1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử sử học Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 1975 - 2015 : Luận văn ThS. Nhân văn khác: 602203

111 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 905,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bách khoa toàn thư Xô Viết về lịch sử cho rằng: lịch sử là một hay một tập hợp các ngành khoa học, nghiên cứu về sự phát triển của xã hội loài người trong tất cả những biểu hiện cụ thể v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60 22 03 16

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN KIM ĐỈNH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

T

C

N

T C GIẢ LUẬN VĂN

AMVILAY BOUNMEXAY

Trang 4

T C GIẢ LU N VĂN

AMVILAY BOUNMEEXAY

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 1 Mụ ổ q 2

3 2 Mụ ụ ể 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LU N VỀ LỊCH SỬ SỬ HỌC CỦA CHDCND LÀO 5

1.1 Sơ lược sử học Lào đến trước năm 1975 5

1 1 1 K ị ử 5

1 1 2 K ị ử ử 7

1 1 3 Ý ĩ ị ử ử 11

1.2 Giản lược các xu hướng nghiên cứu lịch sử 13

1.3 Lược sử Lào qua các thời kỳ 18

1.3.1 Từ ỷ VI ỷ X 18

1 3 2 Từ ỷ XI ỷ XIV 18

1 3 3 Từ ử ỷ XIV ỷ XX 22

1.4 Xu hướng nghiên cứu lịch sử Lào của các học giả nước ngoài 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ SỬ HỌC NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2015 28

2.1 Bối cảnh lịch sử nước CHDCND Lào năm 1975 –2015 28

2.2 Sự phát triển của sử học Lào giai đoạn năm 1975 – 2015 32

2 2 1 H ơ ở ạ 32

2 2 2 C ẩ ử ề ị ử L 45

2 2 3 C ẩ ử ề ị ử 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3: NH N XÉT 73

3.1 Những điều kiện mới cho sự phát triển của sử học Lào 73

3.2 Thành tựu và hạn chế của sử học Lào 75

3 2 1 Về ạ ổ 75

3.2.2 Về ử 81

3 2 3 Về ơ 87

3 2 4 L ị ử L ở 91

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

Trang 6

KẾT LU N 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp)

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và bè lũ tay sai ngày 2/12/1975, nước CHDCND Lào bước vào thời kỳ xây dựng và tái thiết đất nước

Lịch sử nước CHDCND Lào giai đoạn 1975 -2015 là lịch sử phản ánh sự nghiệp đấu tranh vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng một đất nước độc lập, dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và phù hợp với trình độ ngày càng nâng cao của dân trí

Bước vào thiên niên kỷ mới cũng là bước vào ngưỡng cửa của một thời đại hội nhập toàn thế giới, mỗi con người nước CHDCND Lào không thể không nhìn lại, suy ngẫm về một giai đoạn kháng chiến chống quân xâm lược rất đáng tự hào của dân tộc, giai đoạn 35 năm xây dựng và bảo vệ đất nước, mở rộng quan hệ đối ngoại, làm bạn với tất cả các nước, một thời gian tuy chưa dài nhưng có ý nghĩa thời đại sâu sắc

Nghiên cứu lịch sử sử học nước CHDCND Lào giai đoạn 1975 - 2015 để rút ra những bài học cần thiết, trên cơ sở đó bồi dưỡng thêm ý chí phấn đấu, rèn luyện thêm bản lĩnh hành động trong thời đại mới

Vì những lý do trên, tác giả luận văn đã chọn đề tài: “Lị ử ử CHDCND

L ạ 1975 – 2015” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình là hết sức cần

thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Lịch sử sử học nước CHDCND Lào giai đoạn năm 1975 – 2015 là vấn đề thu hút

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong nước và ngoài nước:

- Ở trong nước:

Các nhà nghiên cứu đặc biệt là giới sử học Lào đã có nhiều công trình nghiên cứu

có giá trị, tiêu biểu như: Khái quát lịch sử Lào của tác giả Poumy Sinlatanathamatheva, Lịch sử Lào của tác giả Somphone Sibounhueng

Đặc biệt phải nói tới tác phẩm History of Laos của Maha Sila Viravong xuất bản năm 1964 và tái bản năm 2000 Đây là tác phẩm trình bày khá rõ ràng lịch sử nước Lào gồm 7 chương qua các thời kỳ từ 2500 TCN đến thế kỷ XIX, trong lần tái bản năm 2000, tác phẩm đã bổ sung thêm giai đoạn kháng chiến chống Mĩ; giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước, mối quan hệ đối ngoại với một số nước: Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Hàn Quốc, Hà Lan…

- Ở ngoài nước:

Trang 9

Không có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến những vấn đề này, đáng chú ý:

“A Brief History of Laos” của Tim Lambert năm 2015, bài viết cho ta thấy toàn cảnh nước Lào từ thời kỳ nguyên thuỷ 2000 năm TCN đến thế kỷ XVIII, thời kỳ Pháp đô

hộ từ năm 1893 đến năm 1954, thời kỳ kháng chiến chống Mĩ và bè lũ tay sai từ năm 1955 đến năm 1975, thời kỳ Lào giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và xây dựng đất nước từ năm 1975 đến năm 2015

Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu trên các website không rõ tên tác giả, tuy nhiên những bài viết này nhìn chung là giống nhau và phục vụ cho mục đích du lịch Đó là bài viết: History of Lao country – bài viết đề cập đến những vấn đề liên quan tới lịch sử dân tộc Lào từ thời đại đồ đá cũ đến thế kỷ XIII, từ thế kỷ XIV đến sự xuất hiện của vương triều Lanxang thịnh vượng, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII là giai đoạn đánh dấu sự sụp

đổ của vương triều Lanxang, nước Lào bị chia cắt thành 3 vương quốc nhỏ, từ đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn bảo hộ của người Pháp và cuộc đấu tranh của nhân dân Lào, từ năm 1954 đến năm 1975 là giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, từ năm

1975 đến năm 1986 là sự khởi đầu mới của CHDCND Lào

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học này cho thấy với những mục tiêu

và nhiệm vụ khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ yếu nêu sơ lược lịch sử sử học Lào mà chưa đi sâu phân tích, bình luận một cách đầy đủ và có hệ thống lịch sử sử học của nước CHDCND Lào Nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử sử học của CHDCND Lào giai đoạn từ năm 1975 - 2015 chưa được đề cập nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hoặc có đề cập nghiên cứu nhưng mức độ nghiên cứu chưa sâu

Tuy vậy, đây vẫn là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu lịch sử sử học CHDCND Lào giai đoạn 1975 – 2015, tổng kết thành tựu, phát hiện những hạn chế bất cập của sử học Lào để bổ sung, kiến nghị hoàn thiện

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, khát quát chung về lịch sử sử học: nghiên cứu về khái niệm, vai trò của lịch sử sử học

Trang 10

- Phân tích và đánh giá các giai đoạn phát triển của nền sử học CHDCND Lào giai đoạn 1975-2015 Từ đó đề xuất những nhiệm vụ, yêu cầu cho sự phát triển sử học của Lào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về lịch sử sử học và lịch

sử sử học của CHDCND Lào giai đoạn từ năm 1975 -2015

1975 và xây dựng lại đất nước trong thời kỳ mới

.) Về không gian: Luận văn đề cập đến các sự kiện diễn ra trong lãnh thổ nước CHDCND Lào và một số nước liên quan như Việt Nam, Pháp, Mĩ, Trung Quốc

.) Về vấn đề nghiên cứu: Luận văn chủ yếu đề cập đến vấn đề lịch sử sử học CHDCND Lào giai đoạn 1975-2015: bối cảnh lịch sử, vai trò, những thành tựu và những hạn chế của sử học Lào

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống lịch sử sử học CHDCND Lào giai đoạn năm 1975-2015:

- Đưa ra một cái nhìn khái quát về quá trình hình thành nền sử học Lào

- Phân tích và bình luận những thành tựu và hạn chế của nền sử học Lào giai đoạn

1975 -2015

- Đề xuất những nhiệm vụ, yêu cầu phát triển sử học của CHDCND Lào

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận nghiên cứu Cùng với đó là sự kết hợp các phương pháp lịch sử như chọn lọc, phân loại, tổng hợp các nguồn tư liệu Phương pháp lôgíc cũng được vận dụng trên cơ sở sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian và đánh giá các sự kiện dựa vào bối cảnh lịch sử để hiểu rõ và đúng về vấn đề đưa ra Đồng thời, phương pháp đối chiếu so sánh và phân tích cũng được sử dụng để làm cơ sở đánh giá, phân tích những nội dung trình bày trong luận văn

Trang 11

7 Kết cấu luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương là :

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lịch sử sử học

Chương 2: Lịch sử sử học nước CHDCND Lào giai đoạn từ năm 1975 đến năm

2015

Chương 3: Nhận xét

Trang 12

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỊCH SỬ SỬ HỌC CỦA CHDCND LÀO 1.1 Sơ lược sử học Lào đến trước năm 1975

1.1.1 Khái niệm lịch sử

Khi nói đến lịch sử, theo giải thích đơn giản, lịch sử là những gì thuộc về quá khứ

và gắn liền với xã hội loài người Với ý này, lịch sử bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội, đa diện do đó khó định nghĩa chính xác và đầy đủ Vì thế, định nghĩa về lịch sử được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra

Trong các ngôn ngữ châu Âu (history - Englich, histoire - Francais) hay ictoria (Russian), lịch sử đều có gốc từ tiếng Hy Lạp historía Từ này có 2 nghĩa: nghĩa thứ nhất

là câu chuyện (History of Love), chuyện kể về quá khứ hay những hiểu biết về quá khứ và nghĩa thứ hai là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về quá khứ

Trong ngôn ngữ các dân tộc Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, từ lịch

sử có gốc từ chữ Hán với các biến thể khác nhau như sử, lịch sử, sử học chữ sử trong tiếng Hán có quan hệ với chữ trung còn có âm là trúng - nghĩa là “chính xác”; lịch có nghĩa là “trải qua” Do vậy, chúng ta bắt gặp hàng loạt những mệnh đề hầu như không liên quan tới câu chuyện chúng ta đang xem xét như: Lịch sử Vật lý, Lịch sử Toán học, Lịch sử Kiến trúc, Lịch sử Trái đất Xét từ phương diện này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin - K Mac và F Ang-ghen, viết: “Chúng tôi chỉ biết có một ngành khoa học duy nhất là khoa học lịch sử ” Ở đây, Lịch sử được hiểu như một phương pháp nghiên cứu – phương pháp lịch đại - phương pháp xem xét sự vận động, phát triển của mọi

sự vật, hiện tượng theo chiều thời gian Trong phạm vi luận văn thạc sĩ lịch sử sử học, tác giả chỉ đề cập tới lịch sử như là một khoa học nghiên cứu về sự vận động của xã hội loài người

Bách khoa toàn thư Xô Viết về lịch sử cho rằng: lịch sử là một (hay một tập hợp các) ngành khoa học, nghiên cứu về sự phát triển của xã hội loài người trong tất cả những biểu hiện cụ thể và đa dạng của nó với mục đích nhằm hiểu biết hiện tại và triển vọng của

nó trong tương lai

Định nghĩa trên đây đã nêu bật được đối tượng nghiên cứu và mục đích của khoa học lịch sử, nói một cách khác, nó thỏa mãn những tiêu chí về định nghĩa một lĩnh vực khoa học Trong đối tượng nghiên cứu, Bách khoa toàn thư Xô viết về lịch sử đã xác định

rõ đó sự phát triển của xã hội loài người với tất cả những biểu hiện cụ thể và đa dạng của

nó - tóm lại là toàn bộ quá trình vận động của nhân loại từ thuở bình minh của loài người

