1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020

185 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 với mục tiêu đến năm 2020 dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chấ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trương Anh Dũng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ 10

1.1 DẠY NGHỀ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN

DẠY NGHỀ 10

1.1.1 Dạy nghề và các hệ thống dạy nghề 10

1.1.2 Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề 16

1.1.3 Vai trò của dạy nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội 24

1.2 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ 26

1.2.1 Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 26

1.2.2 Nội dung cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 30

1.2.3 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 42

1.2.4 Các yếu tố tác động đến cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 43

1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 47

1.3 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 49

1.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 49

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 57

Kết luận Chương 1 59

Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2013 61

2.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM 61

2.1.1 Các quy định về hệ thống dạy nghề và chính sách phát triển dạy nghề ở Việt Nam 61

2.1.2 Thực trạng hệ thống cơ sở dạy nghề 66

2.1.3 Đánh giá chung về thực trạng hệ thống dạy nghề 70

Trang 4

2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ Ở

VIỆT NAM 74

2.2.1 Thực trạng cơ chế quản lý huy động, tạo lập nguồn lực tài chính

dạy nghề 74

2.2.2 Thực trạng cơ chế quản lý phân bổ, sử dụng tài chính dạy nghề 92

2.2.3 Thực trạng cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính dạy nghề 116

2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 120

Kết luận Chương 2 123

Chương 3: 124GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 124

3.1 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 124

3.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta đến năm 2020 124

3.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển dạy nghề Việt Nam đến năm 2020 125

3.1.3 Quan điểm và mục tiêu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 127

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 130

3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý huy động nguồn lực tài chính 130

3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý phân bổ, sử dụng tài chính 141

3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính 158

3.2.4 Nhóm giải pháp cải thiện tính minh bạch và công khai tài chính 164

3.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực bộ máy quản lý tài chính 166

3.3 LỘ TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 168

3.3.1 Lộ trình thực hiện các giải pháp 168

3.3.2 Điều kiện thực hiện các giải pháp 170

Kết luận Chương 3 172

KẾT LUẬN 173

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 175

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 176

Trang 5

ĐMKTKT và TC, TCCL Định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác 11 Bảng 2.1 Chi NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 77 Bảng 2.2 Thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp giai đoạn 2010-2012 của 40 trường nghề được lựa chọn đầu tư thành trường nghề chất lượng cao 86 Bảng 2.3 Định mức phân bổ cho giáo dục đào tạo năm 2011 93 Bảng 2.4: So sánh kinh phí chi thường xuyên/học sinh giữa các trường 102 Bảng 2.5 So sánh bình quân chi thường xuyên/học sinh học nghề quy đổi

giai đoạn 2001-2013 103 Bảng 2.6 Tổng hợp kiểm tra, giám sát đề án 1956 giai đoạn 2010-2012 119 Bảng 2.7: Mã nghề cấp II theo các trình độ dạy nghề 146

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Minh họa về hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn 13

Hình 1.2 - Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề 16

Hình 1.3 Những lý luận tán thành và phản đối 27

về trách nhiệm tài chính cho dạy nghề giữa các bên [30] 27

Hình 1.4 Nội dung cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 31

Hình 2.1 Mô hình phân cấp quản lý dạy nghề ở Việt Nam 65

Hình 2.2 Cơ cấu nguồn lực tài chính cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 74

Hình 2.3 Diện tích thư viện so với tiêu chuẩn và qui mô đào tạo 108

Hình 2.4 So sánh cơ cấu chi cho dạy nghề 2006-2010 và 2011-2013 111

Biểu 2.1 Mạng lưới CSDN giai đoạn 2007-2013 67

Biểu 2.2: Tuyển sinh học nghề giai đoạn 2007-2013 68

Biểu 2.3 Một số nghề đào tạo phổ biến chia theo trình độ đào tạo và số lượng trường CĐN đăng ký đào tạo 69

Biểu 2.4 Tốc độ tăng NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 78

Biểu 2.5 Nguồn thu học phí học nghề giai đoạn 2007-2013 83

Biểu 2.6 So sánh nguồn thu học phí với chi thường xuyên và chi NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 84

Biểu 2.7 Chi thường xuyên cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 100

Biểu 2.8: Chi XDCB cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 105

Biểu 2.9 Diện tích phòng học lý thuyết, xưởng thực hành so với tiêu chuẩn và qui mô đào tạo tại các trường CĐN 106

Biểu 2.10 Diện tích phòng học lý thuyết, xưởng thực hành so với qui mô đào tạo tại các trường TCN 106

Biểu 2.11 Diện tích ký túc xá so với tiêu chuẩn và qui mô đào tạo của các trường CĐN và TCN 107

Biểu 2.12: Chi CTMTQG cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 109

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, dạy nghề đã từng bước được đổi mới và phát triển cả về quy mô và chất lượng đào tạo, bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cho nền kinh tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội Đóng góp vào những kết quả đó có vai trò quan trọng, mang tính quyết định của các nguồn lực tài chính cho dạy nghề Từ khi có Luật Dạy nghề đến nay, chi NSNN cho dạy nghề tăng 3,2 lần, trong đó chi thường xuyên tăng 2,6 lần, chi đầu tư tăng 3,6 lần và chi CTMTQG tăng hơn 4 lần

Theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 nước ta

về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt mục tiêu đó, Đảng

và Nhà nước đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba giải pháp đột phá chiến lược, trong đó dạy nghề có vai trò hết sức quan trọng Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 với mục tiêu đến năm 2020 dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới

Để đạt được những mục tiêu to lớn đó, bên cạnh việc tăng cường huy động các nguồn lực tài chính cho dạy nghề thì yêu cầu quản lý, sử dụng tài chính dạy nghề sao cho hiệu quả cũng đang được đặt ra như là một trong những giải pháp có tính đột phá, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy tiến trình đổi mới quản lý tài chính công nói chung, đổi mới cơ chế quản lý tài chính và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên đây, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Hoàn

thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020” để làm luận án tiến sĩ kinh tế

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của luận án về đề tài này là tìm kiếm được giải pháp có tính khoa học và thực tiễn nhằm giải quyết những điểm hạn chế, bất cập hiện nay về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, qua đó sẽ tạo động lực để thúc đẩy dạy nghề nước ta phát triển theo mục tiêu Chiến lược đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Những nhiệm

vụ cụ thể để thực hiện mục đích nghiên cứu là:

- Hệ thống hoá và phát triển thêm những vấn đề lý luận về dạy nghề, cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

- Tổng kết kinh nghiệm của một số nước về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề; rút ra được một số bài học kinh nghiệm có giá trị có thể nghiên cứu áp dụng cho Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng về dạy nghề, cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam Trên cơ sở đó, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng nêu trên

- Đề xuất quan điểm và các giải pháp để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam, phù hợp với những thay đổi về hoàn cảnh KT-XH trong nước và quốc tế thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ

chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận án:

- Về nội dung: Tài chính dạy nghề được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Với mỗi nguồn tài chính lại có cơ chế quản lý riêng khó có thể gộp để nghiên cứu và phản ánh trong phạm vi một luận án Do đó, nội dung nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn về lý luận và thực tiễn của cơ chế huy động, cơ chế phân bổ, sử dụng và cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính từ nguồn NSNN và thu sự nghiệp của hệ thống dạy nghề công lập (không bao gồm nguồn tài chính huy động từ nước ngoài), nhìn từ góc độ của cơ quan tài chính tổng hợp

Trang 10

- Về không gian và thời gian: Trên cơ sở vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc

tế để khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam từ năm 2007 (kể từ khi Luật Dạy nghề có hiệu lực thi hành) đến năm 2013; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

ở Việt Nam phù hợp với những thay đổi về hoàn cảnh KT-XH trong nước và quốc

tế đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu; trong đó lấy phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản, đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh, qui nạp, diễn dịch để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu Trong số các phương pháp nêu trên, thì phương pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và phương pháp quy nạp, diễn dịch là các phương pháp chủ đạo để giúp tác giả hoàn thành luận án

Phương pháp tổng hợp, thống kê, được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập

được từ nhiều nguồn khác nhau: Các tỉnh, thành phố; Vụ NSNN- Bộ Tài chính, Tổng cục Dạy nghề Ngoài ra, thông tin còn được thu thập trên các phương tiện thông tin đại chúng như các tạp chí khoa học, sách chuyên khảo, internet

Phương pháp đối chiếu, so sánh: sau khi thu thập số liệu từ các nguồn khác

nhau, tác giả tiến hành đối chiếu, so sánh để chọn được các thông tin có độ tin cậy phục vụ cho nghiên cứu, đánh giá phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Những phân tích định lượng đã giúp cho việc đánh giá và đưa ra kết luận có căn cứ khoa học và tin cậy hơn

Phương pháp qui nạp, diễn dịch: dựa trên những số liệu, thông tin thực tế thu

thập được, tác giả tiến hành phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam; từ đó rút ra nhận xét về kết quả thực hiện, những hạn chế, nguyên nhân còn tồn tại Trên cơ sở những kết luận rút ra từ phương pháp quy nạp, luận án đưa

ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề Việt Nam phù hợp những thay đổi về hoàn cảnh KT-XH trong nước và quốc tế đến năm 2020

Trang 11

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Luận án đã hệ thống hóa, phân tích và phát triển thêm

nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống dạy nghề, các nguồn tài chính đầu tư cho dạy nghề, cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cơ chế

quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam thời gian qua Điểm nổi bật về ý nghĩa thực tiễn của luận án về đề tài này chính là ở những kết quả đích thực về việc chỉ ra được những mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của những hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam từ góc độ các văn bản pháp lý và quá trình tổ chức thực hiện các văn bản này Đây là những luận cứ quan trọng để tác giả đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở nước ta trong thời gian tới

6 Kết cấu chung của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển

dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020

Trang 12

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, các chính sách, cơ chế tài chính cho GD-ĐT và dạy nghề cũng đã và đang từng bước được đổi mới và hoàn thiện nhằm huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và nâng cao hiệu quả đầu

tư để phát triển lĩnh vực này Trong thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho GD-ĐT nói chung và cho dạy nghề nói riêng theo các quy mô và cấp độ khác nhau như:

- Về vai trò, vị trí của dạy nghề trong nền kinh tế thị trường, đã có một số công trình nghiên cứu được tập hợp trong cuốn sách “Đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT Việt Nam” [2] Trong phần II của cuốn sách - “Đổi mới và phát triển dạy nghề ở Việt Nam”, các nhà khoa học, nhà quản lý đã nghiên cứu, phân tích những quan điểm của Đảng, đánh giá những chính sách của Nhà nước về phát triển dạy nghề ở nước ta và đưa ra các luận điểm về vai trò, vị trí của dạy nghề đối với phát triển kinh tế xã hội, là vấn đề quan trọng hàng đầu trong đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam Trong đó, trọng tâm là đổi mới quản lý nhà nước và hoàn thiện

cơ chế, chính sách tạo động lực phát triển dạy nghề; đẩy mạnh xã hội hóa và mở rộng hợp tác quốc tế; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cùng với việc tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện đổi mới và phát triển dạy nghề

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập sâu, hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về dạy nghề, các hệ thống dạy nghề, các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề; chưa có bài viết nào đánh giá tổng thể thực trạng dạy nghề ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013

- Về cơ chế quản lý tài chính, ngân sách dạy nghề nói riêng và GD-ĐT nói chung, có một số công trình nghiên cứu như:

+ Báo cáo của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) về “Cấp tài chính cho dạy nghề Việt Nam” (2007) [22] đã tiến hành thực hiện tìm hiểu thực tế nhằm đánh giá thực trạng cấp tài chính cho dạy nghề và đề xuất các hoạt động tiếp theo cần thực hiện để hướng đến một hệ thống cấp tài chính bền vững cho dạy nghề Mặt được của bản báo cáo này là đã trình bày tổng quan về thực trạng cấp tài chính cho

Trang 13

Dạy nghề ở Việt Nam ở các cơ sở dạy nghề công lập, các cở sở dạy nghề tư nhân, các cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp; đề cập tới các chính sách phù hợp của Chính phủ đối với đổi mới cơ chế cấp tài chính cho dạy nghề; báo cáo cũng đưa ra nột số vấn đề và các giải pháp lựa chọn về tài chính dạy nghề và khẳng định việc tiếp tục xây dựng hệ thống tài chính chỉ là một phần việc trong toàn bộ quá trình đổi mới dạy nghề, và cơ chế tài chính mới sẽ chỉ mang lại tác động mong đợi khi nó được thực thi cùng với việc đổi mới các thành tố khác của hệ thống

+ Nghiên cứu của các chuyên gia công bố tại Hội nghị khu vực về đào tạo nghề tại Việt Nam tháng 10 năm 2012 do Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức và Bộ LĐTBXH tổ chức có một số bài viết nêu tài chính bền vững cho đào tạo nghề là một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các hệ thống đào tạo nghề [23] Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo nguồn lực tài chính đầy đủ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề có năng lực, cơ sở vật chất học nghề… và chất lượng đầu ra được kỳ vọng để thực hiện đào tạo nghề theo các tiêu chuẩn nghề Việc nâng cao chất lượng đầu ra thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính Ở Việt Nam và nhiều nước ASEAN khác, việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính cũng xuất phát từ công tác mở rộng hệ thống đào tạo nghề do gia tăng dân số và nhu cầu đang tăng lên về nhân lực có chất lượng Trước bối cảnh gia tăng cạnh tranh đối với những nguồn lực tài chính công có hạn cũng như các yêu cầu tài chính cho việc

mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu khiến việc đảm bảo tài chính bền vững cho đào tạo nghề trở thành một thách thức chính và là vấn

đề then chốt của các nỗ lực phát triển đào tạo nghề Về mặt này, việc giải quyết các yêu cầu tài chính đối với đào tạo nghề hướng cầu là một vấn đề rất quan trọng Nó bao gồm thông tin về chi phí thực tế, các nguồn phát sinh chi phí chính và các chi phí giới hạn theo tính khả thi Một vấn đề quan trọng khác đó là huy động các nguồn tài trợ bổ sung cho tài chính công, tập trung chủ yếu vào các khoản đóng góp của các doanh nghiệp và các học viên (từ cha mẹ) với vai trò là các bên tham gia và những người hưởng lợi Vấn đề cốt yếu thứ ba đó là quản lý và phân bổ nguồn vốn, tập trung vào tính minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng như hiệu suất và hiệu quả của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện

Trang 14

Tuy nhiên, báo cáo nêu trên không đưa ra được những vấn đề mang tính lý luận về các nguồn tài chính đầu tư cho dạy nghề, cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính dạy nghề; chưa nêu được cụ thể kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Phần thực trạng trong báo cáo cũng trình bày có tính tổng quát, chưa đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam thời gian qua Chưa làm rõ những mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của những hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam từ góc độ các văn bản pháp lý và quá trình tổ chức thực hiện các văn bản này

+ Luận án của tác giả Trần Thị Thu Hà (1993), Bộ Giáo dục và Đào tạo với đề tài

"Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý hệ thống ngân sách, hệ thống giáo dục quốc dân" [8] Luận án thực hiện trong bối cảnh nước ta đã và đang từng bước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, với sự xuất hiện của những bất cập trong hệ thống giáo dục quốc dân Những lập luận về mối quan hệ giữa đổi mới cơ chế quản lý hệ thống NSNN với đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân là khá chặt chẽ và có sức thuyết phục Tuy nhiên, Luận án chưa đi sâu phân tích được những đặc thù của từng cấp bậc học trong hệ thống giáo dục để đề xuất cơ chế quản lý tài chính cho phù hợp

+ Luận án của tác giả Đặng Văn Du (2004), Học viện Tài chính với đề tài

"Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học"[5] Luận án chọn vấn đề nghiên cứu nhằm giải quyết những bức xúc trong sử dụng tài chính như

là một trong những công cụ để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học công lập Luận án ủng hộ cho việc triển khai "áp giá dịch vụ" đối với cấp giáo dục đại học; bởi nó vừa là con đường tạo nguồn tài chính quan trọng cho các cơ sở giáo dục đại học, vừa buộc người tiêu dùng phải quan tâm đến góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên, do những đặc thù của đào tạo đại học so với dạy nghề nên có một số nghiên cứu của Luận án khi vận dụng ở lĩnh vực dạy nghề là không phù hợp

Trang 15

+ Luận án của tác giả Nguyễn Anh Thái (2008), Học viện Tài chính với đề tài "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học của Việt Nam"[18]; Luận án của tác giả Phạm Văn Ngọc (2007), Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh với đề tài "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Đại học quốc gia trong tình hình đổi mới quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay"[13]; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ GD-ĐT của PGS.TS Vũ Duy Hào là chủ nhiệm (2006), với đề tài "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam"[10] Các nghiên cứu trên đây đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và dựa vào đặc điểm, tính chất hoạt động của các trường đại học, luận án đề xuất các giải pháp về cơ chế quản lý tài chính ở tầm vĩ mô, vi mô đối với các trường đại học nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các trường đại học ở Việt Nam như cơ chế tạo nguồn tài chính; cơ chế quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính; quản lý tài sản; kiểm tra, kiểm soát tài chính và xây dựng và tăng cường hệ thống quản trị đối với các trường đại học Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về lý luận, thực trạng và giải pháp đề cập sâu tới nội hàm của cơ chế quản lý tài chính, đặc biệt là các phương pháp, hình thức và những công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nhằm đạt mục tiêu quản lý

+ Nghiên cứu của TS Nguyễn Trường Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính Sự nghiệp - Bộ Tài chính với bài viết Đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng đào tại đại học trong kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học” do Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính phối hợp tổ chức, Hà Nội năm 2012 [25] Bài viết đã nêu và phân tích yêu cầu

và cơ sở pháp lý thực hiện đổi mới; yêu cầu thực tiễn đòi hỏi đổi mới và đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế tài chính như: từng bước tính đủ chi phí đào tạo cần thiết trong học phí; đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực từ NSNN; đổi mới cơ chế

tự chủ tự chịu trách nhiệm tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; đổi mới cơ chế hỗ trợ chi phí đào tạo đối với người học; có chính sách khuyến khích, gắn kết giữa đào tạo với NCKH… Tuy nhiên, bài viết chưa đưa ra được những khái

