1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch Sử Và Lý Thuyết Xã Hội Học

230 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các khoa học, theo cách phân chia cổ điển, gồm ba loại: một là khoahọc nghiên cứu về giới tự nhiên vô sinh - khoa học chính xác ví dụ cơ học,hai là khoa học nghiên cứu những cơ thể sống,

Trang 1

LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC

LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC

Tác giả: LÊ NGỌC HÙNG

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay nhu cầu tìm hiểu lý luận xã hội học rất lớn, ngay cả khi một sốcuốn sách về lịch sử xã hội học và lý thuyết xã hội học hiện đại của tác giảnước ngoài đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt Trong các cuộc hộithảo khoa học lớn nhỏ và cả trên giảng đường đại học vang lên những ý kiếnchỉ ra sự thiếu hụt của lý thuyết, phê phán sự tràn lan của các nghiên cứu

"thuần túy" thực nghiệm thiếu lý luận Trong các tài liệu, bài viết vẫn còn kháphổ biến quan niệm điều tra được cái gì thì trình bày cái đó, còn tùy ai muốngọi nó là cái gì cũng được Cứ làm xã hội học thực nghiệm cung cấp số liệuthực tế không cần đến lý thuyết xã hội học, không cần biết là những kết quảnghiên cứu thực nghiệm đó có thực sự mang tính khoa học hay không

Tình trạng làm xã hội học theo kiểu "thực nghiệm trước, lý luận sau"hay chỉ cần thu thập số liệu bằng điều tra, khảo sát được ví như việc "đặt cỗ

xe kéo trước đầu con ngựa" Đối với cách làm xã hội học không cần tới lýthuyết có thể phải viện dẫn lời nhắc nhở, cảnh báo của F Engels cách đâyhơn một thế kỷ: "sự khinh thường lý luận là con đường chắc chắn nhất đưachúng ta đến chỗ suy nghĩ theo lối tự nhiên chủ nghĩa, tức là suy nghĩ sai"

Các khoa học, theo cách phân chia cổ điển, gồm ba loại: một là khoahọc nghiên cứu về giới tự nhiên vô sinh - khoa học chính xác ví dụ cơ học,hai là khoa học nghiên cứu những cơ thể sống, ví dụ sinh vật học, và ba lànhững khoa học lịch sử nghiên cứu điều kiện sinh hoạt của loài người, nhữngquan hệ xã hội và những hình thức của kiến trúc thượng tầng của xã hội

Khác với các khoa học tự nhiên vô cơ và hữu cơ, đặc trưng của cáckhoa học về lịch sử trong đó có xã hội học là lịch sử xã hội không lặp lại, chonên sự nhận thức về nó chỉ mang tính chất tương đối Các khoa học này tập

Trang 2

trung làm sáng tỏ những mối liên hệ nhân quả và những đặc điểm, tính chấtcủa những sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội diễn ra trong những hoàncảnh lịch sử xác định về không gian và thời gian "Vì vậy mà trong lĩnh vựcnày, kẻ nào đi tìm những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng, những chân lý thực sự,nói chung không biến đổi, thì kẻ đó sẽ chẳng kiếm được là bao, ngoài nhữngđiều nhạt nhẽo và những điều nhàm tai loại tồi nhất, ví dụ như: nói chungngười ta không thể sống mà không lao động, rằng cho đến nay người tathường chia ra thành kẻ thống trị và kẻ bị trị, rằng Na-pô-lê-ông chết ngàymồng 5 tháng Năm 1821, v.v."

Lịch sử xã hội học là lịch sử của các lý thuyết xã hội học đấu tranh vớinhau, cạnh tranh và bổ sung lẫn nhau trong việc giải quyết những vấn đề màcuộc sống thực của con người luôn đặt ra trước xã hội học Trong tiến trìnhphát triển xã hội loài người, như F.Engels đã từng nhận xét, luôn xuất hiệnnhững con người khổng lồ biết phát hiện vấn đề và đưa ra câu trả lời chonhững câu hỏi lớn của thời đại Sự kiện như vậy cũng xảy ra trong suốt chiềudài lịch sử xã hội học Các nhà xã hội học vĩ đại thế kỷ XIX gồm AugusteComte, Herbert Spencer, Karl Marx, Emile Durkheim, Max Weber, GeorgSimmel đã đưa ra những kiến giải khác nhau đối với hàng loạt những câu hỏinhư: Trật tự xã hội là gì? Sự đoàn kết xã hội là gì? Sự thống nhất xã hội là gì

và làm thế nào tạo ra được chúng? Cái gì gắn kết con người với nhóm, với xãhội? Lịch sử phát triển xã hội đã diễn ra như thế nào và sẽ đi tới đâu?

Từ các nỗ lực trả lời những câu hỏi này đã xuất hiện và phát triển các ýtưởng sâu sắc, các lý thuyết đồ sộ của xã hội học thế kỷ XIX Trên cơ sở đó

đã nảy sinh, khai triển nhiều trường phái lý thuyết xã hội học nổi tiếng nhằmgiải đáp những câu hỏi bao trùm thế kỷ XX Trong số đó nổi lên chủ thuyết xãhội học chức năng với các đại diện tiêu biểu, ví dụ Talcott Parsons và RobertMerton; chủ thuyết mâu thuẫn với các tác giả Wright Mills, Ralf Dahrendorfcùng các nhà lý luận khác như Jurgren Habermas và Michael Foulcault; chủthuyết tương tác biểu trưng của George Mead, Herbert Blumer và các đồng

sự Những thập niên cuối của thế kỷ XX chứng kiến sự hồi sinh mạnh mẽ của

Trang 3

các chủ thuyết này và nhất là chủ thuyết lựa chọn duy lý với sự đóng gópquan trọng của các tác giả như George Homans, Peter Blau và nhiều tác giảkhác Trong lịch sử phát triển lý thuyết xã hội học trên thế giới không thểkhông kể tới những xu hướng phát triển khác, nhất là các nghiên cứu lý luậncủa các nhà xã hội học Nga (Liên Xô cũ), các nhà xã hội học Bungari, Đức.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các lý thuyết xã hội học thành một dòngchảy xiết suốt chiều dài lịch sử phát triển xã hội là vấn đề cơ bản có tính triếthọc của nó Đó là vấn đề mối quan hệ giữa con người và xã hội Vấn đề cơbản của xã hội học cũng có hai mặt, nhưng không phải mặt quyết định luận:cái gì có trước, xã hội hay con người; cũng không phải là mặt nhận thức của

nó Vấn đề là con người tác động tới xã hội như thế nào và xã hội có ảnhhưởng như thế nào tới con người

Trong thế kỷ XIX vấn đề cơ bản có tính chất triết học của xã hội họcđược diễn đạt bằng những câu hỏi của thời đại, ví dụ, trật tự xã hội, nhất trí

xã hội, thống nhất xã hội là gì? Biến đổi xã hội là gì? Và làm thế nào tổ chứcđược xã hội ổn định, trật tự?

Trong thế kỷ XX xã hội học tiếp tục trả lời nhiều câu hỏi cần thiết vàquan trọng xoay quanh vấn đề cơ bản này Đồng thời lý thuyết xã hội học tậptrung tìm hiểu để đưa ra câu trả lời mới đối với những câu hỏi như: xã hội tạothành từ các cá nhân, các nhóm như thế nào? Con người biến đổi xã hội rasao? Trên cơ sở giải quyết những câu hỏi của thời đại trước, những câu hỏimới đang xuất hiện

Vấn đề cơ bản của xã hội học thế kỷ XXI có thể diễn đạt thành nhữngcâu hỏi, ví dụ mối quan hệ hài hòa giữa con người và xã hội là gì? Quy luậthình thành và vận động của mối quan hệ đó là gì? Làm thế nào tạo ra đượcmối quan hệ hài hòa đó?

Lịch sử cho thấy các lý thuyết xã hội học không những khác nhau ởquê hướng xứ sở - nước này hay nước kia; ở cấp độ phân tích vĩ mô - xã hộihay vi mô - cá nhân hoặc kết hợp cả hai: vĩ mô -vi mô, mà còn khác nhau ởgóc nhìn lạc quan - tích cực hay bi quan - tiêu cực và khác nhau cả cách tiếp

Trang 4

cận nghiên cứu định lượng và định tính Nhưng tất cả các lý thuyết xã hội họcrất phong phú, đa dạng đó đều cùng hướng vào trả lời câu hỏi: bản chất củamối quan hệ giữa con người và xã hội là gì?

Có thể nói, đường xoáy trôn ốc đi lên của tất cả các lý thuyết xã hội họcđều xoay quanh một cái trục đối tượng nghiên cứu Đó là tìm ra các quy luậtcủa sự nảy sinh, vận động, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa xã hội vàcon người Xã hội học với tất cả các lý thuyết, phạm trù, khái niệm và phươngpháp của nó đều hướng vào nghiên cứu quy luật, đặc điểm, tính chất, cơ chế,điều kiện hình thành, bộc lộ, biến đổi, phát triển mối quan hệ giữa con người

và xã hội trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhất là trong thời kỳ hiện đại,đương đại

"Lịch sử & lý thuyết xã hội học" được viết ra nhằm đáp ứng nhu cầutham khảo tài liệu học tập, giảng dạy và nghiên cứu của bạn đọc quan tâm tớikhoa học xã hội và nhân văn Cuốn sách sẽ giúp ta mở rộng tầm nhìn khoahọc, khách quan, biện chứng, nghiêm túc và cởi mở trong việc tiếp thu, đánhgiá và vận dụng lý luận khoa học xã hội học vào cuộc sống đang đổi mới hiệnnay Trong cuốn sách này các lý thuyết xã hội học được trình bày thành haiphần Phần I giới thiệu các quan niệm của một số tác giả tiêu biểu của nhữngthời kỳ dựng xây và phát triển khoa học xã hội học Phần II trình bày một sốchủ thuyết lớn trong xã hội học hiện đại, trong đó nhấn mạnh lý thuyết củamột số nhà khoa học nổi tiếng của thời kỳ kế tục và phát triển mới khoa học

xã hội học ở thế kỷ XX

Lê Ngọc Hùng

Phần I SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC

Chương I SỰ RA ĐỜI KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC

1 Bối cảnh kinh tế - xã hội

Khoa học xã hội học gọi ngắn gọn là xã hội học tất yếu ra đời trong bốicảnh kinh tế - xã hội ở châu Âu thế kỷ XIX, cụ thể là ở Pháp vào nửa đầu thế

Trang 5

kỷ XIX Tính tất yếu đó bộc lộ ở nhu cầu và sự phát triển chín muồi các điềukiện vật chất và tinh thần, các tiền đề cần thiết cho sự nhận thức đời sống xãhội Lúc bấy giờ các cuộc cách mạng công nghiệp và thương mại đã làm lunglay tận gốc hệ thống thiết chế kinh tế - xã hội cũ từng tồn tại hàng ngàn nămtrước đó ở Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Italia và các nước khác Hình thái kinh tế

- xã hội kiểu phong kiến bị sụp đổ từng mảng lớn trước sức mạnh bànhtrướng của lực lượng sản xuất và thị trường hàng hóa công nghiệp của nềnđại công nghiệp

Dưới tác động của tự do hóa thương mại, tự do hóa sản xuất và đặcbiệt là tự do hóa lao động, hệ thống tổ chức quản lý kinh tế - xã hội theo kiểutruyền thống đã bị thay thế bằng các phương thức tổ chức kinh tế - xã hộihiện đại Kiểu sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện và phát huy tác dụng Hìnhthành và phát triển hệ thống nhà máy, xí nghiệp, tập đoàn kinh tế có khả năngtạo ra khối lượng lớn hàng hóa, thu hút nhiều lao động từ nông thôn ra thànhthị, mở rộng hệ thống thị trường nguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ sảnphẩm công nghiệp

Hoạt động buôn bán và sản xuất được tổ chức lại theo quy mô đại côngnghiệp cơ khí lúc đầu đã xuất hiện ở Anh, sau đó ở Pháp, Hà Lan, Đức vàcác nước khác Điều đó đã tạo ra những bước đột chuyển trong quá trìnhbiến đổi kinh tế - xã hội ở các nước này Riêng về mặt kinh tế, chỉ sau khoảngmột trăm năm phát triển, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã sản xuất được mộtkhối lượng tổng sản phẩm ước tính bằng tổng khối lượng của cải vật chất doloài người tạo ra trong suốt lịch sử phát triển từ trước cho tới khi xuất hiệnchủ nghĩa tư bản Đại công nghiệp đã sản xuất ra khối lượng khổng lồ hànghóa với giá rẻ, được Marx và Engels ví như là những viên "trọng pháo bắnthủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bàingoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục" Kết quả là nền tảngkinh tế - xã hội theo lối phong kiến và cùng với nó là chế độ phong kiến, quan

hệ xã hội phong kiến châu Âu bị trốc tận gốc và sụp đổ tan tành"