Trang 13

cho đến nay trên mọi bình diện của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa-xã hội ) Mục đích của khoa học lịch sử cũng đã được định nghĩa nêu trên thể hiện được vai trò to lớn của sử học đối với đời sống xã hội, khẳng định được sự cần thiết không thể thiếu được của lĩnh vực khoa học này đối với sự phát triển của nhân loại, bởi nó không chỉ nghiên cứu những gì đã phủ bụi thời gian mà còn nóng hổi tính thời sự và định hướng cho tương lai

Định nghĩa ngắn gọn của Ts Sue Peabody: lịch sử là một câu chuyện chúng ta nói chúng ta là ai [44]

Nhà bác học người La Mã Cicéron1

(106-45 TCN) đưa ra quan điểm:“historia magistra vitae” (lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới “lux veritatis” (ánh sáng của sự thật) [10;31]

Và Gs Hà Văn Tấn có viết, lịch sử là khách quan Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức chúng ta Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan Và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau [10;31-32]

Gs Trần Quốc Vượng cho rằng, lịch sử là môn học về thời đã qua Giải thích sâu hơn về thế nào là “đã qua”, ông cho rằng “đã qua là đã qua, dù chỉ là một phút giây, một tháng ngày, một năm, một thế kỷ đã trôi qua mà không còn là hiện tại” [49;16]

Theo Ts Trần Thị Bích Ngọc [50;59-60], các định nghĩa thường cũng chỉ đúng một phần, lịch sử được hiểu theo ba ý chính được các nhà nghiên cứu đồng ý:

- Việc diễn ra trong quá khứ: những sự kiện (biến cố/ event) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan

- Ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, mang tính chất tương đối và chủ quan của người ghi lại bằng những câu chuyện kể

- Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: cách làm hoặc quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại

Để hiểu lịch sử hoặc ngành sử học phải dựa vào cách viết sử của những sử gia từ xưa đến nay Vì cũng theo Ts Trần Thị Bích Ngọc giải thích, kiến thức về lịch sử thường

1

Xem thêm Cicero, http://en.wikipedia.org/wiki/Cicero

Trang 14

được xem là bao gồm cả hai, kiến thức về những biến cố của quá khứ và những kỹ năng suy nghĩ và giải thích quá khứ [50;80]

Vilichitlasy, nhà nghiên cứu sử học của Lào cho rằng “Lịch sử là nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người” [60]

Với tư cách là một môn khoa học, theo tác giả khái niệm lịch sử có thể được hiểu một cách đơn giản là : “bộ môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, về sự phát triển của xã hội loài người nhằm tìm hiểu và dựng lại toàn bộ những hoạt động của con người và xã hội loài người trong quá khứ” Đây là một thuật ngữ chung có liên quan đến các sự kiện trong quá khứ cũng như những ghi nhớ, phát hiện, thu thập, tổ chức, trình bày, giải thích

và thông tin về những sự kiện này

Những nghiên cứu của ông đã đặt nền móng cho những nghiên cứu sử học của Thucydides (sinh khoảng 460 TCN – 400 và 395 trước Công nguyên) Ông là một chính

Trang 15

trị gia và nhà sử học Athen Ông là người đầu tiên đưa ra quan điểm: lịch sử chính xác – tức là các sự kiện được đưa ra phải có tính hợp lý không thiên vị Ông không cho rằng huyền thoại và tin đồn là lịch sử, nó là quá trình đi tìm kiếm sự thật bằng những nguyên nhân, gốc rễ của sự kiện Trong tác phẩm Lịch sử của cuộc chiến Peloponnesian kể về cuộc chiến giữa Athens và Sparta diễn ra trong giai đoạn từ năm 431.TCN – 404 TCN, ông đã tiến hành thu thập tất cả các tài liệu về lịch sử liên quan của Hy Lạp đến các cuộc chiến tranh Ba Tư nhằm giải thích những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây mâu thuẫn giữa Athens và Sparta và ghi chép lại sự kiện này theo hệ thống ngày tháng và bình luận của chính ông đối với các sự kiện diễn ra với lối tư duy phê phán Nếu như Herodotus được coi là “cha đẻ của lịch sử” thì ông được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho phương pháp luận sử học trong nghiên cứu và biên soạn lịch sử sử học và triết học lịch

sử2 Quan điểm của ông tiếp tục được Polybius (khoảng 206 TCN - đến 124 TCN), chính khách, nhà sử học và nhà lý luận chính trị người Hy Lạp kế thừa và phát triển nghiên cứu

sử học với tư cách là người đầu tiên tìm kiếm những nguyên nhân nội tại các diễn tiến của lịch sử chứ không phải là để gợi lên những nguyên tắc bên ngoài của sự kiện3

Các nhà sử học La tinh như Livy , Sallust , Caesar , Tacitus dựa trên những thành tựu và công trình nghiên cứu lịch sử trên đã biên soạn ra các tác phẩm sử học có giá trị nhưng với cách tiếp cận nhằm phục vụ cho mục đích chính trị và giai cấp thống trị do đó những phân tích đánh giá, bình luận của họ không thực sự khách quan, nhiều sự kiện được viết ra không phản ánh đúng sự thật lịch sử Tuy nhiên, các công trình này vẫn được xem như là nguồn sử liệu cho các nhà sử học nghiên cứu lịch sử

Như vậy, Lịch sử khoa học lịch sử đã xuất hiện và được đặt nền móng từ thời cổ đại, nó tiếp tục được phát triển trong quá trình phát triển chung của khoa học lịch sử; là một ngành học trong đại gia đình khoa học lịch sử [37;10] Thuật ngữ "Lịch sử sử học" tương ứng với thuật ngữ “historiographie” của Pháp có nghĩa là biên soạn lịch sử có nguồn gốc từ “historiographia” của Hy Lạp4 Cả hai thuật ngữ đều được định nghĩa là công việc biên soạn, tập hợp các tài liệu lịch sử của các nhà sử học Ở nước Nga, thuật ngữ “lịch sử

sử học” được gọi là "ictoriografia" và nhiều thuật ngữ có gốc chữ viết Latinh khác, về cơ bản, các nhà sử học xem nội dung của thuật ngữ này thể hiện một trong những hình thức

Trang 16

quan trọng để nhận thức xã hội loài người Thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, song

có hai nghĩa chủ yếu:

- Theo nghĩa hẹp là chỉ toàn bộ những công trình nghiên cứu về một đề tài nhất định hay về một thời kỳ lịch sử, như các công trình sử học về Phong trào Hiến chương ở Anh, về Chiến tranh giữ nước (1941 - 1945) của Liên Xô trước đây theo nghĩa rộng là chỉ toàn bộ tác phẩm sử học của thế giới hoặc của một nước, một giai cấp, một thời đại dựa trên một cơ sở lí luận, một khuynh hướng tư tưởng nhất định, như sử học Pháp, sử học Trung Quốc, sử học của giai cấp tư sản - địa chủ Đức, sử học mácxít [37;11]

- Là khoa học nghiên cứu lịch sử khoa học Lịch sử

Đôi khi thuật ngữ này ở phương Tây được sử dụng đồng nghĩa với từ “lịch sử” [15], [16;31]

Trong tác phẩm Lịch sử sử học Việt Nam, đã đưa ra thuật ngữ Lịch sử sử học, được hiểu đó là một khoa học chuyên nghiên cứu lịch sử của khoa học Lịch sử (quá trình hình thành, phát triển thông qua việc tìm hiểu và tích luỹ tri thức lịch sử, việc xác lập các quan điểm, các khuynh hưống, phương pháp luận nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, các thòi đại phát triển của sử học v.v ) Là một khoa học, Lịch sử sử học cũng có đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của mình Cũng như các khoa học khác, Lịch sử

sử học với tư cách là một khoa học thể hiện ở việc tổng kết những hiểu biết của con người

về lịch sử, đạt tới trình độ khái quát hoá, trừu tượng hoá, đi sâu vào bản chất, phát hiện quy luật của việc nhận thức lịch sử, tiếp cận chân lý phục vụ viêc nghiên cứu lịch sử

Hiện nay, nội hàm lịch sử sử học muốn được hiểu một cách chính xác, chúng ta cần phải làm rõ phương pháp luận sử học của các trường phái triết học nghiên cứu sử học đã được chủ nghĩa Mác – Lê nin chỉ ra:

- Triết học cổ đại chưa hình thành phương pháp luận của các ngành khoa học nhưng

đã có cơ sở triết học của phương pháp luận

Quan điểm thần học về lịch sử được xác nhận xã hội phát triển theo “mệnh trời”, theo “ý của thượng đế” Đó là cơ sở lý luận của sử học phong kiến Quan niệm này không những không phản ánh khoa học mà còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn Nếu nói rằng thượng đế điều khiển sự phát triển của xã hội, bắt con người hoạt động theo ý muốn của mình thì quả con người chỉ là cái máy, không có trách nhiệm gì với lịch sử Như vậy thật

vô lý Nếu thừa nhận con người hoạt động theo ý mình, sáng tạo ra lịch sử thì còn đâu là Thượng đế, là định mệnh, còn gì là tôn giáo Vì thế, giới nghiên cứu sử học phong kiến để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị vẫn bám vào quan niệm thần học về lịch sử

Trang 17

- Triết học thời cận đại với Bê cơn và Đề các tơ đã sử dụng toán học làm mẫu mực

để xây dựng một hệ thống phương pháp nguyên tắc lý luận chỉ đạo việc nghiên cứu khoa học, nhưng phương pháp luận này cũng như cơ sở triết học của nó mang nặng tính chất máy móc

- Triết học lịch sử của phái duy tâm cổ điển Đức xem sự phát triển xã hội như quá trình bên trong,hợp quy luật của nó Song sự tất yếu đó không phải ở bản thân lịch sử, mà

từ ngoài đưa vào, bắt nguồn từ triết học Tính chất của quy luật lịch sử theo quan niệm của Kant, Nisso như một cái gì tuyệt đối không liên quan đến hoạt động thực tế của con người, họ phủ nhận khả năng tác động con người một cách có ý thức vào sự phát triển lịch

sử Điều đó làm cho quá trình lịch sử trở nên hoàn toàn có tính chất “định mệnh”, thần bí

Quan điểm của Heghen là đỉnh cao nhất của triết lý sử học tư sản, Mác và Ăng ghen đã tìm thấy ở Hê ghen lối tư duy khác hẳn với các nhà triết học khác ở chỗ quan điểm lịch sử Mặc dù hình thức của nó rất trừu tượng và duy tâm, xong nó vạch được sự phát triển hợp quy luật lịch sử thế giới Hê ghen là người đầu tiên chỉ ra sự phát triển và mối liên hệ nội tại của lịch sử Hiên nay chúng ta có thể rút ra trong triết lý lịch sử của Hê ghen những quan điểm cơ bản đúng đắn

- Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lê nin là một bước ngoặt vĩ đại, cách mạng trong

sự nghiệp phát triển của khoa học xã hội nói chung và sử học nói riêng

Quan điểm duy vật của Mác được vận dụng vào việc nghiên cứu lịch sử đã hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng thần học, duy tâm, siêu hình và dựa vào thực tiễn lịch sử Duy vật lịch sử không thừa nhận “một lực lượng siêu nhiên” nào, một Thượng đế hay ý chí của một vĩ nhân nào sáng tạo ra lịch sử Chính con người tạo ra lịch sử: “lịch sử không làm nên cái gì cả, lịch sử không có cái gì phong phú cả, lịch sử không chiến đấu trong một trận đánh nào cả, không phải lịch sử mà chính bản thân con người, con người thực là những kẻ làm ra tất cả và chiến đấu vì tất cả” Lịch sử “không phải là một cá nhân đặc biệt sử dụng con người làm phương tiện để đạt mục đích riêng của mình, lịch sử không phải là cái gì khác là những hoạt động con người theo đuổi mục đích của mình”

Chủ nghĩa Mác đã soi đường cho việc nghiên cứu lịch sử một cách thực sự khoa học, mở một triển vọng to lớn cho sự phát triển của khoa học lịch sử và triết lý lịch sử tư sản

Phương pháp luận sử học mác xít – Lêninnít là một trong những thành tựu to lớn của chủ nghĩa Mác – Lê nin đã được kiểm tra trong thực tiễn nghiên cứu và đã có khả

Trang 18

năng giúp khoa học lịch sử trở thành một khoa học chân chính để giải quyết những vấn đề quan trọng do thực tại lịch sử đặt ra

Như vậy, việc nghiên cứu khoa học lịch sử chịu ảnh hưởng của một quan điểm tư tưởng nhất định do đó khi nghiên cứu lịch sử sử học như: tìm hiểu, đánh giá một công trình, một nền sử học chúng ta phải đứng trên một lập trường, một quan điểm nhất định

Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra một khái niệm về lịch sử sử học như

sử học thế giới, về sự hình thành, phát triển, suy vong và tái sinh các nền văn minh trên trái đất; về những biến cố trọng đại của lịch sử nhân loại, về những thành tựu của nền sử học nhân loại…

Con người làm ra lịch sử và con người viết về lịch sử Quá trình nhận thức của con người ngày càng hoàn chỉnh và phong phú Lịch sử sử học ra đời trong quá trình phát triển

và đổi mới của khoa học lịch sử, đồng thời là sản phẩm tất yếu của quá trình nhận thức khoa học Do đó nghiên cứu lịch sử sử học có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:

Trên phương diện Quốc Gia - Dân Tộc, Lịch sử sử học giúp ta có những so sánh mang tính "Lịch Đại" về tiến trình tồn tại, hưng thịnh và suy vong của Quốc Gia - Dân Tộc mình, giúp ta có những so sánh mang tính "Đồng Đại" với tiến trình tồn tại, hưng thịnh và suy vong của các Quốc Gia - Dân Tộc khác, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá khứ và hiện tại, để có thể tìm kiếm phương hướng tồn tại và phát triển trong tương lai Quốc Gia - Dân Tộc nào cũng có "Quá Khứ", "Hiện Tại", và "Tương Lai" "Quá Khứ", cần phải được nhìn nhận, xem xét và đánh giá đúng đắn ; đem so sánh với "Hiện Tại", cũng cần phải được nhìn nhận, xem xét và đánh giá đúng đắn ; thì mới có thể rút ra những bài học kinh nghiệm đúng đắn, để có thể hoạch định sách lược tồn tại và phát triển trong "Tương Lai" một cách đúng đắn

Trang 19

Trên phương diện lý luận, nhiệm vụ lịch sử sử học là góp phần khái quát hoá logic

về lịch sử nhận thức khoa học và vạch ra tính quy luật của quá trình vận động của khoa học đã nêu trên Lịch sử mỗi ngành khoa học sẽ là những thành tố liên kết trong sự thống nhất của tất cả các mặt của một quá trình vận động của khoa học V.I Lê nin viết trong Bút ký triết học: “sự kế tục sự nghiệp của Heghen và của Mác phải là sự xây dựng một cách biện chứng lịch sử của tư tưởng loài người, của khoa học và kỹ thuật”

Các tác giả của tác phẩm Khái lược về lịch sử và lý luận phát triển khoa học cho rằng: “Lịch sử khoa học không phải là cái kho hay cái nơi chứa các sự kiện và tư tưởng và vai trò của nhà sử học không chỉ quy về chỗ làm sao bảo quản cái kho đó cho có trật tự, sắp xếp tài liệu cho thuận tiện để kiểm kê các tài liệu ấy cho tốt Lịch sử khoa học không những chỉ trả lời câu hỏi: khoa học trong một giai đoạn nào đó đã đạt đến cái gì, mà còn phải giải đáp: nó đã đạt được bằng cách gì, nhờ cái gì? Bằng con đường nào?” [62;77]

Nhà sử học Ba Lan J.Tô-pôn-ski phân tích rõ hơn về vai trò của lịch sử sử học:

“Lịch sử khoa học có thể là lịch sử xây dựng những định lý khoa học về một lĩnh vực nhất định hay là lịch sử các phương thức nghiên cứu một lĩnh vực nhất định Nếu chúng ta xem xét phương pháp luận khoa học một cách rộng rãi thì rõ ràng là những công trình khảo sát đó phải là thành phần của phương pháp luận khoa học nói chung nhưng khi chúng

ta xem xét một cách hẹp hơn thì chúng ta nói rằng: chúng ta nghiên cứu phương pháp luận khoa học (hoặc chúng ta có thể tự nghiên cứu) trên cơ sở lịch sử khoa học (tất nhiên còn dựa trên những cơ sở khác) Do đó, thật khó tưởng tượng là có thể nghiên cứu ví dụ như phương pháp luận sử học mà không cần những công trình nghiên cứu về lịch sử của ngành khoa học này”5

Trang 20

- Thứ tư, Lịch sử sử học là nội dung quan trọng trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng những nhà nghiên cứu trẻ tuổi, giúp họ kinh nghiệm và phát hiện những mảng đề tài mới

1.2 Giản lược các xu hướng nghiên cứu lịch sử

Người được nhắc đến đầu tiên là Herodotus6

(sống vào thế kỷ V TCN), “cha đẻ của

sử học”, tác phẩm The Histories7, ghi nhận những lời kể, câu chuyện nào đáng tin cậy hay kém tin cậy Ông đi đến nhiều nơi để xác minh những ghi nhận tìm ra được câu chuyện lịch sử trung thực của vùng Địa Trung Hải, trong sách của ông không có một ghi chép bình luận nào về các câu chuyện được nêu ra Theo cách này, lịch sử là câu chuyện kể, phương pháp kể lại câu chuyện được biết như phương pháp đầu tiên trong viết sử, được nhiều nhà nghiên cứu đề cao vì cho rằng sự kiện lịch sử mang tính chất khách quan nhất, trung thực nhất

Trái với cách viết của Herodotus, Thucydides (sử gia Hy Lạp (460-400 tr CN) được xem là nhà sử học khoa học đầu tiên vì ông bỏ qua yếu tố thần thánh trong các sự kiện lịch sử, tác phẩm History of the Peloponnesian War8

- kể lại cuộc chiến tranh giữa hai thành bang Sparta và Athens Như thế, ông trở thành người thiết lập yếu tố giải thích cho

sự kiện lịch sử, đưa ra nguyên sâu xa và trực tiếp đối với sự kiện lịch sử

Về sau, các nhà sử gia châu Âu thời Trung cổ, là những người viết sử với mục đích giáo huấn, chủ yếu viết về lịch sử nhà thờ và các nhà cai trị tại địa phương (lãnh chúa), các

vị vua của các triều đại Các sử gia này xem việc diễn ra trong quá khứ như một định luật

và viết sử chỉ ra bài học trong quá khứ, việc chép sử chính là công việc để nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho nhà cầm quyền , thể hiện trong các tác phẩm History of the Church (Eusebius of Caesarea), History of the Franks (Gregory of Tours)… Như thế, thường thì các sử gia chọn chép những sự kiện nào có lợi cho nhà cầm quyền hoặc Giáo hội mà thôi

6 Xem thêm tiểu sử Herodotus trên trang:http://en.wikipedia.org/wiki/Herodotus

7 Herodotus of Halicarnassus, The Histories, đọc thêm trên trang: http ://bo oks.go ogle.co m.vn/book s?id= Y TCr x1

KB 3HQ C& printse c=fr ontcover& dq=the+histo ries+herodotus&hl=en&sa =X&ei= HIW mT4KhHKmuiQehyrioAw&ved=0CDAQ6AEwAA#v=onepage&q=the%20histories%20herodotus&f=false

8

Thucydides, History of the Peloponnesian War, đọc thêm trên trang: http: //book s.go ogle co m vn /boo ks?id=YTCrx1KB3HQC&printsec=frontcover&dq=the+histories+herodotus&hl=en&sa=X&ei=HIWmT4KhHKmui QehyrioAw&ved=0CDAQ6AEwAA#v=onepage&q=the%20histories%20herodotus&f=false

Trang 21

Người đã đưa cách viết sử giải thích áp dụng vào những sự kiện lịch sử hiện đại là Leopold von Ranke9, nhà sử gia Đức thế kỷ XIX, cha đẻ nền sử học hiện đại Cũng theo Trần Thị Bích Ngọc, Ranke đã thiết lập nền tảng cho cách viết sử sau này với việc nhấn mạnh nguồn tư liệu, chú trọng tài liệu lưu trữ, những câu chuyện lịch sử (narrative history), phát triển lịch sử chính trị Ranke được nhiều người nhắc đến với nguyên tắc gây nhiều tranh cãi: “wie es eigentlich gewes” (thể hiện những gì đã thực sự diễn ra), từ nguyên tắc đó, có ý kiến cho rằng “sử gia chỉ nên đưa ra các sự kiện lịch sử và không kèm theo bất cứ quan điểm cá nhân nào; và một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng ý của Ranke là sử gia phải khám phá các sự kiện lịch sử và tìm ra tư tưởng phổ biến của thời đại tác động lên những sự kiện này” [50;65]

Tiếp sau là trường phái Biên niên sử do Marc Bloch và Lucien Febvre sáng lập năm

1929, lịch sử được hiểu là nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của bất cứ một xã hội nào được chọn để nghiên cứu [50;67] Trước đó rất lâu, sử gia Trung Quốc, Tư Mã Thiên (Sima Qian) (145 – 90 TCN) được xem là “cha đẻ sử học Trung Quốc”, đã dùng cách viết biên niên để soạn tác phẩm Shiji (Những ghi chép của nhà sử học vĩ đại), được biết đến với tên khác: Sử ký chép lại những câu truyện lịch sử Trung Quốc theo thời gian, không

có lời bình luận nào trong sách10

Bên cạnh cách viết Biên niên được nhiều nhà nghiên cứu cho là quay lại đúng với tính chất lịch sử, một số sử gia Châu Âu chịu ảnh hưởng từ trường phái Hậu hiện đại Trường phái Hậu hiện đại được khởi xướng trong những năm 1960 của thế kỷ XX, do những triết gia cũng là những nhà phê bình văn học, lý thuyết văn học và sử gia như Roland Barthes (1915 – 1980), Michel Foucault (1926 – 1984), Jean Francois Lyotard (1924 – 1998), Jacques Derrida (1930 – 2004), Jean Baudrillas (1929 – 2007), Julia Kristeva (1941 - )… khởi xướng Chủ nghĩa Hậu hiện đại là phản ứng quyết liệt chống lại chủ nghĩa duy nền tảng (anti – foundationalism) hay tinh thần duy nền tảng Lý thuyết hậu hiện đại là lý thuyết phá hủy những chân lý nền tảng, tấn công các phương pháp truyền thống (trong triết học, văn học, ngôn ngữ học, sử học, hội họa, kiến trúc…) hay đúng hơn

là lý thuyết chống lại các lý thuyết của các trường phái đi trước đó [50;73]

