xây dựng trên cơ sở sự cưỡng bức Còn như các tình cảm, tính xúc động, khuynh hướng hoặc bản năng v.v , chúng

có thể mang khoác những hình thái rất khác nhau thậm chí trái nghịch Nói chính xác hơn, chúng là những hình thái rỗng không, khả thể tiếp nhận những nội dung khác nhau nhất

Cũng là như thế đối với sắc thái "giả tạo" mà nhiều môn đệ của Toennies cũng đã muốn biểu thị bằng cách cho rằng chỉ có cộng đồng mới là

tự nhiên, trong khi ấy xã hội là kết quả của một ước lệ hoặc của một cưỡng chế bên ngoài Về vấn đề xã hội, rất khó khi muốn ứng dụng tiêu chuẩn cái nhân tạo và cái tự nhiên (l’ artificiel et le naturel) Bởi trong xã hội học cũng như trong triết học, bao giờ người ta cũng thấy có ích khi nhắc lại ý kiến nổi tiếng của Spinoza: "Tất thảy những gì ở trong cõi tự nhiên đều có tính tự nhiên" Chứng cứ hay nhất về điều đó là những người Ngụy biện phái và Hoài nghi phái bao giờ cũng dùng đến bản năng như một luận cứ "làm tiêu tan" và

Trang 39

riêng để làm bối rối sự khẳng định tính cách không tự nhiên và thuần túy ước

Với các nhà xã hội học thuộc phái này, xã hội học phải phân biệt mình với các khoa học xã hội riêng biệt với tư cách là nó nhằm mục đích thuần túy hình thức, tức là nghiên cứu những hình thái của các quan hệ xã hội, bằng cách trừu suất "sự hạng của đời sống xã hội" ("matière de la vie sociale"), tức

là những cứu cánh kinh tế, pháp lý, v.v

George Simmel chỉ ra những phân biệt trên đó có thể xã hội xã hội học hình thái: "Một hiện tượng như sự hình thành một đảng, ông nói, được chú ý trong giới nghệ sĩ cũng như trong giới chính trị hoặc trong tôn giáo (44) Bởi thế ông diễn dịch rằng hiện tượng ấy có thể được nghiên cứu trong chính bản thân nó, không cần quan tâm đến những dạng vẻ cụ thể của nó

Cũng là như thế đối với các hiện tượng khác, như sự xung đột (conflict), sự đối lập, sự cạnh tranh, chúng có thể được trình ra trong phạm vi chính trị, kinh tế, tôn giáo, thẩm mỹ, v.v Ông cũng đề xuất cho xã hội học việc nghiên cứu những vấn đề rất đại cương, thí dụ "các hình thái xã hội được duy trì như thế nào"

Rất đáng chú ý rằng "xã hội học các quan hệ" thường được kèm theo bởi lý thuyết về ý thức tập thể coi như một thực tế biệt loại(suigeneris)

Xã hội học liên hệ tính

Trang 40

Quan niệm này về xã hội học nhận thức rằng xã hội học là một môn học riêng biệt, đã được bảo vệ nhiều nhất bởi Léopold von Wiese (45) Nó trực tiếp phái sinh từ quan điểm đã nói trên của Simmel.

Đối với ông, cái xã hội, hay cái liên - người (l'intethumain), đủ gồm vào một mạng lưới phức tạp những liên hệ giữa con mười Tiêu chuẩn cơ bản của các hình thái liên hệ là cái, von Wiese gọi là khoảng cách (la distance)

Sự kiện xã hội cơ bản cốt yếu ở sự xem xét sự kiện là những con người gần hoặc xa nhau nhiều hay ít Xã hội học, von Wiese nói, vậy cốt yếu ở sự phân tích, trước hết, những quá trình xã hội về liên lạc (processua sociaux de liaison) (xích lại gần nhau, đồng hóa, liên kết, v.v ) và những quá trình phân

ly (đối lập, cạnh tranh, xung đột, mâu thuẫn, v.v ) Tiếp theo, ông nghiên cứu các hình thái xã hội, đại chúng, các nhóm và các "tập thể trừu suất" (như Nhà nước, Giáo hội, nghề nghiệp, giai cấp, v.v ); ông xuất phát từ quan niệm rằng các hình thái xã hội tác động đến đời sống tâm thần: xã hội học liên hệ tính phải giúp tìm hiểu "những tình cảm và những biểu hiện (của cá nhân) đáp ứng tổ chức của đời sống xã hội" trong chừng mực nào Trong thực hành, xã hội học được quan niệm theo cách của von Wiese đi đến những phân tích trừu tượng hơi quá tuyệt đối Phương pháp ấy đã chỉ ra rằng nó khuynh hướng trở thành, mỗi khi người ta muốn dùng nó, một sự xếp loại kinh viện thêm mãi và xa rời hiện thực Bởi thế, sau khi đã liệt kê các quá trình về liên

hệ liên nhóm, về khu biệt, về tích hợp, về hủy diệt, về canh cải và về xây dựng, von Wiese chia chúng thành chừng sáu trăm năm mươi hình thái liên

Ngày đăng: 07/03/2017, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w