Trang 16

niệm rõ ràng về cơ chế tài chính, nội hàm của cơ chế tài chính, cũng như chưa nêu bật được những yếu tố tác động tới nó để là nền tảng lý luận khi phân tích, đánh giá thực trạng cũng như đề xuất những giải pháp để đổi mới cơ chế này

Ngoài các công trình nghiên cứu trên đây, còn có một số công trình nghiên cứu về tài chính dạy nghề ở cấp độ Luận văn thạc sĩ và các nghiên cứu ở các địa phương cụ thể Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu, hay một đề tài nào được thực hiện một cách hệ thống và có bài bản về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam Do vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản

lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020” để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ kinh tế Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu có liên quan về lý luận của cơ chế quản lý tài chính nói chung và cơ chế quản lý tài chính trong các cơ sở đào tạo nói riêng, Luận án đã hệ thống hoá và làm rõ ràng hơn những lý luận về quan niệm, nội dung, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế quản lý tài chính dạy nghề; Luận án đã bổ sung những lý luận về các phương pháp, hình thức và những công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nhằm đạt mục tiêu quản lý; Luận án đã nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề của một số quốc gia trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam, từ đó đề xuất được giải pháp có tính khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính để hỗ trợ dạy nghề phát triển theo mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam đến năm 2020 Những kết quả nghiên cứu trên đây là những đóng góp của Luận án cho khoa học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng

Trang 17

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ

1.1 DẠY NGHỀ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ

1.1.1 Dạy nghề và các hệ thống dạy nghề

1.1.1.1 Khái niệm dạy nghề

“Dạy nghề” hay “đào tạo nghề” là những thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến khi đề cập tới hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nhiều nước trên thế giới:

William McGehee (1967) đưa ra định nghĩa: dạy nghề là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty [38]

Tổ chức lao động quốc tế ILO đưa ra định nghĩa: dạy nghề là những hình thức đào tạo để tạo ra công ăn việc làm; thông qua các phương tiện như kỹ thuật, thương nghiệp hay quản lý; qua đó có được các kiến thức hay kỹ năng thu được hay phát triển thêm ở bên trong hay bên ngoài quá trình đào tạo, bao gồm cả đào tạo lại [31]

Luật Giáo dục nghề Trung Quốc định nghĩa: dạy nghề là một phần quan trọng của giáo dục được nhà nước đảm bảo và là một hướng quan trọng để khuyến khích phát triển kinh tế xã hội và việc làm Nhà nước phát triển dạy nghề, thúc đẩy cải cách dạy nghề, tăng chất lượng dạy nghề, thiết lập và cải thiện hệ thống dạy nghề cùng với phát triển kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội [34]

Luật Dạy nghề Việt Nam nêu: mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp,

có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [16]

Tổng hợp những định nghĩa nêu trên, để có thể hiểu một cách rõ ràng, đầy đủ

về khái niệm dạy nghề thì ta có thể định nghĩa: “Dạy nghề (hay đào tạo nghề) là

Trang 18

một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phương pháp nhất định nhằm trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết để họ có năng lực hành nghề tương xứng với trình độ được đào tạo”

Trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia, dạy nghề có sự khác biệt nhất định với các bậc giáo dục khác Sự khác biệt đó được tóm tắt qua bảng dưới đây:

Bảng 1.1 Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác

Tiêu chí

Giáo dục mầm non

Giáo dục phổ thông

Giáo dục đại học

Đối tượng

Học sinh tốt nghiệp trung học hoặc người lao động

Trẻ em, thường dưới tuổi học tiểu học

Học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông

Học sinh tốt nghiệp trung học

Mục tiêu

Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo

Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu

tố đầu tiên của nhân cách

Giúp hs phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, hình thành nhân cách con người

Đào tạo người học

có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục

Bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp

và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của Học sinh

Coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành

Trang 19

1.1.1.2 Hệ thống dạy nghề

Hệ thống dạy nghề là cách thức tổ chức mạng lưới các tổ chức cung cấp dịch

vụ dạy nghề nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của mỗi quốc gia Trên thế giới đang tồn tại các hệ thống dạy nghề khác nhau, cung cấp các dịch vụ dạy nghề khác nhau cho những khách hàng khác nhau và chịu trách nhiệm báo cáo cho những cơ quan khác nhau Các hoạt động dạy nghề của quốc gia thường được phân chia giữa nhà nước, chính quyền trung ương, địa phương và giữa một số bộ, ngành theo những nhóm người học nghề nhất định; chúng được đầu tư tài chính từ những tài khoản riêng rẽ và được quản lý riêng biệt Hiểu rõ các hệ thống dạy nghề khác nhau là cần thiết để có cơ chế quản lý nói chung và cơ chế quản lý tài chính nói riêng đối với dạy nghề có hiệu quả

- Theo tính chất tài chính đầu tư cho dạy nghề, dạy nghề được chia làm 02 hệ thống sau đây:

+ Hệ thống dạy nghề công lập, do nhà nước đầu tư, đảm bảo hoạt động khi Nhà nước nhận thấy những lợi ích xã hội đạt được đủ lớn để tác động đến số đông dân chúng Khi đó, những ưu tiên xã hội được thiết lập và thường định hướng cho hoạt động tài chính dạy nghề; cải thiện năng suất lao động và thúc đẩy việc làm thường được quan tâm và ưu tiên Hệ thống này được duy trì khi những người lao động được đào tạo có thể thu hút thêm việc làm hoặc tự tạo việc làm, và kết quả là nâng cao được phúc lợi cho xã hội

+ Hệ thống dạy nghề ngoài công lập, do các tổ chức, cá nhân đảm bảo hoạt động khi họ nhận thấy đào tạo nghề giúp nâng cao kỹ năng, thu nhập cho bản thân người lao động hay người sử dụng lao động thông qua việc kỹ năng tốt hơn tạo ra năng suất lao động và lợi nhuận cao hơn Mặc dù ngân sách Nhà nước là một nguồn lực chính, tuy nhiên khi mà dạy nghề cũng tạo ra những lợi ích cá nhân cho phía người học và doanh nghiệp, nhất là khi mà họ trực tiếp là người hưởng lợi thì họ nên đầu tư tài chính cho dạy nghề

Với đặc điểm là một hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng với phí tổn lớn, dịch vụ dạy nghề có thể do khu vực công hoặc khu vực tư nhân cung cấp, tùy thuộc vào việc so sánh tổn thất phúc lợi xã hội và được lý giải bằng đồ thị dưới đây:

Trang 20

Hình 1.1 Minh họa về hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn

Giả sử hàng hóa công cộng có chi phí biên để sản xuất là c và do phát sinh thêm chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới p Mức cung cấp hàng hóa cộng cộng hiệu quả nhất là khi chi phí biên bằng lợi ích biên nghĩa là Qo Tuy nhiên do giá bị đẩy lên p bởi chi phí giao dịch nên chỉ còn Qe người sử dụng hàng hóa, xã hội bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giác ABE Thế nhưng nếu hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứ không phải Qo Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí biên c nên

xã hội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích hình tam giác EFQm do tiêu dùng quá mức Trong trường hợp này Chính phủ muốn quyết định xem nên cung cấp hàng hóa công cộng miễn phí hay thu phí cần phải so sánh tổn thất phúc lợi xã hội, nếu tổn thất do tiêu dùng quá mức nhỏ hơn tổn thất trong trường hợp tiêu dùng dưới mức hiệu quả thì cung cấp miễn phí và ngược lại Tuy nhiên việc cung cấp hàng hóa cộng cộng miễn phí hay thu phí hoàn toàn không liên quan đến khu vực công cộng hay khu vực tư nhân sẽ sản xuất nó Nếu Chính phủ thấy rằng một hàng hóa công cộng nào đó cần được cung cấp miễn phí thì Chính phủ hoàn toàn có thể đặt hàng khu vực tư nhân sản xuất rồi cung cấp nó

Trang 21

- Theo mục tiêu tổ chức quản lý, dạy nghề được chia thành 03 hệ thống sau đây:

+ Hệ thống dạy nghề cung cấp các khóa học dài hạn mang tính chất kỹ thuật

và lô gíc với một số môn học mang tính học thuật, lý thuyết Hệ thống này thường được cung cấp bởi các trường nghề, trường cao đẳng, đại học Những trung tâm đào tạo của hệ thống giáo dục đại học cũng có thể thực hiện các chương trình đào tạo nghề nâng cao cho các kỹ thuật viên và kỹ sư Ở nhiều quốc gia, các trường thuộc

hệ thống giáo dục phổ thông cũng có tham gia đào tạo những nghề ở cấp độ đơn giản (ví dụ như: làm tóc, nấu ăn) hoặc cấp độ căn bản (ví dụ như: bảo dưỡng xe ô

tô, đánh máy chữ) cho đối tượng là thanh niên

+ Hệ thống đào tạo nghề cho thị trường lao động cung cấp các chương trình liên quan đến nghề nghiệp bao gồm các khóa đào tạo căn bản ngắn hạn cho thanh niên, các khóa học ngắn hạn và dài hạn được chỉ định cho những lao động thất nghiệp; các khóa học nâng cao cho người lao động Trong hệ thống này, nhân tố chính thường là các tổ chức đào tạo của quốc gia với một mạng lưới nhiều trung tâm đào tạo có gắn kết chặt chẽ với các cơ quan lao động địa phương