Trường phái Hậu hiện đại được vận dụng trong tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội, trong sử học, các sử gia chịu ảnh hưởng trường phái này đã phản bác quan niệm lịch sử

Trang 22

phải như một con đường tuyến tính, nghĩa là một thứ biên niên sử theo lịch đại, bao gồm các sự kiện tất yếu, nhằm thuật lại một câu chuyện có nghĩa… Họ phản bác lịch sử theo lý thuyết lớn, không có một lý thuyết chung áp dụng cho tất cả mọi nơi, mọi thời kỳ Theo

họ, lịch sử địa phương (theo nghĩa một vấn đề lịch sử của địa phương) hay chuyên luận về những vấn đề lịch sử cụ thể nào đó … là chính xác và có thể vẽ lại rõ ràng những chi tiết của các sự kiện đã xảy ra tại một vùng nào đó, trong khoảng thời gian nào đó của quá khứ

Một số sử gia nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam trong những năm gần đây theo trường phái này như Li Tana, Philip Taylor, Shawn McHale, Christian Appy … hướng cách tìm hiểu lịch sử theo phương pháp dân tộc ký (ethnography) bao gồm các hoạt động phỏng vấn, đi điền dã … nhằm tập trung phân tích sâu một sự kiện lịch sử, kết nối các sự kiện lịch sử của một vùng nào đó nhằm đưa ra giải thích mới về những sự kiện này

Tương ứng với các trường phái của các sử gia các nước, từ các bộ sử của các nhà viết sử Việt Nam có thể liên hệ các sử gia Việt Nam với các trường phái cho dễ nhớ và dễ hiểu

Với cách viết lịch sử như những câu chuyện, có thể nhắc đến Lê Quý Đôn với Phủ Biên tạp lục11

hoàn thành vào năm 1776 Sách được ông viết từ những ghi nhận khi đi qua các nơi trong trấn Thuận Hóa nhằm mục đích: “cuốn sách nhỏ này âu cũng là để ghi nhớ những sự việc của chốn biên ải thôi Song, các bậc quân tử ở triều đình, nếu như có người nào đó không ra khỏi nhà mà cũng muốn tra cứu sự tích ở nam thùy, tức là muốn biết được những việc ở ngoài muôn dặm, thì cuốn tạp lục này cũng có thể cung ứng một phần nhàn lãm vậy” [22;15] Và, theo quan điểm sử gia phải khám phá các sự kiện lịch sử dựa trên nguồn tư liệu, chú trọng tài liệu lưu trữ, học giả Tạ Chí Đại Trường được xem là tiêu biểu của cách viết sử này Trong phần bên lề của công trình Bài sử khác cho Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường (2005:1) viết: Lịch sử chỉ là những tiếp diễn của sự kiện mà không có cùng đích Với quan điểm, là người muốn tìm hiểu sử học nghiêm túc, khi viết một điều gì thì không phải chỉ cho người cầm bút mà còn phải quan tâm đến người đọc, viết sử không chỉ

là việc sắp xếp các sự kiện lịch sử suốt cả ngàn năm mà đưa ra giải thích của những sai lầm của các nhà viết sử trước, những điều đưa ra được xem là cái “khác”, làm “khác” đi, làm “khác” đi thì những điều khó khăn phái nói thật không cùng, nhưng làm khác đi không có nghĩa là vượt qua được những điều người trước đã gặp Cho nên dù sao cũng

11

Lê Quý Đôn, thông tin xem thêm trên: http ://vi.wiki pedia.org/w iki/L% C3%AA _Qu% C3%B D_%C4

%90%C3%B4n Phủ biên tạp lục, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: htt p://vi wikip edia.org /wiki/Ph%E1

%BB%A7_bi %C3%AAn_t%E1%BA%A1p_l%E1%BB%A5c

Trang 23

phải có những thỏa hợp ở mức độ nào đó đề cho “bài sử khác” vẫn là bài sử Việt Nam (Tạ Chí Đại Trường, 2005: 7) Bài sử khác cho Việt Nam của Tạ Chí Đại Trường là sự đối chiếu với những công trình sử học của các sử quan thời phong kiến

Cách viết sử của sử quan thời phong kiến là sự kết hợp hai trường phái biên niên và giáo huấn Số lượng công trình nhiều nhất và được xem là “tư liệu gốc” cho nghiên cứu thuộc về các bộ sử của Quốc sử quán nhà Nguyễn như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…, được xem là sự kế thừa của các bộ sử Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư… Những dòng đầu tiên trong Đại Việt sử ký tục biên của Phạm Công Trứ giải thích cho sự mẫu mực sử học phong kiến: “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời Mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tô điểm việc chính trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị không phải là ít Cho nên mới làm ra quốc sử” [10;31]

Còn theo cách viết biên niên, một số công trình của các nhà nghiên cứu gần đây đã được xuất bản như: Việt Nam – những sự kiện lịch sử [59] (Viện Sử học), Biên niên sử Việt Nam [8] (Đỗ Đức Hùng)… được soạn thảo để hệ thống các sự kiện lịch sử Việt Nam

dù cách viết khác hơn, không phải tập hợp những câu chuyện mà chỉ liệt kê những sự kiện lịch sử theo thời gian giúp người đọc hoặc nghiên cứu có thể tra cứu hoặc đối chiếu các sự kiện lịch sử một cách nhanh chóng

Một cách viết sử nâng lên thành trường phái, được vận dụng nhiều ở Việt Nam là trường phái Marxist dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử của Karl Marx Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx chú trọng quan hệ giữa con người với quá trình sản xuất, tìm ra hệ thống những quan hệ sản suất tồn tại mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx xem lịch sử “là bản thân hiện thực khách quan, tồn tại

và phát triển theo một logic, không phụ thuộc ý thức của con người” [52;27] Do đó, phương pháp nghiên cứu theo chủ nghĩa Marx là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, xem hai phương pháp này là hai mặt biểu hiện biện chứng Theo đó, sử luận Marxist được xem là cung cấp nền tảng vững chắc cho lịch sử xã hội

Sử gia Việt Nam theo hai phương pháp này là chủ yếu, theo hướng phân tích biện chứng sự hình thành xã hội, phân tích vai trò của các giai cấp… Tuy nhiên, lịch sử gắn liền với chính trị, ảnh hưởng yếu tố chính trị chi phối cách viết sử của một số nhà sử học

Trang 24

Việt Nam, có thể nhìn thấy rõ nhất trong nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Giàu12

và Gs Đinh Xuân Lâm13, nguồn sử liệu lớn trong những tác phẩm của ông là vô cùng lớn nhưng ông cũng cho thấy cách viết theo khuynh hướng chính trị rõ nét khi đưa ra cách nhìn nhận đối với phong kiến Cũng theo quan điểm Marxist, Gs Đào Duy Anh được xem là người coi trọng việc giám định sử liệu Trong nghiên cứu sử học, đối với ông, "phải chuyên tâm nghiên cứu lịch sử vì chỉ có hiểu biết đầy đủ lịch sử dân tộc thì mới có thể chắt lọc ra đâu

là những yếu tố truyền thống, đâu là những yếu tố ngoại lai"14

Một trường hợp đặc biệt trong sử học Việt Nam hiện đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người được biết đến về tài quân sự, nhà sử học đồng thời cũng là nhân vật lịch sử Lịch sử được ông viết lại bởi những hồi ký, ký sự, những bài viết giá trị tái hiện thời kỳ bản thân ông trải qua Theo Gs Phan Huy Lê, Đại tướng vừa làm sử, vừa viết sử, một sự kết hợp hiếm có của tài năng quân sự với tài năng sử học [13] Qua các bài viết của Võ Nguyên Giáp, cách viết của ông theo trường phái đưa giải thích vào sự kiện, phân tích nguyên nhân đối với sự kiện

Gần đây, cùng theo hướng nghiên cứu lịch sử địa phương theo trường phái Hậu hiện đại, các nhà sử học Việt Nam hiện nay đang chú trọng đến việc định hướng cho các công trình nghiên cứu mới, chọn một vấn đề hoặc một địa phương nào đó để tìm hiểu Tuy nhiên, việc nghiên cứu lịch sử địa phương đã được một số người lựa chọn cách đây rất lâu như Nguyễn Văn Hầu (viết về vùng đất An Giang), Vương Hồng Sển (viết về Gia Định), Sơn Nam (tìm hiểu về lịch sử vùng đất Nam Bộ, được xem là người am hiểu về vùng đất này)…

Qua việc tìm hiểu ban đầu những cách viết sử để hiểu quan niệm lịch sử của những nhà nghiên cứu thế giới và Việt Nam, có thể nhận ra mỗi người nghiên cứu có thể lựa chọn một cách viết sử riêng theo trường phái riêng, có thể loại bỏ sự áp đặt vô hình đó là nghiên cứu lịch sử chỉ theo phương pháp lịch sử và phương pháp logic mà thực chất đó là hai phương pháp thuộc trường phái Marxist Có thể thấy, những nhà nghiên cứu lịch sử có thể chọn chủ đề lịch sử nhỏ mang tính chất địa phương để nghiên cứu không cần theo chủ

đề bao quát và chọn phương pháp điền dã, phỏng vấn, mô tả để tập trung vào những sự kiện một vùng nào đó cũng có thể xem như thu lượm những câu chuyện của quá khứ ở địa

Trang 25

phương đó hoặc kể lại chính câu chuyện của người viết trong quá trình tìm hiểu Đó chính

là khuynh hướng viết sử theo trường phái Hậu hiện đại mà những nhà nghiên cứu sử Việt Nam đang tập trung chú ý đến

1.3 Lược sử Lào qua các thời kỳ

1.3.1 Từ thế kỷ VI đến thế kỷ X

Từ xa xưa, đất Lào đã là ngã tư giao thông, chốn dừng chân, nơi lưu trú của nhiều giống dân, nhiều bộ tộc khác nhau Giống dân hiện diện xưa nhất nơi đây,theo sử sách, là các bộ tộc mà người ta phỏng đoán và gọi chung tên là sắc tộc gốc Nam Dương Người Lào từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một thứ tiếng là ngôn ngữ gốc Môn - Khmer, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu nước đến cuối nước Hiện nay, rải rác từ Bắc chí Nam nước Lào giống dân nầy vẫn còn mà người Lào, người Xiêm gọi chung là giống Khạ ( mọi rợ ) hay Lao Thơng như người Việt gọi chung các sắc tộc thiểu

số trên đất Việt là người Thượng bao gồm: Phu Thay, Phu Theng, Khà-mú, Phuôn, Lamet,

