1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

187 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về việc thu thập số liệu, tài liệu, với số liệu thứ cấp, luận án tập hợp các số liệu và tư liệu đã được công bố qua sách, báo, tạp chí và các báo cáo tổng kết, các công trình nghiên cứu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS HOÀNG TRẦN HẬU

2 TS NGUYỄN ĐỨC ĐỘ

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Đức Chính

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ, hộp

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 7

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 7

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 11

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 17

2.1 BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 17

2.1.1 Bản chất của các Tập đoàn kinh tế 17

2.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế 22

2.1.3 Sự hình thành các Tập đoàn kinh tế 26

2.2 BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 30

2.2.1 Bản chất, các yếu tố cấu thành và nội dung của cơ chế quản lý tài chính 30

2.2.2 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính trong cơ chế quản lý doanh nghiệp 44

2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế quản lý tài chính trong doanh nghiệp 52

2.2.4 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế nhà nước và thực tế cơ chế quản lý tài chính trong Tập đoàn kinh tế nhà nước ở một số nước 57

Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 65

3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 65

3.1.1 Quá trình hình thành Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 65

3.1.2 Tổ chức bộ máy của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 67

3.1.3 Kết quả sản xuất - kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 72

Trang 5

3.2 THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN

LÝ TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 77 3.2.1 Tổng quan về sự hình thành và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính

của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 77 3.2.2 Cơ chế tạo lập và huy động vốn của Tập đoàn Dầu khí quốc gia

Việt Nam 81 3.2.3 Cơ chế quản lý tài sản và sử dụng vốn của Tập đoàn Dầu khí quốc gia

Việt Nam 87 3.2.4 Cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Tập đoàn Dầu khí

quốc gia Việt Nam 94 3.2.5 Cơ chế kiểm soát và giám sát tài chính của Tập đoàn Dầu khí

quốc gia Việt Nam 100 3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TẬP

ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 104 3.3.1 Những ưu điểm của cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí

quốc gia Việt Nam 104 3.3.2 Hạn chế của cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc

gia Việt Nam và nguyên nhân của chúng 106

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 113

4.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN DẦU

KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 113 4.1.1 Quan điểm phát triển của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 113 4.1.2 Mục tiêu phát triển của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 114 4.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI

TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 119 4.2.1 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của chủ sở hữu đối với Tập đoàn

Dầu khí quốc gia Việt Nam 119 4.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nội bộ của Tập đoàn Dầu khí

quốc gia Việt Nam 131

KẾT LUẬN 157 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160 PHỤ LỤC 167

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

PVCFC : Công ty Cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau

PVFCCO : Tổng Công ty Cổ phần Phân bón và hóa chất dầu khí

PVGAS : Tổng Công ty Khí Việt Nam - CTCP

PVPower : Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam

PVTEX : Công ty Cổ phần Hóa dầu và xơ sợi tổng hợp dầu khí

PVTRANS : Tổng Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí

SX-KD : Sản xuất kinh doanh

Tập đoàn : Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam 23

Bảng 2.2: Những khác biệt chủ yếu trong cơ chế quản lý tài chính của các Tập đoàn kinh tế nhà nước so với Tập đoàn kinh tế tư nhân 62

Bảng 3.1: Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 68

Bảng 3.2: Biến động số và chất lượng lao động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2008-2013 69

Bảng 3.3: Trình độ đào tạo theo khối công tác 70

Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 73

Bảng 3.5: Kế hoạch đầu tư 2011-2015 và tình hình thực hiện trong giai đoạn 2011-2013 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 74

Bảng 3.6: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 74

Bảng 3.7: Hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2011- 2013 75

Bảng 3.8: Đầu tư cho các lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn 76

Bảng 3.9: Doanh thu của Tập đoàn giai đoạn 2001-2013 77

Bảng 3.10: Đánh giá chung về cơ chế tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (tỷ lệ % số cán bộ trong mẫu điều tra) 106

Bảng 4.1: Nhu cầu vốn đầu tư của PVN khi tham gia các dự án 138

Bảng 4.2: Nguồn vốn chủ sở hữu của PVN 139

Bảng 4.3: Cân đối nguồn vốn của PVN giai đoạn 2011-2015 và 2016-2025 142

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ giới tính cán bộ, nhân viên Tập đoàn 71 Biểu đồ 3.2: Cơ cấu độ tuổi cán bộ, nhân viên trong Tập đoàn 71 Biểu đồ 3.3: Trình độ được đào tạo của cán bộ, nhân viên Tập đoàn 72 Biểu đồ 3.4: Đánh giá mức độ phù hợp của cơ chế huy động vốn ở Tập

đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 87 Biểu đồ 3.5: Mức độ phù hợp của cơ chế quản lý và sử dụng vốn trong Tập

đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 93 Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ cán bộ trong mẫu điều tra đánh giá các bất cập trong cơ

chế quản lý và sử dụng vốn, tài sản là lớn nhất 94 Biểu đồ 3.7: Mức độ phù hợp của cơ chế quản lý doanh thu và chi phí trong

Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 97 Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ cán bộ trong mẫu điều tra đánh giá các bất cập trong cơ

chế quản lý doanh thu và chi phí của Tập đoàn là lớn nhất 97 Biểu đồ 3.9: Mức độ phù hợp của cơ chế về lợi nhuận trong Tập đoàn Dầu

khí quốc gia Việt Nam 98 Biểu đồ 3.10: Tỷ lệ cán bộ trong mẫu điều tra đánh giá các bất cập trong cơ

chế về lợi nhuận của Tập đoàn là lớn nhất 99 Biểu đồ 3.11: Mức độ phù hợp của cơ chế quản lý chi phí và kế toán ở Tập

đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 99 Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ cán bộ trong mẫu điều tra đánh giá các bất cập trong cơ

chế quản lý chi phí và kế toán là lớn nhất 100 Biểu đồ 3.13: Mức độ phù hợp của cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính trong

Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 103 Biểu đồ 3.14: Đánh giá của cán bộ Tập đoàn về bất cập lớn nhất trong cơ chế

kiểm tra, giám sát tài chính Tập đoàn (% của mẫu khảo sát) 104 Biểu đồ 3.15: Tỷ lệ các cán bộ ủng hộ ưu tiên hoàn thiện các quy định về những

vấn đề cụ thể trong cơ chế tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 109 Biểu đồ 3.16: Đánh giá của các cán bộ quản lý trong Tập đoàn Dầu khí quốc gia

Việt Nam về công tác phân cấp quản lý của Tập đoàn 110 Biểu đồ 3.17: Những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bất cập của cơ chế tài

chính trong Tập đoàn Dầu khí quốc gia (tỷ lệ % của số cán bộ được khảo sát) 111

Trang 9

DANH MỤC CÁC HỘP TRONG LUẬN ÁN

Hộp 2.1: Sự phát triển và mở rộng kinh doanh của Công ty Honda 24 Hộp 2.2: Sự phát triển và các thương vụ mua bán của Tập đoàn General Electric 29 Hộp 2.3: Tập đoàn Đường sắt Đức (Deutsche Bahn AG) 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Đến nay, sau một số năm hoạt động, các Tập đoàn kinh tế nhà nước đã có những đóng góp quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Việt Nam Tuy vậy, mục tiêu lớn nhất khi thiết kế ra những Tập đoàn này - đóng vai trò là những “quả đấm thép” làm chỗ dựa, trụ cột cho sự phát triển kinh tế của đất nước - chưa trở thành hiện thực Các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam chưa đủ sức mạnh để đảm nhận chức năng điều tiết thị trường, chưa thể trở thành “công cụ thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước” Chúng cũng chưa thể trở thành “hạt nhân” để tập hợp các doanh nghiệp trong nước trong việc khai thác nội lực, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường Việt Nam

Thực trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý, một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới tình trạng này là các Tập đoàn kinh tế Nhà nước chưa có cơ chế quản lý thích hợp Trong hệ thống các cơ chế quản lý các Tập đoàn kinh tế, yếu tố cốt lõi/ trung tâm - cơ chế quản lý tài chính - được đánh giá một cách khá thống nhất là chưa thực sự hoàn chỉnh; còn nhiều bất cập trong quá trình xây dựng và áp dụng cơ chế này Trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước mà các Tập đoàn kinh tế là một cấu phần rất quan trọng, việc nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các Tập đoàn nhà nước, vì thế, được coi là một trong những vấn đề quan trọng về lý luận, bức thiết trong thực tiễn ở Việt Nam Kinh nghiệm

từ công tác cải tiến quản lý các doanh nghiệp nhà nước trong nhiều thập kỷ qua cho thấy rằng: Để hoàn thiện cơ chế quản lý nói chung, cơ chế tài chính của các Tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng, phải kết hợp chặt chẽ việc nghiên cứu cơ sở khoa học, kinh nghiệm quốc tế cũng như nghiên cứu điển hình trong các đơn vị cơ sở - mà cụ thể trong trường hợp này là các Tập đoàn kinh tế nhà nước

Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam được thành lập từ năm 2006 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở chuyển đổi từ Tổng công ty Dầu khí Việt Nam Qua gần 8 năm hình thành và phát triển, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã thể hiện cơ bản được chức năng vai trò trong nền kinh tế Sự thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế, tài chính như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận, số nộp ngân sách Nhà nước… Tính đến năm 2013 Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam là đơn vị

Trang 11

đóng góp lớn nhất vào ngân sách Nhà nước Do tính chất đặc thù của ngành kinh tế trọng điểm và vai trò của Tập đoàn này đối với nền kinh tế, nên hầu hết các hoạt động của Tập đoàn đều do Chính phủ can thiệp thông qua hệ thống văn bản hành chính như: quy chế tổ chức hoạt động, quy chế quản lý tài chính, các nghị định, thông tư hướng dẫn… Tuy vậy, sau một số năm hoạt động, hệ thống các quy định, quy chế được ban hành bởi Nhà nước đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, điển hình là cơ chế quản lý tài chính,

sự không phù hợp đó sẽ tác động không tích cực đến kết quả hoạt động của Tập đoàn trong thời gian tới nếu không có những sửa đổi thích hợp Việc triển khai nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề có liên quan đến cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí nhằm tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn là một việc làm hết sức cần thiết

Nhìn tổng thể, trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam là một Tập đoàn có quy mô lớn, sản xuất kinh doanh ở ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia, có nhiều nét đặc trưng cho các Tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý nói chung, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn này nói riêng, sẽ cho phép rút ra những kết luận chung cho các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn tới

Xuất phát từ những thực tế đó, “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn

Dầu khí quốc gia Việt Nam” được chọn làm đề tài cho luận án tiến sỹ này

Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam bao trùm phạm vi nghiên cứu rộng Hơn nữa, trong thời gian qua, cũng đã có những nghiên cứu của nhiều chuyên gia và cán bộ quản lý về vấn đề này Bởi vậy, những vấn đề đặt ra khi nghiên cứu đề tài luận án không lặp lại và dàn trải, mà chỉ bao gồm:

Thứ nhất, phân tích, nhận định rõ quan điểm về Tập đoàn kinh tế và Tập đoàn

kinh tế nhà nước, đặc điểm, vai trò của Tập đoàn kinh tế nhà nước được thể hiện như thế nào? Cơ chế tài chính của các Tập đoàn kinh tế và cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế nhà nước có sự khác biệt như thế nào?