+ Hệ thống đào tạo nghề tại doanh nghiệp bao gồm những hướng dẫn được cung cấp hoặc đầu tư tài chính bởi các doanh nghiệp cho công nhân của họ, cũng có thể được thực hiện tự nguyện thực hiện với những quy định nhất định Các quốc gia

có sự khác nhau về vai trò của chính phủ trong việc tham gia quản lý việc đào tạo nghề tại doanh nghiệp với 3 hình thức chủ yếu sau: chính phủ quy định cứng (luật định), không quy định cứng, hoặc các doanh nghiệp tự quy định Cụ thể:

Ở một số nước, chính phủ đưa ra quy định cụ thể một tỷ lệ tối thiểu bắt buộc

về chi phí đào tạo của doanh nghiệp hoặc một tỷ lệ tối thiểu lao động cần phải được đào tạo hàng năm của doanh nghiệp Theo đó, các hoạt động đào tạo của doanh nghiệp được quy định và giám sát chặt chẽ bởi chính phủ Ở một số nước (nhất là các nước Mỹ la tinh), phần lớn các cơ sở đào tạo được giao kinh phí từ thuế đào tạo

do các doanh nghiệp đóng góp và tự quản lý bởi các thành viên Tuy nhiên, các hoạt động của họ được chính phủ pháp luật hóa và kiểm tra

Trang 22

Ở một số nước khác, chính phủ hạn chế can thiệp và các doanh nghiệp được

tự do quyết định đào tạo lao động như thế nào và bao lâu Các doanh nghiệp có thể trực tiếp đào tạo hoặc thuê các cơ sở đào tạo cho lao động của họ Người lao động

có thể tự tham gia các khóa học và nhận được sự hỗ trợ từ phía chủ sử dụng lao động Các ngành công nghiệp có thể tạo ra các tổ chức đào tạo trong ngành, điều này sẽ đảm bảo sự hợp tác, phối hợp, cung cấp thông tin và tham gia vào việc phát triển hệ thống văn bằng dạy nghề quốc gia Tuy nhiên, ở đâu mà các doanh nghiệp

tư nhân nắm quyền chủ động về dạy nghề thì ở đó không có hệ thống đào tạo nghề chính quy

Ở một số nước khác, đặc biệt là các nước công nghiệp ở Châu Âu thì các doanh nghiệp tự đặt ra quy định về dạy nghề Ở những quốc gia này, đào tạo tại doanh nghiệp liên quan chặt chẽ với các hiệp định về lao động của quốc gia hay của ngành, nó quy định cụ thể về khung tổ chức đào tạo nghề Các ngành công nghiệp thiết lập cơ chế cùng phối hợp quản lý gồm các hội đồng kỹ thuật, hội đồng người học và những tổ chức như vậy để giám sát các hiệp định, phối hợp với các hoạt động đào tạo của ngành, quản lý tài chính, đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp trước chính phủ và liên quan tới những phân tích cần thiết trong hoạt động đào tạo, kể cả việc xây dựng kế hoạch cho các khóa đào tạo của nhà nước cho các doanh nghiệp

Các hệ thống đào tạo nghề trên đây được thực hiện rất khác nhau giữa các quốc gia, tuy nhiên ở nhiều quốc gia đang phát triển thì thịnh hành là hệ thống các trường hoặc trung tâm dạy nghề thực hiện các chương trình đào tạo nghề cơ bản Các quốc gia này thường thiếu vắng các cơ sở đào tạo cho đối tượng là người lao động bị thất nghiệp hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động, và hình thức đào tạo tại doanh nghiệp thường không phát triển Phương thức đào tạo nghề truyền thống được cung cấp bởi những người chủ sử dụng lao động, ở đó người học nghề không được trả lương hoặc trả lương rất thấp Người chủ sử dụng lao động tổ chức các khóa đào tạo nhằm tăng năng suất lao động Trong nhiều trường hợp, Chính phủ chỉ liên quan đến việc quy định về chuẩn đào tạo Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia thì dịch vụ dạy nghề cần thiết phải có sự tham gia của Chính phủ nhằm tránh tổn thất phúc lợi

Trang 23

xã hội, đồng thời nhằm gắn kết tốt hơn giữa đào tạo nghề với các chính sách kinh tế,

xã hội, việc làm của quốc gia; đồng thời việc gia tăng sự quan tâm nhằm phân phối

cơ hội học tập những bộ phận người nghèo, người yếu thế trong xã hội

1.1.2 Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề

Phát triển dạy nghề là một tất yếu để đạt được mục tiêu đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng, có tay nghề cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quá trình phát triển dạy nghề có mối quan hệ hữu cơ, qua lại với nhiều yếu tố của phát triển kinh tế - xã hội như: xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập; tác động của kinh tế thị trường; yếu tố khoa học - công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất hiện các ngành, nghề mới, các khu vực kinh tế động lực; cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với dạy nghề…

Hình 1.2 - Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề

1.1.2.1 Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan; xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang ngày càng quy tụ các hoạt động xuyên quốc gia làm gia tăng dòng giao lưu toàn cầu về vốn đầu tư, hàng hoá, lao động, dịch vụ

DẠY NGHỀ

Cơ chế , chính sách quản lý tài chính

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lđ

Khoa học công nghệ

Kinh tế thị trường

Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập

Trang 24

ngân hàng, thông tin; nhiều vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu đang được các quốc gia quan tâm cùng hành động chung để giải quyết như vấn đề nghèo đói, phát triển nguồn nhân lực, công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, bình đẳng, tiến bộ

và công bằng xã hội, an sinh xã hội Toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, nhưng cũng có không ít thách thức Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ diễn ra sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt hơn

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tác động mạnh đến phát triển dạy nghề từ hai hướng cơ bản, đó là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia trong quá trình hội nhập và yêu cầu đảm bảo có được đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận nguồn đầu tư từ nước ngoài đưa vào

Ở hướng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm, dịch vụ, cấp doanh nghiệp và quốc gia, nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, là con đường cơ bản, giải pháp đột phá trên cơ sở phát triển mạnh dạy nghề, nâng cao chất lượng lao động, nhanh chóng đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao theo chuẩn mực quốc gia và quốc tế, trong đó quan trọng nhất là các tiêu chuẩn về trình độ lành nghề của lao động; khả năng tiếp thu nhanh chóng, sáng tạo

và làm chủ công nghệ; khả năng chuyển đổi nghề linh hoạt; tính chịu trách nhiệm; khả năng nắm bắt và giao tiếp với khách hàng; khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường văn hoá đa dân tộc, tôn giáo Đó là những yêu cầu rất mới về chuẩn mực chất lượng lao động kỹ thuật đảm bảo khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập

Hướng thứ hai rất quan trọng tác động đến phát triển dạy nghề là đáp ứng yêu cầu lao động kỹ thuật có tay nghề trình độ cao của thị trường lao động trong nước và quốc tế Các quốc gia trong quá trình hội nhập, trong xu thế toàn cầu hoá có nhiều cơ hội trong việc tạo việc làm mới ở các khu vực như đầu tư trực tiếp nước ngoài; doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng xuất khẩu; xuất khẩu lao động và chuyên gia đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ lao động có nghề tương ứng

Trang 25

1.1.2.2 Tác động của kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là một trong những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến phát triển dạy nghề trên nhiều mặt, nhất là các mặt sau:

- Phát triển kinh tế thị trường phải trên cơ sở hình thành về cơ bản thể chế thị trường, tạo lập khung khổ pháp lý và tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường, trong

đó có thị trường lao động Sự hình thành, phát triển và hoạt động của thị trường lao động thể hiện trong các quan hệ lao động và điều tiết quan hệ cung - cầu lao động Lao động tham gia vào thị trường lao động với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt Người lao động có năng lực nghề nghiệp và phẩm chất vượt trội, phù hợp với yêu cầu công việc mà thị trường lao động (người sử dụng lao động) đang cần sẽ là người có nhiều cơ hội việc làm và thắng lợi trong cạnh tranh

- Trong kinh tế thị trường, tiền công, tiền lương là giá cả của lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động Xu hướng tiền công, tiền lương trong cơ chế thị trường là xoay quanh giá trị lao động và dần dần trả đúng giá trị lao động Mà chúng ta biết rằng, thước đo giá trị lao động là hao phí lao động hay chi phí lao động trong giá trị gia tăng Lao động có trình độ càng cao thì càng có khả năng nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí lao động trong giá trị sản phẩm, làm cho tỷ trọng tiền lường trong giá trị gia tăng có xu hướng giảm và do đó càng được trả lương, trả công cao hơn, nhất là khi mà sản phẩm có khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường hiện đại dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ cao, xu hướng tiền lương tăng lên dẫn đến việc lựa chọn sử dụng nhiều tư bản hơn lao động, tức là tăng cầu lao động kỹ thuật cao, giảm cầu lao động không có trình độ kỹ thuật Đây là yếu tố khách quan tăng cầu lao động kỹ thuật trong cơ chế thị trường, dẫn đến tăng nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật theo nhịp độ tương ứng của áp dụng công nghệ cao, nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao

- Thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường là một thể thống nhất, không

bị chia cắt về mặt hành chính dựa trên cơ sở tự do hoá trong lao động Tuy nhiên có sự phân lớp khá đa dạng, phong phú biểu hiện ở các cơ cấu lao động khác nhau Trong đó

Trang 26

có các phân lớp thị trường lao động rất quan trọng là thị trường lao động trình độ cao (nhất là thị trường lao động chất xám); thị trường lao động khu vực chính thức (kết cấu) và khu vực phi chính thức (phi kết cấu); thị trường lao động nông thôn và thành thị; thị trường lao động thanh niên Mỗi một phân lớp này có những điểm đặc thù khác nhau, thường xuyên biến động và dịch chuyển Đảm bảo những cân đối lớn về cơ cấu lao động kỹ thuật theo cơ chế động là nét rất đặc trưng của dạy nghề trong cơ chế thị trường Từ đó đòi hỏi việc đào tạo nghề không thể thực hiện theo một kế hoạch áp đặt, có tính chất hành chính mà phải dựa trên các dự báo theo các phương án có cơ sở khoa học tin cậy

- Khi chuyển sang cơ chế thị trường, dạy nghề phải gắn với sử dụng, với yêu cầu sản xuất và thị trường lao động Người lao động được đào tạo có cơ hội tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm có thu nhập đảm bảo cuộc sống Từ đó, đào tạo nghề theo định hướng cầu là sự thay đổi căn bản nhất của hệ thống giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng (kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, nhân cách) và cơ cấu lao động qua đào tạo nghề ở các cấp trình độ để người lao động có cơ hội việc làm trên thị trường lao động sau khi được đào tạo

- Kinh tế thị trường tác động đến toàn bộ hệ thống dạy nghề còn biểu hiện ở sự

đa dạng hoá, xã hội hoá sự nghiệp này Dạy nghề không chỉ bao gồm các CSDN của Nhà nước, mà còn bao gồm cả các CSDN của các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế, của các tổ chức chính trị - xã hội, của tư nhân, liên doanh với nước ngoài Xã hội hoá dạy nghề là giải pháp đổi mới cơ bản nhằm huy động mọi nguồn lực của toàn

xã hội tham gia vào phát triển dạy nghề, từng bước hình thành thị trường đào tạo nghề Tuy nhiên, Nhà nước vẫn phải có chính sách xã hội trong dạy nghề để thực hiện công bằng xã hội, nhất là đối với người nghèo, người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách xã hội, nhóm yếu thế

1.1.2.3 Các yếu tố khoa học - công nghệ

Để nói lên vai trò của khoa học- công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội, lý thuyết kinh tế học cho rằng khả năng phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa trên các nguồn lực về: vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên Đó

Trang 27

là mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ, được biểu diễn bằng phương trình

dưới đây:

D = f (C, T, L, R)

Trong đó, D là khả năng phát triển của một quốc gia (Development)

C là khả năng về vốn (Capital)

T là khả năng về công nghệ (Technology)

L là khả năng về lao động (Labour)

R là khả năng về tài nguyên thiên nhiên (Resources) Lịch sử đã khẳng định rằng những quốc gia nào đi đầu trong khoa học công nghệ sẽ là những quốc gia phát triển nhất Sự phát triển của khoa học công nghệ đầu tiên là làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội từ ngành nghề cho tới phương pháp lao động Điều này đòi hỏi các nhà quản lý không chỉ điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý lao động, phương pháp điều hành mà cả quản lý cho phù hợp với công nghệ mới Chính vì thế, khoa học công nghệ có tác động không nhỏ tới đời sống KT-XH nói chung và dạy nghề nói riêng, nó là yếu tố quyết định đến nội dung và điều kiện cho sự phát triển đào tạo nghề có chất lượng và hiệu quả Ngược lại, con người cũng lại là yếu tố quyết định đến việc phát triển và ứng dụng có hiệu quả khoa học - công nghệ trong thực tiễn công tác đào tạo nghề

Trong điều kiện mới, sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lực con người (trí tuệ và tay nghề) thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất như trước đây Từ đó, các quốc gia muốn phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế,

cơ cấu đầu tư hướng vào phát triển vốn con người (human capital) Vì vậy đào tạo lao động kỹ thuật để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm của đào tạo nghề Lúc này người lao động không chỉ đòi hỏi phải có kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ cao mà còn phải có nhiều kỹ năng khác nhau, đặc biệt là các kỹ năng mới như công nghệ thông tin, viễn thông , kỹ năng giải quyết và xử lý vấn đề sự cố phát sinh của máy móc thiết bị công nghệ cao, kỹ năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hoá

Trang 28

1.1.2.4 Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất hiện các ngành, nghề mới, các khu vực kinh tế động lực

Vấn đề quan trọng nhất trong nội dung CNH-HĐH là chuyển dịch cơ cấu kinh

tế và cơ cấu đầu tư, cùng với nó là chuyển dịch cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH được thực hiện trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, theo các ngành lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; xây dựng, công nghiệp và dịch vụ từ đó hình thành các vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế động lực) dựa trên cơ

sở phát huy thế mạnh, lợi thế so sánh của vùng, của ngành

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng làm xuất hiện các ngành, nghề mới, hoặc những ngành nghề truyền thống nhưng công nghề hoàn toàn mới, chủ yếu là dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, đặc bịêt là công nghệ sinh học; công nghệ thông tin, điều khiển, tự động hoá, vật liệu mới; các ngành dịch vụ mới trong lĩnh vực hàng không, viễn thông, thương mại, du lịch, tài chính

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác động đến phát triển đào tạo nghề trên các mặt sau:

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng chuyển sang sản xuất hàng hoá và áp dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao làm thay đổi cơ cấu lực lượng lao động Chẳng hạn như đối với Việt Nam, định hướng đến năm 2020 cơ cấu GDP là: nông nghiệp 17 - 18%, công nghiệp và xây dựng 41 - 42%, dịch vụ 41 - 42%; sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% tổng GDP;

cơ cấu lao động qua đào tạo trong nền kinh tế dưới các hình thức, trình độ khác nhau từ mức 40,0% năm 2010 lên mức 70,0% năm 2020, trong đó tỷ lệ nhân lực qua đào tạo ngành nông, lâm ngư nghiệp tăng tương ứng từ 15,5% lên 50,0%; ngành công nghiệp từ 78,0% lên 92,0%, ngành xây dựng từ 41,0% lên 56,0%; ngành dịch vụ tăng từ 67,0% lên 88,0% [19]

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH theo các ngành, thực chất là chuyển từ nền kinh tế truyền thống ở trình độ thấp, dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế hiện đại, trình độ cao, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ Quá trình chuyển dịch này dẫn đến xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành nghề thay đổi

Trang 29

tác động mạnh đến đào tạo lao động có tay nghề cho phù hợp, số lao động đã được đào tạo theo ngành, nghề cũ cần phải được đào tạo lại, bổ sung kỹ năng theo yêu cầu của ngành nghề mới

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng kéo theo cơ cấu lại lực lượng lao động theo vùng và đặt ra yêu cầu mới trong đào tạo lao động có tay nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động tại chỗ nhằm hạn chế dòng di chuyển lao động kỹ thuật giữa các vùng và dẫn tới nạn “chảy máu chất xám“ Các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế

mở được hình thành và phát triển đều là các khu công nghiệp tập trung, có đầu tư lớn, liên doanh, liên kết với nước ngoài, áp dụng công nghệ cao, sản xuất những sản phẩm hàng hoá chủ yếu cho xuất khẩu Yếu tố này tác động đến đào tạo lao động kỹ thuật không chỉ về mặt nâng cao yêu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại mà còn đặt ra yêu cầu phải quy hoạch mạng lưới CSDN, nhất là các trường trọng điểm có quy mô thích hợp ở các vùng, đáp ứng kịp thời, tại chỗ lao động kỹ thuật phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của các vùng

1.1.2.5 Cơ chế, chính sách tài chính đối với dạy nghề

Trong điều kiện quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường, dạy nghề không chỉ còn là một loại hoạt động mang tính xã hội thuần tuý mà nó đã trở thành một loại hàng hoá công cộng đặc biệt Sự đặc biệt của loại hàng hoá này là ở chỗ: khi nền kinh tế càng phát triển thì người ta càng phải tiêu dùng nó nhiều hơn và bản thân nó đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển với quy mô lớn và tốc độ cao