Trang 6

Biến đổi kinh tế đã làm thay đổi sâu sắc đời sống chính trị, văn hóa, xãhội Của cải, đất đai, tư bản không còn tập trung trong tay tầng lớp phongkiến, quý tộc, tăng lữ mà rơi vào tay giai cấp tư sản Sự phân chia giai cấp,

sự phân tầng xã hội và sự phân hóa giàu -nghèo diễn ra trên quy mô rộng lớnvới tính chất quyết liệt, sâu sắc Nền công nghiệp quy mô lớn đã đẩy nhanhquá trình đô thị hóa cùng với sự tích tụ dân cư, phát triển giao thông và cơ sở

hạ tầng

Kỹ thuật, công nghệ và khoa học phát triển nhanh chóng góp phần hìnhthành và phát triển tầng lớp xã hội mới là những người trí thức, đội ngũ hànhchính, quản lý và công nhân kỹ thuật Sản xuất kiểu công nghiệp với quy môlớn đòi hỏi phải mở mang buôn bán, giao lưu và thị trường nguyên vật liệu vàthị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa công nghiệp Từ đó hình thành nêntầng lớp thương nhân, doanh nhân

Sự phân hóa trong lối sống của thành thị và nông thôn diễn ra tốc độnhanh chóng tỉ lệ thuận với quá trình đô thị hóa Quan hệ giữa thành thị vànông thôn trở thành quan hệ phụ thuộc

Nông dân bị tách ra khỏi ruộng đất trở thành người làm thuê, người bánsức lao động cho giới chủ tư bản công nghiệp ở thành phố Việc nông dân rời

bỏ cộng đồng làng quê, nông thôn ra thành phố sinh sống đã kéo theo nhữngbiến đổi to lớn trong thiết chế gia đình với hệ giá trị, chuẩn mực và cấu trúcđặc trưng cho xã hội truyền thống dựa vào phương thức sản xuất phong kiến.Đời sống cá nhân và gia đình bị xô đẩy, bị xé vụn và bị cuốn hút vào hoạtđộng kinh tế kiểu thị trường và lối sống cạnh tranh, vụ lợi Lối sống nông thôndựa vào kinh tế nông nghiệp, vào quan hệ gia đình, dòng họ bị thay đổi vànhường chỗ cho lối sống thành thị - xuất hiện "chủ nghĩa thành thị" - dựa vàokinh tế công nghiệp và quan hệ chức năng

Các hình thức tổ chức xã hội theo kiểu phong kiến trước đây bị lunglay, xáo trộn và biến đổi mạnh mẽ Tổ chức và thiết chế tôn giáo, cụ thể làGiáo hội trước kia rất có thế lực nay bị mất dần vai trò và quyền lực thống trịtrong đời sống xã hội trước sức ép của hoạt động kinh tế diễn ra sôi động

Trang 7

Việc nhà thờ bị tách khỏi nhà nước và nhà trường là một biểu hiện rõ rệt nhấtcủa sự biến đổi xã hội trong lĩnh vực tổ chức đời sống vật chất và tinh thần ở

xã hội châu Âu thế kỷ XVIII-XIX

Do đó, luật pháp ngày càng phải tập trung vào việc điều tiết các quátrình kinh tế, các quan hệ lợi ích và quan hệ xã hội mới xuất hiện, chưa từng

có trong xã hội phong kiến Ví dụ, luật pháp trở nên duy lý để thiết chế hóa vàđiều tiết các quan hệ mua bán sức lao động sao cho có lợi cho chủ tư bảntrong việc tìm kiếm lợi nhuận làm giàu và bóc lột công nhân Ngay cả thiết chếhành chính, tổ chức hành chính, tổ chức xã hội kiểu phong kiến, quân chủđộc đoán, chuyên chế cũng buộc phải thay đổi theo xu thế duy lý, theo hướngthị dân hóa và công dân hóa

Tóm lại, sự xuất hiện và phát triển hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa

đã phá vỡ trật tự xã hội phong kiến gây những xáo trộn và biến đổi sâu rộngtrong đời sống xã hội Quan hệ, tương tác và cấu trúc xã hội trở nên phứctạp, mất ổn định gây ra những hệ quả khó lường Từ đó nảy sinh nhu cầuthực tiễn phải lập lại trật tự, ổn định xã hội; nảy sinh nhu cầu tìm hiểu, giảithích các hiện tượng, các quá trình kinh tế xã hội và giải quyết các vấn đề củathời kỳ khủng hoảng xã hội lúc bấy giờ Nói cách khác, xã hội học đã ra đờimột cách tất yếu thong bối cảnh kinh tế xã hội châu Âu thế kỷ XIX nhằm đápứng nhu cầu nhận thức và nhu cầu thiết lập sự ổn định, trật tự xã hội

2 Bối cảnh chính trị, văn hóa và tư tưởng

Các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng nhất góp phần làm thay đổicăn bản thể chế chính trị, trật tự xã hội và các thiết chế xã hội châu Âu thế kỷXVIII-XIX là các cuộc cách mạng, nhất là Đại cách mạng Pháp năm 1789.Cuộc cách mạng này đã mở đầu cho thời kỳ tan rã chế độ phong kiến, nhànước quân chủ và thay thế trật tự xã hội cũ bằng một trật tự chính trị xã hộimới với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản

Về mặt văn hóa - tư tưởng, Đại cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII vớikhẩu hiệu "tự do, bình đẳng, bác ái" đã khơi dậy những biến đổi mang tínhcách mạng trong văn hóa, tư tưởng, nhận thức và hành động chính trị của

Trang 8

giai cấp công nhân và quần chúng lao động về quyền con người và quyềnbình đẳng giai cấp.

Cùng với sự biến đổi chính trị có tính chất cách mạng ở Pháp là cácbiến động chính trị theo con đường "tiến hóa" ở Anh, Đức, Italia và các nướckhác Đặc điểm chung của những thay đổi to lớn trong đời sống chính trị châu

Âu lúc bấy giờ là quyền lực chính trị chuyển sang tay giai cấp tư sản và mộtthiểu số người nắm giữ tư liệu sản xuất Biến đổi chính trị xã hội đã góp phầncủng cố và phát triển chủ nghĩa tư bản Điều này thể hiện ở việc hình thànhnhững điều kiện có lợi cho tự do buôn bán, tự do sản xuất, tự do cạnh tranh,

tự do ngôn luận tư sản và đặc biệt là tự do bóc lột sức lao động công nhân,làm căng thẳng thêm quan hệ mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp thống trị - tưsản và giai cấp bị trị - vô sản

Mâu thuẫn sâu sắc về lợi ích giữa các tầng lớp xã hội và nhất là giữagiai cấp công nhân vô sản và giai cấp tư sản đã lên tới đỉnh điểm làm bùng nổcuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới vào nửa cuối thế kỷ XIX - Công

xã Pari năm 1871, và sau này là cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm

1917 Các cuộc cách mạng này đã thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình cáchmạng và lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong các tầng lớp tiến bộ xã hội, nhất làgiai cấp công nhân, vô sản và các dân tộc bị áp bức trên phạm vi toàn thếgiới

Những biến động chính trị xã hội và đặc biệt là cuộc cách mạng Pháp

đã để lại dấu ấn không phai mờ trong lịch sử xã hội học như sau:

Trước hết, đó là sự kiện xã hội học ra đời lần đầu tiên trên thế giới với

tư cách là một khoa học ở nước Pháp - cái nôi của Đại cách mạng Pháp rồisau đó mới xuất hiện ở các nước Anh, Đức, Italia, Mỹ

Thứ hai, các công trình của các nhà xã hội học người Pháp nhưAuguste Comte, Emile Durkheim, nhà xã hội học người Anh Herbert Spencer,nhà xã hội học người Đức Georg Simmel, và đặc biệt là những người sánglập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, lãnh tụ thiên tài và người thầy của giai

Trang 9

cấp vô sản Karl Marx và Friedrich Engels đều chịu ảnh hưởng của học thuyết

xã hội chủ nghĩa Pháp

Thứ ba, những biến động kinh tế - chính trị - văn hóa ở xã hội Pháp đãkhiến các nhà xã hội học tiền bối đặt ra những câu hỏi lý luận cơ bản khôngchỉ đối với xã hội học của Pháp mà của toàn bộ lý luận xã hội học thế kỷ XIX

Đó là vấn đề trật tự xã hội, bình đẳng xã hội và vấn đề làm thế nào phát hiện

và sử dụng các quy luật tổ chức xã hội để góp phần tạo dựng, củng cố trật tự

xã hội và tiến bộ xã hội

Trong bối cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội như vậy, các nhà tưtưởng xã hội, các nhà xã hội học châu Âu thế kỷ XIX đã ra sức tìm hiểu, mô

tả, phân tích các quá trình, hiện tượng xã hội để phản ánh và giải thích đầy đủnhững biến động chính trị, xã hội đang diễn ra xung quanh họ Các nhà xã hộihọc thế kỷ XIX tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lớn nảy sinh từ nhữngkhủng hoảng, mất ổn định, mất trật tự chính trị xã hội lúc bấy giờ Một số nhà

xã hội học tiến bộ đã chỉ ra con đường và biện pháp để lập lại trật tự và duytrì sự tiến bộ xã hội

3 Các tiền đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu khoa học

Tiền đề lý luận và phương pháp luận làm nảy sinh, phát triển xã hội học

có nguồn gốc từ những tiến bộ to lớn mà loài người đã đạt được "từ xưa đếnnay", nhất là từ thời kỳ vĩ đại mở đầu bằng thời đại Phục hưng vào nửa cuốithế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX Về tầm cỡ lịch sử vĩ đại của sự tiến bộkhoa học thời đại này, F Engels chỉ rõ: "đó là một thời đại cần có những conngười khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lựcsuy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và

về mặt học thức sâu rộng" Kết quả là đã hình thành nên các dòng tư tưởngtriết học cụ thể là triết học cổ điển Đức, các trào lưu tư tưởng xã hội đặc biệt

là chủ nghĩa xã hội Pháp và các lý thuyết kinh tế học và kinh tế chính trị họcAnh

Các trào lưu tiến bộ của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, dướinhiều hình thức và bằng nhiều cách khác nhau đã trở thành tiền đề, nguồn

Trang 10

gốc và những yếu tố cơ bản cấu thành nên hệ thống lý luận và phương phápluận của khoa học xã hội học thế kỷ XIX.

Các nhà tư tưởng Anh, nhất là những người theo chủ nghĩa tự do vàkinh tế chính trị học Anh thường cổ vũ và bênh vực cho quyền con ngườinhằm biện minh cho chủ nghĩa tư bản công nghiệp phát triển mạnh nhất ởnước này Khi nghiên cứu các chế độ kinh tế - xã hội, A.Smith (1723-1790) vàD.Ricardo (1772-1823) đã cho rằng các cá nhân phải được tự do thoát khỏinhững ràng buộc và hạn chế bên ngoài để tự do cạnh tranh Có như vậy, các

cá nhân mới tạo ra được một xã hội tốt đẹp hơn Nhìn chung, các quan niệmkinh tế học đã gợi mở ra cách nhìn duy vật biện chứng đối với các vấn đề xãhội đang nảy sinh do nền kinh tế đại công nghiệp đang ngày càng mở rộng,

sự phân hóa xã hội ngày càng tăng

Tại Pháp, cái nôi của xã hội học - thời kỳ Phục hưng nửa cuối thế kỷ

XV đã mở đầu cho một thời đại duy lý với các tư tưởng khai sáng và chủnghĩa xã hội của những con người khổng lồ như F Voltaire (1694-1778), J.Rouseau (1712-1778), D Diderot (1713-1784), C H De Saint-Simon (1760-1825), C Fourier (1772-1837) và nhiều người khác Trong số đó nổi bật lênnhà triết học, nhà xã hội học Auguste Comte (1798-1857), người đã sáng lập

ra chủ nghĩa thực chứng và khai sinh khoa học xã hội học

Các nhà triết học và các nhà tư tưởng xã hội Pháp cho rằng con ngườichủ yếu bị chi phối bởi các điều kiện và hoàn cảnh xã hội Họ khẳng định rằngcon người có những "quyền tự nhiên" nhất định mà các thiết chế xã hội phảitôn trọng và bảo vệ chứ không được phép chà đạp, vi phạm Từ đó đã hìnhthành tư tưởng về sự cần thiết phải xóa bỏ sự áp bức và bất công xã hội, phảithay thế trật tự xã hội cũ bằng một trật tự xã hội mới phù hợp hơn với bảnchất con người và đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người Sự biến đổi nhưvậy cần phải diễn ra một cách hợp lý, hợp pháp, tiến bộ và bằng con đườngduy lý, "khai sáng" tư tưởng và nhận thức, thậm chí bằng các cuộc cáchmạng Các tư tưởng tiến bộ, nhân văn, nhân bản, nhân đạo được phản ánhđặc biệt rõ trong cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789

Trang 11

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và đặc biệt là phương pháp luậnnghiên cứu khoa học là tiền đề cơ bản, quan trọng cho sự ra đời xã hội học.Các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật diễn ra ở thế kỷ XVI, XVII và đặcbiệt là thế kỷ XVIII đã làm thay đổi căn bản thế giới quan và phương phápluận khoa học Lần đầu tiên trong lịch sử khoa học nhân loại, thế giới hiệnthực, nhất là đời sống xã hội của con người được xem như là một thể thốngnhất vận động và luôn biến đổi theo quy luật Các quy luật của xã hội có thểnhận thức được và giải thích được thông qua việc sử dụng và phát triển cáckhái niệm, phạm trù và phương pháp nghiên cứu khoa học Trên cơ sở nhậnthức khoa học có thể biến đổi, cải tạo được xã hội.

4 Sự ra đời xã hội học

Về mặt chữ nghĩa, "xã hội học" (Sociology) là kết quả của việc ghépchữ "Socius" hay chữ "Societas" nghĩa là xã hội với chữ "Ology" hay "Logos"

có nghĩa là học thuyết, là nghiên cứu

Về mặt lịch sử, Auguste Comte được ghi nhận là cha đẻ của xã hội học

do đã có công khai sinh ra môn khoa học này vào nửa đầu thế kỷ XIX, cụ thể

là năm 1838 Lúc bấy giờ ông dùng thuật ngữ "Xã hội học" để chỉ một lĩnhvực nghiên cứu mới về các quy luật của tổ chức xã hội, học thuyết về xã hội,

sự nghiên cứu về xã hội loài người Nhưng về sau trong quá trình phát triểncủa mình, xã hội học đã có các quan niệm khác nhau về đối tượng nghiêncứu tương ứng với mỗi thời kỳ lịch sử của nó

Ngay từ buổi bình minh của xã hội học, một số nhà khoa học nhất làComte đã chủ trương áp dụng mô hình phương pháp luận của khoa học tựnhiên và chủ nghĩa thực chứng vào nghiên cứu các quy luật của sự biến đổi

xã hội Xã hội học sớm nhận thấy sự cần thiết phải sử dụng các phương phápquan sát, thực nghiệm, so sánh, phân tích lịch sử, trừu tượng hóa, khái quáthóa vào nghiên cứu quy luật tổ chức xã hội

Các khoa học tự nhiên như vật lý học, hóa học, sinh học đã phát hiện

ra các "quy luật tự nhiên" để giải thích thế giới Chủ nghĩa duy lý khoa họcxuất hiện và phát huy tác dụng mạnh mẽ đầu tiên trong lĩnh vực nhận thức

Trang 12

giới tự nhiên và sau đó là trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội Thành tựu củakhoa học tự nhiên không chỉ là nguồn cổ vũ lớn lao mà còn là kho tàng lý luận

và công cụ khoa học sắc bén cho các nhà tư tưởng xã hội, các nhà xã hội họcvận dụng để nghiên cứu đối tượng đã được xác định Xã hội học tìm thấy ởkhoa học tự nhiên các quan niệm về cách xây dựng lý thuyết và các mô hìnhnghiên cứu để áp dụng trong việc tìm hiểu quá trình, hiện tượng xã hội mộtcách khoa học Như vậy, ngay từ đầu nhiệm vụ của xã hội học được xác định

là phải nghiên cứu thành phần, cấu trúc và quá trình vận động, biến đổi của

xã hội Cùng với việc các hiện tượng, các quá trình xã hội trở thành đối tượngnghiên cứu, xã hội học đã có ngay các phương pháp, công cụ nghiên cứu kếthừa từ các khoa học khác

Cùng với các điều kiện và tiền đề nêu trên, sự nỗ lực hoạt động củacác nhà khoa học là hết sức quan trọng để xã hội học ra đời và phát triểnmạnh mẽ Nhiều nhà khoa học xã hội thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX rấtquan tâm nghiên cứu các hiện tượng, quá trình xã hội nhằm phát hiện ra cácquy luật của tổ chức xã hội, "các quy luật của sự phát triển và tiến bộ xã hội".Nhiều nhà tư tưởng, các nhà lý luận xã hội tiến bộ luôn tin rằng có thể và cầnthiết phải coi các quy luật mà khoa học phát hiện được là công cụ lý luận, làngọn đuốc soi đường xây dựng một xã hội tốt đẹp

Tóm lại, xã hội học đã ra đời với tư cách là một khoa học trong lòng xãhội châu Âu thế kỷ XIX với các điều kiện chín muồi về kinh tế, chính trị, tưtưởng, văn hóa, xã hội và khoa học Người tiên phong trên con đường xâydựng một khoa học mới về xã hội là nhà triết học thực chứng người Pháp tên

là Auguste Comte - nhà xã hội học đầu tiên trên thế giới Người đã kế thừa vàphát triển tất cả những gì tốt đẹp nhất về mặt tư tưởng và nhận thức mà loàingười đã tạo ra từ trước cho đến khoảng giữa thế kỷ XIX để đưa ra một họcthuyết chính xác, vạn năng cho khoa học xã hội học là Karl Marx và các đồngchí của ông Những người luôn soi vào Marx và góp phần làm cho xã hội họcphát triển thành nhiều cành nhánh lý luận và nhiều chủ thuyết, nhiều trườngphái khác nhau là Emile Durkheim, Max Weber và các tác giả khác Tất cả sự

Trang 13

say mê và nỗ lực nghiên cứu, tất cả những thành công về mặt lý luận và thựcnghiệm và tất cả những thành tựu nổi bật và cả những đóng góp trầm lặngcủa các nhà khoa học đều tạo thành một dòng chảy bất tận của lịch sử xã hộihọc bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ XIX qua thế kỷ XX sang thế kỷ XXI và sẽ tiếpmãi

Chương II SỰ THỐNG NHẤT TRONG TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÁC LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC

1 Sự thống nhất của các quan niệm khác nhau về xã hội học

Đối tượng nghiên cứu của xã hội học

Từ xưa đến nay các nhà xã hội học luôn đưa ra câu trả lời khác nhauđối với câu hỏi: Xã hội học nghiên cứu cái gì? Một số tác giả này coi xã hộihọc là khoa học về hành vi xã hội, một số tác giả khác xem xã hội học là khoahọc về hệ thống xã hội Đến cuối thế kỷ XX, đúng như một số tác giả nhậnxét: "định nghĩa ngắn gọn như "xã hội học là khoa học nghiên cứu xã hội loàingười và hành vi xã hội" có lẽ khá mơ hồ và chứa đựng ít thông tin (mặc dầuxác đáng), hay không đủ chính xác để phân biệt xã hội học với các ngànhkhoa học khác như tâm lý học"

Nhưng tình hình phong phú, đa dạng, muôn hình, muôn vẻ của cácquan niệm về xã hội học phổ biến đến mức không ít tác giả tin rằng, sau hơnmột thế kỷ rưỡi phát triển các lý thuyết xã hội học mới chỉ thống nhất với nhau

ở một điểm là không có định nghĩa thống nhất về xã hội học Nhưng một sốngười lo ngại về điều này Một số người chưa biết rằng tư tưởng thống nhấttrong sự đa dạng của lý luận xã hội học đã được Đại hội xã hội học thế giớilần thứ XII tổ chức tại Madrid, Tây Ban Nha năm 1990 ghi nhận là tư tưởngchủ đạo của sự phát triển xã hội học Càng ngày càng trở nên rõ ràng mộtđiều là không thể có và cũng không cần thiết có một lý luận chung duy nhấtcho xã hội học toàn thế giới Một điều khác rõ ràng không kém là mãi đếnthập niên cuối thế kỷ XX xã hội học mới đạt tới một trình độ phát triển trong

đó các lý thuyết xã hội học bình đẳng nhau trong việc tiếp cận đối tượngnghiên cứu

Trang 14

Sự thống nhất trong tính đa dạng, phong phú của các lý thuyết xã hộihọc là linh hồn, là sinh khí, là hơi thở của xã hội trong suốt tiến trình lịch sửcủa nó Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ, các lý luận, các lý thuyết, các quanniệm xã hội học khác nhau đều tập trung vào giải quyết một vấn đề cơ bảnmang tính triết học của nó, đó là mối quan hệ giữa con người và xã hội Lịch

sử lý thuyết xã hội học là lịch sử của các nỗ lực đặt ra những câu hỏi và đưa

ra những câu trả lời khoa học về bản chất, về quy luật, về đặc điểm và tínhchất của mối quan hệ giữa con người và xã hội Đến nay có thể định nghĩanhư sau:

Xã hội học là khoa học nghiên cứu quy luật của sự nảy sinh, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các quy luật được phát hiệu,được trình bày, diễn đạt ra dưới các hình thức khác nhau, do vậy mà có cácloại lý thuyết xã hội học Lịch sử xã hội học đã chứng kiến sự xuất hiện khi thìlần lượt khi thì cùng một lúc các quan niệm, các lý thuyết không những khácnhau mà mâu thuẫn, đối lập và đấu tranh với nhau về cách kiến giải nhiềukhía cạnh, nhiều mặt của một vấn đề triết học - xã hội học là mối quan hệgiữa con người và xã hội

Lịch sử lý thuyết xã hội học cũng cho thấy, các câu hỏi nan giải và rắcrối về đối tượng nghiên cứu của xã hội học gắn liền với nội dung, phươngpháp luận và vị trí của xã hội học trong hệ thống các khoa học

Các quan niệm khác nhau về vấn đề cơ bản có tính triết học của

xã hội học

Ngay từ lúc mới ra đời của xã hội học đã có phương pháp tiếp cận vĩ

mô để xác định đối tượng nghiên cứu của nó Quan niệm này được củng cốtrong sự cạnh tranh từ nhiều phía quan niệm khác nhau Theo phương pháptiếp cận vi mô phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, đốitượng của các lý thuyết xã hội học là hành vi xã hội, hành động xã hội, tươngtác xã hội và các quá trình, động thái của nhóm xã hội Theo cách tiếp cận vĩ

mô hồi sinh và chiếm vị trí nổi trội vào giữa thế kỷ XX, xã hội học là khoa học

Trang 15

về hệ thống xã hội, về cộng đồng xã hội xác định trong lịch sử Theo cách tiếpcận "tổng hợp", xã hội học được coi là có nhiệm vụ "bắc cái cầu nối" giữanhững hiện tượng vĩ mô - xã hội loài người và những hiện tượng vi mô - hành

vi người

Vô số các quan niệm, các định nghĩa về xã hội học trong các sách giáokhoa hiện nay cũng như trước kia đều có thể quy về một trong những cáchtiếp cận trên Các định nghĩa đó thường cho rằng xã hội học nghiên cứu cácvấn đề thiên về xã hội (ví dụ xã hội loài người), hoặc các vấn đề thiên về conngười (ví dụ hành vi xã hội), hoặc các vấn đề "tổng hợp, tích hợp" cả xã hội

và con người Trong các xu hướng quan niệm này đã xuất hiện mầm mống vàtiền đề cho sự định hình ngày một rõ nét quan niệm thứ tư, có thể gọi nhưvậy, xã hội học nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và xã hội Lịch sửphát triển xã hội học hơn thế kỷ rưỡi qua phản ánh rõ xu thế này

Thực vậy, ngay từ khi mới ra đời, xã hội học châu Âu với các biến thể lýluận vĩ mô và vi mô của nó, chủ yếu được (A Comte, K.Marx, H.Spencer,E.Durkheim và những người khác) xác định là khoa học về sự phát triển xãhội loài người, về các (hệ thống) xã hội Xu hướng xã hội học vĩ mô này mạnhđến mức khi "du nhập" vào một số nước khác, đặc biệt là vào Mỹ phát triểnmạnh thành lý thuyết hệ thống xã hội (T Parsons) Xã hội học châu Âu đã bịphê phán là không chú ý tới cá nhân, tới con người Trước trào lưu vĩ mô hóa

và hệ thống hóa xã hội học, Homans – một đại diện tiêu biểu của dòng xã hộihọc vi mô (M.Weber, G.Simmel, H.Mead, G.Homans và các tác giả khác) đãđưa ra luận điểm nổi tiếng: "hãy trả lại con người cho xã hội học" (1964).Nhưng ngay sau đó không bao lâu, trước tình hình "vi mô hóa", "cá nhân hóa"

và "hành vi hóa" xã hội học, một số tác giả khác lại đòi "trả lại xã hội cho xãhội học"

Có thể hình dung là từ khi ra đời vào nửa đầu thế kỷ XIX cho tới nay,

xã hội học luôn ở trong tình cảnh "thân này ví xẻ làm đôi được" Các nhà xãhội học vừa muốn tập trung vào nghiên cứu (ví dụ hành vi, hành động) conngười vừa muốn nghiên cứu (ví dụ hệ thống, cấu trúc) xã hội Nhưng xã hội

Trang 16

học tỏ ra rất khó có thể đứng trung lập giữa hai thái cực của những vấn đềđầy hấp dẫn và cần thiết như vậy.