Thứ hai, qua khảo cứu quá trình phát triển và cơ chế quản lý tài chính của một

số Tập đoàn dầu khí trên thế giới cũng như một số Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tế cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

về việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong giai đoạn tiếp theo

Trang 12

Thứ ba, phân tích đặc điểm, quá trình hình thành phát triển của Tập đoàn Dầu

khí giai đoạn từ 2006 đến nay để từ đó cho thấy sự khác biệt của Tập đoàn kinh tế này đối với các Tập đoàn kinh tế khác của Nhà nước Từ những khác biệt đó sẽ là nền tảng cho việc hình thành một cơ chế quản lý tài chính phù hợp trong điều kiện hiện nay và trong thời gian tới

Thứ tư, qua nghiên cứu cần xác định cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu

khí quốc gia Việt Nam được ban hành do chủ thể nào? Thông qua các văn bản pháp quy cụ thể nào? Tính hợp lý của từng nội dung trong cơ chế quản lý tài chính được thể hiện như thế nào trong quá trình thực thi áp dụng cơ chế

Thứ năm, việc các quy định có liên quan trong cơ chế quản lý tài chính đến các

cơ chế cụ thể như cơ chế huy động và quản lý sử dụng vốn của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam hiện nay đang tồn tại một số bất cập Qua phân tích, đánh giá cụ thể vấn

đề này, hướng giải quyết cụ thể sẽ được thực hiện như thế nào?

Thứ sáu, thực trạng quản lý sử dụng vốn, tài sản, quản lý doanh thu, chí phí và

phân phối lợi nhuận của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng sẽ được phân tích, đánh giá trong đề tài nghiên cứu Mục tiêu của việc phân tích này là nhằm chỉ ra những tồn tại và hạn chế cũng như những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại đó Kết quả của việc phân tích đó sẽ được sử dụng làm cơ sở cho việc đề xuất các kiến nghị, các giải pháp cụ thể hình thành một cơ chế quản lý tài chính phù hợp, hiệu quả cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lý luận về Tập đoàn kinh tế và Tập đoàn kinh tế nhà nước, cơ chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn kinh tế, để từ đó phục vụ cho việc nghiên cứu thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam Xác định những thành tựu và hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, chỉ ra và phân tích những nguyên nhân của thực trạng đó Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong giai đoạn tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, các nội dung có liên quan đến cơ chế quản lý tài chính đang được áp dụng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam Cơ chế tài chính được nghiên cứu trong luận án được tiếp

Trang 13

cận từ cả hai giác độ: cơ chế quản lý của Nhà nước về mặt tài chính đối với Tập đoàn

và cơ chế quản lý tài chính trong nội bộ Tập đoàn Cách tiếp cận này là cần thiết bởi các Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước nói chung, Tập đoàn Dầu khí quốc gia nói riêng, vẫn chịu sự chi phối mạnh mẽ của Nhà nước, quan hệ tài chính giữa Nhà nước

và Tập đoàn do Nhà nước quyết định và có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ tổ chức cũng như phương thức vận hành của toàn bộ các hoạt động do Tập đoàn tiến hành Bên cạnh

đó, do các Tập đoàn - dù là Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước - vẫn là những tổ chức sản xuất kinh doanh hoạt động theo cơ chế thị trường, được phân cấp và có quyền

tự quyết định nhiều vấn đề theo sự phân cấp đó Do vậy, nó cũng cần có sự chủ động nhất định trong việc xây dựng và thực hiện những nội dung cụ thể trong cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn

Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu tất cả các hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, để từ đó tập trung phục vụ cho việc nghiên cứu, đánh giá cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam hiện nay

Thời gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến nay Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong thời gian tới 2020

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Về tổng thể chung, các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được

sử dụng như phương pháp luận nền tảng chung, làm cơ sở cho việc hình thành cách tiếp cận đối với đối tượng và các nội dung nghiên cứu cũng như mối quan hệ nhân quả giữa các nội dung cụ thể Phương pháp luận này cũng là cơ sở để hình thành các giả thuyết nghiên cứu và việc phân tích các mối quan hệ, các xu hướng biến động của cơ cấu và kết quả hoạt động của Tập đoàn được đề cập trong luận án

Về việc thu thập số liệu, tài liệu, với số liệu thứ cấp, luận án tập hợp các số liệu

và tư liệu đã được công bố qua sách, báo, tạp chí và các báo cáo tổng kết, các công trình nghiên cứu, các website… Số liệu thứ cấp trong đề tài này bao gồm: các bài viết

về quá trình hình thành phát triển của các Tập đoàn kinh tế và Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, cơ chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chế quản lý tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước Trong số các tài liệu, tư liệu này, luận án chú trọng

Trang 14

phân tích những nội dung liên quan tới cơ chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn kinh

tế nói chung; các số liệu, tư liệu về cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam sẽ được phân tích trong bối cảnh đặc thù của Tập đoàn này, nhưng cũng

sẽ được nhìn nhận như cơ chế của một điển hình trong các Tập đoàn kinh tế Việt Nam Những số liệu liên quan đến cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí (từ các báo cáo của Tập đoàn và các đơn vị thành viên của Tập đoàn) cũng sẽ được tập hợp phân tích để làm rõ những đặc điểm có tính bản chất của cơ chế này

Thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp gồm các số liệu khảo sát được thu thập

thông qua điều tra chọn mẫu bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu một số đối tượng liên quan tới việc xây dựng và thực hiện áp dụng cơ chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

- Lãnh đạo doanh nghiệp, các cán bộ quản lý chủ chốt và cán bộ nghiệp vụ/ quản lý chức năng của các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn cũng như các cán

bộ chuyên môn công tác tại văn phòng Tập đoàn

- Các cán bộ quản lý nhà nước thuộc các cơ quan ban ngành có liên quan đến cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn như: Cán bộ Cục thuế, Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công thương

- Các cán bộ nghiên cứu am hiểu về cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp, các Tập đoàn

Về phương pháp phân tích số liệu:

Phương pháp tổng hợp thống kê sử dụng bảng thống kê và đồ thị thống kê:

Luận án sử dụng các bảng thống kê và các biểu đồ để thể hiện hiện trạng cũng như cơ cấu để so sánh, phân tích sự tăng trưởng và thực trạng, xu hướng biến động của các nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu

Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được sử dụng trong việc tổng

hợp và phân tích các số liệu, kết quả thu được từ hoạt động điều tra, khảo sát, đặc biệt

là để làm rõ những yếu tố cấu thành hiện trạng tại những thời điểm cụ thể hoặc để so sánh các yếu tố này ở những thời điểm khác nhau

Việc phân tích số liệu khảo sát được thực hiện trên cơ sở sử dụng phần mềm SPSS kết hợp với nghiên cứu, đánh giá chủ quan

Phương pháp chuyên gia: Để thẩm định và đánh giá tính chính xác của các số

liệu và các phân tích, nhận định rút ra từ số liệu điều tra, một cuộc tọa đàm, trao đổi ý

Trang 15

kiến sẽ được tổ chức với thành viên tham dự là các chuyên gia am hiểu sâu về cơ chế quản lý tài chính của các Tập đoàn nói chung và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về Tập đoàn kinh tế, Tập đoàn kinh tế nhà nước như quan điểm nhận thức về Tập đoàn kinh tế nhà nước, đặc điểm vai trò của Tập đoàn kinh tế nhà nước

- Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, qua phân tích những thành quả và hạn chế của cơ chế hiện tại cần sự đổi mới

và thay thế, tìm ra những nguyên nhân của những tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành để sử dụng làm căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản

lý tài chính đối với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong giai đoạn tới 2020

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và dựa vào kinh nghiệm trong việc xây dựng và áp dụng cơ chế quản lý tài chính của một số Tập đoàn dầu khí lớn trong khu vực và Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, luận án sẽ đề xuất một hệ thống bao gồm các nhóm giải pháp cụ thể để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung của luận án gồm 4 chương (150 trang)

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài (10 trang) Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh tế

(48 trang)

Chương 3: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia

Việt Nam (48 trang)

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí

quốc gia Việt Nam (44 trang)

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Thế giới dùng những khái niệm khác nhau để nói về các Tập đoàn kinh tế, những chủ thể kinh tế có tư cách rất khác biệt theo quy định của hệ thống luật pháp ở các nước khác nhau Sau một thời gian dài chủ yếu chỉ xem xét chủ thể kinh tế này như một hình thức để tập trung hóa sản xuất và là kết quả của quá trình tích tụ - tăng quy

mô của doanh nghiệp, từ giữa thế kỷ XX, Tập đoàn kinh tế thường được xem xét dưới giác độ tổ chức kinh doanh, như một loại hình chủ thể kinh tế được tổ chức để kinh doanh trên phạm vi toàn cầu và thâm nhập thị trường mới Các nghiên cứu thường đề cập tới các hình thức tổ chức của các chủ thể đó dưới dạng các công ty đa quốc gia (multinational companies - MNC) hoặc các công ty xuyên quốc gia (transnational companies - TNC)

Thành lập và phát triển các Tập đoàn kinh tế là một chủ trương lớn của Việt Nam trong những năm qua Hoạt động của các chủ thể kinh tế này đã đem lại nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, hiệu quả, tác động và mức độ đáp ứng kỳ vọng mà xã hội đặt ra cho chúng đã được đánh giá khá khác biệt Chính vì thế, trong thời gian qua, ở Việt Nam đã có rất nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, có những ấn phẩm và các công trình nghiên cứu về các Tập đoàn kinh tế cũng như những khía cạnh, vấn đề riêng rẽ trong hoạt động và phát triển của chúng, đặc biệt là về hiệu quả hoạt động và tác động của các Tập đoàn kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Những quan điểm về Tập đoàn kinh tế, những ưu điểm và hạn chế của cơ chế quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước cũng như cơ chế quản lý tài chính đang áp dụng tại Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã được nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu, được đề cập trong các tài liệu đã được phát hành như sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án Trong

đó, mỗi quan điểm, mỗi công trình, đề tài nghiên cứu được nhìn nhận ở những góc độ khác nhau với những mục tiêu nghiên cứu khác nhau

Trong số những công trình nghiên cứu về Tập đoàn kinh tế, có thể nêu một số công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống và chi tiết về chủ đề này như sau:

Trang 17

1 Tác giả Nguyễn Thiết Sơn đã thực hiện một nghiên cứu về các công ty xuyên quốc gia và công bố kết quả nghiên cứu trong một ấn phẩm cùng tên do Nxb Khoa học

xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 2003 Công trình đã nghiên cứu các vấn đề về công ty xuyên quốc gia, tổng kết, đúc rút những biểu hiện và quá trình hoạt động của các Tập đoàn xuyên quốc gia Tác giả đã trình bày sự hình thành, cơ sở kinh tế - xã hội cũng như những nhân tố chủ yếu tác động tới quá trình hình thành và phát triển của các Tập đoàn kinh tế Thông qua nghiên cứu điển hình về một số Tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, tác giả đã rút ra một số kết luận về: 1) cơ sở kinh tế để các Tập đoàn kinh tế xuất hiện và phát triển (mức độ tập trung hóa sản xuất, sức ép cạnh tranh và yêu cầu tránh hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc tăng quy mô), 2) mối quan hệ giữa tiến bộ khoa học - công nghệ và Tập đoàn kinh tế (khai thác lợi thế độc quyền về tiến bộ khoa học - công nghệ, chuyển giao công nghệ gắn với đầu tư sang các thị trường ngoài thị trường truyền thống), 3) mối quan hệ giữa quá trình đầu tư tư bản và sự hình thành các Tập đoàn (sự đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con thuộc nhiều quốc gia) và 4) mối quan hệ giữa thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán, với sự hình thành các Tập đoàn đa quốc gia (quá trình mua bán/ sáp nhập doanh nghiệp cho phép một Tập đoàn/ công ty lớn có lợi thế có thể thâu tóm các doanh nghiệp khác ở trong và ngoài nước) Tác giả của công trình nghiên cứu này nhận định rằng việc hình thành các Tập đoàn/ công ty đa quốc gia là một xu hướng đang được tiếp tục mở rộng trên phạm vi toàn cầu, một phần do có những yếu tố củng cố cơ sở kinh tế- xã hội cho sự tồn tại của các Tập đoàn và mặt khác, do chính bản thân các Tập đoàn/ công ty đa quốc gia cũng có những lợi thế tiềm tàng cho phép chúng có thể tồn tại trong những điều kiện khó khăn