Song, cũng giống như các hàng hoá khác, dạy nghề cũng phải có các chi phí đầu vào bằng tiền kết hợp với các yếu tố khác để thực hiện “sản xuất và cung ứng” cho nhu cầu tiêu dùng của thị trường Vì vậy, muốn đảm bảo thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng hàng hoá công cộng là dạy nghề thì nhất thiết phải có nguồn tài chính để “sản xuất và cung ứng” ra nó

Những cơ chế quản lý tài chính dạy nghề khác nhau đang tồn tại và chúng có những tín hiệu cho những người thụ hưởng tương ứng Mỗi một cơ chế quản lý có những hạn chế và và cho những kết quả tốt nhất trong những môi trường cụ thể

Trang 30

Những cơ chế quản lý tài chính dạy nghề có thể phân biệt theo những kiểu phối hợp sau: (1) nguồn lực đầu tư và phương pháp phân bổ; (2) các loại hình cơ quan quản

lý nguồn lực đầu tư; (3) công thức và điều kiện để phân bổ nguồn lực đầu tư cho các

cơ sở đào tạo Cụ thể là:

Hình thái đầu tiên của cơ chế quản lý tài chính bắt đầu từ nguồn lực đầu tư

và phân bổ chúng Nguồn đầu tư cho dạy nghề có thể từ những khoản thu nhập thông thường, ngân sách của các trường được phân bổ trực tiếp từ ngân sách giáo dục của nhà nước (những khoản thu nhập thông thường được tập trung ở Trung ương và tái phân bổ cho các vùng không khuyến khích việc sử dụng nguồn lực ở các địa phương theo yêu cầu hiệu quả – chi phí, nhưng vẫn tồn tại ở nhiều nước lớn) Thay vào đó, những khoản thu nhập thông thường có thể gia tăng sự tập trung (trọng tâm, trọng điểm) nếu được phân bổ dựa trên công thức được chuyển tới những cấp chính quyền thấp hơn Hoặc những cấp chính quyền thấp hơn này

có thể đánh thuế để tăng nguồn lực đầu tư cho đào tạo trong trường hợp những cơ

sở đào tạo được nhận nguồn lực đầu tư từ một hay nhiều hơn các các chính quyền Một lựa chọn khác có thể là một khoản thuế đặc biệt dành riêng cho đào tạo nghề được thu từ các doanh nghiệp hay những đối tượng khác và được quản lý tập trung hoặc tái phân bổ, các trường nhận được nguồn lực trực tiếp từ đầu tư của quốc gia hoặc có sự kết hợp với nguồn thu từ thuế

Các cấp chính quyền và những cơ quan của họ quản lý nguồn lực tài chính đào tạo không phải lúc nào cũng giống nhau Hình thái thứ hai của sự kết hợp bắt đầu từ sự khác biệt của các cấp chính quyền và những nhân tố khác trong việc quản lý các nguồn lực tài chính cho đào tạo Trách nhiệm quản lý nguồn lực công có thể được chuyển đến cho các cấp chính quyền bên dưới, đặc biệt là những cơ quan quản lý chuyên nghiệp hay những cơ quan đào tạo và tổ chức lao động (nhân công)

Công thức phân bổ nguồn lực, đến lượt nó thiết lập sự liên kết giữa nguồn lực tài chính và các cơ sở đào tạo Công thức này có thể tính toán được những mục tiêu có tính chất quốc gia, nếu để đảm bảo rằng các cơ sở đào tạo sẽ hoạt động hướng

Trang 31

vào những mục tiêu này Công thức này cũng có thể kết nối giữa tuyển sinh và những đầu ra của cơ sở đào tạo Trong trường hợp này, cơ chế tài chính cho dạy nghề trở thành một công cụ quản lý Các điều kiện để những nguồn lực được sử dụng như thế nào cũng rất quan trọng Mặc dầu thực tế các cơ sở đào tạo được đầu tư ngân sách có

ít sự tự do để quản lý nguồn lực tài chính vẫn còn phổ biến, ở một số quốc gia các cơ

sở đào tạo được tự quyết nguồn lực của họ nếu như họ cho là phù hợp

Với cách tiếp cận tài chính đầu tư cho dạy nghề như là một công cụ quản

lý, các dòng tài chính có thể nhằm hướng tới những ưu tiên và đầu ra nhất định (ví

dụ như số lượng học sinh tốt nghiệp, kết quả học tập của học sinh và tỷ lệ có việc làm), khuyến khích một sự chiết giảm chi phí đào tạo và tăng khả năng linh hoạt của những nhà cung cấp Cách tiếp cận này có thể nhận biết giữa các loại chương trình đào tạo và kế hoạch tuyển sinh, chẳng hạn các chương trình đào tạo phức tạp

sẽ có chi phí cao hơn chương trình đào tạo tối thiểu, các cơ sở dạy nghề công nghệ cao sẽ được tài trợ nhiều hơn Những kế hoạch đầu tư như vậy thường không phải là

cơ sở để đo lường mức độ thành công, đầu ra và kết quả, và chúng thường gắn với việc đầu tư tài chính để đạt được các kết quả đầu ra

1.1.3 Vai trò của dạy nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội

1.1.3.1 Dạy nghề góp phần tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, đồng thời cũng là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá trình độ phát triển của quốc gia đó Lý thuyết tăng trưởng theo quan niệm truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn Tuy nhiên, theo lý thuyết mới về tăng trưởng, nguồn lực quan trọng nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là khi chuyển sang nền kinh tế tri thức và hội nhập Nhiều nước phát triển trong khu vực đã và đang điều chỉnh chiến lược tăng trưởng hướng vào khai thác tối đa nguồn lực con người và coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm phát triển nguồn nhân lực, cải thiện các chỉ số phát triển con người Tức

là đầu tư vào “vốn con người” phát triển nguồn “vốn con người” vừa là nguồn nội lực to lớn nhất, vừa là mục tiêu cuối cùng, đỉnh cao nhất của quá trình phát triển ở

Trang 32

mỗi quốc gia Như vậy nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, là một trong những yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế

1.1.3.2 Dạy nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động

Trong quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế hiện đại, mâu thuẫn lớn nhất là giữa yêu cầu cần phải chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, lạc hậu sang cơ cấu kinh tế mới, tiến bộ hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong khi đó lại phải đối mặt với cơ cấu lao động quá lạc hậu, chuyển dịch chậm so với cơ cấu kinh tế, trở thành lực cản không nhỏ của cơ cấu kinh tế Như vậy, bài toán đặt ra là phải xúc tiến mạnh, nhanh đào tạo nghề để tạo điều kiện

và tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đào tạo nghề một mặt phải tạo điều kiện để khắc phục dần mất cân đối về lao động trong mối quan hệ phù hợp với cơ cầu kinh tế đang chuyển đổi, mặt khác phải chuẩn bị một đội ngũ lao động kỹ thuật đủ để cung cấp kịp thời nhu cầu cho các ngành, các vùng đang phát triển và chuẩn bị lực lượng lao động kỹ thuật trình độ cao để đi ngay vào kinh tế tri thức

1.1.3.3 Dạy nghề góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế thì vấn đề sống còn là phải nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cả ở

3 cấp trình độ: sản phẩm và dịch vụ; doanh nghiệp và cấp quốc gia “Vốn con người” là yếu tố quyết định của sự phát triển, để nâng cao năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia cũng như cấp doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ phải ưu tiên đầu

tư vào khâu có tính chất đột phá, then chốt nhất là nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trên cơ sở nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo, giáo dục, nhất là đào tạo lao động kỹ thuật (đào tạo nghề), tiếp tục giải phóng sức sản xuất của lao động…

Trang 33

1.2 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ

1.2.1 Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

1.2.1.1 Tài chính dạy nghề

Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định [11,5]

Tài chính dạy nghề (hay tài chính cho dạy nghề) phản ánh mối quan hệ phân phối các nguồn tài chính cho dạy nghề dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể có liên quan trong hoạt động dạy nghề, nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể đó ở mỗi điều kiện nhất định Tài chính dạy nghề có biểu hiện bên ngoài là các hiện tượng thu, chi bằng tiền; có nội dung vật chất là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ; có nội dung kinh tế bên trong là các quan hệ kinh tế, quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị (gọi là quan hệ tài chính)

Hiện nay, trên thế giới vẫn diễn ra sự tranh luận về trách nhiệm đầu tư cho dạy nghề giữa 03 bên là Chính phủ - Người sử dụng lao động và Người lao động Nhìn chung, cơ chế đầu tư cho đào tạo nghề sẽ phản ánh nguyên tắc rằng đào tạo là một dịch vụ và những bên hưởng lợi phải chịu trách nhiệm về chi phí đào tạo Việc phát triển kỹ năng nghề được mong muốn là sẽ đem lại lợi ích cho các các nhân và

xã hội Những người công nhân được đào tạo cơ bản sẽ làm việc và kiếm được thu nhập nhiều hơn là những người được đào tạo ít hơn Trong khi đào tạo nghề đem lại lợi ích cho người học thì nó cũng tạo ra lợi ích cho những thành viên khác trong xã hội Thước đo lợi ích này có mối quan hệ mật thiết với những kỹ năng có được

