Hồ Chí Minh viết: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảmtính tự nhiên…Tôi kính yêu Lê nin bởi vì Lê nin là người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình…Tôi tha
Trang 1Vấn đề 1: Những tiền đê tư tưởng - lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ( TT HCM); tiền đề
nào quan trọng nhất, vì sao?
Có ba tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành TTHCM>>>1 là: Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam.Quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nhiều truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Đó là truyền thống yêu nước, đoàn kết, là sự cần cù, sáng tạo trong lao động, anh dũng kiên cường trong chiếnđấu, là ý chí vươn lên vượt qua khó khăn, thử thách, là tinh thần tương thân, tương ái … Trong các giá trị đó,
chủ nghĩa yêu nước truyền thống là giá trị xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, là tư tưởng, tình cảm cao quý
và thiêng liêng nhất, là chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất của dân tộc, là cội nguồn trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của con người Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước trở thành sức mạnh to lớn để nhân dân Việt Nam đánh thắng mọi kẻ thù cướp nước và bè
lũ bán nước Truyền thống quý báu đó đã được Hồ Chí Minh tổng kết như một chân lý vĩ đại của lịch sử dân
tộc: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” Chính sức mạnh của chủ nghĩa
yêu nước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành - một thanh niên yêu nước đã quyết tâm ra đi tìm con đường mới ( đi
về phương Tây- nước Pháp) để “sau khi xem xét họ làm thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào mình” nhằm cứu
nước giải phóng dân tộc Người đã nói: “ Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo V.I Lê- nin, tin theo Quốc tế III”.
2 là: Tinh hoa văn hóa nhân loại ::* Văn hoá phương Đông
Về Nho giáo: Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình nhà Nho yêu nước, từ rất sớm đã chịu ảnh hưởng của Nhohọc từ người cha và nhiều nhà Nho yêu nước ở quê hương Người tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáonhư: Triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo giúp đời, là khát vọng về một xã hội đại đồng, là hòamục, hòa đồng, là triết lý nhân sinh tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa, lễ giáo, hiếu học và Người đã phêphán loại bỏ những yếu tố tiêu cực và thủ cựu của nó
Về Phật giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng tốt đẹp của Phập giáo như:
vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, nếp sống đạo đức, trong sạch, giản
dị, chăm lo việc thiện, ca ngợi lao động, phê phán lười biếng, chủ trương gắn bó với dân, với nước
Khi trở thành người mác xít, Hồ Chí Minh chú ý tìm hiểu chủ nghĩa “Tam Dân” ( dân tộc độc lập; dân quyền
tự do, dân sinh hạnh phúc) của Tôn Trung Sơn, vì thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nướcta”
* Văn hoá phương Tây:
Cùng với tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn tiếp thu nền văn hóa dân chủ và cách mạng củaphương Tây Khi còn học ở trong nước, Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hoá Pháp, sớm biết đến khẩu hiệu
“Tự do – bình đẳng – bác ái” của cách mạng Pháp Khi bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh trực tiếp đọc vàtiếp thu những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng trong thời kỳ khai sáng ở Châu Âu ( thế kỷ XVIII)
Trang 2như Von-te (Voltaire), Rút-sô (Rousso), Mông-tet-xki-ơ (Montésquieu) Người chịu ảnh hưởng sâu sắc tưtưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền vàdân quyền của Đại Cách mạng Pháp, năm 1791 Đối với tôn giáo Giê su, Người học được lòng nhân ái caocả.