2 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (trong khuôn khổ một dự án cùng chủ đề, thực hiện năm 2004-2005) đã có những nghiên cứu khá toàn diện về Tập đoàn kinh tế Với mục tiêu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn giúp Nhà nước định hình các chính sách đối với các tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô lớn (các Tổng công ty được thành lập theo các Quyết định 90 và Quyết định 91/CP) theo mô hình các Tập đoàn kinh tế trên thế giới, dự án này đã nghiên cứu phân tích những vấn đề cơ bản

về các Tập đoàn kinh tế, đánh giá thực trạng hoạt động của các Tập đoàn kinh tế trên thế giới cũng như một số Tổng công ty lớn của Việt Nam mà tổ chức và hoạt động của

nó có những nét tương đồng với các Tập đoàn kinh tế nước ngoài (quy mô lớn, kinh

Trang 18

doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực, có vị thế chi phối thị trường ở mức độ nhất định)

Dự án này cũng đã phân tích và đánh giá khung pháp lý của Việt Nam (đặc biệt là địa

vị pháp lý của các Tập đoàn theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam) đối với các Tập đoàn kinh tế Trên cơ sở đó, dự án đã đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển của các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

3 Tổng quan tình hình hoạt động và tái cơ cấu các TĐKT, Tổng công ty nhà nước năm 2012, định hướng nhiệm vụ năm 2013 (báo cáo do Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp soạn thảo năm 2013) Tổng kết tình hình năm 2012 và một số

năm trước đó, bản báo cáo này phân tích đánh giá thực trạng hoạt động và quá trình tái

cơ cấu của các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế nhà nước trong năm 2012 Trên cơ sở

đó, bản báo cáo đã đánh giá khá sâu những thành tựu và hạn chế quá trình hoạt động và tái cơ cấu của các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, đồng thời chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến những tồn tại hạn chế của thực trạng đó Đây là một tổng kết có giá trị bởi đã đánh giá một cách khá toàn diện các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, hoạt động với tư cách là những Tập đoàn kinh tế mạnh của Việt Nam (kể cả những tổ chức được xác định là Tập đoàn kinh tế nhà nước theo quyết định thành lập của Chính phủ cũng như những tổ chức kinh doanh vẫn có hình thức pháp lý là Tổng công ty nhưng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế)

4 Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Tuấn và Nguyễn Hải Hà (Học viện Hành

chính quốc gia), được công bố với tiêu đề “Về mô hình Tập đoàn kinh doanh mạnh ở Việt Nam” Công trình nghiên cứu này cũng đã đề cập tới các đặc điểm đặc trưng của

các Tập đoàn kinh tế và sự hình thành của các Tập đoàn kinh tế trên thế giới nói chung Các tác giả cũng đã hệ thống hóa các vấn đề liên quan tới sự hình thành và hoạt động của các tổ chức kinh tế hoạt động với tư cách là những Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam (bối cảnh kinh tế - xã hội, khung chính sách, thực trạng hoạt động, những khó khăn, vướng mắc chủ yếu và nguyên nhân của các vấn đề mà các tổ chức kinh doanh hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam phải giải quyết)

5 Nghiên cứu của Đại học Kinh tế quốc dân và các cộng tác viên Đây không chỉ là một nghiên cứu độc lập, mà bao gồm nhiều nghiên cứu riêng rẽ về Tập đoàn kinh

tế, từ các đề tài cấp nhà nước, đề tài cấp bộ và đề tài cấp cơ sở (trong khuôn khổ nội bộ trường cũng như của các tổ chức kinh doanh hoạt động theo mô hình Tập đoàn Năm

2009, trong khuôn khổ một hội thảo khoa học về Ngăn chặn suy giảm kinh tế Việt

Trang 19

Nam, một số nhà khoa học của trường và cộng tác viên đã đề cập tới vai trò của các

Tập đoàn kinh tế với tư cách là một nhân tố mà Nhà nước có thể sử dụng để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội nói chung, phục vụ chính sách phát triển kinh tế nói riêng Các bài viết trong kỷ yếu hội thảo đã nghiên cứu kinh nghiệm từ việc thực hiện các giải pháp vượt qua khủng hoảng nhờ phát huy vai trò của các Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

6 Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc, được công bố trên một số tạp chí

Kinh tế phát triển (số 11/1998) với tiêu đề “Một số vấn đề về hoạt động của Tổng công ty 91 và giải pháp hoàn thiện các Tổng công ty trong thời gian tới”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 3/2003) dưới tiêu đề “Về các Tổng công ty và các hoạt động của chúng”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển (số 10/2009) dưới tiêu đề “Một số vấn đề về

tổ chức và cơ chế hoạt động của các Tập đoàn nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp (số 10/2009) dưới tiêu đề “Mô hình tổ chức kiểm soát các tổ chức công và ứng dụng trong tổ chức kiểm soát các Tập đoàn nhà nước ở Việt Nam” Những

nghiên cứu này tập trung vào tình hình hoạt động của các Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty hoạt động theo mô hình Tập đoàn, nêu và phân tích khá rõ một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình hoạt động của chúng, đề cập và phân tích một số vấn

đề về tổ chức và cơ chế hoạt động, đồng thời nêu một số mô hình kiểm soát các tổ chức công và việc ứng dụng các mô hình này đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước

ở Việt Nam Năm 2010, tác giả này tiếp tục trình bày một số vấn đề liên quan tới bản chất và vai trò của các Tập đoàn kinh tế đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển (số

10/2010), dưới tiêu đề “Bản chất của các tập kinh tế và vai trò của chúng ở Việt Nam” Qua bài viết tác giả đã làm rõ những nội dung cụ thể về bản chất và vai trò của

các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Tuy nhiên bài viết dừng lại ở việc phân tích đánh giá các Tập đoàn kinh tế nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu bản chất của Tập đoàn kinh tế nhà nước Trong năm tiếp theo, tác giả này cùng TS Hồ Sĩ Hùng (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tiếp tục nghiên cứu về các mô hình tổ chức kinh doanh của các Tập đoàn kinh tế và công bố trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển (số 10/2011) dưới tiêu đề

“Các mô hình tổ chức Tập đoàn kinh tế” Các tác giả đã trình bày và phân tích con

đường hình thành, mô hình tổ chức Tập đoàn kinh tế trên thế giới Từ những phân tích cụ thể đó, các tác giả đã chỉ ra điểm chung nhất của các Tập đoàn kinh tế là

chúng được hình thành thông qua quá trình tích tụ và tập trung tư bản

Trang 20

7 Hoàng Hà cũng đã nghiên cứu thực trạng hoạt động của các Tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con và quá trình chuyển đổi chúng sang hoạt động theo cơ chế của các Tập đoàn kinh tế Trên cơ sở phân tích những ưu - nhược điểm của các mô hình tổ chức doanh nghiệp trong nước, kinh nghiệm và bài học

từ thực tiễn của các doanh nghiệp tương tự ở nước ngoài, tác giả đã đề xuất một số các định hướng và giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty nhà nước Những nghiên cứu này đã được công bố trên Tạp chí Kinh tế và Phát triển

dưới tiêu đề “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con”

8 Vũ Xuân Tiền, với công trình nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Kinh tế

và Dự báo (số 17, tháng 9/2013) dưới tiêu đề “Giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước: Quy chế mới liệu có sức sống mới?” đã phân tích quy chế giám sát tài chính

đối với các doanh nghiệp nhà nước Tác giả đã không đồng tình với một số nội dung của quy chế giám sát tài chính hiện hành đối với hệ thống các doanh nghiệp nhà nước

và chỉ ra một số giải pháp và định hướng hoàn chỉnh chúng cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

9 Vũ Hoàng Nam cũng có một nghiên cứu về sự phát triển các Tập đoàn kinh

tế và công bố kết quả dưới hình thức một bài nghiên cứu có tiêu đề “Kinh nghiệm phát triển Tập đoàn kinh tế ở một số nước trong khu vực” đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự

báo (số 8/2010) Tác giả đã phân tích quá trình phát triển các Tập đoàn kinh tế của các quốc gia trong khu vực, đánh giá một cách khái quát những thành tựu và hạn chế của quá trình phát triển đó Trên cơ sở này, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tổ chức, duy trì hoạt động, phát triển và quản lý các Tập đoàn kinh tế (và các tổ chức kinh doanh có bản chất tương tự)

Như vậy, qua các bài viết kể trên, các tác giả đã đề cập khá nhiều các vấn đề có liên quan đến Tập đoàn kinh tế và Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Tuy vậy, gần như chưa có một bài viết nào cụ thể đề cập đến vấn đề cơ chế quản lý tài chính và giải pháp hoàn thiện chúng đối với Tập đoàn kinh tế

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Quản lý tài chính tuy là một chức năng quản lý, nhưng nó chứa đựng những nội dung xuyên suốt các chức năng quản lý khác Chính vì thế, hầu như mọi nghiên cứu về

Trang 21

cơ chế quản lý nói chung, cơ chế quản lý các Tập đoàn nói riêng, đều có đề cập tới cơ chế quản lý tài chính ở những mức độ khác nhau Trong số những nghiên cứu tương đối có hệ thống về cơ chế tài chính của một Tập đoàn kinh tế nói chung, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng, có thể nêu một số công trình có giá trị khoa học và thực tiễn sau đây:

1 Công trình nghiên cứu “Cơ chế tài chính trong mô hình Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế” của các tác giả Nguyễn Thị Diễm Châu và Nguyễn Ngọc Thanh (hoàn

thành năm 2001 tại Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Nghiên cứu Tài chính) Trong nghiên cứu này các tác giả đề cập một số vấn đề như: Tổng quan về Tập đoàn kinh tế, mô hình Tổng công ty của Việt Nam, cơ chế tài chính của mô hình Tổng công ty Việt Nam, định hướng chiến lược hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong mô hình Tổng công ty và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính trong mô hình Tổng công ty ở Việt Nam Một trong các nội dung quan trọng được đề cập trong cuốn này là lộ trình hình thành các Tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam, tương ứng với các giai đoạn từ 2001-2005 và giai đoạn từ 2005 trở đi

2 Trần Duy Hải (2009) có nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp viễn thông ở Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập” Nghiên cứu này đã khảo sát thực tiễn, sử dụng các số liệu, tài

liệu thứ cấp để phân tích thực trạng, các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp

có tính phương pháp luận nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp viễn thông Trong số các giải pháp trên, có thể kể tới:

(1) Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước đối với các doanh nghiệp viễn thông Các giải pháp đề cập đến chính sách sử dụng cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet, chính sách về giá cước, phí và lệ phí, chính sách về hỗ trợ dịch vụ viễn thông công ích, bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ viễn thông và Internet và giải pháp phát triển thị trường viễn thông, Internet, giải pháp huy động nguồn vốn đầu

tư cho dịch vụ viễn thông, Internet

(2) Nhóm các giải pháp về cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp viễn thông, bao gồm: i) Nhóm các giải pháp về đổi mới, sắp xếp tổ chức; ii) Hình thành các chức danh giám đốc tài chính ở các Tập đoàn, doanh nghiệp viễn thông; iii) Nhóm các giải pháp về vốn như: Cơ chế huy động vốn, cơ chế quản lý sử dụng vốn và tài sản, cơ chế bảo toàn vốn; iv) Nhóm các giải pháp về cơ chế quản lý doanh thu, chi phí trong