Dạy nghề không chỉ tạo ra lợi ích cho người học (theo nghĩa những người được đào tạo tốt hơn sẽ có khả năng tìm kiếm được thu nhập cao hơn những người khác) mà nó còn tạo ra lợi ích cho những thành viên khác của xã hội Lợi ích xã hội

sẽ tăng lên khi:

Trang 34

Hình 1.3 Những lý luận tán thành và phản đối

về trách nhiệm tài chính cho dạy nghề giữa các bên [30]

Chính phủ

Lý do tán thành:

 Đào tạo nghề cải thiện năng suất lao động và thu nhập của các cá nhân và xã hội

 Kỹ năng nghề cao của lực lượng lao động có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và góp phần tăng năng lực xuất khẩu

 Có đủ lực lượng lao động được đào tạo tốt sẽ giúp thu hút thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho đất nước

 Đào tạo nghề có thể đóng góp nhiều hơn cho sự phân bổ thu nhập được đảm bảo công bằng

 Thị trường có thể không chấp nhận đầu tư bởi tính biến động lớn của dạy nghề

và nhu cầu thấp về những sản phẩm có giá trị gia tăng cao

 Đào tạo nghề chỉ tác động gián tiếp nên năng suất lao động; việc quản lý doanh nghiệp có thể không đủ tốt để thu được những lợi ích đầy đủ từ lực lượng lao động có kỹ năng

 Những lao động có tay nghề có thể dịch chuyển dễ dàng giữa các doanh nghiệp, và người sử dụng lao động có thể bị mất khoản đầu tư cho đào tạo

 Những lao động có kỹ năng có thể tuyển dụng từ nguồn sẵn có trên thị trường lao động mà không nhất thiết phải tốn kém khoản đầu tư cho đào tạo

 Luật pháp của Chính phủ và hợp đồng lao động có thể đòi hỏi mức lương tối thiểu với biên độ lớn, vì vậy làm giảm độ hấp dẫn của doanh nghiệp trong việc cải thiện kỹ năng của lao động

 Thị trường tài chính có thể không rộng mở để doanh nghiệp tiếp cận với các khoản đầu tư cho đào tạo nghề

Trang 35

- Kết quả của đào tạo nghề tạo ra nhiều việc làm, nâng cao sản lượng và thu nhập quốc gia

- Lao động có kỹ năng phong phú thu hút thêm đầu tư nước ngoài

- Lực lượng lao động có tay nghề cao giúp chuyển đổi sản phẩm quốc gia hướng tới những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và có năng lực xuất khẩu lớn hơn

- Sự hiểu biết và kỹ năng được nâng lên sẽ làm giảm tỷ lệ tội phạm, cải thiện các mối quan hệ xã hội, cải thiện sức khỏe và cuộc sống gia đình

- Sự phân chia đều sự đầu tư của nhà nước cho đào tạo nghề giữa các địa phương, ngành và các công dân không kể dân tộc, giới tính hay thu nhập sẽ tạo ra những cơ hội công bằng cho sự phát triển và việc làm cho mỗi cá nhân, và điều này

sẽ đóng góp vào sự công bằng trong phân phối thu nhập quốc gia

Để phù hợp với tính chất huy động, tạo lập nguồn tài chính và thuận tiện trong quản lý, ở nhiều quốc gia, nguồn tài chính dạy nghề được phân loại theo 02 nhóm cơ bản là nguồn tài chính từ NSNN và nguồn tài chính ngoài NSNN; khái niệm, cơ chế quản lý đối với các nguồn tài chính này sẽ được trình bày ở phần sau của Luận án

1.2.1.2 Cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

Từ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây, biểu thị cấu trúc máy móc, cách hoạt động của máy, nguyên lý vận hành của máy Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện" Trong quản lý, cơ chế được hiểu là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể lên đối tượng quản lý, bao gồm hệ thống các quy tắc, ràng buộc về hành vi đối với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu cuối cùng trong quản lý

"Cơ chế tài chính" có thể hiểu đó là một phạm trù kinh tế khách quan phản ảnh sự hình thành tồn tại và vận động của một phương thức sản xuất tương ứng, trong đó chịu sự chi phối trực tiếp bởi quan hệ sản xuất mà cốt lõi là quan hệ hoặc chế độ sở hữu cấu thành của quan hệ sản xuất đó Khi dùng khái niệm "Cơ chế tài

Trang 36

chính" là hàm ý chỉ các bộ phận cấu thành, tác động của tài chính là một thể thống nhất, được định hướng theo mục tiêu nhất định và tài chính lúc này mới chỉ "có khả năng" trở thành một công cụ để quản lý kinh tế

"Cơ chế quản lý tài chính" là phương thức tác động vào sự vận hành của các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù "cơ chế kinh tế" tương ứng, thông qua nhận thức của con người nhằm đạt tới những mục tiêu quản lý đã được xác định Khi sử dụng khái niệm "cơ chế quản lý tài chính" thì ngoài nội dung của "cơ chế tài chính" như

đã nêu trên, tài chính được khẳng định rõ nét là một "công cụ" để quản lý kinh tế với các phương pháp, hình thức và những công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định

"Cơ chế quản lý tài chính dạy nghề" được hiểu là tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát các nguồn lực tài chính được hình thành, tạo lập, phân phối cho lĩnh vực dạy nghề nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định Cơ chế quản lý tài chính dạy nghề có ba chức năng chủ yếu là: (1) Kích thích dạy nghề phát triển, thông qua sự vận hành của các

cơ chế, chính sách tài chính; (2) Điều tiết các quan hệ dạy nghề giữa các bên liên quan thông qua các quan hệ tài chính; (3) Kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua

cơ chế kiểm soát sự vận động của dòng tiền

Trên thế giới có 03 cách tiếp cận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề [30,198-199], cụ thể là:

Cách thứ nhất cho rằng quản lý tài chính như là sự phân bổ nguồn lực đầu tư

truyền thống Những khoản ngân sách cơ bản và quy trình phân bổ thực hiện trên cơ sở những định mức chi phí nhất định cho các cơ sở dạy nghề (lương, và những chi phí hoạt động, bảo trì…) được thiết lập và phân bổ hàng năm, bất kể là các loại chương trình mà những cơ sở này thực hiện hay số lượng học sinh và những đầu ra khác Khi các loại chương trình và số lượng tuyển sinh không liên quan trực tiếp đến việc đầu tư ngân sách, các nguồn lực được phân bổ dựa trên loại hình của các khóa học và năng lực của các cơ sở đào tạo Trường hợp này, những khoản đầu tư tài chính thường được xác

Trang 37

lập bởi các bộ hay các cơ quan tài chính Rất nhiều các nước phát triển và các nước đang phát triển áp dụng cách tiếp cận này

Cách tiếp cận thứ hai cho rằng quản lý tài chính dạy nghề như là quản lý một

khoản đầu tư, nhấn mạnh đến tỷ lệ thu hồi vốn của cá nhân và xã hội Những phương pháp tính toán về chi phí – hiệu quả và tỷ lệ thu hồi vốn có thể định hướng việc phân bổ nguồn lực cũng như việc quyết định các chương trình, phương thức quản lý và tổ chức Một số nghiên cứu đã kết luận rằng không có sự tương quan giữa số tiền chính phủ chi tiêu cho giáo dục và kiến thức mà học sinh học được Vì vậy, cũng như những hoạt động khác, những đầu ra tốt hơn của việc việc đào tạo có thể đạt được với mức độ thấp hơn của đầu tư Chẳng hạn, chi phí – hiệu quả ước lượng được của một khóa đào tạo cơ bản có thể so sánh tương tự với một chương trình giáo dục nghề nghiệp hoặc khóa nâng cao kỹ năng nghề

Cách tiếp cận thứ ba cho rằng quản lý tài chính là một kỹ thuật quản lý Các

dòng tài chính có thể nhằm hướng tới những ưu tiên và đầu ra nhất định (ví dụ như

số lượng học sinh tốt nghiệp, kết quả học tập của học sinh và tỷ lệ có việc làm), khuyến khích một sự chiết giảm chi phí đào tạo và tăng khả năng linh hoạt của những nhà cung cấp Cách tiếp cận này có thể nhận biết giữa các loại chương trình đào tạo và kế hoạch tuyển sinh, chẳng hạn các chương trình đào tạo phức tạp sẽ có chi phí cao hơn chương trình đào tạo tối thiểu, các cơ sở dạy nghề công nghệ cao sẽ được tài trợ nhiều hơn Những kế hoạch đầu tư như vậy thường không phải là cơ sở

để đo lường mức độ thành công, đầu ra và kết quả, và chúng thường gắn với việc đầu tư tài chính để đạt được các kết quả đầu ra Việc áp dụng đầu tư tài chính cho dạy nghề như là một khoản đầu tư hay một kỹ thuật quản lý được cho là năng lực quản lý vững chắc của những người quản lý

1.2.2 Nội dung cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

Tùy thuộc vào mỗi hệ thống dạy nghề và đặc điểm tài chính của nó mà sẽ có

cơ chế quản lý tài chính khác nhau Tuy nhiên, nội hàm của cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở hầu hết các nước đều bao gồm các nội dung cơ bản là: cơ chế quản lý