Bô, Sô, Sek, Kattang …

Khi người Khmer lấn chiếm toàn cõi tả và hữu ngạn lưu vực sông Mêkông, cưỡng bức xua đuổi các bộ lạc “Khạ” bồng bế nhau chạy lên các vùng núi rừng, nới rộng thêm đế quốc Khmer qua một phần rộng lớn đất Lào ngày nay trong nhiều thế kỷ : Phật giáo khởi

có mặt trên đất Lào từ đó, vào khoảng thế kỷ VI – VIII Thời kỳ này, phật giáo được truyền bá rộng rãi và trở thành quốc giáo trong các bộ tộc Lào Tầng lớp phật tử ngày càng đông đảo và có vị trí quan trọng trong xã hội Họ tiếp thu phật giáo trên nền tảng tư tưởng độc lập dân tộc Phật giáo vào Lào đã được Lào hoá tức là đã phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước Lào thời bấy giờ Những người đứng đầu vương quốc thường là người sùng đạo do đó việc sao chép kinh kệ để truyền bá giáo lý của nhà phật được chú trọng Tuy nhiên, công việc chép sử hay nghiên cứu về sử học lại bị sao nhãng Một nguyên nhân nữa là bởi buổi đầu mới dựng nước, các vương quốc thuộc Lào phải lo sửa sang việc võ bị để chống với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học không được mở mang lắm Do đó mà sử học không được chú trọng Nhưng việc sao chép kinh kệ để truyền bá giáo lý nhà phật chính là những tiền đề thuận lợi cho sử học Lào ra đời trong giai đoạn tiếp theo

1.3.2 Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV

Thế kỷ XI – XIII, trong các thung lũng của con sông Mê kông chảy qua miền bắc Lào đã hình thành nên những tiểu quốc như Mường Xinh, Mường Xay, Mường Hun… tại miền trung lưu song Mê kông có một số tiểu quốc lớn hơn như Mường Xoa, Mường Cam

Trang 26

kớt, Bát Xắc… đa số các tiểu quốc này đều bị lệ thuộc vào vương quốc Campuchia ở phía Nam, còn ở phía đông là Đại Việt và tình hình ở các nước láng giềng có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự thống nhất của nước Lạn Xạng lúc bầy giờ Vào giữa thế kỷ XIV, trên bán đảo Đông Dương đã có nhiều biến đổi đáng kể

Vào khoảng cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Rama Khamheng (1280 – 1318) đã ra sức mở rộng biên giới của nước Xukhôthai và xây dụng đất nước thành một quốc gia hung mạnh, cùng lúc này còn tồn tại một đất nước khác tồn tại và phát triển đó là Ayutthaya đây chính là quốc gia đối đầu với Xukhôtthai sau đó thì Ayutthaya đã chinh phục được Xukhôtthai, đây chính là hai quốc gia phong kiến của Thái được hình thành vào khoảng thế kỷ XIII và XIV

Và suốt thế kỷ XIV vương quốc Ayutthaya đã thi hành chính sách ngoại giao phản động, bành trướng đánh chiếm và gây chiến tranh với nhiều quốc gia trong khu vưc lúc bấy giờ như: bán đảo Mã Lai, rồi vương quốc Khơ Me, phía bắc xâm lược Xukhôtthai và Xiêng Mai Cũng vào cuối thế kỷ XIII thì Mông Cổ tiến hành chiến tranh xâm lược vương quốc Pagan Sự thất bại của Pagan trước quân Mông Cổ đã làm cho Pagan đi vào thời kỳ chia cắt lãnh thổ kéo dài gần ba thế kỷ Đất nước phân ra thành nhiều tiểu quốc đối địch nhau

Tóm lại, tình hình chung của các nước xung quanh Lạn Xạng không yên ổn, Xukhôtthai đi đến giải thể, Khơ Me suy yếu, Pagan bị chia cắt, Ayutthaya lao vào các cuộc chiến tranh liên miên, nhưng đây cũng lại là điều kiện khách quan thuận lợi, mở đường cho sự ra đời nhà nước thống nhất độc lập của Vương quốc Lạn Xạng

Năm 1353, sau những ngày tháng lãnh đạo nhân dân Lạn Xạng chiên đấu anh dũng thì Phà Ngừm thống nhất đất nước, Phà Ngừm lên ngôi vua ở Xiềngđông – Xiềngthông (sau này Xiềng đông – Xiềng thông là Luông Phabang) Đây là kết quả của một quá trình đấu tranh quyết liệt để chống lại tình trạng phân chia đất nước và sự lệ thuộc ngoại bang

Phà Ngừm sinh năm 1316, con của Thao Pha Ngiêu Vì sự bất hòa trong triều đình (Phà Ngừm, con út của Chao Phi Fa, khi được sinh ra (1316) đã có dị tướng: 32 cái răng, hoàng tộc cho là điềm gở, ép lưu vong qua đất Angkor từ nhỏ) Phà Ngừm và cha của mình

đã phại tạm lánh sang Angco ngày nay là Camphuchia ngay từ thời thơ ấu Đến tuổi trưởng thành năm 16 tuổi Phà Ngừm kết hôn với một vị công nương trong hoàng gia Khmer tên Nang Keo KingKanya và trở thành phò mã của Vương quốc này, sau đó Phà Ngừm trở về đất Lào, nuôi chí lớn thống nhất đất nước Ông đã khéo léo lợi dụng tình

Trang 27

hình khách quan đương thời để đấu tranh cho Lạn Xạng thoát ly khỏi sự lệ thuộc vào Xukhôthai và Campuchia, đồng thời xây dựng một nhà nước thống nhất đầu tiên

Vào giữa thế kỷ XIV, nhân lúc Campuchia và Ayuthaya (Thái Lan ngày nay) đang

có mâu thuẫn gay gắt với nhau, Phà Ngừm đã chỉ huy một đạo quân “ 10 vạn người” từ Campuchia tiến về đất Lào Đạo quân của Phà Ngừm đã thâm nhập được vào thung lũng sông Mê kông và chinh phục được hàng loạt các tiểu quốc như: Mường Paccôt, Mường Caboong, Mường Phanamhưng, Mường Phuông, rồi tiến lên Đông Bắc Lào sát tận Phông Xalỳ, sau đó trở xuống Pạc U sát kinh thành Xiêngđông – Xiềngthông

Phanha Khămhiếu, chú của Phà Ngừmđang làm vua ở Xiềng đông – Xiềng thông, cho quân tiến đánh Phà Ngừm ba lần tại Pạc U nhưng đều thất bại Sau khi biết không thể nào chống được đội quân hùng mạnh của Phà Ngừm, Khămhiếu cùng vợ phải uống thuốc độc tự tử còn các Xêna Amát, tức các triều thần, sau khi làm lễ an táng cho vua và hoàng hậu liền kéo tất cả đi đón chào Phà Ngừm tại Pạc U Phà Ngừm vào Xiềng đông – Xiềng thông và được tôn lên làm vua Ông lên ngôi năm 1353, vào lúc 37 tuổi

Sau khi làm vua được một năm thì Phà Ngừm trao quyền nhiếp chính cho hoàng hậu Noongkéo thay mặt nhà vua xử lý việc triều chính, nắm giữ binh quyền, còn Ông lại cất quân đi chinh phục Lạn Na ( một vương quốc Thái ở phía bắc Thái Lan ngày nay) Hầu hết các Mường phía Bắc đều bị Pà Ngừm chinh phục cả

Qua hai năm chinh phạt, Phà Ngừm trở về Xiêng đông – Xiêng thông Đến năm

1356 ông cho quân tiến đánh Viêng-chăn Nhưng chính ở đây Phà Ngừm đã gặp phải sự phản kháng quyết liệt Thành phố nằm giữa một hàng rào tre đầy gai góc, lũy tre là bức tường kiên cố để bảo vệ thành phố một cách hiệu nghiệm và để tiến sâu vào thành phố thì Phà Ngừm đã tiến hành việc công thành hết sức mưu trí Ông ra lệnh cho các tướng găm những vòng vàng và bạc vào các mũi tên và cứ thế bắn liên tiếp trong ba ngày, sau đó rút quân về gặp nhà vua để nhận lệnh Dân thành phố bắt đầu đẵn tre để lấy vật quý Lợi dụng tình hình ấy, quân đội của Phà Ngừm đã nhanh chóng tấn công công và chiếm được Viêng-chăn, để ghi nhớ chiến thắng này, thành phố lấy tên là Viêngkhăm Sau khi chiếm được Viêng-chăn thì Phà Ngừm cho quân tiến xuống cao nguyên Cọrạt dọc theo bờ song

Mê kông và buộc nhà vua Ayuthaya, lúc này đang bận chiến tranh với vương quốc Campuchia, phải thừa nhận Lạn Xạng có quyền hạn đối với lãnh thổ phía tây sông Mê kông

Phà Ngừm kéo quân trở về Viêng- chăn tổ chức ăn mừng chiến thắng cuộc liên hoan kéo dài trong bảy ngày bảy đêm Nhân dân Lạn Xạng đã nói với Phà Ngừm rằng: “

Trang 28

nhà vua mới làm cho chúng tôi được quang vinh, chiến thắng được tất cả các nước, chúng tôi đội ơn người, và chúng tôi muốn đón người lên làm vua Lạn Xạng một lần nữa”

Trước quân sĩ và dân chúng kéo về nhà vua đã đọc lời huấn thị kêu gọi mọi người phải giữ gìn công lý, chăm lo giữ gìn bờ cõi đất nước

Đây cũng là sự kiện đánh giấu bước ngoặt trong lịch sử nước Lạn Xạng nói riêng

và của lịch sử Dân tộc Lào, đất nước Lào nói chung, kể từ đây thì lịch sử Lào chấm dứt thời kỳ phong kiến cát cứ, thời kỳ bị phụ thuộc lệ thuộc vào các quốc gia khác Sau khi đất nước độc lập, thống nhất thì Phà Ngừm băt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, nhà vua

đã thiết lập được một hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương Nhà vua Lạn Xạng mang danh hiệu Châuxivit-“ chủ nhân của những sinh mệnh”

Sử học Lào đã ra đời và phát triển trong điều kiện và những đặc điểm lịch sử như vậy

Dưới thời trị vì của Vua Phà Ngừm, trong tổ chức bộ máy nhà nước chưa hình thành cơ quan chuyên sưu tập và biên soạn lịch sử dân tộc như các quốc gia láng giềng nhưng đã cắt cử quan lại ghi chép lại các sự kiện diễn ra trong hoàng gia và kinh tế - xã hội Lào, gọi là sử thần Năm 1367, viên quan đứng đầu các sử thần là Nà Keo Ông đã dâng lên nhà vua Phà Ngừm một bộ sách: Vương quốc Lạn Xạng gồm 7 tập kể về các chiến công của nhà Vua và tình hình kinh tế - xã hội Lào từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, được nhà Vua thưởng một rương châu báu, 5 tấm lụa Trung Hoa, 1 thớt voi trắng Những ghi chép trong bộ sách này giữ vai trò là một hệ thống sử liệu gốc cơ bản nhất và xưa nhất của lịch sử dân tộc trong phạm vi thời gian mà nó ghi chép, nó đã đúc kết và phản ánh những thành tựu của nền sử học Lào trong thời kỳ hình thành và phát triển đầu tiên Nội dung tư tưởng của tác phẩm nổi bật một tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, về lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc Phương pháp biên soạn của bộ sách (theo lối biên niên) đã đặt nền móng cho các nhà sử học Lào về phương pháp nghiên cứu sử học Tuy vậy, phương pháp làm sử theo lối biên niên nghĩa là năm nào tháng nào có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy

mà thôi, chứ không giải thích cái gốc ngọn và sự liên can việc ấy với việc khác là thế nào, đây là một hạn chế chung của sử học các nước trong khu vực như Trung Quốc, Việt Nam v.v Xét về mặt sử học thì đây được coi là bộ sử chính thống của thời kỳ phong kiến Lào,

vì vậy về nội dung tư tưởng, nó mang dấu ấn và theo quan điểm của giai cấp và thời đại Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không được tự do, thường có ý thiên vị nhà vua, thành ra trong sử chỉ cần chép