Trang 22

nội bộ công ty mẹ Tập đoàn và trong nội bộ doanh nghiệp viễn thông; v) Hoàn thiện cơ chế quản lý lợi nhuận (trong đó nêu quan điểm về phương pháp xác định lợi nhuận của công ty mẹ, của các công ty thành viên và cơ chế phân phối lợi nhuận); vi) Giải pháp

về cơ chế tài chính cho việc mở rộng thị trường nội địa và cạnh tranh quốc tế; vii) Nhanh chóng ban hành cơ chế tài chính trong việc khuyến khích vật chất đối với những lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, ban giám đốc, cán bộ quản lý giỏi; viii) Xây dựng cơ chế hạch toán, báo cáo tài chính; và ix) Thiết lập hệ thống giám sát nội bộ

đủ mạnh để ngăn chặn, chống tham nhũng tài sản của Tập đoàn

(3) Nhóm các giải pháp riêng cho VNPT bao gồm các giải pháp liên quan tới cơ chế huy động và sử dụng vốn, trong đó phân tích rõ một số nội dung như: nghiên cứu

cơ chế để tập trung sức mạnh tài chính của các đơn vị thành viên; tập trung các nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong nội bộ công ty mẹ Tập đoàn và các đơn vị có tiềm lực Khi trình bày các giải pháp này, tác giả cũng đã nêu quan điểm về cơ chế tài chính đối với các đơn vị làm công tác nghiên cứu phát triển

Đáng chú ý là trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã nghiên cứu, khảo sát và có

đề xuất một số điều kiện để thực hiện được các giải pháp mà mình đã đề xuất

3 Phùng Thế Tĩnh (2008) thực hiện nghiên cứu về “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công ty nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”

Nghiên cứu này đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về Tập đoàn kinh tế và cơ chế quản lý của Tập đoàn kinh tế thông qua các nội dung như khái niệm, vai trò, mô hình tổ chức của các Tập đoàn kinh tế, cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế, kinh nghiệm xây dựng cơ chế quản lý tài chính của một số Tập đoàn kinh tế

Tác giả đã bắt đầu từ việc nghiên cứu sự ra đời, mô hình tổ chức, quá trình hoạt động của các Tổng công ty nhà nước Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước ở Việt Nam thông qua các nội dung: i) Cơ chế tạo lập và huy động vốn của các Tổng công ty nhà nước; ii)

cơ chế quản lý, sử dụng vốn và tài sản của các Tổng công ty nhà nước; iii) cơ chế quản

lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận của các Tổng công ty nhà nước; iv) cơ chế kiểm tra giám sát tài chính của các Tổng công ty nhà nước Qua những phân tích này, tác giả đã

có những nhận xét khá rõ về cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước

để từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công

ty nhà nước định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Trang 23

Xuất phát từ định hướng phát triển của các Tổng công ty nhà nước, tác giả đã định hướng mục tiêu xây dựng cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước

ở Việt Nam như sau: Thứ nhất: Cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty phải phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Thứ hai: Cơ chế quản lý tài chính phải góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội Thứ ba: Cơ chế quản lý tài chính phải đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hóa ngành nghề và nâng cao năng lực cạnh tranh Thứ tư: Cơ chế

quản lý tài chính phải nâng cao tính tự chủ, khai thác khả năng tiềm tàng sẵn có và tăng tính hiệu quả qua các liên kết bên trong

Từ những mục tiêu cụ thể này, đề tài nghiên cứu đã đề xuất một số các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, bao gồm: (1) Tổ chức lại các Tổng công ty nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh tế; (2) Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước theo định hướng Tập đoàn kinh tế trên các khía cạnh: i)

cơ chế tạo lập vốn, ii) cơ chế huy động vốn, iii) cơ chế quản lý, sử dụng vốn, iv) cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, vi) cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính

Phân tích bối cảnh thể chế kinh tế Việt Nam thời kỳ đó, tác giả đã xác định một

số điều kiện thực hiện các giải pháp thuộc về các chủ thể có liên quan, đặc biệt là: i) Nhà nước cần nhận thức rõ rằng việc hình thành, xây dựng và phát triển các Tập đoàn kinh tế là tất yếu khách quan (xuất phát từ quy luật tích tụ và tập trung sản xuất cũng như các nguồn lực được đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội), do đó cần nhanh chóng xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ ổn định nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh cho các Tập đoàn kinh tế; ii) Việc đổi mới các chính sách vĩ mô theo hướng mở rộng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm của người quản lý điều hành Tập đoàn kinh tế cũng được đề tài phân tích khá rõ và iii) Bản thân Tập đoàn kinh tế cần phải nhanh chóng và chủ động hoàn thiện cơ chế nội bộ, nâng cao khả năng thích ứng với môi trường thể chế và môi trường kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực nội tại và thiết lập lợi thế cạnh tranh để thiết lập và vận hành một cơ chế tài chính linh hoạt

Trong đề tài nghiên cứu này, các tác giả mới chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trong khung pháp lý cho các doanh nghiệp nhà nước lúc đó (chủ yếu là theo Luật Doanh nghiệp năm 2005), chưa khảo sát cơ chế quản lý tài chính của các Tập đoàn kinh tế thực sự như Chính phủ quy định sau này

Trang 24

4 Chu Xuân Lai (2006) nghiên cứu “Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam theo định hướng Tập đoàn kinh tế” Công trình nghiên cứu này tập

trung phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính theo hướng Tổng công ty được chuyển thành một Tập đoàn kinh tế nhà nước

Tác giả đã phân tích và khái quát một số vấn đề cơ bản Tập đoàn kinh tế và các nội dung về cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế như khái niệm về cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế, nội dung của Tập đoàn kinh tế, cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty nhà nước ở Việt Nam Để có căn cứ so sánh, đối chiếu, tác giả công trình nghiên cứu này đã tập hợp tư liệu, phân tích và đánh giá cơ chế quản lý tài chính của một số Tập đoàn dầu khí trên thế giới

Nội dung chủ yếu của nghiên cứu này là đánh giá, phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1995-2005 Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã dành một phần khá lớn để mô tả, phân tích và đánh giá một cách khá cụ thể thực trạng các cơ chế cấu thành cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, bao gồm: cơ chế tạo lập và huy động vốn, cơ chế quản lý, sử dụng vốn và tài sản, cơ chế phân phối thu nhập, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính, cơ chế tài chính đối với các đơn vị thành viên Qua những phân tích

cụ thể đó, tác giả đã chỉ ra những tồn tại và hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí và xác định được những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại đó

Công trình của tác giả Chu Xuân Lai đã đề xuất việc xây dựng cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam Từ mục tiêu phát triển của Tổng công

ty Dầu khí Việt Nam đến năm 2010 hướng đến năm 2025, thực trạng của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại, tác giả xây dựng và phân tích một số mục tiêu và nguyên tắc xác lập cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, bao gồm: i) Cơ chế quản lý tài chính phải có chọn lọc để vừa có được những ưu điểm có tính bản chất của mô hình tập trung hóa, vừa phù hợp với điều kiện thực

tế của Việt Nam, ii) Cơ chế quản lý tài chính phải tạo động lực bền vững cho những nỗ lực nhằm khai thác các khả năng tiềm tàng của Tổng công ty và tăng tính hiệu quả của các liên kết bên trong của Tổng công ty (không chỉ ở cấp độ Tổng công ty mà cả ở cấp độ các doanh nghiệp thành viên), iii) Kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa tự chủ tài chính và kiểm soát tài chính theo hướng mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị thành viên

Trang 25

Những đề xuất về đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được xác lập thông qua hai nội dung cốt lõi: i) Tổ chức lại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thành một Tập đoàn kinh tế nhà nước, ii) Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty với các nội dung cụ thể như cơ chế tạo lập huy động vốn với các nội dung chủ yếu là: cơ chế quản lý quản lý sử dụng vốn, tài sản, vấn đề định chế tài chính của Tập đoàn, cơ chế phân phối thu nhập, cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị thành viên, cơ chế giám sát, kiểm tra các hoạt động tài chính

Tổng kết các vấn đề được đề cập trong đề tài, các tác giả đã phân tích, đánh giá khá trên phạm vi rộng về cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí và đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, theo mô hình Tập đoàn kinh tế

Tóm lại, cho tới nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu (bao gồm các

nghiên cứu độc lập, các đề tài, các luận án tiến sĩ), các ấn phẩm (sách và các bài tóm tắt trình bày kết quả nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành) của các tác giả là các chuyên gia quản lý thuộc nhiều lĩnh vực (bao gồm cả các cán bộ quản lý trực tiếp ở các Tập đoàn cũng như các Tổng công ty hoạt động theo mô hình Tập đoàn hoặc định hướng theo mô hình Tập đoàn), các cán bộ nghiên cứu viết về Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế ở các khía cạnh khác nhau Trong số đó, đã có một số nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính của một số Tập đoàn kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi và thử nghiệm mô hình này ở Việt Nam

Về cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí hiện nay, đã có một nghiên cứu có liên quan trực tiếp là nghiên cứu về cơ chế tài chính cho Tổng công ty Dầu khí (tiền thân của Tập đoàn) cách đây đã 10 năm, trong đó chủ yếu đánh giá thực trạng và tác động của cơ chế này trong giai đoạn 1995-2005 Trong những năm gần đây, cơ chế tài chính và những vấn đề cụ thể cần hoàn thiện, điều chỉnh đã được đề cập một cách riêng rẽ trong các báo cáo tổng kết, báo cáo giám sát, báo cáo kiểm toán của Tập đoàn cũng như các đối tác, các cơ quan chuyên môn liên quan tới từng lĩnh vực Tuy nhiên, việc đánh giá một cách tổng quan, có căn cứ khoa học vẫn chưa được thực hiện

Như vậy, cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện một cách bài bản, toàn diện về cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam theo cấu trúc của một Tập đoàn kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế

Trang 26

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

2.1 BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

2.1.1 Bản chất của các Tập đoàn kinh tế

Trong lịch sử phát triển các doanh nghiệp, sự hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn (trong đó có hình thức Tập đoàn) xuất phát từ quá trình tập trung và tích

tụ sản xuất Có thể nói Tập đoàn chính là kết quả tất yếu của quá trình tập trung và tích tụ sản xuất

Tập trung hóa là quá trình tập trung năng lực sản xuất vào những tổ chức sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp) có quy mô ngày càng lớn, phạm vi hoạt động ngày càng rộng, sử dụng ngày càng nhiều các nguồn lực xã hội hoặc tạo ra mật độ năng lực sản xuất ngày càng cao tại những khu vực địa lý cụ thể Quá trình này diễn ra nhờ sự tích lũy (bổ sung vốn từ lợi nhuận kinh doanh hoặc bổ sung vốn của các chủ doanh nghiệp), hoặc tích tụ (sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ thành những doanh nghiệp lớn hơn) Nó là hậu quả, đồng thời cũng là tác nhân thúc đẩy quá trình phân công và hợp tác sản xuất trong nội bộ mỗi doanh nghiệp cũng như giữa các doanh nghiệp