Trang 38

việc huy động, tạo lập nguồn tài chính; cơ chế quản lý việc phân phối, sử dụng nguồn tài chính; cơ chế kiểm tra, giám sát và cơ chế phân cấp quản lý tài chính dạy nghề

Hình 1.4 Nội dung cơ chế quản lý tài chính dạy nghề

1.2.2.1 Cơ chế huy động, tạo lập nguồn tài chính cho dạy nghề

Cơ chế huy động, tạo lập nguồn tài chính cho dạy nghề là tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được thiết lập ra để huy động, tạo lập các nguồn lực tài chính cho lĩnh vực dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển dạy nghề trong mỗi thời kỳ

Hiện nay, các nguồn lực tài chính cho dạy nghề thường được chia thành nguồn tài chính trong nước (gồm NSNN và ngoài NSNN) và nguồn tài chính nước ngoài (gồm ODA, FDI) Nội dung của cơ chế huy động, tạo lập nguồn tài chính cho dạy nghề đối với từng kênh huy động cụ thể như sau:

CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ

CƠ CHẾ QUẢN

LÝ HUY ĐỘNG, TẠO LẬP TÀI CHÍNH

CƠ CHẾ QUẢN

LÝ PHÂN

BỔ, SỬ DỤNG TÀI CHÍNH

CƠ CHẾ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TÀI CHÍNH

CƠ CHẾ PHÂN CẤP QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ

Trang 39

1.2.2.1.1 Nguồn tài chính trong nước

a) Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước NSNN là quỹ tiền tệ lớn nhất của Nhà nước, đó là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được các cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản

lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm

Tài chính dạy nghề từ nguồn đầu tư công được cung cấp thông qua các khoản thu nhập công (Quỹ ngân sách của Chính phủ) Khi Nhà nước đầu tư cho dạy nghề thông qua các quỹ công, nó được cho rằng trách nhiệm chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực để phát triển quốc gia là việc của Nhà nước Chính phủ cũng can thiệp trong việc phân phối đào tạo nghề để đảm bảo công bằng xã hội cho người nghèo ở khu vực nông thôn và nhóm phi chính thức ở thành thị Đầu tư công cho dạy nghề cung cấp các cơ hội cho những người bị hạn chế về cơ hội thoát khỏi khu vực túng quẫn, khó khăn của xã hội Ở hầu hết các quốc gia, ngân sách nhà nước đầu

tư cho dạy nghề thường nhỏ, chiếm khoảng từ 1-12% chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo Hầu hết các khoản đầu tư ngân sách của Chính phủ được thực hiện ở các trường đào tạo trước khi tham gia thị trường lao động Một số các cơ sở đào tạo nhận được nguồn tài trợ từ ngân sách chính phủ thông qua các khoản tài trợ, các khoản ngân sách được phân bổ, các khoản hỗ trợ về thuế, đầu tư từ các chương trình mục tiêu với những khoản tài trợ đặc biệt, đầu tư từ các dự án phát triển… Vai trò của NSNN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính để duy trì củng cố các hoạt động dạy nghề mà còn có tác dụng định hướng hoạt động dạy nghề phát triển

Nội dung của cơ chế quản lý việc huy động, tạo lập nguồn tài chính dạy nghề

từ NSNN thường được thể hiện trong các quy định pháp luật của các quốc gia như:

Trang 40

Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Dạy nghề, Luật Giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành với các nội dung cơ bản sau đây:

- Quy định trách nhiệm của Nhà nước về đầu tư cho dạy nghề Có nơi quy định cụ thể tỷ lệ dành đầu tư cho dạy nghề trong ngân sách GD-ĐT

- Quy định các loại hình nguồn tài chính công đầu tư cho dạy nghề (từ thu Ngân sách Nhà nước, huy động khác thuộc Ngân sách Nhà nước)

- Phân công trách nhiệm giữa các cấp ngân sách trong đầu tư cho dạy nghề

- Quy định quy trình xây dựng kế hoạch, dự toán nguồn tài chính cho dạy nghề b) Nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước

- Tài chính dạy nghề từ phía người học nghề Phát triển dạy nghề không chỉ đem lại lợi ích cá nhân người học nghề mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội; vì vậy ngoài nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu đầu tư cho dạy nghề, ở hầu hết các quốc gia đều có cơ chế chính sách huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước để phát triển dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của mọi công dân và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế xã hội

Dựa vào việc cải thiện các kỹ năng có được qua đào tạo nghề, sinh viên tốt nghiệp có thể có cơ hội việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn trong tương lai, do vậy các cá nhân người lao động sẵn sàng đầu tư tài chính của họ cho hoạt động dạy nghề thông qua đóng học phí hay thanh toán các khoản vay tín dụng để học nghề Học phí có thể do các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo công và tư đặt ra Học phí thu được nhằm huy động nguồn vốn bổ sung và tạo ra thị trường đào tạo với áp lực trên các nhà cung cấp để cải thiện các chương trình và làm cho họ theo nhu cầu Cá nhân tự trở nên chọn lọc hơn vì họ phải trả tiền cho đào tạo của họ Ít lãng phí nguồn tài nguyên có thể được mong đợi Theo quy định, học phí là một lợi thế cho người lớn và cho các khóa học ngắn hơn dẫn đến việc làm có sẵn Việc áp dụng phí, lệ phí bị giới hạn bởi khả năng của các cá nhân phải trả tiền Gia đình có thể không có đủ tiền để trả tiền cho đào tạo, trong khi thị trường tín dụng có thể không được phát triển đầy đủ để cung cấp các khoản vay đào tạo Sự đa dạng hạn chế về các khóa đào tạo nghề thường phản ánh tính

Ngày đăng: 06/03/2017, 04:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - Chủ trương, thực hiện, đánh giá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
2. Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Dạy nghề, Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông (2012), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Đề án đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo Việt Nam giai đoạn 2008-2012, Hà Nội Khác
4. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Khác
5. Đặng Văn Du (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học: Luận án TS Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) - Văn kiện Đại hội đạị biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
8. Trần Thị Thu Hà (1993), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý hệ thống ngân sách, hệ thống giáo dục quốc dân" năm 1993: Luận án TS Khác
9. Bùi Tiến Hanh (2007), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam: Luận án TS Khác
10. Vũ Duy Hào (2006), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ GD-ĐT Khác
11. Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Quản lý tài chính công, Hà Nội Khác
12. Khoa tài chính công - Học Viện Tài chính (2012), Kỷ yếu Hội thảo Hội thảo khoa học bàn về Cơ chế quản lý Ngân sách Nhà nước, Hà Nội Khác
13. Phạm Văn Ngọc (2007), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Đại học quốc gia trong tình hình đổi mới quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay: Luận án TS Khác
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Ngân sách Nhà nước (số 01/2002/QH11), Hà Nội Khác
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo dục, Hà Nội Khác
16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Dạy nghề, Hà Nội Khác
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Anh Thái (2008), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học của Việt Nam: Luận án TS Khác
19. Thủ tướng Chính phủ (2011): Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Khác
20. Thủ tướng Chính phủ (2012): Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011-2020 Khác
22. Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) (2007), Cấp tài chính cho dạy nghề Việt Nam. Báo cáo Dự án, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Bảng 1.1. Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác (Trang 18)
Hình 1.1. Minh họa về hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Hình 1.1. Minh họa về hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn (Trang 20)
Hình 1.2 - Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Hình 1.2 Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề (Trang 23)
Hình 1.4. Nội dung cơ chế quản lý tài chính dạy nghề - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Hình 1.4. Nội dung cơ chế quản lý tài chính dạy nghề (Trang 38)
Hình 2.1. Mô hình phân cấp quản lý dạy nghề ở Việt Nam - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Hình 2.1. Mô hình phân cấp quản lý dạy nghề ở Việt Nam (Trang 72)
Bảng 2.1. Chi NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Bảng 2.1. Chi NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 (Trang 84)
Bảng 2.2. Thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp giai đoạn 2010-2012 của 40 trường nghề - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Bảng 2.2. Thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp giai đoạn 2010-2012 của 40 trường nghề (Trang 93)
Bảng 2.4: So sánh kinh phí chi thường xuyên/học sinh giữa các trường - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Bảng 2.4 So sánh kinh phí chi thường xuyên/học sinh giữa các trường (Trang 109)
Bảng 2.5. So sánh bình quân chi thường xuyên/học sinh học nghề quy đổi - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Bảng 2.5. So sánh bình quân chi thường xuyên/học sinh học nghề quy đổi (Trang 110)
Hình 2.3. Diện tích thư viện so với tiêu chuẩn và qui mô đào tạo - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Hình 2.3. Diện tích thư viện so với tiêu chuẩn và qui mô đào tạo (Trang 115)
Hình 2.4. So sánh cơ cấu chi cho dạy nghề 2006-2010 và 2011-2013 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Hình 2.4. So sánh cơ cấu chi cho dạy nghề 2006-2010 và 2011-2013 (Trang 118)
Bảng 2.7: Mã nghề cấp II theo các trình độ dạy nghề - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020
Bảng 2.7 Mã nghề cấp II theo các trình độ dạy nghề (Trang 153)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w