Trang 29

những chuyện quan hệ đến nhà vua, chủ yếu phản ánh những sinh hoạt trong cung đình, hành vi của vua quan, hoạt động chính trị của vương triều hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hoá của nhân dân trong nước Do vậy, bộ sách có một số sai lầm về sử liệu và cách đánh giá

Kể từ khi lập quốc, Vương quốc Lạn Xạng thường xuyên phải đối mặt với các cuộc chiến tranh xâm lược của người Thái Chính sách đồng hoá và huỷ diệt văn hoá Lào của người Thái đã làm cho nhiều đền đài cùng công trình nghệ thuật kể cả bộ sách quý Vương quốc Lạn Xạng bị tiêu hủy cả Hiện nay bộ sách này đã không còn tồn tại để giới sử học

và nhân dân Lào khảo cứu

1.3.3 Từ nửa cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XX

Quốc vương Fa Ngum là một vị vua tài giỏi, văn võ song toàn: Nới rộng xứ Lạn Xạng qua đất Khorat, khi chinh phạt khi chống cự triền miên với các vương quốc Ayutthaya, Soukhothay (Thái Lan) Ông là người tổ chức quân đội nghiêm túc, đặc biệt đặt ra nền hành chính còn ảnh hưởng đến ngày nay, đơn cử chức quyền như Chao Mương ( lãnh chúa thời đó), Chao Khoéng ( tỉnh trưởng ngày nay)… Tuy nhiên do tranh chấp về quyền lực trong nội bộ hoàng tộc, Fa Ngum bị hoàng triều lật đổ vào năm 1373, lập con trai trưởng ông là Oun Hươn Samsenthay lên kế vị Vua Fa Ngum mất tại Mương Nan năm 1373 ( có sách ghi ông bị phế năm 1393 và mất năm năm sau) Cũng trong khoảng thời gian này, Phật giáo hệ tiểu thừa (Theravada) bắt đầu có mặt trên đất Lào, năm 1356 Chao Oun Hươn chọn vương hiệu sà Samsenthay vì, năm 1376, ông là người đầu tiên làm kiểm tra dân số Lào được Ba Trăm Ngàn Dân (sám sén thay) Ông là một vị vua hiền, khôn khéo trong chính trị

Samsenthay mất đi, con trai là Lan Khamđeng lên thay, nước Lào chia cắt, suy yếu cho tới ngày nay

Từ năm lật đổ quốc vương Fa Ngum (1373), qua triều Samsenthay đến cuối thế kỷ XVI, quốc gia Lào trải qua nhiều biến loạn : Năm 1527 vua Phothisarat, con vua Visounnarat, vốn mộ đạo Phật, ra pháp lệnh cấm tín ngưỡng đa thần giáo (Linh Hồn Giáo – Animiste) và niềm tin vào Phí (ma quỉ) của các bộ tộc miền núi, gây xung đột dữ dội ; nội chiến giữa các vương hầu, ngoại xâm từ Miến Điện, Việt Nam, Trung Hoa.…Tuy nhiên, sử học Lào ở giai đoạn này vẫn được chú trọng Có nhiều công trình sử học liên quan đến phật giáo xuất hiện từ việc ghi chép và biên dịch kinh sách Phật từ Ấn Độ, trong

đó đáng chú ý là Vua Visounnarat (Vixun) đã ra sắc lệnh cho nhà sư Ma hả Mung Khun Xithi, nhà sư Maha Thếp Luống và một số triều thần viết Nithan Khun Bu Lôm (Truyện

Trang 30

Khun Bu Lôm) Truyện Khun Bu Lôm là thể loại diễn ca lịch sử được viết bằng thơ, lấy Khun Bu Lôm làm người mở đầu cho các triều đại vua Lào

Năm 1563, vì lý do địa lý chính trị đối với các vương hầu phía Nam và để tránh sự dòm ngó đặc biệt của Miến Điện, quốc vương Setthathirat thiên đô xuống Vientiane ( cách Luang Prabang 210 km), ở vào khoảng giữa hai miền Nam và Bắc Lào, mang theo tượng Phật bằng ngọc bích Phra Keo (cao 70 phân tây), cho xây ngôi chùa ( Vặt) Phra Keo để an

vị tượng Phật đó, đồng thời dựng đại tháp That Luang (ngày nay) lưu giữ xá lợi là Một Sợi Tóc (hay một đốt xương) của Đức Phật Nhà Vua Setthathirat trong lần bàn chuyện quốc

sự với các đình thần mùa thu tháng tám năm 1563 đã ban chiếu: “ ử ã í ạ

ụ ể ò ” Cũng trong năm ấy, Nhà Vua xuống chiếu cho người

đi khắp nước để ghi chép những sự tích, những anh hùng dân tộc, đo đạc địa lý phong thổ khắp cõi Lạn Xạng lại cho vời các trưởng mường thông hiểu chữ nghĩa và phong tục về kinh đô để cùng Nhà Vua biên soạn một bộ quốc sử Công việc biên soạn đang tiến hành dang dở thì bị dừng lại do Vua Setthathirat băng hà trong một cuộc thân chinh dẹp loạn

“Khạ” ở phía Nam (1571), mở đầu thời kỳ hỗn loạn rồi vô chính phủ của nước Lào mãi đến nửa đầu thế kỷ XVI mới được tái lập sự ổn định dưới triều vua Sourigna Vongsa (vua mặt trời)

Sourigna Vongsa là một đại vương của nước Lào Ông là vị vua hiền, trị vì hơn 50 năm ( 1637 – 1694), trên phương diện đối nội ông là người có công lớn trong việc thống nhất và giữ được sự ổn định trong nước Lan Xạng lâu nhất ; phần đối ngoại ông là người

mở đầu sự giao hảo với Âu Châu : Người Hoà Lan đầu tiên đến xứ Lạn Xạng, năm 1641,

là ông Gerrit Van Wusthof, sứ thần của toàn quyền thuộc địa quần đảo Nam Dương ( Java, thuộc Hoà Lan) Dưới triều đại ông, Vientiane là trung tâm Phật giáo nơi sư sải các nước Khmer, Phù Nam hay Xiêm (Thái Lan) đến tu học Cũng chính ông là người đã ký kết với Việt Nam một hiệp ước phân định dân số như sau : Gia đình nào ở nhà sàn, có mái hiên sẽ được coi như là thần dân của Vientiane ; gia đình nào ở nhà trệt, không có hiên sẽ thuộc Việt Nam ( thời Trịnh – Nguyễn phân tranh) Do đó, sử học vẫn tiếp tục được phát triển

Trang 31

với nhiều tác phẩm có giá trị: Lan Xạng hội điển sự lệ ghi chép lại những điển pháp của vương quốc Lạn Xạng; Đại Việt Ký ghi chép lại các chuyến đi của Vua trên đất Việt Nam ngày nay ; Vương quốc Lạn Xạng là công trình dựa trên bản lưu giữ bằng lá cọ nhằm dựng lại bộ sử đã bị Thái Lan thiêu huỷ khi tiến vào Viêng Chăn thế kỷ XIV, đến nay các tác phẩm trên đều đã bị thất lạc

Lợi dụng sự suy yếu của Vương quốc Lạn Xạng sau khi vua Sourigna Vongsa mất, Xiêm La tiến hành xâm lược Lạn Xạng Sự chống đỡ yếu ớt do Lạn Xạng đã bị chia làm 3 vương quốc: Viêng Chăn (Vạn Tượng); Luangprabang (Nam Chưởng) và công quốc Champasak đã nhanh chóng bị Xiêm thôn tính Lạn Xạng bị mất độc lập Người Xiêm La một lần nữa lại đặt ách thống trị trên toàn vương quốc, chính sách đồng hoá của Xiêm La nhằm sáp nhập toàn bộ lãnh thổ của Lạn Xạng vào Xiêm khiến sử học Lào không còn điều kiện phát triển Giai đoạn này, sử học Lào tồn tại dưới dạng truyện thơ và được truyền bá trong dân gian, trong các bản mường như: Xỉn Xay, Thạo Hùng Thạo Chương, Kalaket, Tèng On, Xutivông, Phalak Phalam, Xiêu Xà Vạt có chứa đựng những sự kiện lịch sử của dân tộc Lào, đặc biệt trong đó là hai bài thơ: Xỉn lúp bo xủn và Kap Mường Phuôn Nếu như Xỉn lúp bo xủn ghi lại thời kỳ Lào bị Xiêm xâm lược và nội dung của bài thơ ẩn

ý về tấm lòng của vua Anouvong gửi cho người yêu là nàng Luông Khăm – người con gái hoàng tộc này đã bị quân Xiêm bắt đưa về nước Lời thơ trữ tình về bi kịch của tình yêu và hoàn cảnh mất nước đã trở thành thứ vũ khí lợi hại nhắc nhở người dân Lào nuôi dưỡng tinh thần yêu đất nước sâu sắc Bài Kap Mường Phuôn kể lại cảnh người Lào ở Mường Phuôn bị quân Thái bắt đi Xiêm, khổ cực đủ điều Họ bỏ trốn vào rừng, lại ăn phải trái độc nên chết vô số Bài thơ đã kể lại một cách giản dị và rất thực cảnh khổ cực, chết chóc của người dân Lào bị bắt

Từ năm 1893 – năm 1975, Lào trở thành thuộc địa của Pháp cho đến khi nhân dân Lào tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương sử học Lào mới có điều kiện để bắt đầu phát triển Nhiệm vụ của sử học Lào trong giai đoạn này nhằm phục vụ cho đấu tranh giành độc lập dân tộc Nội dung của các tác phẩm sử học Lào xoay quay vạch trần tội ác của thực dân Pháp và nói về vẻ đẹp của đất nước qua đó nhằm khơi dậy lòng căm thù của mọi người dân Lào Tiếng nói của các tác phẩm sử học đã làm thức tỉnh lòng yêu nước Do hoàn cảnh chiến tranh nên sử học Lào trong giai đoạn này không có điều kiện để biên soạn các công trình sử học Tuy nhiên, để phục vụ tuyên truyền giáo dục nhân dân, một số tài liệu lịch sử, hoặc có liên quan đến lịch

sử đã ra đời: Chiến đấu bảo vệ thành phố Thà Khẹc của Xinhcapo năm 1946 mô tả sống

Trang 32

động cuộc chiến đấu chống quân Pháp tại Thà Khẹc và hoàng thân Xuphanuvong đi lánh nạn, Xí Nọi của Khăm Liêng không phải là sách về lịch sử nhưng thông qua câu chuyện

kể về cuộc đời của một cô gái Lào tham gia kháng chiến chống Mỹ Tác phẩm đã khái quát cả một giai đoạn lịch sử, giải thích nguồn gốc xã hội xâu xa của cuộc cách mạng Lào

và đưa ra những dự đoán tương lai về sự phát triển của phong trào cách mạng Lào Ở đây, tác giả Khăm Liêng đã nêu ra một nguyên tắc, đặt nền móng cho phương pháp luận nghiên cứu lịch sử là kết hợp nghiên cứu quá khứ với đoán định tương lai để phục vụ hiện tại