Sự phát triển sản xuất cũng như toàn bộ nền kinh tế gắn liền với sự gia tăng quy mô của các tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như của toàn bộ nền kinh tế Sự gia tăng quy mô của nền kinh tế được phản ánh qua những chỉ tiêu phản ánh quy mô của những nguồn lực mà xã hội sử dụng (giá trị tài sản của xã hội, quy mô lao động, số lượng những loại thiết bị sản xuất chủ yếu,…) hoặc kết quả sản xuất kinh doanh (giá trị sản lượng hàng hóa, GDP,…) Sự gia tăng quy mô của mỗi tổ chức sản xuất kinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu tương tự, như giá trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp,

số lượng nhân lực mà doanh nghiệp sử dụng, lượng nguyên liệu, vật tư mà doanh nghiệp gia công, chế biến, công suất hoặc sản lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra,…

Số liệu thống kê chỉ ra rất rõ xu hướng gia tăng của quy mô nền kinh tế toàn cầu Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia khiến cho quy mô kinh tế của một

số nước tăng trưởng nhanh khiến chúng có tỷ trọng lớn, có khả năng chi phối kinh tế

Trang 27

toàn cầu nói chung Tương tự như thế, sự gia tăng quy mô của các doanh nghiệp dẫn tới sự hình thành một số doanh nghiệp lớn có khả năng chi phối nền kinh tế khu vực, quốc gia và thậm chí toàn cầu

Sự gia tăng quy mô của các tổ chức kinh doanh cũng như của bản thân quá trình tập trung hóa thực sự là một quy luật phát triển của nền kinh tế, của sản xuất kinh doanh Các nhà kinh tế đã khái quát hóa xu hướng này như một quy luật tất yếu từ rất sớm Ngay từ bảng cân đối nền kinh tế của mình, Quesney đã mô tả quá trình tài sản xuất với quy mô ngày càng tăng Phát triển học thuyết này, trong bộ Tư bản, Marx đã nói tới quá trình tái sản xuất mở rộng và khẳng định rõ rằng tái sản xuất mở rộng là một quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản Phân tích quá trình phát triển của nền sản xuất trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản thế kỷ XVIII - XIX, Marx (1874) đã xem xét quá trình tích lũy và tích tụ tư bản và khẳng định rằng quá trình tích lũy là cơ sở cho sự tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế Đồng thời, nó cũng làm cho quy mô sản xuất nói chung và quy mô của các nhà tư bản cá biệt tăng lên Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng quy mô của các doanh nghiệp Marx thậm chí còn coi đây là một hiện tượng có tính quy luật của nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa (quy luật tích lũy tư bản)

Phát triển ý tưởng trên, bằng cách phân tích chính các số liệu thống kê, Lênin (1916) đã chỉ ra rằng bản thân nền sản xuất đã không ngừng tăng quy mô, từ đó hình thành những xí nghiệp có quy mô ngày càng lớn Lênin phân tích chi tiết hơn quá trình tập trung hóa sản xuất của các nước công nghiệp phát triển trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và khẳng định rằng sự tập trung hóa sản xuất đã đạt tới một trình độ mới về chất, không chỉ là sự gia tăng quy mô thuần túy của các tổ chức sản xuất kinh doanh, mà đã có sự tăng quy mô một cách hoàn toàn có ý thức, được thực hiện thông qua sự cấu kết giữa các nhà tư bản công nghiệp với tư bản ngân hàng, từ đây dẫn tới sự độc quyền của các tổ chức sản xuất kinh doanh lớn, hoạt động không chỉ ở một nước, mà ở nhiều nước Từ sự nhận xét thực trạng tập trung hóa ở các nước công nghiệp phát triển lúc đó là Đức và Mỹ, Lênin nhận xét rằng “đặc điểm trọng yếu… là chế độ liên hợp hóa, nghĩa là tập trung vào trong tay một xí nghiệp duy nhất nhiều ngành công nghiệp khác nhau” Lênin cũng nhận định rằng tiến bộ khoa học - kỹ thuật cũng như sự kết hợp giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng đã thúc đẩy quá trình này [15, tr.398-399]

Trang 28

Tập trung hóa, đặc biệt là sự tập trung hóa dưới hình thức hình thành các tổ chức kinh doanh quy mô lớn, còn được phân chia thành: i) tập trung hóa do tích tụ

tư bản/ tích tụ vốn và các nguồn lực khác, và ii) tập trung hóa do tập trung, sáp nhập các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh nhỏ thành các tổ chức sản xuất kinh doanh lớn hơn

Về mặt tổ chức, gần đây có những hình thức tập trung hóa dưới hình thức sáp nhập những doanh nghiệp hoàn toàn không có hoặc chỉ có quan hệ hết sức mờ nhạt về mặt kinh tế lẫn kỹ thuật - công nghệ (không dựa trên sự giống nhau hoặc tương tự về mặt công nghệ hoặc sản phẩm) Đó là những trường hợp mà các tổ chức/ doanh nghiệp được sáp nhập hoạt động cả trong những lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Đây là hình thức tập trung hóa nhằm phân tán rủi ro hoặc làm bước đệm để một tổ chức kinh doanh chuyển dần lĩnh vực hoạt động, kinh doanh của mình Chiến lược này được nhiều tập đoàn lớn trên thế giới áp dụng trong giai đoạn khủng hoảng hoặc khi họ muốn xâm nhập vào một trị trường mới, đặc biệt là xâm nhập thị trường những quốc gia mà họ ít

am hiểu, đánh giá là có mức độ rủi ro cao Nó cũng được áp dụng khi ngành hàng, lĩnh vực mà doanh nghiệp kinh doanh được đánh giá là đã hoặc sắp bão hòa

Những doanh nghiệp có quy mô lớn được thành lập trong quá trình tập trung hóa có những hình thức pháp lý khác nhau Nhiều tổ chức loại này được gọi là Tập đoàn, hoặc các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia Hình thức Tập đoàn được coi là một hình thức pháp lý của doanh nghiệp ở một số nước, nhưng ở nhiều nước, nó chỉ được định nghĩa (tương tự như ở Việt Nam) như một nhóm các doanh nghiệp/ công

ty chứ không phải là một pháp nhân thống nhất

Như trên đã trình bày, quá trình tập trung hóa gắn liền với quá trình thôn tính doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp có thực lực mạnh hơn sẽ “nuốt” các doanh nghiệp có tiềm lực yếu hơn Điểm khác biệt hiện nay so với sự thôn tính giữa các doanh nghiệp trước đây là hiện đã có sự phân hóa rõ rệt và các doanh nghiệp chủ động trong các vụ thôn tính thường là những doanh nghiệp có quy mô rất lớn Những doanh nghiệp này không chỉ thôn tính những doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà thôn tính cả những doanh nghiệp rất lớn mà quy mô của nó không thua kém nhiều so với các doanh nghiệp chủ động thôn tính để tạo thành những tổ hợp kinh doanh mới, những “siêu doanh nghiệp” Hơn nữa, do cơ chế của công ty cổ phần, một doanh nghiệp chỉ cần nắm một tỷ lệ vốn nhất định là có thể khống chế hoạt động của doanh nghiệp mà nó

Trang 29

mua, không nhất thiết phải sở hữu toàn bộ vốn của doanh nghiệp bị thôn tính như trong giai đoạn phát triển trước đây

Trong một nghiên cứu do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tiến hành, từ phân tích thực tiễn tổ chức và hoạt động của những Tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, nhóm nghiên cứu coi Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp lớn bao gồm các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau,

có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lược phát triển [29]

Tập đoàn kinh tế được tổ chức thông qua sự liên kết của hai hay nhiều Tổng công ty có lĩnh vực kinh doanh khác khác nhau tạo thành một cấu trúc công ty có quy

mô quản lý lớn và phức tạp Ý nghĩa Tập đoàn kinh tế có thể hình dung như một công

ty mẹ và một số (hay nhiều) công ty con cùng bắt tay kinh doanh Tập đoàn kinh tế là một công ty đa ngành, có quy mô rất lớn và thường kinh doanh đa quốc gia

Trong hệ thống luật pháp các nước Âu - Mỹ, chưa có một quốc gia nào ghi nhận

“Tập đoàn” như một loại hình pháp lý của các doanh nghiệp Bởi vậy, trong khi các cơ quan nhà nước không xác lập một loại doanh nghiệp cụ thể nào là Tập đoàn thì đã có một số tổ chức đã tiến hành xếp hạng các công ty theo quy mô (ví dụ xác định nhóm

200, 250 hoặc nhóm 500 công ty hàng đầu/ lớn nhất) Cũng chính vì không có một định nghĩa rõ ràng và không được nước nào coi tập đoàn là một pháp nhân độc lập, cho tới nay cũng chưa có một tổ chức nào chính thức tìm cách tính đếm xem có bao nhiêu

“Tập đoàn kinh tế” trên thế giới Hơn nữa, với cùng một công ty, chẳng hạn như Boeing (Mỹ), Thompson (Pháp), Hoechst (Đức), trong khi nhiều người gọi là Tập đoàn kinh tế, thì nhiều người cũng chỉ gọi đơn thuần là công ty

Nhiều tác giả khác cũng viện dẫn các khái niệm nước ngoài để giải thích và xác lập mô hình, nhưng trên thực tế thì “Tập đoàn kinh tế” là một trong nhiều tên gọi được dùng để chỉ những tổ hợp kinh tế lớn bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập (có tư cách pháp nhân), có liên kết với nhau về mặt kinh tế - kỹ thuật và có quan hệ

sở hữu đối với nhau

Ở Việt Nam, khi nói tới hình thức Tập đoàn kinh tế, nhiều tác giả thường lấy

mô hình Chaebol của Hàn Quốc và Keiretsu của Nhật Bản để so sánh nhằm dễ dàng

Trang 30

nhận dạng chủ thể này Tuy nhiên, khi xem xét những Chaebol hoặc Keiretsu thông qua những tên tuổi cụ thể và nghiên cứu bản chất của chúng thì cũng có thể thấy rất rõ rằng đó thực chất là những công ty cổ phần

Từ kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu thực tế trong nước, Luật Doanh nghiệp Việt Nam định nghĩa Tập đoàn kinh tế là một hình thức nhóm công ty và tiếp tục định nghĩa nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, về công nghệ, về thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác trong chuỗi kinh doanh [27] Theo quan niệm trên, mỗi công ty tham gia Tập đoàn kinh tế - gọi là các công ty thành viên hoặc các đơn vị thành viên - là những thực thể kinh tế có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành

tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên, liên hệ với nhau chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con

Theo quy định của bộ Luật nói trên, Tập đoàn kinh tế là một chủ thể không có

tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, nếu được thành lập thông qua sự sáp nhập, tùy thuộc vào cách thức cụ thể mà các chủ thể lựa chọn để thực hiện sự sáp nhập, việc tổ chức và cơ chế hoạt động của Tập đoàn kinh tế với tư cách là một tổng thể sẽ do các công ty thành viên đứng ra thành lập Tập đoàn tự thỏa thuận quyết định Với các Tập đoàn kinh tế nhà nước, cơ quan nhà nước thành lập Tập đoàn có quyền quyết định mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Tập đoàn

Khi thí điểm mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, Nghị định 09/2009/NĐ-CP cũng quy định Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm công ty có tư cách pháp nhân độc lập, đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân độc lập [5]

Qua những phân tích trên, có thể quan niệm Tập đoàn kinh tế với những đặc

điểm cơ bản như sau: “Tập đoàn kinh tế là một tổ chức kinh tế có quy mô lớn có hoặc không có tư cách pháp nhân bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập với nhau về tư cách,

có liên quan với nhau về mặt kinh tế - kỹ thuật và có quan hệ sở hữu với nhau ở những mức độ nhất định”