Lệch về phía con người, ví dụ tập trung nghiên cứu hành vi xã hội,hành động xã hội của con người, xã hội học bị các ngành khoa học nhân văn,đặc biệt là khoa học tâm lý lấn át Nghiêng về phía xã hội, chẳng hạn tậptrung nghiên cứu về cơ cấu xã hội và quá trình xã hội hay hệ thống xã hội, xãhội học dễ bị triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử và các ngành khoahọc xã hội khác như sử học, kinh tế học trùm lên

Trong khi đó xã hội học khó có thể một mình thâu tóm cả hai, tức là vừanghiên cứu hành vi con người, vừa nghiên cứu hệ thống xã hội Vì như vậy

xã hội học dễ bị và đã từng bị phê phán là có đối tượng nghiên cứu không rõràng, thậm chí bị mất đối tượng nghiên cứu

Cần thấy rằng, con người và xã hội là những khách thể nghiên cứu củarất nhiều khoa học khác nhau, không phải của riêng xã hội học Do vậy, cóthể kết luận rằng, cách định nghĩa xã hội học là khoa học về con người (ví dụhành vi, hành động xã hội), về xã hội (ví dụ cấu trúc xã hội, hệ thống) hay cảcon ngươi và xã hội là chưa xác đáng, chưa thuyết phục về mặt lý luận

Để giải quyết vấn đề đầy tranh cãi này, một số nhà xã hội học nửa cuốithế kỷ XX đưa ra cách tiếp cận "tổng-tích hợp", một số khác lại thiên về cáchtiếp cận "trung bình" Thực chất các cách giải quyết này khó có thể đứngtrung lập, trung dung giữa "hai dòng" vĩ mô và vi mô Xét cho cùng nhữngquan niệm đó hoặc lệnh về cách tiếp cận vi mô hoặc lệch về cách tiếp cận vĩ

mô Ví dụ, V Jadop và G Osipov cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hộihọc là quy luật của các hệ thống xã hội, là sự hoạt động của các quy luật "vĩmô" đó trong hành vi, hoạt động của các cá nhân, nhóm xã hội

Một số tác giả khác nỗ lực tìm cách bắc cầu lý luận để vượt qua cái hốngăn cách đã bị khoét sâu từ lúc nào không biết giữa cái vĩ mô - ví dụ cấutrúc xã hội và hệ thống xã hội sang cái vi mô - hành vi xã hội và hành động xãhội của cá nhân Trong số những chiếc cầu được thiết kế cần kể tới: cây cầuthống nhất vi mô - vĩ mô theo chiều sâu (từ ý thức tập thể đến môi trường

Trang 17

sinh thái) và chiều rộng (từ nhóm hội đến toàn cầu) của George Ritzer; câycầu đa chiều (chiều hành động công cụ - chuẩn mực và chiều trật tự cá nhân

- tập thể) của Jeffrey Alexander; cây cầu cấu trúc hóa của Athony Giddens vànhiều chiếc cầu khác nữa của các tác giả như Rall Collins, James Coleman,Peter Blau và nhiều người khác

Qua đó thấy rằng, tuy có lúc mạnh yếu khác nhau nhưng trong suốtchiều dài lịch sử, các quan niệm xã hội học vĩ mô và xã hội học vi mô luôn sátcánh bên nhau và cạnh tranh ngấm ngầm hoặc công khai với nhau trong việcxác định đối tượng nghiên cứu Chen vào giữa hai dòng lý thuyết xã hội họcnày là trào lưu "tổng hợp", lấy mỗi thứ một tí để dung hòa những mâu thuẫn

và đưa ra những giải pháp "trung lập" và những lý thuyết "kết nối"

Trên thực tế quan niệm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của xã hộihọc đều xem xét và giải quyết những câu hỏi lý luận và phương pháp luậncủa một vấn đề cơ bản có tính triết học của xã hội học Đó là vấn đề mối quan

hệ giữa con người và xã hội Các quan niệm, các lý thuyết xã hội học khácnhau theo nhiều kiểu, nhiều cách nhưng đều giống nhau ở chỗ không nghiêncứu gì khác ngoài các thuộc tính đặc điểm và tính chất của mối quan hệ giữacon người và xã hội Đó là hạt nhân của sự thống nhất bên trong của các lýthuyết đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ thậm chí mâu thuẫn nhautrong lịch sử xã hội học

2 Tranh luận và thống nhất trong xã hội học

Như đã nêu ở trên, xã hội học là khoa học nghiên cứu các quy luật hìnhthành, vận động và phát triển mối quan hệ giữa con người và xã hội Quanniệm này không đột nhiên xuất hiện hay từ trên trời rơi xuống, trái lại nó đượcphôi thai trong các ý tưởng đã được nêu lên trong suốt lịch sử phát triển lýthuyết xã hội học Có thể tìm thấy mầm mống, gốc rễ của quan niệm nàytrong tư tưởng xã hội học của Marx, Durkheim, Weber, Simmel và nhiều nhà

xã hội học khác thế kỷ XIX-XX

Tuy nhiên, định nghĩa này có thể sẽ gây ra cuộc tranh luận khoa học bổích và lý thú Các ý kiến tranh luận khoa học (đã có và có thể có) chủ yếu

Trang 18

xoay quanh các chủ đề bắt nguồn từ vấn đề cơ bản của xã hội học Đó là vấn

đề con người chịu ảnh hưởng và gây ảnh hưởng trở lại đối với xã hội như thếnào? Đó là vấn đề quan hệ tương tác nhiều chiều, muôn hình muôn vẻ giữacon người và xã hội diễn ra theo quy luật nào, cơ chế nào?

Điều đó không có gì lạ, bởi lẽ các nhà nghiên cứu xã hội học từ xưa tớinay không ngừng cạnh tranh với nhau về đối tượng của xã hội học; bởi lẽ cácchuyên gia xã hội học khác nhau luôn giải thích khác nhau về vấn đề quan hệqua lại giữa con người và xã hội; bởi lẽ các nhà xã hội học khác nhau thườngkhông thống nhất với nhau về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề quan hệgiữa con người và xã hội

Nhưng điều ngạc nhiên là ở chỗ rất ít, nếu không muốn nói là chưa cócách định nghĩa xã hội học nào giải đáp ổn thỏa những chủ đề bắt nguồn từtính "nước đôi", "lưỡng tính" kiểu "nhị nguyên luận" của đối tượng nghiên cứu

xã hội học, đó là mối quan hệ qua lại giữa một bên là con người và một bên là

xã hội

Tính chất hai mặt của vấn đề cơ bản của xã hội học làm nảy sinh cáccặp phạm trù làm chủ đề cho các cuộc tranh luận khoa học kéo dài cho đếnnay chưa chấm dứt Đó là cặp chủ đề như: "con người - xã hội", "cá nhân -văn hóa", "tự nhiên - xã hội", "chủ quan - khách quan, "chủ thể - khách thể",

"vĩ mô – vi mô", "định lượng – định tính", "hành động xã hội – cấu trúc xã hội"v.v

Các quan niệm về đối tượng nghiên cứu của xã hội học không chỉ khácnhau, thậm chí còn trái ngược, mâu thuẫn nhau Từ đó nảy sinh các cuộctranh luận triền miên trong xã hội học Điều đó dẫn tới hiện tượng gọi là

"khủng hoảng thừa" sự khác nhau và "khủng hoảng thiếu" sự thống nhấttrong lý luận xã hội học Có thể nói, xã hội học không chỉ ra đời trong bối cảnhbiến động xã hội thế kỷ XIX để trở thành khoa học về các cuộc khủng hoảng

xã hội mà bản thân nó cũng luôn ở trong tình trạng khủng hoảng về lý luận

Trong những thập niên gần cuối thế kỷ XX tình hình tranh luận đó đãdịu đi một phần là do các nhà nghiên cứu có xu hướng chấp nhận một phần

Trang 19

cách tiếp cận "tổng hợp", "tích hợp" kiểu dung hòa và một phần khác là do xuhướng làm lý thuyết cấp trung bình mà Robert Merton đã đề ra Nhưng thời

kỳ êm dịu đó qua đi rất nhanh, ngay sau đó vào những năm cuối của thế kỷ

XX xu hướng nghiên cứu lý luận xã hội học lại hồi sinh Hàng loạt những câuhỏi hóc búa về lý luận đã được nêu lên, ví dụ: lý thuyết là gì? Đặc trưng của

xã hội học là gì? Tại sao lý thuyết xã hội học không phát triển nhanh, mạnhnhư các khoa học tự nhiên? Chuyện gì đang xảy ra với xã hội học? Có phải

xã hội học đang bế tắc về lý luận không?

Sự quan tâm tới thực trạng lý luận xã hội học lớn đến mức tạp chí

"Diễn đàn xã hội học" của Hiệp hội xã hội học phương Đông đã dành trọn một

số Tạp chí năm 1994 cho chuyên đề đặc biệt về: "Chuyện bất ổn gì đang xảy

ra với xã hội học" để đăng các bài viết khác nhau về vấn đề này Đồng thờicác tạp chí và các ấn phẩm chuyên ngành xã hội học cũng bày tỏ sự chú ý vàđưa ra những suy nghĩ góp phần giải quyết tình hình "khủng hoảng" lý luận

Nếu ở các nước phát triển sự khủng hoảng lý luận chủ yếu là do sảnxuất thừa - quá nhiều lý thuyết thuộc đủ mọi loại nhất là lý thuyết công tác thì

ở những nước mới phát triển xã hội học đang xảy ra khủng hoảng thiếu.Những năm gần đây ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều bài viết nghiêm túc cảnhbáo sự thiếu hụt lý thuyết trầm trọng trong nghiên cứu xã hội học và trong đàotạo – giảng dạy xã hội học Hố ngăn cách giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiêncứu thực nghiệm, giữa yếu tố lý luận và yếu tố quan sát đang bị khoét sâu vàtrở nên trầm trọng đòi hỏi phải có sự nâng cấp kịp thời Bản chất, biểu hiện,nguyên nhân và hậu quả của "chủ nghĩa kinh nghiệm trừu tượng" (AbstractedEmpiricism - còn dịch là chủ nghĩa thực nghiệm tách biệt) đã được W.Mills vàmột số tác giả vạch ra rất rõ ràng Điều nguy hại nhất đối với thực trạng này làviệc biến nghiên cứu thực nghiệm khoa học thành nghiên cứu theo chủ nghĩakinh nghiệm và tạo ra một thói quen độc đoán có áp lực của một hệ chuẩnmực - quy tắc của phương pháp xã hội học

Có thể thấy rằng, việc xã hội học bán rẻ linh hồn khoa học của mìnhcho chủ nghĩa kinh nghiệm dưới đủ mọi loại hình thức tất yếu làm tha hóa

Trang 20

chính bản thân nó Đồng thời cách làm xã hội học theo kiểu đào hố ngăn cáchvới lý thuyết tạo ra những sản phẩm "hao hao khoa học" tất yếu làm xói mònniềm tin từ phía xã hội đối với bản thân khoa học xã hội học.

Định nghĩa nêu trên có khả năng mở hướng thoát ra khỏi sự khủnghoảng đó, thoát khỏi nguy cơ đối tượng nghiên cứu bị "biến mất" Thực vậy,

có thể thấy rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học không phải ở chỗ hoặc

là nghiên cứu về "con người" hoặc là nghiên cứu về "xã hội" hay nghiên cứu

"cả hai: con người và xã hội" Vấn đề xã hội học cơ bản ở đây là nghiên cứumối quan hệ hữu cơ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, quan hệ biện chứng giữa mộtbên là con người với tư cách là cá nhân, nhóm và một bên là xã hội với tưcách là hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội

Nói một cách hình ảnh, vấn đề không phải là ở chỗ làm cho con người

và xã hội ngày càng xa nhau hay gộp lại, nhập lại làm một, cũng không đơnthuần là "bắc chiếc cầu thực nghiệm" nối hai bên Vấn đề cơ bản mang tínhtriết học của các lý thuyết xã hội học là mối quan hệ giữa con người và xã hội

Về mặt lý luận và phương pháp luận, nhiệm vụ của xã hội học hiện nay là:nghiên cứu các quy luật, tính quy luật, thuộc tính, đặc điểm, tính chất, cơ cấu,hình thức, điều kiện của sự hình thành, vận động và phát triển mối quan hệtác động qua lại giữa con người và xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa và trithức hóa nền kinh tế

3 Một số cặp chủ đề lý luận xã hội học

“Con người – Xã hội”

Các nhà nghiên cứu cho rằng xã hội không phải là tổng số các cá nhân.Nhưng thật phi lý khi lý thuyết xã hội học bàn về xã hội không có cá nhân.Ngược lại, bản thân các cá nhân đơn độc, riêng lẻ không tạo thành "cái xãhội" Thật khó có thể lý giải hành động của cá nhân nếu không thấy rằng chủthể của nó luôn chịu ảnh hưởng của người khác, chịu sự tác động từ phía xãhội

Trang 21

Để nghiên cứu quy luật hình thành, vận động và phát triển mối quan hệgiữa con người và xã hội, xã hội học trước hết phải quan tâm tới vấn đề kép

"con người - xã hội" Xã hội học cần trả lời các câu hỏi quan trọng như xã hội

là gì, con người là gì, nghiên cứu xã hội học về con người, về xã hội là nhưthế nào; từ đó tiến tới trả lời câu hỏi con người tác động tới xã hội như thếnào và ngược lại xã hội ảnh hưởng ra sao đối với con người

Khi nghiên cứu xã hội hay bàn về khái niệm xã hội, một số lý thuyết xãhội học chỉ tập trung tìm kiếm những kiểu, dạng xã hội đã định hình, nhữngkhuôn mẫu của hiện tượng, quá trình xã hội, hay vạch ra cấu trúc bên trongcủa xã hội; một số lý thuyết khắc họa bối cảnh, tình huống, và các giá trị nảysinh, biến đổi, phát triển cùng với hoàn cảnh, điều kiện xã hội; một số lýthuyết tập trung vạch ra mâu thuẫn giữa các lực lượng xã hội, những bất bìnhđẳng giữa các nhóm và cả những cái "không bình thường" trong quá trình tiếntriển xã hội

Sự thống nhất của các lý thuyết này là ở chỗ công khai thừa nhận hayngầm hiểu rằng bản chất của xã hội, "cái xã hội" chỉ có thể nghiên cứu đượcmột cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống trong mối quan hệ giữa con người và

xã hội

Gắn liền với khái niệm xã hội là khái niệm về bản chất con người Các

lý thuyết xã hội học không quan tâm nhiều lắm tới việc con người vốn là thiệnhay ác như một số nhà tư tưởng phương Đông hay phán định Điều chủ yếu

là luận giải xem hành vi con người có lý trí hay không lý trí, có sáng tạo haykhông sáng tạo; con người có vị trí, vai trò như thế nào trong xã hội; cá nhân

có điều kiện để bộc lộ và phát triển năng lực người tới mức độ nào; conngười có khả năng thích nghi và cải tạo hoàn cảnh lịch sử tới đâu

Lý thuyết xã hội học của Marx chủ yếu bàn về sự vận động, phát triểncủa xã hội nhưng đã chỉ ra phương pháp tiếp cận đúng đắn mối quan hệ "cánhân - xã hội", "hành động xã hội" - cấu trúc xã hội" Thực vậy, quan điểm duyvật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx tỏ ra đặc biệt ưu việt trong

Trang 22

việc giải quyết vấn đề triết học của xã hội học Marx nhấn mạnh rằng bản chấtcon người trong thực tế là tổng hòa các quan hệ xã hội.

Đặc biệt Marx luôn nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa con người

và xã hội và chỉ ra rằng xã hội tạo ra con người giống hệt như con người tạo

ra xã hội Về mối quan hệ hữu cơ này, Marx viết: "Con người làm ra lịch sửcủa chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trongnhững điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp cótrước mắt, đã cho và do quá khứ để lại"

Quan điểm của Marx mở ra khả năng hiện thực trong việc giải quyếthàng loạt những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với xã hội học ở nước ta hiệnnay Trong số đó có những câu hỏi quan trọng như: làm thế nào có thể kếthợp hài hòa lợi ích của cá nhân với lợi ích tập thể, của cộng đồng, của xãhội?

Nhưng ở một số nước, phải mãi tới những thập niên cuối của thế kỷ

XX, xã hội học mác xít mới thực sự thoát thai từ chủ nghĩa duy vật lịch sử đểtrở thành khoa học có vị trí xứng đáng trong hệ thống các khoa học xã hội vànhân văn góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội

“Hành động xã hội - cấu trúc xã hội"

Đối tượng nghiên cứu của xã hội học - mối quan hệ giữa con người và

xã hội - thể hiện đặc biệt rõ qua phân tích cặp vấn đề "hành động xã hội - cấutrúc xã hội"

Nói đến hành động xã hội của con người là nói đến động cơ, mục đích,điều kiện, phương tiện thực hiện mục đích đã định Hành động cũng có thểđược xem xét với nghĩa là một quá trình bao gồm các yếu tố chủ quan bêntrong như nhu cầu, tình cảm, ý thức và các yếu tố bên ngoài như đối tượng,công cụ, điều kiện, hoàn cảnh

Trong xã hội học, hành động xã hội được định nghĩa là tất cả nhữnghành vi và hoạt động của con người diễn ra trong khung cảnh lịch sử xã hộinhất định, là hành vi có mục đích, có đối tượng, là hành động hướng tới

Trang 23

người khác hay chịu ảnh hưởng của người khác Khái niệm hành động xã hội

là khái niệm cơ bản và quan trọng đến mức nó được coi là đối tượng nghiêncứu của xã hội học Max Weber từng cho rằng xã hội học là khoa học lý giảihành động xã hội Vilfredo Pareto quan niệm đối tượng của xã hội học là hànhđộng phi lô gích

Nói đến cấu trúc là nói đến tính hệ thống của một chỉnh thể, là mối liênkết của các bộ phận cấu thành nên một hệ thống Cấu trúc xã hội còn gọi là

cơ cấu xã hội là kiểu cách, là khuôn mẫu, là hình thái của mối quan hệ giữacon người và xã hội

Trong lịch sử xã hội học có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc xãhội Cũng tương tự như đối với hành động xã hội, cấu trúc xã hội được biểuhiện ra như là phức thể bao gồm các yếu tố vật chất có thể nhìn thấy được, ví

dụ như nhóm, tổ chức xã hội và các yếu tố tinh thần khó nhìn thấy như chuẩnmực, giá trị, quyền lực xã hội

Khi mới ra đời ở Pháp, như ta thấy, xã hội học được xác định là "khoahọc về xã hội", tức là khoa học nghiên cứu sự hình thành, biến đổi và chứcnăng của hệ thống xã hội, của cấu trúc xã hội Auguste Comte cho rằng xãhội học là môn khoa học về tiến trình biến đổi xã hội từ hình thức này sanghình thức khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác

Với chức năng chế ngự và kiểm soát hành động của con người, sựkiện xã hội được Durkheim hiểu như là cấu trúc xã hội Và ông cho rằng đốitượng của xã hội học là các "sự kiện xã hội" Điều đó có nghĩa là mối quan hệgiữa con người và xã hội được Durkheim xem xét thông qua mối quan hệgiữa cấu trúc xã hội và hành động xã hội, ở đó con người dường như bị xãhội, tức là sự kiện xã hội, kiểm soát, kiềm chế cũng như là được gắn kết vớinhau tạo thành xã hội

Trong khi hành động xã hội của con người bị xã hội hóa trên thực tếcũng như trong lý luận, thì bản thân "xã hội" lại bị "tự nhiên hóa" thông quanhững khái niệm của sinh vật học Không ít các lý thuyết xã hội học đã sửdụng tiếp cận sinh vật học và các khái niệm cơ bản như "cơ thể", "tiêu hóa",

Trang 24

"di truyền", "hữu cơ", "thích nghi" "chọn lọc tự nhiên", "đấu tranh sinh tồn", "tựđiều chỉnh" để nghiên cứu xã hội Thuyết tiến hóa xã hội của Spencer là một

ví dụ về cách vận dụng tri thức khoa học tự nhiên (sinh vật học) vào việc giảiquyết mối quan hệ giữa cấu trúc xã hội và hành động xã hội của con người

Khi mới xuất hiện và phát triển ở Mỹ, xã hội học vừa tiếp tục truyềnthống châu Âu là nghiên cứu hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội, vừa tiếp thutruyền thống khoa học hành vi của Mỹ là tập trung nghiên cứu các vấn đề conngười - nhu cầu, động cơ, nhân cách và hành vi, hành động xã hội của cánhân Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa hành vi và tâm lý học xã hội,một số tác giả quan niệm xã hội học là "khoa học về các cá nhân", là "khoahọc về hành vi xã hội" Thậm chí đến cuối thế kỷ XX, một số tác giả, một mặtkhẳng định xã hội học là khoa học liên ngành, mặt khác vẫn cho rằng đốitượng nghiên cứu chủ yếu của nó là hành vi người

Tuy nhiên, khi tập trung vào vấn đề của các cá nhân, xã hội học Mỹkhông lảng tránh, trái lại tập trung vào nghiên cứu các vấn đề xã hội Nhưngkhác với xã hội học châu Âu lý giải các hiện tượng xã hội từ góc độ hệ thống

xã hội, xã hội học Mỹ giải thích các vấn đề xã hội từ góc độ vị thế xã hội của

cá nhân theo cách tiếp cận của chủ nghĩa hành vi Đối với xã hội học châu

Âu, vấn đề là nhận thức được quy luật tổ chức và vận hành xã hội Đối với xãhội học Mỹ, vấn đề là giải thích tại sao, trong khi theo đuổi những lợi ích cánhân khác nhau, các cá nhân vẫn cùng nhau tạo ra được cấu trúc xã hội trật

tự, ổn định

Lý thuyết hệ thống về cấu trúc của hành động xã hội mà Parsons đưa

ra (1937) không những là lý thuyết tiêu biểu của trường phái xã hội học chứcnăng mà còn là một cách tiếp cận có hiệu quả để giải quyết mối quan hệ giữahành động xã hội và cấu trúc xã hội Luận điểm cơ bản của Parsons là sự tồntại của mỗi hệ thống do chức năng của hệ thống đó quy định Theo Parsons,

hệ thống nhân cách là một trong bốn (tiểu) hệ thống (văn hóa, kinh tế, xã hội,nhân cách) của tổng thể hệ thống xã hội Ngoài khái niệm "nhân cách",

Trang 25

Parsons sử dụng nhiều thuật ngữ rất "tâm lý học" như thích ứng, nhu cầu,mục đích để nói về hành động xã hội và các chức năng của hệ thống xã hội.

Lý thuyết xã hội (1949) của Robert Merton chú trọng nghiên cứu vấn đề

"chủ thể hành động" với nghĩa là con người có khả năng lựa chọn mục đích

và phương tiện để đạt được mục đích Theo ông, hành động người được coi

là đúng mực, là "bình thường" khi mục đích và phương tiện thực hiện nóđược coi phù hợp với hệ giá trị, chuẩn mực xã hội Khác đi là sự sai lệch xãhội với mức độ nặng nhẹ, nhiều ít khác nhau Điều đó càng chứng tỏ hànhđộng xã hội gắn liền với cấu trúc xã hội

Nhận thấy việc coi trọng nghiên cứu xã hội học về hành động xã hội vàtương tác xã hội vẫn chưa đủ, George Homans, một đại diện của lý thuyếthành động duy lý, cho rằng cần phải sử dụng triệt để các quy luật và nguyên

lý tâm lý học để giải thích hành vi xã hội của con người

Như vậy, từ nửa đầu thế kỷ XIX đến nay trong xã hội học đã xuất hiệnnhiều trường phái, xu hướng lý thuyết khác nhau Nhưng có thể thấy cácthuyết xã hội học đều hướng vào nghiên cứu các khía cạnh, các bình diện,các biểu hiện, các hình thức, các cơ chế, các đặc điểm, tính chất của mốiquan hệ giữa con người và xã hội

“Vĩ mô - vi mô” - và phương pháp luận xã hội học

Khi xác định đối tượng nghiên cứu là các quy luật của cả (hệ thống) xãhội thì xã hội học được gọi là xã hội học vĩ mô Các lý thuyết của H.Spencer,K.Marx, M.Weber, G.Simmel, T.Parsons và một số người khác chủ yếu dựavào phân tích xã hội học đối với những hiện tượng diễn ra trong cả hệ thống

xã hội, do vậy, thuộc về xã hội học vĩ mô Chẳng hạn, Spencer coi hệ thống

xã hội như là một cơ thể "siêu hữu cơ" gồm các cơ quan, bộ phận thực hiệncác chức năng khác nhau nhằm đảm bảo duy trì, "nuôi sống" cơ thể xã hội.Các lý thuyết xã hội học chức năng - cấu trúc sau này cũng dựa vào các luậnđiểm như vậy Xã hội là một hệ thống gồm các bộ phận chức năng hoạt động

và biến đổi chủ yếu theo quy luật và con đường thích nghi, tiến hóa nhiều hơn

là bằng con đường cách mạng

Trang 26

Ngược lại, khi xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các hiệntượng của cá nhân, nhóm nhỏ như hành động xã hội và tương tác xã hội thì

xã hội học được gọi là xã hội học vi mô Những lý thuyết xã hội học vi mô là lýthuyết về hành động xã hội, lựa chọn duy lý, trao đổi xã hội và thuyết tươngtác tượng trưng, v.v Các tác giả tiêu biểu của xã hội học vi mô là M Weber,G.Simmel, H.Mead, E.Goffman G.Homans, J.Habermas và những ngườikhác

Ví dụ, Mead, một tác giả của thuyết tương tác biểu trưng, cho rằng xãhội được tạo thành từ các cá nhân tương tác với nhau Homans cho rằngtương tác người và hành động xã hội có thể được giải thích bằng cách quy vềhành vi tâm lý hoạt động theo nguyên tắc "thưởng-phạt" Cá nhân có xuhướng lặp lại các hành động mà nhờ đó họ đã được thưởng dưới các hìnhthức khác nhau Goffman giải thích rằng các cá nhân hành động giống nhưcác diễn viên đóng vai trên sân khấu Họ đóng các vai khác nhau nhằm tạo ra

ấn tượng và hình ảnh đẹp đẽ về mình ở trong con mắt người khác

Tương tự như chủ đề "cá nhân - xã hội" và "hành động xã hội - cấu trúc

xã hội", chủ đề kép "vĩ mô - vi mô" liên quan mật thiết tới vấn đề lý luận vàphương pháp Các nhà xã hội học vĩ mô và xã hội học vi mô phải đương đầuvới câu hỏi: xã hội học là xã hội học vi mô hay xã hội học vĩ mô, hay là cảhai?

Kinh nghiệm lịch sử cho biết không nên vội vàng trả lời thẳng nhữngcâu hỏi này Trên thực tế, ta rất khó lựa chọn một trong ba phương án trả lời

đã có sẵn Để không bị bế tắc về lý luận và phương pháp nghiên cứu, ta cóthể trả lời là việc phân chia xã hội học vĩ mô và xã hội học vi mô chỉ mang tínhchất tương đối, ước lệ Bởi vì đối tượng nghiên cứu của xã hội học là mốiquan hệ giữa con người và xã hội chứ không phải hoặc là con người, hoặc là

xã hội

Thực vậy, về mặt phương pháp nghiên cứu, các nhà xã hội học vĩ môgặp phải khó khăn to lớn là những thay đổi ở cấp xã hội, dân tộc, tổ chứcthường trải dài theo thời gian và không gian, thường diễn ra rất chậm chập và

Trang 27

vì vậy rất khó quan sát, khó nắm bắt Do đó rất khó nghiệm chứng các giảthuyết khoa học rút ra từ các khái niệm, các lý thuyết của xã hội học vĩ mô.

Xã hội học vi mô chủ trương nghiên cứu những hiện tượng xã hội trongđời sống thường ngày của các cá nhân và quan hệ, tương tác giữa các cánhân Vấn đề nan giải của phương pháp luận xã hội học thuần túy vi môkhông chỉ ở chỗ các hiện tượng cá nhân diễn ra rất năng động tinh vi, phứctạp, cũng không phải chỉ ở chỗ các cá nhân cụ thể hành động rất khác nhau

Mà ở chỗ trong nhiều trường hợp dù có nắm chắc đặc điểm của từng cá nhân

ta vẫn không thể giải thích được hành vi của họ trong nhóm hay hành vi củanhóm người

Hành vi của cá nhân dường như bị "bàn tay vô hình" sắp đặt Các nhà

xã hội học kinh tế cho rằng "bàn tay vô hình" là cơ chế thị trường có khả năngchi phối hành vi tiêu dùng của khách hàng và quy định hành vi kinh doanh củanhà sản xuất Các nhà xã hội học cho đó là "bàn tay vô hình" của cấu trúc xãhội, thực chất là của hệ thống các giá trị, các chuẩn mực xã hội, v.v

Một mặt, xã hội học vi mô rất khó có thể giải thích hành vi xã hội củahàng nghìn hay hàng triệu cá nhân nếu không sử dụng cách tiếp cận vĩ mô.Khi nghiên cứu về dư luận xã hội, về ảnh hưởng của đổi mới kinh tế tới thunhập và việc làm của người dân thành thị, các chuyên gia phải dựa vào tậphợp mẫu và cách tính "trung bình" Mặt khác, nhiều hành vi diễn ra ở cấp cánhân nhưng lại có tầm ảnh hưởng ở cấp vĩ mô Ví dụ, các quyết định và cáchành động của các vị anh hùng, các vĩ nhân trong lịch sử hay nhóm các nhàlãnh đạo có ảnh hưởng sâu rộng tới toàn xã hội Rõ ràng, các hành động cánhân, các tương tác giữa các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng vượt ra ngoàiphạm vi cá nhân, "vi mô" để lại hệ quả nhiều mặt và lâu dài đối với hàng triệu

cá nhân và nhiều thế hệ, tức là phạm vi vĩ mô

Không chỉ mối tương tác cá nhân mới diễn ra ở cấp vi mô, mà ngay cảcác quá trình của cấu trúc xã hội và thiết chế xã hội cũng diễn ra ở cấp vi mô

Ví dụ, có thể quan sát thấy những thay đổi trong chính sách kinh tế, xã hộicủa nhà nước ở hoạt động kinh tế của các nhà doanh nghiệp Bản thân các tổ

Trang 28

chức xã hội cũng có thể được phân tích với tư cách là chủ thể xã hội có nhucầu, mục đích và các nguồn lực để hành động nhằm mục tiêu, kế hoạch đãxác định.

Các nhà nghiên cứu có xu hướng kết hợp cả hai cấp phân tích vĩ mô và

vi mô Việc đặt xã hội học vĩ mô đối lập xã hội học vi mô đang lùi vào dĩ vãng.Trong những thập kỷ gần đây, một số nhà nghiên cứu như Pierre Bourdieu,James Coleman, Jon Elster đã cố gắng đưa ra những giải pháp theo hướng

"tích hợp" đặt cầu nối xã hội học vĩ mô với xã hội học vi mô Chẳng hạn, cótác giả nói tới cấp nghiên cứu "trung gian" giữa vĩ mô và vi mô Đó là việcphân tích theo nhóm, theo tập hợp mẫu và nghiên cứu tình huống hoặc thiết

kế những công cụ tinh tế, sắc bén để thu thập thông tin từ cá nhân có thể hiểuđược nhóm, xã hội, v.v

Nhưng ngay cả khi sử dụng cấp phân tích trung gian là nhóm thì vẫncòn khó khăn phải giải quyết Thứ nhất, các hiện tượng, quá trình của nhómkhông đơn thuần do hành vi của mỗi cá nhân gộp lại, cộng lại Thứ hai, so với

cá nhân thì nhóm vẫn là vĩ mô Việc xác định và thực hiện "bước nhảy vọt" từhành vi cá nhân sang hành vi nhóm, hành vi người sang hành vi xã hội là mộtnhiệm vụ lý luận và phương pháp luận

Có thể và cần phải tìm ra cơ chế chuyển đổi, "quá độ" cấp phân tích từ

"vĩ mô" sang "vi mô", từ nhóm sang cá nhân trong mối quan hệ giữa conngười và xã hội Thuyết "cấu trúc hóa" của nhà xã hội học người Anh AthonyGiddens là một ví dụ về sự nỗ lực nghiên cứu theo hướng tìm kiếm quá trìnhđịnh hình và tái tạo cấu trúc xã hội thông qua hành động xã hội của các cánhân

Tóm lại, thực chất của các cuộc tranh luận khoa học về các cặp chủ đề

"con người - xã hội", "hành động xã hội - cấu trúc xã hội" và "vĩ mô - vi mô"đều xoay quanh cái trục vấn đề triết học - xã hội học: mối quan hệ giữa conngười và xã hội Các câu hỏi nghiên cứu lý luận và thực nghiệm xã hội họccòn đang bỏ ngỏ, ví dụ là: hành động có mục đích, có ý thức, có đối tượngcủa con người tác động như thế nào tới xã hội nói chung và cơ cấu xã hội nói

Trang 29

riêng? Hoàn cảnh, điều kiện xã hội có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt độngthực tiễn và hành động của con người?

4 Vấn đề phân kỳ lịch sử phát triển xã hội học

Các giai đoạn phát triển của xã hội học

Cùng với vấn đề xác định đối tượng nghiên cứu là vấn đề phân chiacác giai đoạn phát triển của xã hội học Câu hỏi đặt ra là: cho đến nay, xã hộihọc đã trải qua những thời kỳ phát triển nào? Câu trả lời không đơn giản, tráilại rất phức tạp Mặc dù, giống như mọi khoa học khác, bối cảnh lịch sử kinh

tế chính trị - xã hội luôn chi phối sự phát triển của xã hội học, nhưng rất khó

có thể chỉ dựa vào đặc điểm bên ngoài sự phát triển của bản thân khoa học

để phân kỳ lịch sử của nó Lịch sử xã hội học không phải một cái gì đó đứng

im, xám ngắt, tẻ nhạt mà như một "cây đời mãi mãi xanh tươi" Có thể phânbiệt một số giai đoạn phát triển chủ yếu của xã hội học như sau:

Giai đoạn thứ nhất: xã hội học vừa mới ra đời và ngay lập tức phải

đấu tranh vì quyền sống của nó với tư cách là một khoa học có vị trí độc lậpnhư mọi khoa học khác

Thời kỳ này bắt đầu bằng sự kiện A Comte đóng vai trò là "bà đỡ" cho

xã hội học ra đời ở Pháp Giai đoạn này kéo dài cho đến khi xảy ra hàng loạtcác sự kiện quan trọng, nổi bật Đó là việc G.Simmel đưa môn xã hội học vàogiảng dạy ở một trường đại học của Đức (1885), A Small đề nghị thành lậpKhoa xã hội học đầu tiên trên thế giới ở trường Đại học tổng hợp Chicago của

Mỹ (1892), E.Durkheim chính thức đưa môn xã hội học vào giảng dạy trongtrường đại học của Pháp (1895) và cho ra đời Tạp chí Năm xã hội học (AnnéeSociologique) (1896)

Về niên đại, thời kỳ này bắt đầu từ những năm 1830-1840 – khi Comtexuất bản bộ sách về triết học thực chứng, trong đó có bàn về xã hội học vàkết thúc vào thập niên cuối thế kỷ XIX khi một số trường đại học trên thế giớithành lập khoa xã hội học Có thể xác định chính xác hơn điểm bắt đầu thời

Trang 30

kỳ thứ nhất là năm 1838 – năm Comte khai sinh ra một lĩnh vực khoa học mới

và đặt tên nó là xã hội học

Có thể coi điểm kết thúc thời kỳ này là những năm cuối thế kỷ XIX,trong đó năm 1892 là năm thành lập Khoa Xã hội học đầu tiên trên thế giới tạitrường Đại học tổng hợp Chicago theo sáng kiến của Albion Small (1854-1926) Small cùng với George Vincent là những tác giả của cuốn sách giáokhoa đầu tiên về xã hội học xuất bản năm 1894

Như vậy, những chỉ báo quan trọng kết thúc thời kỳ thứ nhất là sự xuấthiện khoa xã hội học, tạp chí xã hội học, sách giáo khoa xã hội học và đội ngũcác nhà xã hội học làm công tác nghiên cứu - giảng dạy xã hội học trong cáctrường Đại học tổng hợp và các viện nghiên cứu

Giai đoạn thứ hai: xã hội học khẳng định vị trí và vai trò của nó trong

xã hội và trong hệ thống tri thức khoa học của loài người

Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là xã hội học sống cuộc sống riêngcủa nó và phát huy được tác dụng đối với đời sống xã hội của con người.Trong thời kỳ này xã hội học phát triển thành nhiều chủ thuyết, trường phái lýthuyết khác nhau trên khắp thế giới nhất là ở Mỹ và một số nước châu Âu.Đặc biệt trong thời kỳ này xã hội học chuyển mạnh sang hướng nghiên cứuthực nghiệm về "các vấn đề xã hội" do các nhà xã hội học được đào tạochuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực và từ nhiều nơi khác nhau thực hiện Xã hộihọc được đưa vào giảng dạy trong nhiều trường đại học trên thế giới Tri thức

và phương pháp xã hội học được sử dụng trong nhiều tổ chức kinh tế - xãhội, viện nghiên cứu, hiệp hội nghề nghiệp góp phần nâng cao chất lượng vàhiệu quả hoạt động Đặc biệt đội ngũ các nhà xã hội học, các chuyên gia, cácnhà nghiên cứu và các nhà hoạt động chuyên nghiệp xã hội học ngày một lớnmạnh

Giai đoạn này bắt đầu vào thời điểm kết thúc giai đoạn trước tức là vàocuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ Giai đoạn thứ hai có thể được phân chia thànhmột số thời kỳ khác nhau Ví dụ lấy mốc Thế chiến thứ hai ta có giai đoạntrước chiến tranh và giai đoạn sau chiến tranh

Trang 31

Thời điểm kết thúc giai đoạn thứ hai chưa được xác định chính xácnhưng có thể thấy là vào những thập niên cuối của thế kỷ XX xuất hiện nhữngdấu hiệu, những mầm mống, những tiền đề của một giai đoạn phát triển mớicủa xã hội học.

Giai đoạn thứ ba: xã hội học đi vào cuộc sống Đó là thời kỳ xã hội

học, giống như các khoa học khác, trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếpcủa xã hội

Những sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi sang giai đoạnnày là việc vận dụng ngày càng có hiệu quả tri thức khoa học xã hội học vàoviệc đánh giá, đo lường và đề ra các biện pháp cải thiện đời sống Cùng vớicác chỉ báo kinh tế đã xuất hiện những chỉ báo kinh tế - xã hội như HDI(Human Development Index - chỉ số phát triển người), HPI (Human PovertyIndex - chỉ số người nghèo) và GDI (Gender Development Index – chỉ số pháttriển giới) Trong đội ngũ những cán bộ của chương trình, dự án kinh tế xã hội

và trong các tổ chức cơ quan các cấp, các ngành đã xuất hiện các nhà xã hộihọc đảm nhiệm các cương vị, các chuyên môn khác nhau Tóm lại, cùng vớicác khoa học khác, xã hội học bắt đầu trở thành một bộ phận của lực lượngsản xuất trực tiếp

Phân vùng lịch sử phát triển xã hội học

Có thể xem xét lịch sử phát triển của xã hội học trên phạm vi từng khuvực địa lý - chính trị - văn hóa Cụ thể, xã hội học phát triển thành những dònglịch sử đặc trưng cho từng điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà nó

ra đời và trưởng thành Nói một cách khác, câu chuyện lịch sử của xã hội học

có thể được kể lại bằng ngôn ngữ và với cách thức của từng nơi khác nhauvới các nhân vật cụ thể của mỗi nơi

Theo cách tiếp cận địa - chính trị - văn hóa này ta có thể tìm hiểu lịch

sử của từng nền xã hội học như sau:

Thứ nhất là lịch sử xã hội học Pháp bắt đầu bằng các công trình nghiêncứu của A Comte và E Durkheim cho đến các công trình của các nhà xã hội

Trang 32

học Pháp hiện nay trong đó quan trọng nhất phải kể đến P Bourdieu và một

số người khác

Thứ hai là lịch sử xã hội học Đức với những tác phẩm nền móng củacác nhà xã hội học vĩ đại Karl Marx, M Weber, G Simmel và các nghiên cứucủa các tác giả khác, trong số đó có J Habermas

Thứ ba là lịch sử xã hội học Anh với lý thuyết xã hội học tiến hóa của H.Spencer, hình học xã hội và lý thuyết "cấu trúc hóa" của A Giddens và nhiềutác giả khác

Thứ tư là lịch sử xã hội học Mỹ với lý thuyết tương tác biểu trưng củaH.Mead và các đồng sự, thuyết hệ thống xã hội - hành động xã hội củaT.Parsons và R.Merton, thuyết trao đổi xã hội của G.Homans và P.Blau vànhiều lý thuyết khác

Ngoài các dòng lý thuyết xã hội học nảy sinh và phát triển những nướcnêu trên cần phải kể tới lịch sử các nền xã hội học của các nước công nghiệpphát triển khác, các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển

Đặc biệt cần tính đến lịch sử phát triển nền xã hội học mác xít ở nhữngnước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xã hội học mác xít lấy họcthuyết Marx làm cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

Phân kỳ nhiệm vụ lịch sử của xã hội học

Một cách phân kỳ đặc trưng của lịch sử khoa học là dựa vào sự xuấthiện những nhiệm vụ lý luận có tính thời đại mà nó phải giải quyết Sự pháttriển xã hội học là quá trình vận động bên trong của nó với sự xuất hiện, biếnđổi bộ máy khái niệm và phương pháp luận nghiên cứu xã hội học tương ứngvới những nhiệm vụ đặt ra Trên cái trục quan hệ giữa con người và xã hộixuyên suốt lịch sử xã hội học ta có thể thấy một số cột mốc lớn đánh dấutừng chặng đường mà xã hội học đã trải qua Mỗi chặng đường đó đặc trưngbởi một số nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản Do đó, căn cứ vào nhiệm vụ lý luận,câu hỏi nghiên cứu của từng thời đại ta có thể phân kỳ lịch sử xã hội học nhưsau:

Trang 33

Thời kỳ thứ nhất: xã hội học tập trung trả lời câu hỏi trật tự xã hội là gì,

biến đổi xã hội là gì? Thời kỳ này xã hội học chủ yếu dựa vào cách tiếp cận vĩ

mô với những phạm trù cơ bản như "hệ thống xã hội", thiết chế xã hội", "cấutrúc xã hội" Phương pháp nghiên cứu của thời kỳ này chủ yếu đang ở dạnghình thành, tìm tòi và thử nghiệm trên cơ sở vận dụng các phương pháp luậncủa khoa học tự nhiên và phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa Thời

kỳ này diễn ra chủ yếu vào cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX

Thời kỳ thứ hai: xã hội học tập trung trả lời câu hỏi về hành động xã hội

của cá nhân Nhiệm vụ của xã hội học là tìm hiểu xem bằng cách nào mà mỗi

cá nhân khi theo đuổi mục đích riêng của mình nhưng vẫn cùng nhau tạothành một cái gì đó chung gọi là "xã hội"? Các lý thuyết và các phạm trù cơbản của thời kỳ này là "cấu trúc hành động", "tương tác biểu trưng", "trao đổi

xã hội", v.v Xã hội học thời kỳ này chủ yếu dựa vào phương pháp tiếp cận vi

mô - nghiên cứu đời sống xã hội của cá nhân và nhóm Thời kỳ này chủ yếudiễn ra vào khoảng giữa thế kỷ XX

Thời kỳ thứ ba: xã hội học tập trung vào trả lời câu hỏi về cơ chế liên

hệ, quan hệ giữa cá nhân, nhóm, tổ chức và cộng đồng xã hội Một số lýthuyết xã hội học đã ra đời trên cơ sở vận dụng phương pháp tiếp cận "cầunối" vi mô - vĩ mô, phương pháp tổng -tích hợp để nghiên cứu cả con người

và xã hội Các lý thuyết hậu cấu trúc, hậu chức năng, hậu hiện đại, lý thuyếtgiới đã ra đời trong thời kỳ này Đặc biệt là những nỗ lực liên kết vĩ mô - vi

mô, cấu trúc và hành động thể hiện qua những lý thuyết như lý thuyết "cấutrúc hóa" của A Giddens Thời kỳ này chủ yếu diễn ra trong những thập niêncuối thế kỷ XX

Hiện nay đã xuất hiện các cơ sở và các tiền đề lý luận và phương phápluận để có thể giải quyết những nhiệm vụ mới đặt ra trong tình hình mới.Trong số đó nổi bật lên các câu hỏi như: đặc điểm và tính chất của mối quan

hệ hài hòa giữa con người và xã hội là gì? Mối quan hệ hài hòa đó nảy sinh,hình thành và diễn biến như thế nào trong xu thế toàn cầu hóa? Tuy nhiên,

Trang 34

cần thấy rằng phần lớn các câu hỏi này như vừa mới được nêu lên, đang bỏngỏ với biết bao các cơ hội và thách thức đang đặt ra.

Việc phân chia các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử hay cách xem xét từngnền xã hội học trên thế giới cũng như từng vòng khâu của sự phát triển xã hộihọc như nêu trên chỉ mang ý nghĩa tương đối Mỗi một lý thuyết xã hội học chỉ

ra đời trong một bối cảnh lịch sử xã hội nhất định Nhưng một lý thuyết có thểsống trong một hay nhiều thời đại

Trong mỗi giai đoạn lịch sử có thể xuất hiện nhiều lý thuyết xã hội họckhác nhau, thậm chí đối lập với nhau, đan xen, xâm nhập vào nhau, tiếp biếnlẫn nhau Một nhà xã hội học có thể đưa ra một số quan niệm, một số lýthuyết thuộc các trường phái, chủ thuyết khác nhau

Do vậy, điều quan trọng khi bàn về lịch sử xã hội học trên thế giới làthấy được sự thống nhất trong tính đa dạng, phong phú của các quan niệm,các lý thuyết xã hội học Sự thống nhất này không phải là kết quả của trò chơichữ như cách nói: tất cả các nhà lý luận xã hội học đều nhất trí với nhau làkhông có lý thuyết chung Hạt nhân của sự thống nhất các nhà xã hội học làvấn đề cơ bản mang tính triết học của xã hội học Mỗi lý thuyết, mỗi quanniệm phản ánh mỗi biểu hiện khác nhau, mỗi đặc điểm, mỗi tính chất khácnhau của mối quan hệ giữa con người và xã hội trong mỗi loại tình huống lịch

Trang 35

Đặc biệt trong những thập kỷ qua, lý thuyết giới nổi lên như là mộthướng nghiên cứu có tính cách mạng trong khoa học xã hội và phương phápluận tiếp cận các vấn đề xã hội Đối tượng nghiên cứu của khoa học về giới là

sự nảy sinh, vận động và biến đổi mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới trong

xã hội Các lý thuyết giới rõ ràng là hướng phát triển quan trọng của lý luận xãhội học về mối quan hệ giữa con người và xã hội

Sự khác nhau về phương pháp tiếp cận vấn đề cơ bản của xã hội học

là căn cứ phân biệt các lý thuyết thành nhóm xã hội học vĩ mô và xã hội học vi

mô, xã hội học định lượng và xã hội học định tính, thành xã hội học mác xít và

xã hội học phi mác xít, xã hội học phương Tây và xã hội học phương Đông,v.v

Lịch sử phát triển của xã hội học càng sản sinh ra nhiều lý thuyết vàphương pháp khoa học bao nhiêu thì càng chứng tỏ nó có khả năng bấynhiêu trong việc đi sâu tìm hiểu bản chất mối quan hệ giữa con người và xãhội trong quá trình nảy sinh, vận động và phát triển không ngừng

Chương III XÃ HỘI HỌC AUGUSTE COMTE (1798-1857)

Xã hội học là khoa học về các quy luật của tổ chức xã hội - A Comte

1 Sơ lược tiểu sử

Auguste Comte (1798-1857), tên đầy đủ là Isidore Auguste MarieFrancois - Xavier Compte, nhà lý thuyết xã hội, nhà triết học thực chứngngười Pháp là người khai sinh Xã hội học (Sociologie) August Comte sinhnăm 1798 trong một gia đình Giatô giáo theo xu hướng quân chủ, nhưng ôngsớm trở thành một người có tư tưởng tự do và cách mạng Năm 1814 ôngvào học ở trường Đại học Bách khoa Năm 1817, làm thư ký cho Saint Simon(1760-1825) Năm 1826 ông bắt đầu giảng giáo trình triết học thực chứng.Ông mất năm 1857

Auguste Comte đã từng học y học, sinh lý học, triết học ở trường Báchkhoa và sau này là người sáng lập ra Hiệp hội thực chứng luận Comte chịuảnh hưởng của triết học ánh sáng (Phục hưng) và chứng kiến các biến động

Trang 36

chính trị xã hội, các cuộc cách mạng công nghiệp và cuộc xung đột giữa khoahọc và tôn giáo ở Pháp.

Công trình nghiên cứu cơ bản của Auguste Comte là Triết học thựcchứng (The Positive Philosophy) gồm nhiều tập xuất bản năm 1830-1842, và

Hệ thống chính trị học thực chứng (System of Positive Polity) xuất bản năm

1851 - 1854

2 Quan niệm về xã hội học và cơ cấu bộ môn xã hội học

Tư tưởng xã hội học của Auguste Comte chịu ảnh hưởng của khoa học

tự nhiên như vật lý học, sinh vật học Điều này thể hiện ở quan niệm củaComte về đối tượng nghiên cứu xã hội học cũng như về cách phân loại xã hộihọc Theo ông, xã hội học là khoa học về xã hội với các bộ phận cấu thành vàcác quá trình của nó Vận dụng mô hình nhận thức của khoa học tự nhiên,Comte gọi xã hội học bằng một tên khác là vật lý học xã hội (Social Physics)

Xã hội học bao gồm hai bộ phận cơ bản là:

Tĩnh học xã hội (Social Statics) chuyên nghiên cứu thành phần và cấutrúc xã hội của hệ thống xã hội loài người

Động học xã hội (Social Dynamics) chuyên nghiên cứu các quá trìnhvận động, biến đổi xã hội để tìm ra các quy luật xã hội

Tĩnh học xã hội và các yếu tố cấu thành xã hội

Comte định nghĩa tĩnh học xã hội là một bộ phận xã hội học nghiên cứutrật tự xã hội, cấu trúc xã hội, các thành phần và các mối liên hệ của chúng,tức là tất tả những yếu tố có thể coi là ổn định, "tĩnh" của xã hội

Lúc đầu, Comte nghiên cứu các cá nhân với tư cách là những thànhphần hay đơn vị cấu thành của cấu trúc xã hội Khi phân tích như vậy, ôngxem cá nhân với tư cách là một tập hợp, một hệ thống gồm: (1) các năng lực

và nhu cầu đã có sẵn, bên trong cá nhân, và (2) các nhu cầu, năng lực tiếpthu được từ bên ngoài qua quá trình cá nhân tham gia vào xã hội, tức là quaquá trình xã hội hóa

Trang 37

Sau đó, quan niệm xã hội học của Comte thay đổi theo hướng coi cánhân không phải là "đơn vị xã hội đích thực" của cấu trúc xã hội Thay vào đó,ông tập trung vào tìm hiểu thiết chế xã hội Ông cho rằng, việc nghiên cứu về

cá nhân thuộc về lĩnh vực sinh vật học chứ không phải lĩnh vực khoa học xãhội; nghiên cứu xã hội học chủ yếu nhằm vào phân tích các "đơn vị xã hội",

cụ thể là các thiết chế xã hội, các tổ chức xã hội

Đơn vị xã hội cơ bản nhất, sơ đẳng nhất có mặt trong tất cả các kiểu,các loại xã hội là "gia đình" Khi phân tích gia đình với tư cách là thiết chế xãhội cơ bản, Comte chủ yếu nghiên cứu thành phần và cấu trúc của gia đình,

sự phân công lao động nam nữ trong gia đình và quan hệ giữa các thành viêntrong gia đình, đặc biệt là quan hệ giữa cha mẹ và con cái Nhưng các nghiêncứu của Comte về gia đình mang tính sơ lược và thiếu đầy đủ, nhất là so vớicác công trình nghiên cứu của Marx, Engels và một số tác giả khác ở cuối thế

kỷ XIX

Điều thực sự có ý nghĩa về lý luận xã hội học là ở quan niệm củaComte về cấu trúc xã hội Theo Comte, cấu trúc xã hội với tư cách là một hệthống bao giờ cũng được tạo nên từ các cấu trúc xã hội khác nhỏ hơn, đơngiản hơn gọi là tiểu cấu trúc xã hội Do đó, hiểu được cấu trúc xã hội có nghĩa

là nắm bắt được các đặc điểm, các thuộc tính và các mối liên hệ của các tiểucấu trúc xã hội Tĩnh học xã hội tập trung vào nghiên cứu được cấu trúc xãhội của các thiết chế xã hội như gia đình, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật và tổchức xã hội

Comte đã phân tích cấu trúc xã hội của xã hội và cho rằng nó phát triểntheo con đường tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Sự pháttriển của xã hội biểu hiện qua sự phân hóa, đa dạng hóa và chuyên môn hóachức năng, cũng như mức độ liên kết giữa các tiểu cấu trúc xã hội

Comte đã đặt ra những câu hỏi nghiên cứu cơ bản, xuyên suốt toàn bộ

xã hội học Pháp thế kỷ XIX Đó là: Trật tự xã hội là gì? Làm thế nào thiết lập

và duy vì được trật tự xã hội? Làm thế nào duy trì được mối liên kết giữa các

Trang 38

bộ phận (các tiểu cấu trúc xã hội) khi mức độ phân hóa chức năng của chúngngày một tăng lên trong xã hội?

Comte vạch ra phương hướng trả lời các câu hỏi như vậy qua việcnhấn mạnh vai trò của thiết chế nhà nước, thiết chế văn hóa, yếu tố tinh thần

xã hội và nhất là sự phân công lao động Trước hết, ông cho rằng ngoài sựphụ thuộc lẫn nhau, sự tập trung quyền lực vào tay nhà nước (chính phủ) chophép điều hòa, phối hợp và liên kết các bộ phận của hệ thống xã hội và chốnglại được sức ép của sự phân hóa, phân rã xã hội Thứ hai, ngoài hành động

"vật chất" của chính phủ, yếu tố trí tuệ và đạo đức, thiện chí và thiện cảm củacác thành viên xã hội đóng vai trò là nhân tố duy trì sự liên kết, nhất trí, sự ổnđịnh, trật tự xã hội Ông cho rằng các yếu tố như ngôn ngữ là công cụ giaotiếp đã góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cá nhân trong xãhội; tôn giáo tạo ra niềm tin giúp con người vượt qua những cảm giác cô đơn,

sợ hãi để cùng nhau đạt mục tiêu chung Thứ ba, sự phân công lao động theohướng chuyên môn hóa là yếu tố làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các cánhân trong xã hội và tạo ra những cấu trúc xã hội có khả năng duy trì sự ổnđịnh và trật tự xã hội

Tóm lại, đối tượng nghiên cứu tĩnh học xã hội là cấu trúc xã hội và trật

tự xã hội

Động học xã hội và quy luật ba giai đoạn

Comte quan tâm đặc biệt đến bộ phận xã hội học mà ông gọi tên làđộng học xã hội (social dynamics) Đó là lĩnh vực nghiên cứu các quy luậtbiến đổi xã hội trong quá trình lịch sử của nó

Qua việc tìm hiểu sự vận động của xã hội, Comte đưa ra "quy luật bagiai đoạn" để giải thích sự phát triển lịch sử xã hội của các hệ thống tư tưởng

và hệ thống cấu trúc xã hội tương ứng Theo quy luật này, lịch sử xã hội vàlịch sử trí tuệ của loài người phát triển qua ba giai đoạn ứng với ba trạng tháicủa tri thức người Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn thần học - tưởng tượng.Giai đoạn thứ hai là giai đoạn siêu hình - trừu tượng Và giai đoạn thứ ba làgiai đoạn thực chứng - khoa học

Trang 39

Trong giai đoạn thứ nhất mọi quan niệm chung và quan niệm riêng đều

bị chi phối bởi sự tưởng tượng về thế lực siêu tự nhiên, siêu nhân Các sựkiện thực được giải thích một cách thần bí và bằng các sự kiện do con ngườitưởng tượng ra Quan hệ xã hội bị chi phối bởi quan hệ quân sự của quốc gia

do thường xuyên bị lôi kéo vào các cuộc tranh giành lãnh thổ và bảo vệ lãnhthổ Do vậy, Comte còn gọi giai đoạn đầu tiên này của lịch sử loài người làthời đại thần học - quân sự Nhìn chung, giai đoạn này tương ứng với thời đạichiếm hữu nô lệ trong lịch sử loài người

Giai đoạn thứ hai còn được Comte gọi là thời đại siêu hình - luật phápvới những đặc trưng của thời kỳ quá độ từ giai đoạn thứ nhất - thơ ấu sanggiai đoạn thứ ba - trưởng thành của loài người Trong thời đại này những gìquan sát được vẫn còn bị chi phối bởi trí tưởng tượng của con người Nhưngvai trò của các bằng chứng trở nên rõ rệt và buộc quan niệm của đầu óc conngười phải thay đổi cho phù hợp với thực tế Quan hệ xã hội nhất là quan hệgiữa các tổ chức kinh tế - xã hội không còn bị quy định một cách cứng nhắc,một chiều vì mục tiêu quân sự nữa, mà thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻonhằm vào mục tiêu kinh tế Các hoạt động sản xuất trong thời đại trước chủyếu nhằm phục vụ mục tiêu quân sự - chiến tranh thì trong thời đại này đãchuyển sang thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, đồng thời vai trò của phápluật được nâng cao Thời kỳ này tương ứng với thời phong kiến

Tiếp theo thời đại thứ hai này, lịch sử loài người bước vào thời đại thứ

ba - thời đại thực chứng - khoa học Đặc trưng của thời kỳ này là yếu tố quansát và bằng chứng chi phối mạnh trí tưởng tượng của con người Tri thứckhoa học thực chứng thống trị sự hiểu biết của con người Toàn bộ các quan

hệ xã hội được thiết lập và vận hành trên cơ sở quan hệ sản xuất côngnghiệp Do vậy, Comte còn gọi đây là thời đại khoa học - công nghiệp

Về việc lãnh đạo và quản lý xã hội, Comte cho rằng trong giai đoạn thứnhất vai trò đó thuộc về những người nắm giữ vị trí cao trong hệ thống tổchức tôn giáo, ví dụ giáo sĩ, mục sư, tăng lữ Trong giai đoạn thứ hai vai trò

đó thuộc về các nhà thông thái, các nhà triết học Trong giai đoạn thứ ba, các

Trang 40

nhà hoa học và các nhà thực chứng luận mới có khả năng đóng vai trò là thủlĩnh, lãnh đạo và quản lý xã hội.

Comte tin rằng, trong thời đại khoa học công nghiệp, tức là giai đoạnthứ ba của lịch sử văn minh, con người có thể kiểm soát, quản lý xã hội mộtcách hợp lý, khoa học nhờ nắm vững và giải thích một cách khoa học - thựcchứng sự vận hành của xã hội Trong số các tri thức khoa học cần cho quản

lý xã hội trước hết cần phải kể đến các quy luật của tĩnh học xã hội và độnghọc xã hội, tức là tri thức xã hội học

Theo quy luật ba giai đoạn của Comte, lịch sử là quá trình liên tục kếthừa trong đó mỗi giai đoạn trước là tiền đề cho sự phát triển của mỗi giaiđoạn sau Ví dụ, nếu không có hệ thống dòng họ thì khó có thể phát triển các

hệ thống tiếp theo như hệ thống chính trị, luật pháp, quân đội và hệ thống xãhội công nghiệp hiện đại sau này

Theo quy luật này, lịch sử tiến hóa xã hội diễn ra theo con đường tíchlũy: các tư tưởng mới, các hệ thống cơ cấu mới liên tục được xây dựng, được

bổ sung để thích nghi với những điều kiện mới của môi trường luôn biến đổi

Ví dụ, trong xã hội hiện đại, dòng họ không bị mất đi, cũng như các tư tưởngthần bí, siêu hình không hoàn toàn bị biến mất mà chúng thay đổi tương ứngvới điều kiện kinh tế - xã hội

Sự biến đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác không "trôi chảy, nhẹnhàng", mà thường trải qua những bất ổn định, mâu thuẫn giữa cái cũ và cáimới Ví dụ, bước quá độ từ giai đoạn siêu hình sang giai đoạn thực chứnggắn liền với các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII mà đỉnh cao của nó làcuộc Đại cách mạng Pháp thế kỷ XVIII

Các xã hội đều phải lần lượt trải qua ba giai đoạn phát triển lịch sử.Nhưng tốc độ và thời gian tiến triển của xã hội có thể khác nhau tuỳ thuộc vàoquy mô và mật độ dân số, mức sinh, mức chết của dân số và các điều kiệnchính trị, kinh tế, văn hóa, học vấn của xã hội đó

Ngày đăng: 18/02/2017, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w