3là: Chủ nghĩa Mác – Lênin: Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tưtưởng Hồ Chí Minh Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy củanhân loại cùng với sự hiểu biết chính trị phong phú được tích lũy qua hoạt động thực tiễn đấu tranh vì mụctiêu cứu nước, giải phóng dân tộc của chính mình
Chính điều đó đã nâng cao khả năng tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo khi Người vận dụng những nguyên lýcách mạng của thời đại vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam Quá trình đó cũng diễn ra một cáchchân thành và giản dị Hồ Chí Minh viết: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảmtính tự nhiên…Tôi kính yêu Lê nin bởi vì Lê nin là người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình…Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp (SFIO) chẳng qua là vì các “ông bà” ấy ( hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôinhư thế ) – đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức Còn như Đảng là gì, côngđoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa biết”
Thực tiễn trong gần 10 năm đi tìm đường cứu nước ( 1911-1920), nhất là sau khi đọc : “Bản Sơ thảo lần thứnhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, của V.I Lênin (tháng 7- 1920), Nguyễn ÁiQuốc đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Như vậy, chính Luận cương của Lênin đã nâng cao nhậnthức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng Nó phù hợp và đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, hoài bão
đã từ lâu Người ấp ủ, đã tạo nên bước ngoặc cơ bản trong tư tưởng của Người
Từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đi vào nghiên cứu chủ nghĩa Mác Ngườitiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phương pháp macxít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất Người vận dụnglập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết những vấn đềthực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở
Như vậy, chính thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh vậndụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình để từ đó tìm ra con đường cứu nước, giải phóngdân tộc ta
Trong các tiền đề trên chủ nghĩa Mác- Lê nin là tiền đề quan trọng nhất là vì: Chủ nghĩa Mác- Lê nin là thếgiới quan và phương pháp luận của TTHCM, là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,cách mạng nhất,
đã chỉ ra con đường GPDT và phát triển cho dân tộc ta.
Vấn đề 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất, nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng giải phóng dân
Trang 3số phận người dân mất nước, người dân nô lệ, từ đó Hồ Chí Minh chỉ ra:- Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa phương Đông là giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân ( mâu thuẫn dân tộc); từ đó, tính chất và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng thuộc địa là giải phóng dân tộc.- Tính chất của cuộc đấu tranh cách mạng ở các nước thuộc địa, trước hết là đấu tranh giải phóng dân tộc.- Đối tượng cách mạng ở các nước thuộc địa cần đánh đổ là chủ nghĩa thực dân và các thế lực tay sai phản động.- Cách mạng xã hội ở thuộc địa trước hết phải lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chứ chưa phải là xóa bỏ tư hữu, bóc lột nói chung - Yêu cầu bức thiết của nhân dân các nước thuộc địa là độc lập dân tộc Hồ Chí Minh luôn phân
biệt rõ bọn thực dân xâm lược với nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa Người kêu gọi nhân dân các nước tưbản phản đối chiến tranh xâm lược thuộc địa, ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dânViệt Nam
Theo Hồ Chí Minh, thực dân Pháp thống trị và bóc lột nhân dân Việt Nam, chủ yếu là thống trị và bóc lột
nông dân Vì thế, kẻ thù số một của nông dân là bọn đế quốc thực dân Nông dân có hai yêu cầu: độc lập dân tộc và ruộng đất, nhưng họ luôn đặt yêu cầu độc lập dân tộc cao hơn so với yêu cầu ruộng đất.Cùng với nông dân, tất cả các giai cấp và tầng lớp khác nhau đều có nguyện vọng chung là cứu giống nòi ra khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng Do đó, việc cứu nước là việc chung của cả dân tộc Người nhấn mạnh tính chất và nhiệm
vụ của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc Người giải thích:Giai cấp nông dân là bộ phận có số lượng lớn nhất trong dân tộc, nên giải phóng dân tộc chủ yếu là giải phóng nông dân Nông dân có yêu cầu
về ruộng đất, nhưng nhiệm vụ ruộng đất cần tiến hành từng bước thích hợp Khi đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, yêu cầu đó đã được đáp ứng một phần vì ruộng đất của bọn đế quốc và tay sai sẽ thuộc
về nông dân Đế quốc và tay sai là kẻ thù số một của nông dân, lật đổ chế độ thuộc địa là nguyện vọng hàng đầu của nông dân.Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc giành độc lập dân tộc Bởi vì giải phóng dân tộc đã có
một phần của giải phóng giai cấp và giải phóng con người.Tại Hội nghị lần thứ 8 (5-1941) ở Pắc Bó (Cao
Bằng), Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ bức thiết nhất, nêu chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và chỉ tiến
hành nhiệm vụ đó ở một mức độ thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc (chỉ chia lạiruộng đất công và chia ruộng đất tịch thu của Việt gian, đế quốc cho nông dân) Hồ Chí Minh luôn khẳng
định: Mục tiêu cấp thiết của cách mạng thuộc địa là giành lại quyền lợi chung cho toàn thể dân tộc Tuy nhiên, do hạn chế trong nhận thức về cách mạng thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng của tư tưởng “tả khuynh”, nên
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương của Đảng (10-1930) họp tại Hương Cảng, đã phê phánnhững quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh Nhưng với bản lĩnh cách mạng, luôn bám sát thực tiễn ViệtNam, Hồ Chí Minh đã kiên trì bảo vệ quan điểm của mình Tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trungương Đảng (5-1941) tại Pắc Bó, Hồ Chí Minh chủ trương đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Hội nghị khẳng định “cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.