Trang 31

2.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế

Tuy không có những số liệu thống kê đầy đủ về toàn bộ những “Tập đoàn kinh tế”, nhưng khi nghiên cứu những thực thể kinh tế thường được gọi là “Tập đoàn kinh tế” trên thế giới, có thể thấy 4 đặc điểm chung của các Tập đoàn kinh tế hiện nay như sau:

Thứ nhất, các Tập đoàn kinh tế đều là những tổ chức kinh tế có quy mô lớn

hoặc rất lớn, doanh thu, thậm chí riêng giá trị gia tăng của chúng đã lớn hơn cả GDP của nhiều quốc gia

Dù có nguồn gốc khác nhau, nhưng hiện nay chúng đều đã được chuyển hoá thành công ty cổ phần và trong đó nhiều Tập đoàn kinh tế có cổ phiếu đã được niêm yết trên các thị trường chứng khoán lớn Chính nhờ sự chuyển hoá thành công ty cổ phần và tự do hoá sự chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường mà các Tập đoàn kinh tế

đã tạo ra được khả năng mở rộng hoạt động nhanh chóng, cho phép các chủ sở hữu lớn huy động được nhiều nguồn vốn nhỏ để phát triển Tập đoàn nhanh, mạnh hơn Hiện tượng này được nhiều chuyên gia coi là quá trình “xã hội hoá” sở hữu của các Tập đoàn kinh tế lớn Xu hướng toàn cầu hóa và liên kết kinh tế quốc tế đã có tác dụng tích cực thúc đẩy tình trạng này

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp quy mô lớn của Việt Nam đã được cổ phần hóa và từng bước đưa cổ phiếu của chúng lên giao dịch trên thị trường chứng khoán Ngoài tác dụng giúp luân chuyển vốn, những giao dịch trên thị trường này có thời kỳ đã giúp doanh nghiệp huy động thêm vốn để tăng quy mô của những tổ chức kinh doanh có cổ phiếu được đưa ra phát hành Hơn nữa, gần đây, quá trình mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp lớn thâu tóm các doanh nghiệp thuộc những ngành, những lĩnh vực mới Đây không chỉ là xu hướng trên thế giới, mà ở ngay Việt Nam cũng vậy (xem bảng 2.1)

Đó không chỉ là quá trình đẩy mạnh tích tụ sản xuất, mà đồng thời cũng là quá trình đa dạng hóa Gần đây, do nhiều lý do, các Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty lớn của Nhà nước được yêu cầu “không đầu tư ra ngoài ngành”, hoặc rút vốn đầu tư ngoài ngành trước đây để tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính Tuy nhiên, ngay

“ngành nghề kinh doanh chính” (theo đăng ký và được khẳng định rõ trong điều lệ hoặc quy chế hoạt động của họ) cũng bao gồm nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau

Trang 32

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam

ĐVT: Triệu VND

Chỉ tiêu Tập đoàn Tổng tài sản Nợ phải trả Vốn CSH Doanh thu

Lợi nhuận trước thuế

Nguồn: Số liệu tổng hợp về các tập đoàn và tổng công

ty nhà nước có quy mô lớn, Bộ Tài chính, 2013

Thứ hai, các “Tập đoàn kinh tế” thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực (“kinh

doanh đa ngành nghề” như thường được trình bày trong nhiều tài liệu chuyên môn và truyền thông)

Đây có lẽ là đặc tính thường thấy không chỉ ở các “Tập đoàn”, mà ở hầu hết các doanh nghiệp có quy mô lớn Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này

- không phải trước hết là để “khép kín” hoá quá trình sản xuất kinh doanh như nhiều người lý giải - mà là để phân tán rủi ro trong quá trình kinh doanh ở điều kiện bình thường và là sự chuẩn bị hoặc là bước đi có tính toán trong quá trình chuyển hướng kinh doanh khi thị trường có chuyển biến bất lợi cho các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực truyền thông Một trong những ví dụ tương đối điển hình là trường hợp của Công ty Honda (xem hộp 2.1)

Trang 33

Hộp 2.1: Sự phát triển và mở rộng kinh doanh của Công ty Honda

Công ty Honda (Nhật Bản) được thành lập năm 1948 Hiện Công ty có 390 chi nhánh, xí nghiệp, công ty con, sở hữu tổng số vốn 86 tỷ yên, sử dụng 176.815 lao động, đạt doanh số 8.579 tỷ yên (2010) Honda đã từng bước đầu tư, thiết lập các công ty con tại Nhật (3 nhà máy), Bắc Mỹ (9), Nam Mỹ (2), Châu Âu (5), Tây Ban Nha năm 1986, Pháp năm 1986, Anh năm 1992, Châu Á (không kể Trung Quốc: 8), Trung Quốc (2) Sản phẩm của Công ty hiện nay là xe máy, ô tô, động cơ ô tô và đang thâm nhập vào thị trường sản xuất máy bay tư Ngoài những sản phẩm chính trên, Tập đoàn cũng sản xuất một số sản phẩm khác như dụng cụ làm vườn, động cơ thủy, máy phát điện, nghiên cứu/ thiết kế và thử nghiệm người máy

Năm 1948 là thời điểm Honda khởi nghiệp tại Nhật Bản Các cơ sở ban đầu của Honda được củng cố và mở rộng (năm 2009, Honda mở thêm cơ sở ở Ogawa), đồng thời đảm nhận những chức năng cơ bản nhất, đóng vai trò là động lực cho toàn Tập đoàn về mặt công nghệ và thiết kế 1963: Cơ sở đầu tiên ở Bỉ được đưa vào hoạt động, bắt đầu sản xuất

xe máy và từ 1982 sản xuất cả ô tô 1976: Xây dựng cơ sở sản xuất xe máy ở Ý 1979: Bắt đầu sản xuất xe máy ở Mỹ 1982: Sản xuất ô tô đầu tiên ở Mỹ (các năm sau mở rộng sang Mexico và Canada) 1986: Honda xây dựng cơ sở sản xuất xe máy ở Tây Ban Nha và cơ sở sản xuất động cơ ở Pháp 1992: Cơ sở sản xuất ô tô được đưa vào hoạt động ở Anh 2007: Đầu tư xây dựng liên doanh sản xuất ô tô (góp 50% vốn) với Tập đoàn Công nghiệp ô tô Quảng Châu (Trung Quốc)

Honda cũng đã từng bước mở rộng lĩnh vực/ ngành nghề kinh doanh của mình Quá trình này có thể tóm lược theo trình tự sau:

- Năm 1948, Công ty khởi nghiệp với ngành sản xuất xe máy đơn giản (gắn động cơ vào xe đạp) Năm 1995, xe máy đầu tiên được xuất xưởng

- Năm 1953, Công ty xâm nhập lĩnh vực sản xuất động cơ (ban đầu là để chủ động trong việc cung cấp động cơ thích hợp cho xe hơi của Honda, mẫu H, sau đó mở rộng cung cấp cho cả các hãng khác)

- Năm 1960 là năm Công ty bắt đầu đầu tư sản xuất xe hơi và năm 1963 cho ra sản phẩm đầu tiên (với mẫu xe T 360)

- Năm 1972, Công ty mở rộng lĩnh vực kinh doanh, sản xuất và cung cấp các loại máy phát điện cỡ nhỏ cho thị trường (năm 1984, Honda đầu tư xây dựng Công ty Honda Power Equipment Mfg., Inc tại Mỹ chuyên môn hoá vào ngành này)

- Năm 1986, Honda triển khai thêm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế người máy (năm 2000 đã có sản phẩm người máy ASIMO)

- Năm 2004, Honda đã thành lập các công ty GE Honda Aero Engines và Honda HA-

420 HondaJet, đã nhận đặt hàng từ 10 2006 và sẽ giao hàng lần đầu vào khoảng quý III/ 2012

Nguồn: www.honda.com

Trang 34

Tương tự, Tập đoàn Mitsubishi (cũng của Nhật Bản), thành lập năm 1870, cũng bắt đầu từ lĩnh vực cơ khí đã từng bước lấn sang nhiều ngành nghề và hiện đang hoạt động kinh doanh đa lĩnh vực Mitsubishi đã lần lượt lập ra các công ty Mitsubishi Petrochemical (kinh doanh ngành hóa dầu), Mitsubishi Atomic Power Industries (sản xuất kinh doanh các thiết bị và công nghệ điện hạt nhân), Mitsubishi Liquefied Petroleum Gas (kinh doanh ngành dầu, khí hóa lỏng) và Mitsubishi Petroleum Development (kinh doanh dầu) Mitsubishi tiếp tục phát triển các lĩnh vực khác, trong

đó có hàng không, công nghệ thông tin, máy tính và chất bán dẫn Mitsubishi đã tích cực tham gia cả vào các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng lẫn lĩnh vực cung cấp dịch vụ và thương mại Đến năm 2010 doanh thu của Tập đoàn đạt 248,6 tỷ USD, lãi thực đạt 7,2

tỷ USD, số lượng nhân viên lên đến 350.000 người [34]

Ở Việt Nam, tình hình cũng tương tự: Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, bên cạnh ngành nghề cốt lõi là thăm dò khai thác, chế biến các sản phẩm dầu, còn đầu

tư vào sản xuất kinh doanh trong các ngành khác như sản xuất điện, sản xuất phân bón, đầu tư tài chính, bất động sản với hơn 150 đơn vị thành viên các loại Tập đoàn công nghiệp Hòa Phát đầu tư sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau như sản xuất sản phẩm nội thất văn phòng, sản xuất máy công nghiệp các loại, điện lạnh, thép xây dựng,

xi măng, khai thác quặng, xây dựng các khu công nghiệp và bất động sản… Việc đầu

tư vào nhiều lĩnh vực hầu hết đều xuất phát từ động cơ trong sáng, dễ lý giải đối với các tập đoàn kinh tế nói chung Tuy nhiên, đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam, đầu tư sang các lĩnh vực ngoài ngành đã trở thành một trào lưu mạnh mẽ trong những năm qua nhưng cơ bản đã không mang lại kết quả như mong muốn

Thứ ba, các Tập đoàn kinh tế hiện nay thường hoạt động với tư cách là những

công ty đa quốc gia (MNC) hoặc công ty xuyên quốc gia (TNC)

Trong vai trò này, hiện chúng đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức chuỗi liên kết - chuỗi cung ứng toàn cầu và đang có vai trò chi phối đối với việc

tổ chức hệ thống quan hệ phân công lao động và hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn cầu Tập đoàn Toyota của Nhật Bản đã đầu tư sản xuất kinh doanh ở nhiều quốc gia trên thế giới qua mô hình thành lập các công ty con chuyên sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất một số linh kiện phục vụ nhu cầu chủ yếu cho việc sản xuất chính

Thứ tư, hoạt động của các Tập đoàn kinh tế có xu hướng gắn kết chặt chẽ giữa

sản xuất với nghiên cứu - phát triển và đầu tư tài chính Trong số các công ty có tên