Ngày 2/12/1975, cách mạng Lào thành công Sử học Lào từ nay có điều kiện phát triển mạnh hơn Bên cạnh nhiệm vụ xây dựng đất nước, sử học Lào còn phản ánh lại các

sự kiện lịch sử đã diễn ra của dân tộc: Bài chúc mừng năm mới 1980 của Xôm Xỉ Đê Ra đưa ra những thành công của cách mạng Lào dựa trên những kết quả đạt được của cách mạng Lào; cũng trong tác phẩm “Tay cầm kiếm, miệng ngoạm mặt trăng, hai chân đứng trên mặt trời, nhìn trước nhìn sau”- tác phẩm ôn lại toàn bộ lịch sử từ xưa cho đến quá trình ba mươi năm đấu tranh của cách mạng Lào; Tiểu đoàn II, Người con gái của Đảng, Đôi Bờ (1982) của Xu Văn Thôn kể về giai đoạn kháng chiến khó khăn nhưng đầy vẻ vang của quân và dân Lào, về sự hi sinh và những đóng góp to lớn của phụ nữ Sê Phôn tham gia cách mạng và ký sự về cuộc sống của nhân dân hai bờ sông Mê Kông; Vượt Ngục của Thong Xởi Khốt Vông Xả kể lại cuộc vượt ngục thần tình của mười sáu lãnh tụ

và cán bộ lãnh đạo cấp cao của cách mạng Lào trong đó có hoàng thân Xuphanuvong

Sử học Lào thực sự phát triển kể từ khi Viện Nghiên cứu nghệ thuật và văn học được thành lập ngày 15 tháng 08 năm 1983, cùng với Uỷ ban khoa học xã hội năm 1989 tiền thân của Viện Khoa học Xã hội Lào ngày nay, Viện Lịch sử và khảo cổ quốc gia Lào năm 1990, Viện Sử học Lào năm 1993 và các cơ sở, trung tâm nghiên cứu đào tại tại các trường Đại học Những tổ chức nghiên cứu và đào tạo này đã góp phần định hướng cho các nhà nghiên cứu sử học Lào đưa ra những tác phẩm sử học có giá trị (sẽ được phân tích

ở chương 2)

Như vậy, Sử học Lào đã tồn tại và phát triển cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, điều kiện lịch sử, yêu cầu xã hội của mỗi thời kỳ khác nhau dẫn đến sử học Lào ở từng giai đoạn, từng thời kỳ là không giống nhau Song sử học Lào ở mỗi giai đoạn đều có những tác phẩm thể hiện quan niệm của tổ tiên dân tộc Lào về nhận thức lịch sử; về những cuộc đấu tranh để xây dựng đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển văn hoá; về sự phát triển của nền sử học Lào trong các giai đoạn lịch sử

Trang 33

1.4 Xu hướng nghiên cứu lịch sử Lào của các học giả nước ngoài

Lịch sử Lào là một trong những đề tài thu hút được giới sử học nước ngoài quan tâm nghiên cứu:

Đối với lịch sử cổ đại, đang ngày càng có nhiều học giả người nước ngoài quan tâm nghiên cứu như: Paul Lévy, Grant Evans, Sanda Simms, Martin Stuart-Fox Đối tượng nghiên cứu là quá trình xuất hiện cộng đồng người Lào cổ xưa trên lãnh thổ của đất nước Lào hiện nay; các sự kiện lịch sử liên quan đến nguồn gốc dân tộc Lào … nhằm giải thích các câu hỏi tổ tiên dân tộc Lào là ai? Lào có phải là một vương quốc trong một cộng đồng vương quốc nói tiếng Thái hay là một quốc gia độc lập có truyền thống văn hoá bản sắc dân tộc riêng biệt với Thái Lan? Nguồn gốc dân tộc Lào trong các công trình sử học của Lào vẫn còn mang đậm màu sắc huyền bí của truyền thuyết; các di chỉ vật thật của cộng đồng cư dân Lào còn đang tồn tại ở đâu đó chưa được khám phá còn là một ẩn số đối với các nhà khoa học nước ngoài; sự “bội thực” của các công trình nghiên cứu khoa học quen thuộc đến nhàm chán đã thôi thúc họ tìm đến nghiên cứu lịch sử Lào Rõ ràng, một công trình sử học với đề tài nghiên cứu mới lạ, khác biệt sẽ có sức giá trị khoa học hơn hẳn Tuy nhiên, việc tập hợp, lựa chọn các tư liệu lịch sử về thời kỳ này của Lào thực sự là một khó khăn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử người nước ngoài khiến họ không thể đi đến tận cùng của vấn đề ngay cả khi đã sử dụng đến các phương pháp khảo cổ học hiện đại bởi các tác động của điều kiện thời tiết (Lào có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô), địa hình hiểm trở, hậu quả của chiến tranh vẫn chưa được khắc phục xong dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận các địa điểm để tiến hành hoạt động khảo cổ và nghiên cứu Kết quả của các công trình sử học đó vẫn còn gợi mở cho hoạt động nghiên cứu trong thời gian tới

Đối với lịch sử cận đại, ngoài các tác giả trên rất ít nhà nghiên cứu lịch sử nước ngoài nghiên cứu do các tư liệu lịch sử về giai đoạn này cũng còn rất mơ hồ, các tài liệu lịch sử lưu giữ trong các thư viện của Cộng hoà Pháp được hình thành trong giai đoạn người Pháp đặt nền bảo hộ ở Lào mới chỉ phản ánh được giai đoạn lịch sử Lào từ năm

1893 đến khoảng năm 1950, trong khi đó lịch sử Lào từ năm 1893 trở về trước chỉ được đề cập một cách sơ lược dựa trên những truyền thuyết và việc ghi chép lại những câu chuyện trong dân gian chưa được giám định sử liệu Các nhà nghiên cứu nước ngoài thường gặp phải khó khăn trong việc tập hợp tư liệu lịch sử từ nguồn sử liệu ở trong nước Lào nhằm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu Các nguồn sử liệu trong nước của Lào là những công trình sử học viết bằng quốc ngữ, lại khó tiếp cận bởi chưa được mạng hoá thành tài liệu

Trang 34

điện tử và chỉ được lưu trữ trong các văn phòng, trung tâm lưu trữ của các viện, trung tâm nghiên cứu Vì vậy, đây là một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử Lào của thế giới Đối với lịch sử hiện đại, cũng giống như lịch sử cận đại chưa thu hút được các nhà nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của Lào trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Giai đoạn này chưa có công trình sử học nào được công bố thành sách Nó chỉ tồn tại những bài viết nghiên cứu về dân tộc học, về phong tục tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội tại các địa phương có các di sản, thắng cảnh, thiên nhiên nhằm hoạt động quảng bá, giới thiệu về du lịch hơn là phục vụ để nghiên cứu khoa học lịch sử

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong Chương I, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về lịch sử sử học của Cộng hoà DCND Lào cũng như khái niệm lịch sử, lịch sử sử học và ý nghĩa của lịch sử sử học Từ đó giúp cho việc làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận lịch

sử sử học của Cộng hoà DCND Lào, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày sơ lược lịch sử sử học Lào qua các thời

kỳ Có thể thấy rằng, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể

của đất nước mà sử học Lào cũng có những vai trò và nhiệm vụ khác nhau

Trang 35

CHƯƠNG 2:

LỊCH SỬ SỬ HỌC NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 ĐẾN

NĂM 2015 2.1 Bối cảnh lịch sử nước CHDCND Lào năm 1975 –2015

Lần đầu tiên, nhân dân các bộ tộc Lào đã giành được độc lập dân tộc và làm chủ hoàn toàn đất nước mình sau hơn 600 năm dưới chế độ phong kiến và các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trước hoạ xâm lược của người Thái, thực dân Pháp và đế quốc Mĩ

Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước là một nhiệm vụ hết sức khó khăn lại phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên nên càng nặng nề và gian nan hơn Nền kinh tế của Lào chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, cơ chế quản lý vốn nặng về tập trung quan liêu bao cấp, lại bị chi phối thêm bởi quy luật chiến tranh nên càng bị méo mó, phi kinh tế Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, cơ chế quản lý kinh tế bộc lộ rõ hơn những bất cập của nó Quan hệ sản xuất có dấu hiệu của sự khủng hoảng Do vậy, việc chấn chỉnh lại cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với quy luật vận động là một vấn đề hết sức khó khăn.Về mặt xã hội, chiến tranh đã làm xáo trộn và gây tổn thất lớn cho lực lượng lao động, để lại hậu quả rất nặng nề và kéo dài

Để nhanh chóng ổn định tình hình đất nước, bước đầu khắc phục hậu quả chiến tranh, Đại hội trù bị cho Đại hội Đảng lần thứ ba của Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp tại Viêng Chăn ngày 15 tháng 1 năm 1976, Đại hội đã thảo luận và cho thi hành các biện pháp nhằm ổn định tình hình các vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng nhanh chóng được thành lập Chính quyền cách mạng đã chỉ đạo các

cơ sở tiếp quản những vùng mới giải phóng Do triển khai kịp thời và chủ động nên công việc tiếp quản diễn ra nhanh gọn, có kết quả Lào đã tiếp nhận gần như nguyên vẹn các căn cứ quân sự, các cơ sở sản xuất, hành chính, văn hóa, góp phần tạo cơ sở vật chất ban đầu để nhanh chóng khôi phục kinh tế

Về mặt xã hội, nhà nước Lào đã có chính sách đúng đắn đối với những người đã từng tham gia trong bộ máy chính quyền, quân đội của chế độ cũ để họ yên tâm tham gia xây dựng cuộc sống mới; kiên quyết trừng trị những phần tử chống đối gây tác động xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân; tạo điều kiện thu xếp việc làm cho hàng chục vạn người thất nghiệp, tổ chức cho dân đi xây dựng vùng kinh tế mới nhằm phân bố lại lực lượng lao động Nhờ vậy, vấn đề an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, mọi sinh hoạt của nhân dân nhanh chóng trở lại bình thường

Trang 36

Về kinh tế, nhà nước Lào đã có những biện pháp khuyến khích sản xuất phát triển Những cơ sở sản xuất của các phần tử phản động, tư sản mại bản, những người chạy trốn

ra nước ngoài, của gia đình hoàng tộc phong kiến đã được chuyển sang khu vực quản lý của Nhà nước Sau một thời gian ngắn, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của Nhà nước và của cả tư nhân đều được tạo điều kiện thuận lợi để trở lại hoạt động Những khó khăn về nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế được khắc phục dần

Đặc biệt, các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội được tiến hành rất khẩn trương Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được kịp thời sử dụng vào công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động Những hoạt động văn hóa lành mạnh được đẩy mạnh ở khắp mọi nơi, đồng thời với việc nghiêm cấm những hoạt động văn hóa phản động, đồi trụy, bài trừ những tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, mại dâm, ma túy Cuộc sống văn hoá mới dần dần được xây dựng Hệ thống các trường học lần lượt được mở lại.Việc xóa nạn mù chữ được chú trọng Các địa phương đều phát động phong trào bình dân học vụ,

mở các lớp bổ túc văn hóa ở khắp nơi Ngành y tế được xây dựng và đẩy mạnh hoạt động Nhiều đội y tế lưu động được phái xuống các thôn, xã tổ chức tiêm phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân, kịp thời dập tắt những ổ dịch Công tác vệ sinh phòng bệnh, hoạt động thể dục, thể thao cũng được chú ý phát động thành phong trào quần chúng

Trong giai đoạn từ năm 1975 – 2015, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã giữ vững vai trò lãnh đạo, chèo lái đất nước đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác Trải qua 40 năm thành lập, nhất là sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào qua các kỳ Đại hội III (4/1982), IV (11/1986), được bổ sung và phát triển qua các Đại hội V (3/1991), Đại hội VI (6/1996), Đại hội VII (4/2001), Đại hội VIII (3/2006), Đại hội IX (3-2011), Đại hội X (1/2016); thực hiện bảy kế hoạch 5 năm (1981 – 1985, 1986 – 1990, 1991 – 1996, 1997 – 2001, 2002 –

2006, 2007 – 2011, 2011 - 2015) nhân dân Lào đã giành được những thành tựu to lớn, toàn diện, nhiều lĩnh vực trọng tâm bao gồm các vấn đề ngoại giao, kinh tế, văn hoá-xã hội, y tế, cơ sở hạ tầng, giáo dục, du lịch, thông tin, đầu tư và pháp luật đã được mở rộng

và phát triển song song với sự phát triển của đất nước có ý nghĩa lịch sử làm cho thế và lực của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào không ngừng lớn mạnh, uy tín và vị thế ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế:

Về kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Lào đã tăng đều kể từ khi Lào cải cách cơ chế kinh tế vào năm 1986 [11;15-16]:

Trang 37

- Tăng trưởng GDP đạt 8% vào năm 2012-2013 và 7,9% trong giai đoạn

2014-2015 GDP của cả nước năm 2013 đã đạt 10,1 tỷ đô la Mỹ

- Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản, hàng hoá, điện, nông sản, lâm sản ngoài gỗ, cà phê, sản phẩm gỗ và hàng may mặc

- Tỷ lệ mở rộng của ngành nông nghiệp hiện nay là 3 %, chiếm 23,3% của nền kinh

tế Trong khi đó, tốc độ mở rộng của ngành công nghiệp là 9%, chiếm 28,8% nền kinh tế

và khu vực dịch vụ đang mở rộng ở mức 8,5%, chiếm 39,8% nền kinh tế

Về Đối ngoại, Lào ngày càng có vai trò nổi bật trên vũ đài chính trị quốc tế và thường tổ chức các cuộc họp quốc tế và khu vực Lào đã phấn đấu xây dựng chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác Trước năm 1975, Lào có quan hệ ngoại giao với 43 quốc gia và 12 đại sứ quán ở nước ngoài Hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 138 quốc gia trên thế giới và 36 văn phòng đại diện của Lào Lào có 26 đại sứ quán, hai văn phòng đại diện thường trú và 8 cơ quan lãnh sự chung cũng như các cơ quan lãnh sự danh dự ở 17 quốc gia [43;45-46]

Về mặt xã hội: mặc dù kinh tế mới khởi sắc còn nhiều khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước vẫn chủ trương thực hiện mục tiêu chăm lo đến đời sống của nhân dân về cả vật chất lẫn tinh thần Đảng và Nhà nước đã cố gắng tìm tòi một hướng đi mới để phát triển kinh tế, nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất, tiến tới cải thiện đời sống của nhân dân Kết quả đổi mới bước đầu trong nông nghiệp đã góp phần giải quyết nhu cầu về lương thực trong nước và cải thiện một bước đời sống của nông dân thành phần dân cư chiếm số đông trong xã hội Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế tiếp tục phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Một số nội dung của cải cách giáo dục đã được thực hiện Nhiều loại hình trường lớp được mở ra Hệ thống dạy nghề chính quy đã được hình thành Nội dung giảng dạy, học tập có một số điểm sửa đổi Các trường đều đẩy mạnh lao động sản xuất, gắn nhiệm vụ giáo dục với các chương trình kinh tế - xã hội của cả nước và của từng địa phương Để thực hiện mục tiêu

Trang 38

cải thiện đời sống văn hoá của nhân dân, Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế Hệ thống trường học, bệnh viện, các cơ sở văn hoá tiếp tục được tu bổ, xây dựng Có thể nói, cơ sở hạ tầng là một trong những thành tựu lớn nhất của đất nước trong những năm qua, đã được phát triển nhanh chóng trên cả nước

Người dân ở khu vực thành thị và nông thôn có đường xá tốt, nước sạch và người dân ở hầu hết các vùng của đất nước hiện có điện Cho đến nay, 81% thôn bản đã tiếp cận đường giao thông, cho thấy mục tiêu năm 2015 đã đạt được Hơn 7.100 làng bây giờ có đường giao thông có thể tiếp cận được trong cả mùa mưa và mùa khô.Tình trạng đói nghèo của hộ gia đình đã dần dần giảm xuống Trong năm 2010, 20,4% gia đình người Lào được coi là "nghèo" Năm 2014, số gia đình người Lào còn trong diện đói nghèo giảm xuống còn 10,57% Mục tiêu đặt ra là giảm số gia đình nghèo xuống 6.11% trong cả nước trong năm 2015-16 [43;112]

Trong giai đoạn 2010-2014, ngành du lịch đã được mở rộng Các khách du lịch tăng lên như thể hiện trong các số liệu sau: trong năm 2011, hơn 2,7 triệu du khách viếng thăm Lào, tăng 8 phần trăm so với năm 2010 Trong năm 2014, hơn 4,1 triệu du khách đã đi đến Lào, tăng 10 phần trăm Năm 2013, Lào đã đón hơn 4,3 triệu du khách [43;113]

Tuy tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp đã tác động bất lợi đến kinh tế - xã hội của Lào Nhưng nhờ sự cố gắng của cả hệ thống chính trị, cùng doanh nghiệp, người dân đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu thực hiện bảy

kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội và đạt được những kết quả quan trọng: Nền kinh

tế có bước tăng trưởng khá hơn Tổng sản phẩm xã hội bình quân tăng 7 %/năm [43;117]

Sử học Lào ra đời và phát triển trong điều kiện và những đặc điểm lịch sử như vậy Những thắng lợi đạt được trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, đã mở

ra cơ hội phát triển mới cho sử học Lào Đi đôi với phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước Lào cũng đẩy mạnh phát triển các hoạt động nghiên cứu sử học Theo đó, Sử học Lào đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Lào như: chính sách hỗ trợ học phí đại học cho các sinh viên, học viên chuyên ngành lịch sử, chính sách tài trợ kinh phí cho đào tạo đội ngũ các nhà sử học Lào và các hoạt động nghiên cứu lịch sử; cũng như tập trung xây dựng, nâng cấp và thành lập mới các viện, trung tâm nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cơ sở vật chất cho nhân dân Lào nói chung và các nhà sử học Lào nói riêng làm việc, từ đó họ nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc soạn sử, tổ chức nghiên cứu lịch sử Lào

Trang 39

2.2 Sự phát triển của sử học Lào giai đoạn năm 1975 – 2015

2.2.1 Hình thành các cơ sở đào tạo và nghiên cứu

“ Lịch sử các quốc gia dân tộc có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta, để giành được thắng lợi cuối cùng, Đảng ta, nhân dân ta đã phải đánh đổi biết bao xương máu Xin nhắc lại với các đồng chí rằng lịch sử phải đổi bằng xương, bằng máu mới có thể rút ra được các bài học kinh nghiệm Bởi vậy nghiên cứu lịch sử là một kho quý vô tận Vấn đề là chúng ta biết sử dụng kho quý đó như thế nào Nghiên cứu lịch sử chỉ cho mọi người đến cánh cửa để mở kho báu, không chỉ kho báu của dân tộc mình mà còn của cả các nước trên thế giới đồng thời cho ta thấy trách nhiệm của mình đối với bản sắc chung của dân tộc.” [38] Nhìn nhận và đánh giá tầm quan trọng của công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc trên, ngay từ sau khi giải phóng đất nước Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước Lào đã giao cho hai bộ: Bộ Thông tin, tuyên truyền, văn hoá (nay là Bộ Thông tin, Văn hoá và Du lịch); và Bộ Giáo dục, Thể thao và các vấn đề tôn giáo (sau này

là Bộ Giáo dục và Thể thao) chịu trách nhiệm về nghiên cứu lịch sử với nhiệm vụ được thể hiện thông qua Quyết định số 12QĐ/TW về phân công trách nhiệm của Bộ Thông tin, tuyên truyền, văn hoá, Bộ Giáo dục, thể thao và các vấn đề tôn giáo trong nghiên cứu sử học:

- Sưu tầm và nghiên cứu những tài liệu về lịch sử, địa lý và văn học dân gian Lào

và biên soạn tài liệu, giáo trình, tư liệu về lịch sử dân tộc Lào, địa lý và văn học Lào

- Nghiên cứu và giới thiệu lịch sử, địa lý và văn học các nước xã hội chủ nghĩa anh

em, đặc biệt là Việt Nam

Ngày 15 tháng 08 năm 1983, Viện Nghiên cứu nghệ thuật và văn học được thành lập dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin, tuyên truyền và văn hóa, sau đó hai năm, hợp nhất với Viện nghiên cứu khoa học xã hội của Bộ Giáo dục, thể thao và các vấn đề tôn giáo thành Viện Văn hoá nghệ thuật quốc gia Lào

Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Lào là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Bộ Thông tin, tuyên truyền, văn hoá (nay là Bộ Thông tin, Văn hoá và Du lịch), có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt động khoa học và đào tạo sau đại học (bắt đầu từ năm 2008) về văn hóa nghệ thuật và văn hóa du lịch

Viện có nhiệm vụ và quyền hạn như sau [31;56]:

- Ban đầu Viện chịu trách nhiệm trực tiếp với Hội đồng Bộ trưởng và được giao nhiệm vụ biên soạn giáo trình Lịch sử Lào phục vụ cho hoạt động giáo dục, năm 1986 sau cải cách và đổi mới Viện trực thuộc lại Bộ và có trách nhiệm trình Bộ trưởng kế hoạch dài

Trang 40

hạn, hàng năm về hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học (từ năm 2008) của Viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt

- Nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học để Bộ Thông tin, tuyên truyền, văn hoá (nay là Bộ Thông tin, Văn hoá và Du lịch) hoạch định chiến lược, xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước về văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; nghiên cứu cơ bản những vấn đề lý luận, lịch sử, văn hoá, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch Lào

- Nghiên cứu về văn hoá, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch nước ngoài phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện; kiến nghị áp dụng những thành tựu, kinh nghiệm nghiên cứu phát triển văn hoá, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch của nước ngoài phù hợp với đặc điểm tình hình Lào

- Sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể; xây dựng, quản lý và phát triển ngân hàng dữ liệu về di sản văn hoá phi vật thể của các dân tộc Lào; thực hiện sản xuất phim nhân học để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy

- Nghiên cứu tư vấn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Lào

- Tổ chức đào tạo tiến sỹ (từ năm 2015) các chuyên ngành văn hoá, nghệ thuật và văn hóa du lịch theo chỉ tiêu phân bổ của Nhà nước

- Thực hiện hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng sau đại học (từ năm 2010) với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật

- Thực hiện hoạt động thông tin khoa học dưới hình thức hội nghị, hội thảo khoa học, xuất bản tạp chí Văn hóa học và các công trình khoa học về văn hóa, gia đình, nghệ thuật, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật

- Xây dựng trang tin điện tử (Website) riêng (đang trong quá trình triển khai từ năm 2013), quản lý và cung cấp các nguồn thông tin khoa học của Viện, tham gia vào hệ thống thông tin chung của các Viện, các Bộ, ngành có liên quan

- Thực hiện các hoạt động dịch vụ về nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng sau đại học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện và quy định của pháp luật

- Cải tiến công tác quản lý, hoàn thiện bộ máy tổ chức của Viện theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả; thực hiện các nội dung cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch công tác của Bộ

- Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng đào tạo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w