Trang 4Chính sự chuyển hướng chiến lược đúng đắn nên đã huy động được sức mạnh của cả dân tộc, đảm bảocho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi Đây là chứng minh cho thắng lợi của của tư tưởng Hồ Chí
Minh mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề 3: Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung, phương châm và biện pháp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.*Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng CNXH ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ.
Nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta mang tính toàn diện trên các lĩnh vực Hồ Chí Minh xác định
nhiệm vụ cụ thể ở một số lĩnh vực cơ bản, quan trọng nhất như sau:- Trong lĩnh vực chính trị:+ Nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo, chống biểu hiện quan liêu,
xa dân, thoái hóa, biến chất, phải luôn giữ mối quan hệ máu thịt với nhân dân + Xây dựng Nhà nước thực sự
là của dân, do dân, vì dân.+ Củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất mà nòng cốt là khối liên minhgiữa công nhân, nông dân và trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.+ Củng cố và tăng cường hệ thống chínhtrị nhằm phát huy dân chủ XHCN
- Trong lĩnh vực kinh tế: +Hồ Chí Minh quan tâm đến xây dựng lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và cơ
chế quản lý kinh tế mới Người nhấn mạnh đến tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa Người có quan niệm độc đáo về cơ cấu kinh tế ở Việt Nam là: Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân.+ Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng đều giữa các vùng lãnh thổ, cải
thiện, nâng cao đời sống của đồng bào, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thànhphần, trong đó kinh tế quốc doanh cần được ưu tiên Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ kinh tế hợp tác xã, bảo
hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất đối với ngành nghề thủ công và lao động riêng lẻ, hướng dẫn và giúp đỡ
tư sản công, thương hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, cải tạo họ bằng hình thức tư bản Nhà nước.+ HồChí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế Người chủ trương và chỉ rõ các điều kiện thựchiện nguyên tắc phân phối theo lao động
- Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội:+ Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nội dung xây dựng nền văn hóa mới, con
người mới XHCN, đề cao vai trò của văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật Người cho rằng, muốn xâydựng chủ nghĩa xã hội phải có học thức, cần học cả văn hóa, chính trị, kinh tế… Cần nâng cao dân trí, đào
tạo và sử dụng nhân tài
*Phương châm và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
+ Về phương châm: Để xác định phương châm và biện pháp xây dựng CNXH trước hết Hồ Chí Minh đề ra
hai nguyên tắc có tính chất là phương pháp luận để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Một
là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là hiện tượng quốc tế phổ biến, do đó cần nắm vững những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng chủ nhĩa xã hội, đồng thời có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm
của các nước anh em, các nước tiên tiến Học tập kinh nghiệm, nhưng không được máy móc, giáo điều.Hai
Trang 5là, phải xuất phát từ điều kiện thực tế, từ đặc điểm dân tộc, từ nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân để
xác định bước đi, biện pháp cho phù hợp với Việt Nam.Nêu ra hai nguyên tắc, song Hồ Chí Minh luôn nhắcnhở không được xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, không được tuyệt đối hóa đặc điểm dân tộc, không được giáođiều khi áp dụng những nguyên lý chung Khi tham khảo, học tập kinh nghiệm của các nước khác, không
được sao chép máy mócHồ Chí Minh đề ra phương châm thực hiện bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: dần dần, thận trọng từng bước một, từ thấp đến cao, không được chủ quan, nôn nóng; không được đốt cháy giai đoạn, phải tiến vững chắc từng bước.Trong các bước đi lên, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến vai trò của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, Người coi đó là “con đường phải đi của chúng ta”,
là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo Hồ Chí Minh, công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa chỉ thắng lợi trên cơ sở xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện, vững chắc, hệ thốngtiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ đa dạng nhằm giải quyết vần đề lương thực, thực phẩm và các nhu
cầu tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân+ Biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã gợi ý và sử dụng một số biện pháp cụ thể sau:- Kết hợp cải tạo xã hội cũ với xây dựng xã hội mới, lấy xây dựng làm
chính
- Kết hợp xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược ở hai miền.- Xây dựng chủ nghĩa
xã hội phải có kế hoạch, biện pháp và quyết tâm cao.- Đem của dân, tài dân, sức dân làm lợi cho dân dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản
Tóm lại: Phải biến sự nghiệp xây dựng CNXH là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Vấn đề 4: Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam và xây dựng Đảng là quy
luật tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản.
*Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh đã có các cách nói
như sau về bản chất giai cấp của Đảng CSVN:
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, là đội tiền phong của giai cấp công nhân,
mang bản chất giai cấp công nhân Đây là quan điểm tuân theo Học thuyết về “ Đảng kiểu mới” của V.I Lê
nin.Theo Hồ Chí Minh, tuy giai cấp công nhân Việt Nam số lượng ít nhưng có đầy đủ phẩm chất và năng lựclãnh đạo đất nước thực hiện những mục tiêu của cách mạng Còn các giai cấp, tầng lớp khác chịu sự lãnh đạocủa giai cấp công nhân sẽ trở thành đồng minh của giai cấp công nhân Theo Hồ Chí Minh, nội dung quyđịnh bản chất công nhân của Đảng Cộng sản không phải chỉ là số lượng đảng viên xuất thân từ trong giai cấpcông nhân mà còn ở nền tảng lý luận và tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin; mục tiêu của Đảng làtiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; là Đảng tuân thủ một cách nghiêm túc những nguyên tắc xây
dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản Đảng lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
- Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.Từ thực tiễn của xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Tại Đại hội II của Đảng (2/1951), Người nói: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc là một Chính vì Đảng lao động
Trang 6Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” Khi miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định “Đảng
ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư thiên vị” Hồ Chí Minh khẳng định:
Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của dân tộc là muốn nói đến bản chất giai cấp công nhân của Đảng, giai cấp công nhân gánh vác sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai của đất nước Đảng cộng sản Việt Nam đại diện và tiêu biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc, hoạt động của Đảng là nhằm đem lại lợi ích cho giai cấp công nhân, toàn thể dân tộc Các cách diễn đạt về bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta như trên Hồ
Chí Minh đã khẳng định: Ngoài lợi ích của tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác *Xây dựng Đảng là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản VN.
Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc; muốn giữ vững vai trò tiên phong để lãnh đạo xã hội thì Đảng phải làm tốt công tác xây dựng Đảng
là một tất yếu khách quan Cụ thể là vì:_+Sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo luôn phát triển ngày càng cao, đòi hỏi Đảng phải không ngừng vươn lên để ngang tầm với nhiệm vụ do cách mạng đòi hỏi.+ Đảng
sống trong xã hội, Đảng là một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội; mỗi cán bộ, đảng viên đều chịu ảnhhưởng, tác động của môi trường xã hội, các quan hệ xã hội, cả cái tốt và cái xấu Vì vậy, chỉ có thể phát huyđược cái tốt, lọc bỏ cái xấu bằng việc rèn luyện thường xuyên của mỗi cán bộ đảng viên bằng việc xây dựng,chỉnh đốn Đảng
Hồ Chí Minh cho rằng, đã là con người thì ai cũng có hai mặt tốt – xấu, thiện – ác thường xuyên đấu tranhvới nhau Trong môi trường xã hội , nếu đảng viên nỗ lực tu dưỡng thì mặt tốt, mặt thiện sẽ nổi lên, đẩy lùimặt ác, mặt xấu Từ đó, họ sẽ trở thành người có ích cho Đảng, cho cách mạng Ngược lại, nếu không rènluyện lúc đó đảng viên dễ bị tha hóa, biến chất, trở thành kẻ có hại cho Ðảng, cho dân Vì thế, để cán bộđảng viên luôn giữ trọn phẩm chất tốt đẹp, thì cùng với sự tự giác rèn luyện phấn đấu, họ còn cần đến sựkiểm tra, giám sát, quản lý từ phía tổ chức của Đảng - Xây dựng Đảng là cơ hội để Đảng viên tự rèn luyện,
tu dưỡng bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó.- Trong điều kiện Đảng cầmquyền xây dựng Đảng cần phải được tiến hành thường xuyên hơn Bởi vì Hồ Chí Minh đã nhận rõ tính haimặt của quyền lực:
• Một, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, khi người nắm quyền
lực có phẩm chất đạo đức và tài năng;
• Hai, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm, khi người nắm quyền lực thoái hóa, biến chất, biến
quyền lực của nhân dân thành đặc quyền của cá nhân, chạy theo quyền lực, lạm quyền, lộng quyền, đặcquyền đặc lợi …
Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, nhằm ngăn chặn mặt tráiquyền lực, hạn chế, đẩy lùi việc lạm dụng quyền lực & mọi tệ nạn do thoái hóa, biến chất gây ra
Trang 7Vấn đề 5: Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc Vì sao đại đoàn
kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân? Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc?
Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3 tháng 3 năm 1951, Hồ Chí Minh đã thaymặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ
là: “ Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” ( Hồ Chí Minh: Toàn tập, t6, tr 183).Để thực hiện mục tiêu này,
Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm quần chúng, phải gần gũi quầnchúng, lắng nghe quần chúng; vận động, tổ chức và giáo dục quần chúng, coi sức mạnh là ở nơi quần chúng;
phải thấm nhuần câu nói “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.Đại đoàn kết
dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng
là nói vai trò của thực lực cách mạng Hồ Chí Minh chỉ rõ: cách mạng muốn thành công chỉ có đường lối đúng thì chưa đủ, muốn thành công khi đã có đường lối đúng thì Đảng phải tập hợp được đông đảo quần chúng để tạo thực lực cho cách mạng.Hồ Chí Minh đã nói với cán bộ tuyên huấn về cách mạng XHCN là:
“Trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dântộc hiểu được mấy việc: Một là đoàn kết Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập Chỉ đơn
giản thế thôi Bây giờ mục đích của tuyên truyền huấn luyện là: Một là đoàn kết Hai là xây dựng chủ nghĩa
xã hội Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr 130).
Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc Bởi vì, cáchmạng là sự nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng Từ trong phong trào đấu tranh để tự
giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác.Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân
và hạnh phúc cho con người.
Vì sao đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân?Đứng trên lập trường giai cấp công nhân và quan
điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, Hồ Chí Minh đã đề cập vấn đề DÂN và NHÂN DÂN một cách
rõ ràng, toàn diện, có sức thuyết phục, thu phục lòng người Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm này để chỉ
“mọi con dân nước Việt”, “mỗi một con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, có tínngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt “già trẻ, trai gái, giàu nghèo, quý tiện” Như vậy, dân vànhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với tư cách là mỗi con người Việt Nam cụ thể, vừa là
một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, với những mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc và đại đoàn kết dân tộc thực chất là đại đoàn kết toàn dân Nói đại đoàn kết dân
tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung Hồ ChíMinh nói: “ Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài…Ta đoàn kết để đấu tranh chothống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có
Trang 8lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, tr 438) Từ
“Ta” ở đây là chủ thể, vừa là Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân VN nói
chung.Người còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp – dân tộc để tập hợp lực lượng , không
được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc,không là việt gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng là được Với tinh thần đoàn kết rộng rãi nhưvậy, Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách
mạng Việt Nam từ giành chính quyền, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân đến xây dựng CNXH.Hình thức
tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; mặt trận tổ chức , hoạt động theo
các nguyên tắc cơ bản sau: Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên cơ sở liên minh công – nông và trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng;mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt độ.ng trên cơ sở bảo đảm lơi ích tối cao của dân tộc, quyền lợi cơ bản các tầng lớp nhân dân; mặt trận dân tộc thống nhất phải
hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững; mặt trậndân tộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau củngtiến bộ
Vấn đề 6: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của nhân
dân? Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
*Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của nhân dân.Hồ Chí
Minh có quan điểm nhất quán về xây dựng một Nhà nước mới ở Việt Nam là một Nhà nước do nhân dân laođộng làm chủ Đây là quan điểm cơ bản nhất của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hòa do Người sáng lập Quan điểm đó xuyên suốt, có tính chi phối toàn bộ quá trình hình thành vàphát triển của Nhà nước cách mạng ở Việt Nam.Dân chủ trong xã hội Việt Nam được thể hiện trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Trong đó dân chủ thể hiện trên lĩnh vực chính trị là quan trọng nhất, nổi bật nhất và được biểu hiện trong hoạt động của Nhà nước, bởi vì quyền lực của nhân dân được thể
hiện trong hoạt động của Nhà nước với tư cách nhân dân có quyền lực tối cao Trong tác phẩm “ Thườngthức chính trị” viết năm 1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dânlàm chủ Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thì hành chínhquyền ấy Thế là dân chủ." (Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.7,tr.218,219).Quan niệm dân chủ, theo Hồ Chí Minh,còn biểu hiện ở phương thức tổ chức xã hội Khẳng định một chế độ dân chủ ở nước ta là"bao nhiêu lợi íchđều vì dân","quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân", đồng thời Hồ Chí Minh cũng chỉ ra phương thức tổchức, hoạt động của xã hội nước ta muốn khẳng định là một nước dân chủ thì phải có cấu tạo quyền lực xã
hội mà ở đó người dân, cả trực tiếp, cả gián tiếp qua dân chủ đại diện, một hệ thống chính trị do "dân cử ra"
và "do dân tổ chức nên".Khi xác định quyền hành và lực lượng của xã hội, Hồ Chí Minh còn vạch rõ nguồn gốc, tạo ra quyền hành đó là nhân dân Đó là quan điểm gốc để Người coi cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng nhân dân; công cuộc đổi mới, xây dựng, kháng chiến kiến quốc là trách nhiệm và công việc của dân
Trang 9Hồ Chí Minh đã đưa quan điểm xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta là nhà nước của dân, do dân,vì dân.
*Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
Hồ Chí Minh đã sớm thấy được tầm quan trọng của Hiến pháp và pháp luật trong quản lý xã hội Điều nàythể hiện trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam do Người ký tên là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị
Vécxây (Pháp) năm 1919 Bản Yêu sách đó nêu ra yêu cầu "Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam"; "Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật".Sau này, khi trở thành người
đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh càng quan tâm sâu sắc hơn việc xây dựng và điều hànhNhà nước một cách có hiệu quả bằng pháp quyền Một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ được Hồ ChíMinh chú ý xây dựng thể hiện trên những điểm sau đây:
1 là, xây dựng một Nhà nước hợp pháp, hợp hiến>>>Chỉ một ngày sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”,
trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức Tổng tuyển cử càng sớmcàng tốt để bầu Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ máy chính thức khác của Nhà nướcmới Có được một Nhà nước hợp hiến thể hiện quyền lực tối cao của nhân dân như vậy thì nước ta mới có cơ
sở pháp lý vững chắc để làm việc với quân Đồng Minh, mới có một quan hệ quốc tế bình đẳng, mới thiết lậpđược một cơ chế quyền lực hợp pháp theo đúng thông lệ của một Nhà nước pháp quyền hiện đại.Cuộc Tổngtuyển cử được tiến hành ngày 06- 01-1946 với chế độ phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín Ngày02-03-1946, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã họp phiên đầu tiên lập ra các tổ chức, bộmáy và các chức vụ chính thức của Nhà nước Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp đầutiên Đây là Chính phủ có đầy đủ tư cách pháp lý để giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề đối nội vàđối ngoại ở nước ta
2 là, hoạt động quản lý nhà nước bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống
Quản lý nhà nước là quản lý bằng bộ máy và bằng nhiều biện pháp khác nhưng quan trọng nhất là quản lý
bằng hệ thống pháp luật, trong đó quan trọng bậc nhất là Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước nhà Các bản
Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đã để lại dấu ấn đậm nét những quan điểm của Hồ Chí Minh
về bản chất, thiết chế và hoạt động của Nhà nước mới Song, có Hiến pháp và pháp luật rồi nhưng không đưađược vào trong cuộc sống thì xã hội cũng sẽ bị rối loạn Dân chủ đích thực bao giờ cũng đi liền với kỷcương, phép nước, tức là đi liền với thực thi Hiến pháp và pháp luật Suốt cả thời kỳ giữ trọng trách Chủ tịchnước, Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa để bảo đảm quyền làm
chủ thực sự của nhân dân Chính bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Hồ Chí Minh bao giờ cũng đòi hỏi mọi người phải hiểu và tuyệt đối chấp hành pháp
luật, bất kể người đó giữ cương vị nào Việc thực thi pháp luật có quan hệ rất lớn đến trình độ dân trí củanhân dân, vì vậy; Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề nâng cao dân trí, phát huy tính tích cực chính trị củanhân dân, làm cho nhân dân có ý thức chính trị trong việc tham gia công việc của chính quyền các cấp Làm
Trang 10tốt nghĩa vụ công dân cũng tức là thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, biết thực hành dânchủ.Trong việc thực thi Hiến pháp và pháp luật, Hồ Chí Minh bao giờ cũng chú ý bảo đảm tính nghiêm minh
và hiệu lực của chúng Điều đó đòi hỏi pháp luật phải đúng và phải đủ; tăng cường tuyên truyền, giáo dụcpháp luật cho mọi người dân; người thực thi luật pháp phải thực sự công tâm và nghiêm minh, bảo đảm choluật pháp trở thành cán cân công lý đối với tất cả mọi người, không có một trường hợp ngoại lệ nào; bất kỳ
ai vi phạm pháp luật cũng đều bị xử lý nghiêm khắc, đúng người đúng tội
Vấn đề 7: Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch , hoạt động có hiệu quả.
1 là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài.Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vị trí, vai trò của đội
ngũ cán bộ, công chức Người coi cán bộ nói chung "là cái gốc của mọi công việc" , "muôn việc thành cônghay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".Để xây dựng một Nhà nứơc pháp quyền vững mạnh, vấn đề xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đó là những người vừa có đức vừa cótài, trong đó đức là gốc; đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý, có hiệu quả Đi vào những mặt cụ thể, Hồ ChíMinh nêu lên những yêu cầu sau đây về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Một là, tuyệt đối trung thành với cách mạng.
Hai là, hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.
Ba là, phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
Bốn là, cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, "thắng không kiêu, bại không nản".
Năm là, phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước.
2 là, đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước
Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời với việc làm cho Nhà nướcluôn trong sạch, vững mạnh Điều này luôn luôn thường trực trong tâm trí và hành động của Hồ Chí Minh.Chỉ một tháng sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Uỷban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng nêu rõ phải chống đặc quyền, đặc lợi; bộ máy nhà nước không phải
là bộ máy áp bức, bóc lột nhân dân, cán bộ, công chức không phải là những ''ông quan cách mạng''
Hồ Chí Minh chỉ ra sáu căn bệnh cần đề phòng: trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.Người nhắc nhở: ''Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa Vậy nên,
ai không phạm những lẩm lỗi trên này thì nên chú ý tránh đi và gắng sức cho thêm tiến bộ Ai đã phạmnhững lầm lỗi trên này thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung
Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói Chúng ta phải ghi sâu những chữ ''côngbình, chính trực' 'vào lòng (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr.58)
Hồ Chí Minh đã dùng những cụm từ ''công bộc'', ''đày tớ'' để chỉ ra một mặt trách nhiệm của người cán
bộ, công chức trong xây dựng một Nhà nước mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Hồ Chí Minh thường chỉ rõ những tiêu cực sau đây và nhắc nhở mọi người đề phòng và khắc phục