Trang 35

trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới, hầu hết đều có các trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm riêng của mình Chúng còn đầu tư cho nghiên cứu - phát triển dưới hình thức tài trợ cho các dự án, đề tài nghiên cứu của các viện nghiên cứu, các trường đại học hoặc cá nhân và nhóm các nhà khoa học Nhờ có sự đầu tư này, các Tập đoàn kinh tế không chỉ có thể khai thác lợi nhuận siêu ngạch do thu lợi lần đầu từ các tiến bộ khoa học - công nghệ, mà còn củng cố được lợi thế so sánh, thiết lập lợi thế cạnh tranh của mình nhờ chi phối trình độ công nghệ trong các ngành mà nó hoạt động Nhờ những đầu tư này, các Tập đoàn kinh tế không chỉ duy trì được vị thế của họ trong các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn chi phối cả sự biến đổi của quá trình này Cũng chính vì thế, các Tập đoàn kinh tế đã có được khả năng chi phối ngày càng mạnh mẽ việc đổi mới sáng tạo, chi phối tiến bộ công nghệ trong các ngành Số liệu thống kê về các khoản chi cho nghiên cứu, phát triển của các công ty hoạt động trong các ngành công nghệ cao cho thấy rất rõ đặc điểm này Hàng năm, các Tập đoàn công nghiệp ngành ô tô chi khoảng 100 tỷ USD cho nghiên cứu - phát triển, trong đó các Tập đoàn ô tô của Mỹ chi khoảng 18 tỷ USSD/ năm Năm 2010, hãng General Motor chi khoảng 6,96 tỷ USD cho nghiên cứu phát triển Trong 4 năm 2015-2018, Huyndai

dự kiến đầu tư khoảng 31.600 tỷ won (tương đương với khoảng 28 tỷ USD, tức là khoảng 7 tỷ USD) cho mục đích này

2.1.3 Sự hình thành các Tập đoàn kinh tế

Nghiên cứu thực tiễn hình thành các Tập đoàn kinh tế trên thế giới có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đặc biệt là với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Nó cho phép rút ra những kết luận về điều kiện và thời điểm thành lập các Tập đoàn kinh tế cũng như lựa chọn cách tiếp cận với các Tập đoàn kinh tế Lịch sử hình thành các Tập đoàn kinh tế trên thế giới rất phong phú Nhưng nếu nhìn nhận các Tập đoàn kinh tế là sản phẩm của quá trình tập trung hóa sản xuất thì cần nghiên cứu diễn biến thực tế của quá trình tập trung hóa mới có thể mô tả quá trình hình thành các Tập đoàn theo đúng bản chất của chúng Tập trung hóa được thực hiện theo hai hình thức: Tập trung hóa theo sản phẩm và tập trung hóa theo công nghệ (còn gọi là tập trung hóa theo chiều ngang và tập trung hóa theo chiều dọc)

Tập trung hóa theo sản phẩm (hay tập trung hóa theo chiều ngang) là quá trình tập trung việc sản xuất kinh doanh một hoặc một số sản phẩm giống nhau vào một số ngày càng ít các tổ chức sản xuất kinh doanh Những tổ chức này có thể tự mình lớn

Trang 36

lên nhờ tích lũy thêm vốn và thu hút thêm các nguồn lực của xã hội, hoặc có thể lớn lên nhờ mua bán, sáp nhập các doanh nghiệp khác cũng sản xuất sản phẩm giống như mình Đặc điểm của hình thức này là những tổ chức được gắn kết với nhau này sản xuất ra những sản phẩm giống nhau hoặc tương tự nhau Hình thức tập trung hóa theo sản phẩm (theo chiều ngang) diễn ra sớm nhất, trên cơ sở hình thành sự liên kết lỏng lẻo các doanh nghiệp lại với nhau để chi phối thị trường (sự hình thành các cartel mà quan hệ giữa các thành viên chỉ ở dạng các thỏa thuận tự giác, không có chế tài)

Tập trung hóa theo công nghệ là hình thức mà trong đó những bộ phận sản xuất thực hiện những giai đoạn công nghệ khác nhau được tập hợp lại với nhau Nếu hình thành theo con đường tăng quy mô nhờ tự tích lũy, các doanh nghiệp lớn thường tổ chức sự phân công chuyên môn hóa từ sớm để mỗi bộ phận cấu thành thực hiện một hoặc một số giai đoạn công nghệ nhất định Nếu theo con đường sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ thành doanh nghiệp lớn, thường sự chuyên môn hóa chỉ được thực hiện nhờ quá trình tổ chức lại sản xuất sau khi các thủ tục sáp nhập đã xong xuôi Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp lớn cũng thực hiện việc mua bán doanh nghiệp theo cả hai hướng: Mua những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng sản phẩm để tổ chức lại sản xuất (hoặc để tổ chức lại thị trường) hoặc mua những doanh nghiệp vốn dĩ vẫn gia công cho mình để khép kín quy trình công nghệ Một hình thức khác có thể coi như một dạng tập trung hóa theo sản phẩm là việc các doanh nghiệp, kể cả những Tập đoàn quốc tế lớn, tìm cách thiết lập hệ thống gia công, “công nghiệp phụ trợ” trên phạm vi toàn cầu Căn cứ vào chuỗi cung ứng hình thành từ sự chuyên môn hóa theo công nghệ, các doanh nghiệp, Tập đoàn này thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và ổn định với các nhà cung cấp, tạo điều kiện để họ có thể chuyên môn hóa ngày càng sâu nhờ trang bị các công nghệ và thiết bị chuyên dùng, sử dụng lao động có trình độ chuyên môn hóa cao Bằng các công cụ và phương pháp kỹ thuật cũng như kinh tế, chính các doanh nghiệp lớn tạo ra sự ràng buộc ngày càng chặt chẽ của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ vào họ

Theo cách thức tiến hành, tập trung hóa cũng được phân chia thành hai dạng là tập trung hóa tương đối và tập trung hóa tuyệt đối Tập trung hóa tuyệt đối là hình thức trong đó các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh tăng tuyệt đối quy mô của mình (sử dụng nhiều nguồn lực để sản xuất và cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn) Điều này dẫn tới sự hình thành những Tập đoàn, công ty lớn, sử dụng một lượng vốn khổng lồ,

Trang 37

một lực lượng lao động hàng chục vạn người, bao quát cả một, thậm chí một vài ngành công nghiệp, thiết lập các điểm sản xuất, các chi nhánh hoặc công ty con ở nhiều địa điểm, thậm chí ở nhiều nước Những công ty, Tập đoàn này không chỉ có quy mô lớn,

mà còn có ảnh hưởng kinh tế - chính trị tới những không gian rộng lớn, trong một quốc gia hoặc thậm chí trên phạm vi toàn cầu Do sự tích lũy vốn và tái sản xuất mở rộng là vấn đề có tính quy luật, sự tập trung hóa tuyệt đối là xu hướng chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế nói chung Tập trung hóa tương đối xảy ra khi một doanh nghiệp hoặc

tổ chức sản xuất kinh doanh không tăng quy mô của mình, nhưng trong nội bộ doanh nghiệp, tổ chức này, họ thu hẹp bớt quy mô của một số mặt hàng, dịch vụ để tập trung vào một hoặc một số ít các sản phẩm, dịch vụ Bằng cách đó, tuy quy mô của doanh nghiệp không tăng, nhưng quy mô của nó về mặt hàng mà nó cung cấp sẽ tăng lên Điều này có thể giúp doanh nghiệp tạo được một vị thế thuận lợi, chiếm tỷ trọng lớn hơn (và tăng tỷ trọng nhanh hơn) so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành Do những lợi thế của chuyên môn hóa, đặc biệt là tác động của nó tới việc cải tiến và đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, hình thức tập trung hóa tương đối đem lại kết quả khá nhanh Bởi vậy, đây là hình thức tập trung hóa thích hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, được nhóm doanh nghiệp này ứng dụng khá nhiều trong những năm gần đây

Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính và với sự hỗ trợ của thị trường này, các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã trở thành hiện tượng có sự bùng

nổ trong mấy thập kỷ gần đây Đây cũng là con đường có vai trò, ý nghĩa ngày càng lớn thúc đẩy sự hình thành các Tập đoàn kinh tế Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là hình thức công ty cổ phần ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các Tập đoàn kinh tế Một trong những đặc điểm lớn nhất của hình thức doanh nghiệp này - và được các chủ đầu tư lớn tận dụng để hình thành các Tập đoàn kinh tế khổng lồ - là vai trò của chủ sở hữu đa số cổ phần Theo đó, một chủ sở hữu không nhất thiết phải sở hữu 100% vốn của công ty, mà chỉ cần sở hữu một tỷ lệ chi phối nhất định là có thể chi phối toàn bộ các hoạt động của công ty đó Tùy theo quy định cụ thể của từng công ty mà tỷ lệ sở hữu chi phối có thể khác nhau, thậm chí có trường hợp chỉ cần sở hữu chưa tới 50% số vốn chủ sở hữu, một chủ đầu tư (thể nhân hoạt pháp nhân) đã có thể chi phối (hoặc khống chế) một doanh nghiệp Nhờ lợi thế này, một chủ đầu tư có thể sử dụng vốn của mình (và thường là sử dụng thêm một lượng vốn mà họ có thể huy động bổ sung từ hệ

Trang 38

thống tín dụng) để chi phối một số doanh nghiệp khác, thay vì chỉ sở hữu một doanh nghiệp Hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán càng phát triển, số lượng các công ty có cổ phiếu được niêm yết trên các sàn chứng khoán càng nhiều thì con đường này càng được vận dụng phổ biến

Theo cách thức như trên, để đạt được trình độ và phạm vi phát triển như ngày

nay, Tập đoàn General Electric (Hoa Kỳ) đã phải trải qua nhiều thương vụ mua bán sáp

nhập nổi tiếng (xem hộp 2.2)

Hộp 2.2: Sự phát triển và các thương vụ mua bán của Tập đoàn General Electric

- Năm 1986, GE mua lại Công ty RCA, ban đầu phục vụ cho mạng truyền hình NBC (công ty mẹ của Tập đoàn Telemundo Communications Group)

- Năm 2002 Francisco Partners và Norwest Venture Partners đã mua lại một bộ phận của GE (GE Information Systems- GEIS) Tuy bán bộ phận này, GE vẫn giữ lại một tỷ lệ cổ phần trong công ty mới

- Năm 2003: GE (thông qua công ty con GE Healthcare) mua Công ty Instrumentarium

- Năm 2003: GE (thông qua công ty con GE Cappital) mua lại công ty Transamerica Finance của AEGON

- Năm 2004 GE mua 80% cổ phần của Công ty Vivendi

- Năm 2004, GE đã gắn kết các hoạt động bảo lãnh và bảo hiểm nhân thọ của mình vào Công ty Genworth Financial (thuộc Bang Virginia)

- Năm 2004: GE (qua GE Healthcare) mua lại công ty Amersham Plc

- Bán Công ty Gentpact (do GE thành lập năm 1997) cho General Atlantic and Oak Hill Capital Partners năm 2005 (bán 60% cổ phần) Sau khi bán, GE vẫn là khách hàng chiến lược của Genpact

- Năm 2006: GE (thông qua công ty con GE Water & Process Technologies) mua Công ty Zenon Environmental Systems

- Năm 2007: GE (thông qua GE Consumer and Industrial) mua lại Công ty Microwave Data Systmens

- Năm 2007: GE (thông qua công ty con GE Aviation) mua lại công ty Smiths Aerospace

- Năm 2007: GE (thông qua GE Oil & Gas) mua lại Công ty Vetco Gray

- Năm 2009, GE liên kết với Comcast (công ty khai thác truyền hình) để cùng khai thác hệ thống NBC Universal

- Tháng 10 năm 2010, GE tiếp tục mua Công ty Dresser Inc Để phục vụ thương vụ này, GE đã vay của Ngân hàng CityGroup tới 1,6 tỷ USD

Nguồn: www.ge.com

Trang 39

Một con đường - đồng thời cũng là một nhân tố tác động khác dẫn tới sự hình thành các tập đoàn kinh tế là đầu tư nước ngoài Hình thức này cũng được vận dụng ngày càng nhiều, cùng với sự gia tăng quy mô của các luồng đầu tư nước ngoài Hình thành theo phương thức này, các tập đoàn kinh tế là sản phẩm kép của hai quá trình mà Lênin đã phát hiện: Xuất khẩu tư bản và chiếm lĩnh/ phân chia thị trường quốc tế giữa các tổ chức kinh tế quy mô mô lớn Từ giữa thế kỷ XX, sự hình thành các tập đoàn kinh tế gắn với sự xuất hiện và mở rộng của một xu hướng mới: sự xâm nhập của các tập đoàn thuộc các nước công nghiệp phát triển vào thị trường của những nước công nghiệp phát triển khác Xu hướng này, đặc biệt là trong những năm 60-80 của thế kỷ

XX, thậm chí còn diễn ra mạnh mẽ hơn luồng đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển, bởi cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

xã hội ở các nước công nghiệp phát triển có năng lực tốt hơn, có thể đáp ứng nhu cầu kinh doanh tốt hơn ở các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển

2.2 BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

2.2.1 Bản chất, các yếu tố cấu thành và nội dung của cơ chế quản lý tài chính

2.2.1.1 Bản chất và các yếu tố cấu thành cơ chế tài chính

Cơ chế là một thuật ngữ chỉ cấu trúc nội tại của một hệ thống trong xã hội và cách thức vận hành của hệ thống đó, trong đó có sự vận động, tương tác giữa các yếu tố cấu thành hệ thống, qua đó hệ thống có thể vận hành và phát triển trong những điều kiện môi trường nhất định

Theo cách tiếp cận trên về cơ chế, thuật ngữ cơ chế được áp dụng vào hoạt động quản lý của các tổ chức được gọi là cơ chế quản lý Từ đó, cơ chế quản lý là những diễn biến nội tại của hệ thống quản lý trong quá trình tồn tại và phát triển, bao gồm sự tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành của quản lý Trong tất cả các hệ thống kinh tế - xã hội, người ta đều cố gắng thu hút sự tham gia của các chủ thể, các bộ phận vào quá trình ra quyết định và thực hiện sự phân chia quyền ra quyết định (cùng với các quyền khác cũng như các trách nhiệm, nghĩa vụ liên quan tới chúng) cho các chủ thể, các bộ phận Đó chính là bản chất của việc phân cấp trong quản lý

Cơ chế quản lý được áp dụng vào trong lĩnh vực tài chính gọi là cơ chế quản lý tài chính Cũng như với cơ chế quản lý nói chung, cơ chế quản lý tài chính cũng có sự phân cấp, trong đó các chủ thể liên quan tới các quan hệ tài chính đều có những vai trò

và có thẩm quyền tương xứng trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện cơ chế Cơ

Trang 40

chế quản lý tài chính được thiết kế và thực hành trong các tổ chức, các hệ thống trong

xã hội Cơ chế quản lý tài chính thông thường được nghiên cứu và tiếp cận ở hai góc

độ: Phạm vi hẹp và phạm vi rộng Ở phạm vi hẹp, cơ chế quản lý tài chính có thể hiểu

là sự tương tác giữa các phương pháp, cách thức quản lý tài chính khi chúng đồng

thời tác động đến đối tượng quản lý Ở phạm vi rộng, cơ chế quản lý tài chính có thể

được hiểu là phương thức quản lý tài chính mà qua đó Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý trong những điều kiện môi trường nhất định Phương thức quản lý là một thuật ngữ mang tính khái quát cao về một hệ thống bao gồm các hình thức, phương pháp, công cụ quản lý, trong đó có sự nhất quán cao về phương hướng mục tiêu hành động, bố trí lực lượng quản lý, phối hợp hành vi hoạt động đồng thời tác động đến đối tượng quản lý Ở một khía cạnh khác, cơ chế quản lý tài chính được xem

là tổng thể các chính sách, giải pháp, công cụ về tài chính trong mối quan hệ hữu cơ được chủ thể quản trị sử dụng để tác động lên đối tượng bị quản trị nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra

Từ những phân tích trên có thể đưa ra quan niệm về cơ chế quản lý tài chính đối

với Tập đoàn kinh tế như sau: “Cơ chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn kinh tế là một hệ thống bao gồm các phương pháp, hình thức và công cụ quản lý tài chính, được

sử dụng đồng bộ trong quá trình hoạt động quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra trong những điều kiện môi trường nhất định”

Dù vẫn có một số khác biệt trong quan niệm về cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế nhưng đã có được sự đồng thuận tương đối cao về nội dung cơ bản của khái niệm này Theo đó, nội dung của cơ chế quản lý tài chính trong các tập đoàn kinh

tế bao gồm các cơ chế sau:

+ Cơ chế tạo lập và huy động vốn của tập đoàn + Cơ chế quản lý tài sản và sử dụng vốn của tập đoàn + Cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận của tập đoàn + Cơ chế kiểm soát và giám sát tài chính của tập đoàn

Cơ chế quản lý tài chính đối với tập đoàn kinh tế luôn chịu sự tác động của nhiều các nhân tố khác nhau Các nhân tố tác động đến cơ chế quản lý tài chính tập đoàn kinh tế thường được chia ra thành hai nhóm Nhóm các yếu tố bên ngoài bao gồm: Cơ chế chính sách có liên quan của Nhà nước, trình độ phát triển của nền kinh tế, các yếu tố trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp,… Nhóm các yếu tố thuộc

Ngày đăng: 30/05/2017, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Bằng (Chủ biên) (2002), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Bằng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tài chính. Hà Nội
Năm: 2002
4. Nguyễn Thị Diễm Châu, Nguyễn Ngọc Thanh (2001), Cơ chế tài chính trong mô hình Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, Viện Nghiên cứu Tài chính - Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tài chính trong mô hình Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Diễm Châu, Nguyễn Ngọc Thanh
Năm: 2001
10. Hoàng Hà, "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty Nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty Nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con
11. Trần Duy Hải (2009), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp viễn thông ở Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp viễn thông ở Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập
Tác giả: Trần Duy Hải
Năm: 2009
12. Dương Hữu Hạnh (2009), Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Dương Hữu Hạnh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
13. Học viện Tài chính (2008), Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2008
14. Chu Xuân Lai (2006), Cơ chế quản lý tài chính của tổng công ty Dầu khí Việt Nam theo định hướng tập đoàn kinh tế, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế quản lý tài chính của tổng công ty Dầu khí Việt Nam theo định hướng tập đoàn kinh tế
Tác giả: Chu Xuân Lai
Năm: 2006
15. V.I.Lênin (1980), Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Nxb Tiến Bộ, Matxccơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa tư bản
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến Bộ
Năm: 1980
16. M. P. Todaro (1997), Economics for a Third World- an introduction to principles, problems and policies for development (bản dịch tiếng Việt: Kinh tế học cho thế giới thứ ba), Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics for a Third World- an introduction to principles, problems and policies for development
Tác giả: M. P. Todaro
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1997
17. Vũ Hoàng Nam (2010), “Kinh nghiệm phát triển tập đoàn kinh tế ở một số nước trong khu vực”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, tháng 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển tập đoàn kinh tế ở một số nước trong khu vực”, "Tạp chí Kinh tế và dự báo
Tác giả: Vũ Hoàng Nam
Năm: 2010
18. Phan Thảo Nguyên, Nguyễn Minh Thu (2006), "Liên kết kinh tế trong Tập đoàn BCVT Việt Nam", Tạp chí BCVT&CNTT, Kỳ 1 tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế trong Tập đoàn BCVT Việt Nam
Tác giả: Phan Thảo Nguyên, Nguyễn Minh Thu
Năm: 2006
19. Nguyễn Đình Phan (1996), Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
20. Nguyễn Văn Phúc (1998), "Xu hướng tập trung hoá trong nền kinh tế thế giới", Tạp chí Công nghiệp, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng tập trung hoá trong nền kinh tế thế giới
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 1998
21. Nguyễn Văn Phúc (1998), “Một số vấn đề về hoạt động của Tổng Công ty 91 và giải pháp hoàn thiện các tổng công ty trong thời gian tới”, Tạp chí Kinh tế phát triển, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoạt động của Tổng Công ty 91 và giải pháp hoàn thiện các tổng công ty trong thời gian tới”, "Tạp chí Kinh tế phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 1998
22. Nguyễn Văn Phúc (2003), “Về các tổng công ty và các hoạt động của chúng”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các tổng công ty và các hoạt động của chúng”, "Tạp chí Kinh tế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 2003
23. Nguyễn Văn Phúc (2009), “Mô hình tổ chức kiểm soát các tổ chức công và ứng dụng trong tổ chức kiểm soát các tập đoàn Nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp, tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức kiểm soát các tổ chức công và ứng dụng trong tổ chức kiểm soát các tập đoàn Nhà nước ở Việt Nam”, "Tạp chí Công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 2009
24. Nguyễn Văn Phúc (2009), “Một số vấn đề về tổ chức và cơ chế hoạt động của các tập đoàn nhà nước ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế & Phát triển, tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tổ chức và cơ chế hoạt động của các tập đoàn nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 2009
25. Nguyễn Văn Phúc (2010), “Bản chất của các tập đoàn kinh tế và vai trò của chúng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của các tập đoàn kinh tế và vai trò của chúng ở Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế & Phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 2010
26. Nguyễn Văn Phúc, Hồ Sĩ Hùng (2011), “Các mô hình tổ chức tập đoàn kinh tế”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tổ chức tập đoàn kinh tế”, "Tạp chí Kinh tế & Phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc, Hồ Sĩ Hùng
Năm: 2011
29. Nguyễn Thiết Sơn (2003), Các công ty xuyên quốc gia - Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ty xuyên quốc gia - Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới
Tác giả: Nguyễn Thiết Sơn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam (Trang 32)
Bảng 2.2: Những khác biệt chủ yếu trong cơ chế quản lý tài chính của các - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 2.2 Những khác biệt chủ yếu trong cơ chế quản lý tài chính của các (Trang 71)
Bảng 3.1: Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực  của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.1 Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Trang 77)
Bảng 3.2: Biến động số và chất lượng lao động  của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2008-2013 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.2 Biến động số và chất lượng lao động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2008-2013 (Trang 78)
Bảng 3.3: Trình độ đào tạo theo khối công tác - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.3 Trình độ đào tạo theo khối công tác (Trang 79)
Bảng 3.6: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.6 Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận (Trang 83)
Bảng 3.5: Kế hoạch đầu tư 2011-2015 và tình hình thực hiện trong  giai đoạn 2011-2013 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.5 Kế hoạch đầu tư 2011-2015 và tình hình thực hiện trong giai đoạn 2011-2013 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Trang 83)
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính  của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2011- 2013 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.7 Hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam giai đoạn 2011- 2013 (Trang 84)
Bảng 3.8: Đầu tư cho các lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.8 Đầu tư cho các lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn (Trang 85)
Bảng 3.9: Doanh thu của Tập đoàn giai đoạn 2001-2013 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.9 Doanh thu của Tập đoàn giai đoạn 2001-2013 (Trang 86)
Bảng 3.10: Đánh giá chung về cơ chế tài chính của Tập đoàn Dầu khí - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 3.10 Đánh giá chung về cơ chế tài chính của Tập đoàn Dầu khí (Trang 115)
Bảng 4.1: Nhu cầu vốn đầu tư của PVN khi tham gia các dự án - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 4.1 Nhu cầu vốn đầu tư của PVN khi tham gia các dự án (Trang 147)
Bảng 4.2: Nguồn vốn chủ sở hữu của PVN - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 4.2 Nguồn vốn chủ sở hữu của PVN (Trang 148)
Bảng 4.3: Cân đối nguồn vốn của PVN giai đoạn 2011-2015 và 2016-2025 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Bảng 4.3 Cân đối nguồn vốn của PVN giai đoạn 2011-2015 và 2016-2025 (Trang 151)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm