1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

228 779 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Người hướng dẫn TS. Hoàng Hữu Bình
Trường học Trường Cán Bộ Dân Tộc
Chuyên ngành Nghiên cứu văn hoá, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 2: Mục tiêu của dựa án - Thu thập, đánh giá một số tri thức địa phương của một số dân tộc vùng cao phía Bắc trong lĩnh vực khai thác, sử dụng một số nguồn tài nguyên thiên nhiên và

Trang 1

Uỷ ban Dân tộc

Báo cáo tổng hợp

DỰ ÁN “ điều tra tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên

nhiên và bảo vệ môi trường”

Cơ quan quản lý: Uỷ ban Dân tộc Cơ quan chủ trì: Trường Cán bộ dân tộc

Chủ nhiệm: TS Hoàng hữu bình

7654 02/02/2010

Hà Nội - 2009

Trang 2

UỶ BAN DÂN TỘC

nhiên và bảo vệ môi trường”

BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM UỶ BAN DÂN TỘC

Căn cứ Nghị định số 60/2008/NĐ - CP, ngày 09/5/2008 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc;

Căn cứ Quyết định số 29/QĐ - UBDT, ngày 17/2/2009 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc về việc dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 của Uỷ ban Dân tộc;

Căn cứ Quyết định số 60/QĐ - UBDT, ngày 12/3/2009 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc về việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2009 của Uỷ ban Dân tộc;

Căn cứ kết quả của cuộc họp Hội đồng thẩm định Đề cương ngày 24/3/2009 và kết quả họp thẩm định kinh phí ngày 03/6/2009;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Phê duyệt Đề cương dự án “Điều tra tri thức địa phương của một số dân

tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường” với nội dung cụ thể như sau:

Trang 3

Điều 2: Mục tiêu của dựa án

- Thu thập, đánh giá một số tri thức địa phương của một số dân tộc vùng cao phía Bắc trong lĩnh vực khai thác, sử dụng một số nguồn tài nguyên thiên nhiên

và bảo vệ môi trường

- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường hiện nay

2 Nội dung

1 Nghiên cứu khảo sát

- Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên đất;

- Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên rừng;

- Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên nước

Các nội dung trên được tiến hành điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp bảo tồn

và phát huy theo một số dân tộc, một số địa phương cụ thể

2 Đặt viết chuyên đề nghiên cứu: Đặt hàng với các chuyên gia viết các chuyên

đề nghiên cứu sâu (Có phụ lục chuyên đề kèm theo)

3 Tổ chức hội thảo khoa học tại Hà Nội: (02 cuộc)

3 Kinh phí

Kinh phí thực hiện dự án là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng)

Từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của Uỷ ban Dân tộc năm 2009 Có Biên bản thẩm định dự toán kinh phí kèm theo

4 Thời gian thực hiện: Năm 2009

5 Chủ nhiệm dự án: TS Hoàng Hữu Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ

dân tộc, Uỷ ban Dân tộc

6 Sản phẩm của dự án

- Báo cáo tổng hợp dự án;

- Báo cáo tóm tắt của dự án;

- Tài liệu của dự án có liên quan (Chuyên đề nghiên cứu sâu, kỷ yếu hội thảo, phiếu điều tra, số liệu điều tra )

Điều 2: Tổ chức thực hiện

Trang 4

a/ Văn phòng Uỷ ban Dân tộc ký hợp đồng với đơn vị chủ trì và chủ nhiệm dự án

để triển khai thực hiện, chủ trì tổ chức quyết toán kinh phí dự án theo quy định hiện hành

b/ Trường Cán bộ dân tộc, Uỷ ban Dân tộc, Chủ nhiệm dự án tổ chức triển khai thực hiện theo nội dung dự án được phê duyệt

c/ Vụ kế hoạch – Tài chính chủ trì, phối hợp với các Vụ, đơn vị liên quan tiến hành quản lý việc thực hiện dự án theo quy định hiện hành

Điều 3: Chánh Văn phòng Uỷ ban, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính, Hiệu

trưởng Trường Cán bộ dân tộc, Thủ trưởng các đơn vị liên quan và Chủ nhiệm

dự án chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này

Trang 5

3 Phạm vi, phương pháp, đối tượng và địa bàn điều tra 7

Phần I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRI THỨC ĐỊA

PHƯƠNG, TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

13

1.2 Tài nguyên và vấn đề suy thoái tài nguyên 22 1.3 Môi trường và vấn đề suy thoái môi trường 25 1.4 Tri thức địa phương các dân tộc thiểu số về khai thác tài

nguyên, bảo vệ môi trường

28

Phần II KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU VỀ TRI THỨC

ĐỊA PHƯƠNG MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG CAO PHÍA BẮC TRONG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

31

2.1 Khái quát về tài nguyên thiên nhiên, môi trường vµ c¸c d©n

téc thiÓu sè ë vùng cao phía Bắc và địa bàn điều tra, nghiên cứu

31

2.2 Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số vùng cao phía

Bắc trong khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

41

2.2.1 Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số vùng cao phía

Bắc trong khai thác tài nguyên đất

44

2.2.2 Tri thức địa phương của các tộc người thiểu số vùng cao

phía Bắc trong khai thác tài nguyên nước

64

Trang 6

2.2.3 Tri thức địa phương của các tộc người thiểu số vùng cao

phía Bắc trong khai thác tài nguyên rừng

75

2.3 Thực trạng sử dụng và mai một tri thức địa phương các tộc

người thiểu số vùng cao phía Bắc hiện nay

85

Phần III GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY

TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ VÙNG CAO PHÍA BẮC

101

3.1 Vấn đề phát huy và bảo tồn tri thức địa phương 101 3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy tri thức địa phương 104

PHỤ LỤC SỐ LIỆU ĐIỀU TRA

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Tri thức địa phương (Local Knowledge - Một số tác giả dịch là: Tri thức bản địa, kiến thức bản địa…) là hệ thống kiến thức của các dân tộc hoặc một cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó, tồn tại, phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng

Kiến thức địa phương còn được gọi bằng một số tên gọi khác như: Kiến thức bản địa, kinh nghiệm, kiến thức tộc người

Khác với kiến thức hàn lâm (Academic Knowlege) – những kiến thức được hình thành chủ yếu bởi các nhà thông thái, được hệ thống hoá và truyền lại qua sách vở; kiến thức địa phương được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân trong cộng đồng, được hoàn thiện dần dần và truyền thụ cho các thế

hệ kế tiếp bằng truyền khẩu trong gia đình, trong thôn, bản hoặc thể hiện trong

ca hát, ca dao, tục ngữ, tập tục…

Tri thức địa phương có một số đặc điểm cơ bản:

+ Kiến thức địa phương được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế

hệ trong một cộng đồng dân tộc, địa phương nhất định

+ Kiến thức địa phương có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương, tộc người – nơi đã sản sinh và phát triển nó

+ Kiến thức địa phương do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra qua lao động trực tiếp

+ Kiến thức địa phương được lưu giữ bằng trí nhớ, được truyền bá từ thế

hệ này sang thế hệ kế tiếp bằng truyền miệng, văn vần, tập tục…

+ Kiến thức địa phương luôn gắn liền và hoà hợp với văn hoá truyền thống địa phương, tộc người

Tri thức địa phương có một số hạn chế:

+ Tính địa phương, tộc người rất cao nên khó phổ cập và phổ biến rộng rãi cho vùng khác, tộc người khác

+ Một số kiến thức địa phương ngày nay đã không còn phù hợp với điều kiện môi trường và hoàn cảnh xã hội hiện đại

Vai trò của tri thức địa phương:

Trang 8

Thực tiễn cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và sự phát triển xã hội trong nhiều năm qua đã cho thấy:

+ Nhiều giải pháp phát triển được du nhập từ bên ngoài vào không có tính khả thi về kinh tế, hoặc không thích ứng về văn hoá, nên bị đào thải dần dần Trong khi đó những tri thức địa phương (hay của tộc người) không được khai thác, áp dụng vào các chương trình phát triển miền núi Ví dụ, Dự án trồng rừng

ở Việt Nam đã không chú ý tới các giống cây bản địa mà chỉ tập trung đầu tư cho cây nhập nội như bạch đàn, thông, keo, do vậy đã không được người nông dân miền núi hưởng ứng và chăm sóc, bảo vệ lâu dài

+ Công nghệ, khoa học hiện đại của phương Tây chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của thách thức xã hội, môi trường, kinh tế vô cùng phong phú, đa dạng và đang biến động hàng ngày

+ Không ít bộ môn khoa học đang trông chờ ở tri thức địa phương các gợi

ý quan trọng, thiết thực để giải quyết có hiệu quả những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra So với khoa học, công nghệ hiện đại, nhiều giải pháp của kĩ thuật truyền thống được thử thách qua nhiều thế hệ, có hiệu quả cao, có sẵn tại cộng đồng và rất phù hợp với nền văn hoá địa phương nên rất dễ phổ biến, ứng dụng trong cộng đồng

Sự mai một của tri thức địa phương:

Hệ thống tri thức địa phương đang có chiều hướng bị xói mòn Các nhà khoa học ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của tri thức địa phương đối với sự phát triển bền vững miền núi Không ít các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng đa dạng sinh học, đa dạng văn hoá và tri thức địa phương luôn luôn có quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau và đều đang có nguy cơ bị suy thoái Thí dụ, nạn phá rừng hiện nay tại nhiều địa phương đã làm xói mòn đất, làm mất nguồn cây thuốc quý, dồi dào trong thiên nhiên, do đó đã kéo theo sự thất thoát nguồn tri thức dân gian có liên quan đến các cây thuốc của địa phương, thậm chí còn dẫn đến tình trạng mất hẳn những tri thức về cách sử dụng các cây thuốc đó để chữa bệnh Hoặc như việc sử dụng rộng rãi phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đã làm mất đi nhiều giống lúa địa phương mang gen kháng bệnh cao và thích nghi với môi trường tự nhiên khắc nghiệt

Trong bối cảnh như vậy, việc điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương ở các dân tộc nói chung, các dân tộc ở vùng cao phía Bắc nói riêng trong

Trang 9

lĩnh vực khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sẽ có nhiều đóng góp cụ thể cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội – văn hoá, sự nghiệp phát triển bền vững ở vùng cao phía Bắc

2 Mục tiêu

Trên cơ sở thu thập, đánh giá một số tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong lĩnh vực khai thác, sử dụng một số nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thực trạng sử dụng và mai một của chúng trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới; đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía Bắc trong khai thác một số nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường hiện nay

3 Phạm vi, phương pháp, đối tượng và địa bàn điều tra

Phạm vi vấn đề:

+ Điều tra về một số tri thức địa phương tiêu biểu của một số dân tộc cư trú ở vùng cao phía Bắc, trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên đất, rừng, nước và bảo vệ môi trường

+ Trên cơ sở điều tra, đánh giá về thực trạng sử dụng, hiệu quả mang lại cũng như sự mai một của các tri thức địa phương nói trên trong thời kỳ CNH, HĐH; dự án đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy chúng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, góp phần phát triển bền vững vùng cao phía Bắc

Trang 10

3.2 Phương pháp điều tra

+ Thực hiện các phỏng vấn sâu,

+ Thực hiện các thảo luận nhóm,

+ Thu thập tài liệu thứ cấp,

+ Tiến hành điều tra xã hội học,

+ Tổ chức 1 cuộc hội thảo về đề tài tại địa phương

Trên cơ sở kết quả thực địa, tài liệu thu thập được của các thành viên, trưởng đoàn viết báo cáo tổng hợp về dân tộc/địa phương mình phụ trách

3.2.2 Phương pháp thống kê số liệu, thu thập tài liệu thứ cấp

Phương pháp thống kê số liệu, tư liệu và tài liệu thứ cấp được áp dụng trong quá trình thu thập và xử lý các số liệu từ các nguồn khác nhau như: các số liệu, tài liệu liên quan về địa hình, diện tích đất đai, nguồn nước, dân số, dân tộc, diện tích đất nông lâm nghiệp, đất có rừng, đất trống, năng suất lúa, ngô, đậu tương, dịch bệnh ở gia súc, gia cầm,… Khi điều tra thực địa, dự án đã tiến hành khảo sát về thực trạng môi trường ở các thôn trong xã, những vấn đề bức xúc về môi trường như nước sạch, vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, xử lý phân gia súc, nhà vệ sinh…; thực trạng về rừng và công tác bảo vệ rừng, ý thức của cộng đồng trong việc trồng, khai thác và bảo vệ rừng; tình hình canh tác lúa nước, đậu tương, ngô, rau xanh, thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm

3.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Dự án đã tiến hành phỏng vấn 400 phiếu hỏi tại địa bàn nghiên cứu Phân

bố phiếu điều tra theo đối tượng và địa bàn thể hiện ở đối tượng, địa bàn điều tra

Nội dung cơ bản của các loại phiếu hỏi để nắm được ý kiến của đối tượng

về các vấn đề: Nhận thức về tài nguyên, môi trường, tri thức địa phương, thực hành tri thức địa phương, mai một tri thức địa phương và giải pháp bảo tồn, phát huy hiện nay (xem bảng phỏng vấn ở phụ lục báo cáo)

Trang 11

Ngoài 400 phiếu điều tra, khảo sát về tri thức địa phương, về thực hành tri thức địa phương và đánh giá của người dân về tri thức địa phương, sử dụng tri thức địa phương trong sản xuất và đời sống; các cuộc phỏng vấn sâu, dự án còn thực hiện một số cuộc thảo luận nhóm phụ nữ ở các lứa tuổi khác nhau, nhóm nam giới ở các lứa tuổi khác nhau, nhóm người già, người có uy tín trong các dân tộc thiểu số tại địa phương để thu thập thông tin về dự án

Sau khi xử lý trên phần mềm SPSS, dự án đã có bộ số liệu để phân tích, đánh giá về tri thức địa phương, hiện trạng sử dụng tri thức địa phương ở các dân

tộc thiểu số vùng cao phía bắc hiện nay; nguyên nhân của thực trạng

3.2.4 Phương pháp hội thảo

Phương pháp hội thảo nhằm thu thập ý kiến đánh giá kết quả nghiên cứu, lấy ý kiến đóng góp, bổ sung thông tin của người dân về các kết quả mà cán bộ

dự án khảo sát, nghiên cứu, thu thập được Trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm tri thức địa phương cũng như điều tra bằng phiếu phỏng vấn người nghiên cứu kết hợp với các kỹ năng quan sát, phỏng vấn sâu, chụp ảnh, PRA một cách đồng bộ để thu thập một cách đầy đủ nhất tư liệu tại các địa phương

3.2.5 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia đã được chúng tôi sử dụng khi thu thập, phân loại, đánh giá về tri thức địa phương và hình thành báo cáo tổng hợp Có 2 hoạt động chính là:

+ Đặt các chuyên đề khoa học: Dự án đã đặt các chuyên đề và thu sản phẩm như trình bày ở Kỷ yếu khoa học của Dự án

+ Tổ chức phản biện các báo cáo, chuyên đề và sản phẩm đề tài

3.3 Đối tượng và địa bàn điều tra

3.3.1 Đối tượng điều tra

Để thu thập được các tri thức địa phương ở các dân tộc, dự án đã điều tra các nhóm đối tượng sau:

+ Nhân dân một số dân tộc (chú ý: người già, phụ nữ, người có uy tín, già làng, trưởng họ, thầy cúng )

+ Các thế hệ cán bộ lãnh đạo địa phương, nhất là những đồng chí là người dân tộc thiểu số tại chỗ

+ Trí thức người dân tộc thiểu số tại địa bàn điều tra

3.3.2 Địa bàn điều tra

Trang 12

Theo phương pháp chọn mẫu, dự án chọn 4 tỉnh: Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Giang và Hoà Bình làm địa bàn điều tra Khi tiến hành điều tra ở mỗi địa phương, dự án đã thực hiện 5 hoạt động cụ thể như sau:

Tỉnh Lai Châu:

+ Thu thập tài liệu thứ cấp

+ Điều tra 100 phiếu (50 phiếu nhân dân + 30 phiếu lãnh đạo địa phương+

20 phiếu trí thức địa phương Riêng 50 phiếu nhân dân, sẽ có 20 phiếu điều tra người già, 20 phiếu điều tra phụ nữ và đối tượng khác là 10 phiếu)

+ Thu thập tài liệu thứ cấp

+ Điều tra 100 phiếu (50 phiếu nhân dân + 30 phiếu lãnh đạo địa phương+

20 phiếu trí thức địa phương Riêng 50 phiếu nhân dân, sẽ có 20 phiếu điều tra người già, 20 phiếu điều tra phụ nữ và đối tượng khác là 10 phiếu)

+ Thu thập tài liệu thứ cấp

+ Điều tra 100 phiếu (50 phiếu nhân dân + 30 phiếu lãnh đạo địa phương+

20 phiếu trí thức địa phương Riêng 50 phiếu nhân dân, sẽ có 20 phiếu điều tra người già, 20 phiếu điều tra phụ nữ và đối tượng khác là 10 phiếu)

Trang 13

Tỉnh Hoà Bình:

+ Thu thập tài liệu thứ cấp

+ Điều tra 100 phiếu (50 phiếu nhân dân + 30 phiếu lãnh đạo địa phương+

20 phiếu trí thức địa phương Riêng 50 phiếu nhân dân, sẽ có 20 phiếu điều tra người già, 20 phiếu điều tra phụ nữ và đối tượng khác là 10 phiếu)

+ Thực hiện các phỏng vấn sâu

+ Tổ chức thảo luận nhóm

+ Tổ chức hội thảo ở huyện Tân Lạc

Sản phẩm:

Báo cáo nhóm + kỷ yếu hội thảo + tập tài liệu thứ cấp

4 Nội dung điều tra

4.1 Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương ở các dân tộc vùng cao phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên đất:

- Tri thức địa phương trong quản lý tài nguyên đất

- Tri thức địa phương trong sử dụng, khai thác tài nguyên đất

- Tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên đất

4.2 Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương ở các dân tộc vùng cao phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên rừng:

- Tri thức địa phương trong quản lý tài nguyên rừng

- Tri thức địa phương trong sử dụng, khai thác tài nguyên rừng

- Tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên rừng

4.3 Điều tra, thu thập, đánh giá tri thức địa phương ở các dân tộc vùng cao phía Bắc trong khai thác nguồn tài nguyên nước (bao gồm các lĩnh vực: nước ăn và nước cho sản xuất ):

- Tri thức địa phương trong quản lý tài nguyên nước

- Tri thức địa phương trong sử dụng, khai thác tài nguyên nước

- Tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên nước

Trang 14

PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG, TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG CỦA CÁC

DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM 1.1 Tri thức địa phương

Thuật ngữ tri thức địa phương (local knowledge) hay kiến thức bản địa (Indigenous knowledge) từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập Theo Louise Grenier (1996), kiến thức bản địa là kiến thức của bất kỳ một cộng đồng nào đã được xác định, nó được tồn tại bên trong và được phát triển trong những hoàn cảnh cụ thể của tộc người Tri thức địa phương được tất cả các thành viên thuộc các lứa tuổi và giới khác nhau trong một cộng đồng tạo dựng nên Nó biểu hiện sự tích luỹ của các thế hệ giàu kinh nghiệm qua các quan sát tinh tế và thử nghiệm công phu, được thể hiện trong văn học dân gian, luật tục và các tín ngưỡng, nghi lễ Viện Tái thiết nông thôn quốc tế (IIRR) cũng đưa

ra khái niệm về tri thức bản địa, đó là những kiến thức do người dân của một cộng đồng phát triển trong nhiều năm và hiện vẫn đang tiếp tục phát triển kiến thức này Kiến thức bản địa không chỉ giới hạn trong một bộ tộc hay một khu vực dân cư mà nó thuộc quyền sở hữu của tất cả cộng đồng Ở Việt Nam, khái niệm tri thức địa phương đầu tiên được các nhà nghiên cứu sinh thái môi trường đưa ra “là sản phẩm của quá trình lao động, được tích luỹ và hoàn thiện qua nhiều thế hệ của các cộng đồng địa phương” Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội cũng đưa ra các nội hàm của thuật ngữ tri thức địa phương là “tri thức dân gian” (PGS.TS Ngô Đức Thịnh) hay là “bản sắc văn hoá tộc người” (PGS.TS Diệp Đình Hoa) Theo PGS.TS Phạm Quang Hoan, “Tri thức địa phương đồng nghĩa với tri thức bản địa, tri thức dân gian, tri thức tộc người và được hiểu dưới hai góc độ:

Một là, “ tri thức địa phương” là toàn bộ những hiểu biết, những kinh

nghiệm của tộc người được tích luỹ, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn Nói cách khác tri thức địa phương là phương thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người Cũng có thể coi đó là bản sắc của tộc người

Trang 15

Hai là, “tri thức địa phương” là tri thức của các cộng đồng tộc người cùng

cộng cư trong một vùng sinh thái hay một vùng văn hoá nhất định Trong trường hợp này tri thức địa phương có hướng giao lưu và tiếp nhận văn hoá giữa các tộc người”

Vị trí, vai trò và đặc điểm của tri thức địa phương:

Ở đây, chúng ta có thể hiểu: tri thức là những hiểu biết có hệ thống về thế

giới khách quan, về xã hội và về bản thân con người Đó là tri thức dân gian và tri thức khoa học hiện đại (hay tri thức hàn lâm),

Trong các tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, tri thức dân gian thường được dùng dưới dạng cụm từ folk knowledge, connaissances populaires Nhưng ở một thời điểm nào đó có người đã đồng nhất tri thức dân gian với tri thức địa phương (local knowledge, connaissances locales), tri thức truyền thống (traditional knowledge connaissances traditionnelles) và với tri thức bản địa (indigenous

knowledge, connaissances indigenes) Ngược lại, một số nhà nghiên cứu đã phân biệt sự khác nhau ở một vài khía cạnh của bốn thuật ngữ này Hơn nữa

cũng có nhà khoa học đã dịch cụm từ folk knowledge ra tiếng Việt là kiến thức dân gian, cho nên các cụm từ traditional knowledge, local knowledge, indigenous knowledge đều đã được chuyển dịch thành kiến thức truyền thống, kiến thức địa phương, kiến thức bản địa

Đặc biệt hơn, thuật ngữ folklore do nhà khảo cổ học người Anh William J

Thoms đưa ra lần đầu tiên trong một bài báo nhỏ kí bút danh là Ambrose Merton đăng trên tờ Tạp chí Athnaeum, số ra ngày 22 tháng 8 năm 1846 ở Luân Đôn, có

lẽ mới đầu chỉ hàm chứa một nội dung đơn giản như “Tri thức, trí tuệ của dân chúng”, hoặc “tri thức dân gian” Nhưng sau đó, do bộ môn khoa học nhân văn này phát triển rộng ra toàn thế giới, nên hàm nghĩa của nó cũng được mở rộng như: “Dân tộc học”, “Văn học dân gian”, “Văn nghệ dân gian”, “Văn hoá dân

gian”, Chính vì thế, hiện nay tri thức dân gian chỉ còn tồn tại như là một thành

tố của Văn hoá dân gian (folklore), và ở một chừng mực nào đó được hiểu tương

đương với các cụm từ thuật ngữ: Tri thức địa phương, tri thức truyền thống, tri thức bản địa (nhất là trong không gian văn hoá - xã hội của từng tộc người thiểu

số ở Việt Nam)

Còn tri thức khoa học hiện đại (hay tri thức hàn lâm) được thừa nhận là tương đương với cụm từ thuật ngữ bằng tiếng Anh, tiếng Pháp: “modern

Trang 16

scientific knowledge”, “connaissances scientifiqnes modernes” (academic knowledge, connaissances académiques) Tức là những hiểu biết được hình thành bởi cá nhân hay tập thể các nhà khoa học, được hệ thống hoá và truyền lại qua sách vở, hoặc là một hệ thống những kiến thức được tích luỹ trong quá trình lịch sử, được thực tiễn kiểm chứng, và phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo, biến cải thế giới hiện thực Những tri thức này rất khách quan, chính xác, có hệ thống và rất phù hợp với đòi hỏi của khoa học hiện nay Loại tri thức khoa học hiện đại này có thể bao gồm những dạng tri thức như: “Tri thức khoa học cơ bản”, “tri thức khoa học tự nhiên”, tri thức khoa hoc

xã hội”, “tri thức khoa học kĩ thuật”, “tri thức khoa học quân sự”, “tri thức khoa học ứng dụng”,

Tri thức dân gian là gì ?

Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết chúng ta nên tham khảo thêm một số quan niệm về tri thức trong triết học Mác - Lênin cũng như trong công trình nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Việt Nam:

Trong mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn, triết học Mác - Lênin đã đề

cập tới hai loại tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận Cả hai loại tri thức này không phải chỉ do nhận thức cảm tính (1) đạt được, mà còn phải nhờ tới nhận thức lí tính (2) Do vậy, sẽ phạm phải sai lầm nếu chúng ta đồng nhất tri thức

kinh nghiệm với giai đoạn nhận thức cảm tính Tri thức bắt nguồn từ kinh nghiệm, nhưng không phải mọi hoạt động nhận thức riêng biệt đều phải từ kinh nghiệm Tri thức không di truyền theo ý nghĩa sinh vật học mà được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua con đường xã hội Trước đây mỗi cá nhân trong cộng đồng buộc phải tự mình trải qua tất cả kinh nghiệm của cuộc đời, nhưng

(1) Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, hiểu

biết dưới những hình thức như cảm giác, tri giác, biểu tượng.

(2) Nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình

nhận thức và được nảy sinh trên cơ sở các tài liệu của nhận thức cảm tính Muốn nhận thức được nội dung, bản chất của sự vật, chúng ta phải nhờ đến nhận thức lí tính Những hình thức

cơ bản của nhận thức lí tính là khái niệm, phán đoán và suy lí Ở đây có thể hiểu thêm: Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lí luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, tuy chúng có quan hệ với nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, bởi vì trong nhận thức kinh nghiệm đã bao hàm yếu tố lí tính Do đó, có thể coi tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận là những bậc thang của nhận thức lí tính, nhưng khác nhau về trình độ, tính chất phản ánh

Trang 17

ngày nay quá trình ấy không còn là tất yếu nữa Kinh nghiệm cá nhân đã được tích luỹ và được thay thế ở mức độ đáng kể bởi những kinh nghiệm của nhiều thế

hệ và được khái quát thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận Vậy tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận là gì?

Tri thức kinh nghiệm là loại tri thức mà nội dung của nó về cơ bản là thu

nhận được từ kinh nghiệm, từ quan sát và thực nghiệm Ở trình độ tri thức này, đối tượng của nhận thức được phản ánh từ bình diện các đặc tính và các mối liên

hệ bên ngoài của sự vật Hay nói một cách khác, tri thức kinh nghiệm là tri thức nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, từ lao động sản xuất, đấu tranh xã hội hoặc thực nghiệm khoa học(3) Ở đây, tri thức kinh nghiệm được giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại những dữ kiện thu nhận được từ quan sát và thực nghiệm Tri thức kinh nghiệm đã mang tính trừu tượng và khái quát, song mới là bước đầu và còn hạn chế bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệ ở bên ngoài của sự vật và còn rời rạc Ở trình độ tri thức kinh nghiệm, chúng ta chưa thể nắm bắt được cái tất yếu một cách sâu sắc nhất và chưa thể hiểu sâu được mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng

Do đó, “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, tr 718)

Trong cuốn “Dân tộc Nùng ở Việt Nam” (1992), khi nói về tri thức dân gian, tác giả Hoàng Nam không có xu hướng nêu rõ quan niệm, mà chỉ dẫn ra những ví dụ rất cụ thể như tri thức đoán định thời tiết, tri thức chữa một số bệnh nan y bằng các bài thuốc dân gian độc đáo, tri thức về gái đẻ, về bồi dưỡng sức khoẻ cho các bà đẻ và tri thức nuôi dạy con trẻ Nhưng đến cuốn “Bước đầu tìm hiểu văn hoá tộc người, văn hóa Việt Nam”, ông đã nêu bật được vai trò của tri thức trên con đường tiếp cận chân lí: Trước khi có chữ viết, trước khi có những người làm văn chương chuyên nghiệp, văn học nghệ thuật dân gian là kho tàng tri thức dân gian, và cộng đồng dân cư chính là người chuyên chở kho tri thức đó

từ thế hệ này sang thế hệ khác Trải qua hàng ngàn năm lao động, nhiều người

(3) Có hai loại tri thức kinh nghiệm :

Một, tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thu nhận được từ những quan sát hàng ngày trong cuộc sống và lao động sản xuất

Hai, tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ thực nghiệm khoa học

Cả hai loại tri thức kinh nghiệm này trong sự phát triển của xã hội, đã ngày càng xâm nhập lẫn nhau và có vai trò không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người, nhất là trong sự

Trang 18

dân tự tổng kết từ thực tiễn, rút ra những tri thức quan trọng trên nhiều mặt của cuộc sống Và trên con đường tiếp cận chân lí, tri thức khoa học đóng vai trò chủ đạo, song tri thức dân gian cũng xứng đáng có vị trí của mình Trân trọng tri thức dân gian là trân trọng một chân lí khách quan

Muốn hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cũng nên tham khảo thêm quan niệm của Ngô Đức Thịnh về tri thức dân gian Chẳng hạn như tri thức dân gian (tri thức địa phương) là tri thức phi học đường, là vốn kinh nghiệm mà con người tích luỹ được qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng và biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội, phục vụ lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân Vốn tri thức ấy tồn tại và phát triển chủ yếu không thông qua con đường học vấn

và sách vở, mà thường truyền tụng và làm phong phú hơn thông qua trí nhớ và truyền miệng, qua các câu châm ngôn, thành ngữ, tục ngữ, qua thực hành lao động nghề nghiệp hàng ngày của người nông dân, thợ thủ công, người đánh cá

và chăn nuôi Có thể phân chia vốn tri thức dân gian của các dân tộc ra thành các loại: 1) Tri thức về tự nhiên và môi trường, 2) Tri thức về bản thân con người, 3) Tri thức về sản xuất, 4) Tri thức về quản lí xã hội, cộng đồng (Ngô Đức Thịnh, 1995, tr.70) Năm năm sau, trong một bài nghiên cứu về các hiện tượng văn hoá phi vật thể, tác giả lại có dịp bổ sung thêm quan niệm của mình về vấn đề này: Tri thức dân gian (folk knowledge) cũng là một lĩnh vực của văn hoá phi vật thể Tri thức dân gian là toàn bộ những hiểu biết của cộng đồng về tự nhiên, xã hội và bản thân con người, được tích luỹ trong trường kì lịch sử qua kinh nghiệm (trải nghiệm) của bản thân cộng đồng đó Tri thức dân gian ấy được trao truyền cho các thế hệ kế tiếp thông qua trí nhớ, truyền miệng và thực hành

xã hội Nó giúp cho con người có được những ứng xử thích hợp với môi trường

tự nhiên, điều hoà các quan hệ xã hội, những hiểu biết cần thiết trong sản xuất, trong dưỡng sinh và trị bệnh Tri thức dân gian của mỗi cộng đồng tương thích với môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội và trình độ phát triển văn hoá nhất định

Tóm tắt một số đặc điểm của tri thức địa phương:

Tri thức dân gian được hình thành, phát triển qua thử thách thực tiễn trong lịch sử tộc người (hay lịch sử của cộng đồng cư dân) tại các địa phương cụ thể

Sự hiểu biết về tri thức dân gian rất khác nhau giữa nam giới và nữ giới, giữa người nhiều tuổi và người ít tuổi Do đó, yếu tố tuổi và cơ cấu giới được thể

Trang 19

hiện rất rõ trong tri thức dân gian

Tri thức dân gian thường được phổ biến từ thế hệ này sang thế hệ khác qua trí nhớ, truyền miệng, qua phong tục tập quán, truyện kể, thơ ca dân gian, qua thực hành lao động nghề nghiệp của cư dân địa phương (cá nhân, gia đình, dòng

họ, cộng đồng)

Tri thức dân gian rất đa dạng ngay trong một vùng, một địa phương nhỏ,

và có khả năng thích ứng cao với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội của từng địa phương - nơi đã sản sinh và phát triển tri thức dân gian đó

Tri thức dân gian luôn gắn liền và hoà hợp với nền văn hoá truyền thống, tập tục địa phương, vì thế khả năng tiếp thu, ứng dụng nó trong cộng đồng là rất

dễ dàng và có hiệu quả

Tri thức dân gian tuy mới chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm, tiên nghiệm

và cảm nhận, nhưng lại được rút ra từ hoạt động thực tiễn của con người, nên nó rất đúng và có giá trị thiết thực trong xã hội hiện đại

Sự khác nhau giữa tri thức địa phương và tri thức khoa học hiện đại:

Khác với tri thức dân gian, tri thức khoa học hiện đại phải trải qua sáng chế phát minh của cá nhân hay của tập thể các nhà khoa học, qua thử nghiệm, qua giáo dục và phổ cập mới có thể tới được quần chúng nhân dân Hơn nữa, tri thức khoa học hiện đại lại mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại

sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Vì vậy, tri thức khoa học hiện đại thể hiện tính chân lí một cách sâu sắc, chính xác, hệ thống và có căn cứ khoa học hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn Do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến rộng hơn nhiều so với tri thức dân gian

Còn tri thức dân gian không giống với tri thức khoa học hiện đại ở chỗ nó được hình thành chủ yếu dựa vào sự tích luỹ, mò mẫm, chứ không phải dựa vào các thí nghiệm mang tính khoa học và có hệ thống Nó là vốn tri thức của nhân dân lao động địa phương (hay của cộng đồng tộc người) đang được lưu truyền trong dân chúng và được người dân lao động địa phương thực hành trong cuộc sống hằng ngày Tri thức dân gian rất có ích trong việc quản lý môi trường tự nhiên và xã hội (hệ sinh thái nhân văn) Nó chứa đựng các giá trị văn hoá như một nguồn thông tin có xu hướng dài lâu và những sự cố bất thường có thể không xảy ra trong khoảng thời gian mà các nhà khoa học đang tiến hành nghiên

Trang 20

cứu ở ngay địa phương (hay tộc người) đó Tuy nhiên, tri thức dân gian của nhân dân lao động địa phương (hay của cộng đồng tộc người) thường khó so sánh được với những tri thức khoa học hiện đại Chẳng hạn như: Những người nông dân ở vùng cao không biết gì về vi sinh vật và nấm bệnh bởi vì họ không có tri thức khoa học về vi sinh vật học và kĩ thuật thích hợp để lĩnh hội chúng Nhưng

họ lại có thể nhận ra rằng cây họ đậu có khả năng cải tạo độ phì nhiêu cho đất

mà họ không thể hiểu vì sao điều đó thường xảy ra Có lẽ đây là điểm hội tụ giữa tri thức dân gian của nhân dân lao động địa phương và tri thức khoa học hiện đại của các nhà khoa học

Qua ví dụ này, theo chúng tôi, các nhà khoa học phải có nhiệm vụ nghiên cứu, học hỏi tri thức dân gian và phải sử dụng vốn tri thức này như một nguồn ý tưởng và giả thiết, đồng thời kiểm tra nguồn giả thiết đó trong khuôn khổ của tri thức khoa học hiện đại

Hơn nữa, các nhà khoa học phải ghi nhận và phân tích các giá trị độc đáo của tri thức dân gian trong những điều kiện thích hợp, cụ thể để ứng dụng nguồn tri thức này vào trong các chương trình phát triển bền vững vùng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Để hiểu rõ hơn, chúng ta có thể tham khảo thêm sự khác

nhau giữa tri thức dân gian và tri thức khoa học hiện đại ở bảng dưới:

Bảng so sánh giữa tri thức địa phương và tri thức khoa học

Lĩnh vực so sánh Tri thức địa phương Tri thức khoa học hiện đại

1 Mối quan hệ Phụ thuộc Chi phối

2 Phổ biến Trí nhớ, truyền miệng,

qua truyện kể dân gian, tục ngữ, ca dao, phong tục tập quán, nghi lễ tôn giáo, và mang tính khách quan

Sách vở, học vấn, có tính chất kinh điển và mang tính chủ quan

Trang 21

Có tính sinh thái

Nhanh/ khoa học Giả thuyết/ quy luật Theo di truyền và thứ bậc

4 Phạm vi ứng dụng Hẹp (địa phương, tộc

người)

Rộng (trên toàn thế giới)

(Louise Grenier, 1997)

Một số hạn chế của tri thức địa phương:

Chính việc xem xét một số đặc điểm của tri thức dân gian và sự khác nhau giữa tri thức dân gian và tri thức khoa học hiện đại, chúng ta có thể rút ra một số hạn chế nhất định của tri thức dân gian như sau:

- Do tính địa phương (hay tính bản địa, tính tộc người) rất cao, nên tri thức dân gian khó phổ biến rộng sang cộng đồng dân cư (hay cộng đồng tộc người) khác

- Do độ chính xác kém hơn tri thức khoa học hiện đại, nên rất khó cho việc sử dụng tri thức dân gian để đo đạc và kiểm tra thực hành Trong thực tế ở vùng cao nước ta, một số tri thức dân gian có liên quan đến tập tục du canh quay

vòng có thể không còn phù hợp nữa do áp lực gia tăng dân số

Như vậy, không thể cho rằng quan niệm truyền thống của nhân dân lao động địa phương về tri thức dân gian của họ, về mối quan hệ gắn kết giữa con người với môi trường tự nhiên đã thể hiện một cách hoàn chỉnh, khoa học Rõ ràng trong quan niệm truyền thống về tri thức dân gian và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên đã không dựa trên cơ sở khoa học chính thống, mà thường dựa vào kinh nghiệm đến mức mê tín, duy tâm, thần bí Nhân dân lao động địa phương đã sống trong nền văn hoá dân gian của họ, trong mối quan hệ khăng khít với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội qua hàng thế kỷ, nên tri thức dân gian của họ đã được thử thách qua áp lực chọn lọc mạnh mẽ và dài lâu trong quá trình tiến hoá của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; đồng thời cũng

là một tiến trình tích lũy qua kinh nghiệm, chiêm nghiệm, và sự thích ứng nhờ tiếp xúc chặt chẽ với những điều kiện tự nhiên và xã hội đặc thù

Mặc dù là còn có những hạn chế, nhưng tri thức dân gian vẫn có vai trò rất

to lớn trong môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mỗi tộc người, là nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng, có thể giúp ích rất nhiều cho tiến trình

Trang 22

phát triển bền vững của cộng đồng dân tộc theo phương châm ít tốn kém, có sự tham gia tích cực của nhân dân lao động địa phương (hay của tộc người) và đạt được những thành quả nhất định trong các lĩnh vực như văn hoá, nông, lâm, ngư nghiệp, môi trường, khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế,

1.2 Tài nguyên và vấn đề suy thoái tài nguyên

Theo Luật Bảo vệ môi trường, tài nguyên có nghĩa rộng là “toàn bộ các yếu tố tự nhiên có giá trị, là nguồn vật chất để con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình” Người ta thường phân biệt tài nguyên có

thể tái sinh (đất đai, rừng, biển ) và tài nguyên không thể tái sinh (khoáng sản, năng lượng) Căn cứ vào giá trị sử dụng của các loại tài nguyên, trong quản lý,

người ta còn phân biệt tỷ mỉ hơn nữa, như: tài nguyên khoáng sản có khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quí hiếm) và khoáng sản phi kim loại (đá quý, dầu mỏ, khí đốt, vật liệu xây dựng ) Theo nghĩa hẹp, tài nguyên là

các nguồn vật chất tự nhiên mà con người dùng nó làm nguyên liệu cho các hoạt động chế tác của mình để có được vật dụng Khi nói đến tài nguyên theo nghĩa này chủ yếu là muốn nói đến tài nguyên khoáng sản, đất đai, lâm thổ sản Ở nước ta, tài nguyên gồm các loại chủ yếu sau:

Tài nguyên ngư nghiệp:

Loại tài nguyên này rất phong phú, có ở cả vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn với nhiều chủng loại thuỷ, hải sản khác nhau Đó là 1 triệu ha nước nội địa, 1 triệu ha nước lợ, nước mặn; đặc biệt là 3.260 km bờ biển với nhiều ngư trường có tiềm năng phong phú về hải sản, hệ sinh thái biển và những kỳ quan thiên nhiên hấp dẫn

Tài nguyên khoáng sản và năng lượng:

Theo Luật khoáng sản năm 1996, khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác Khoáng vật, khoáng chất

Trang 23

ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản Theo

đó, hiện tại nước ta có khoảng 3.500 mỏ và điểm quặng của 80 loại khoáng sản; trong đó có hơn 32 loại và trên 270 mỏ và điểm quặng đã được đưa vào khai thác hoặc thiết kế khai thác

Nguồn năng lượng thuỷ lực (thuỷ điện) ở nước ta khá phong phú, phân bố rộng khắp từ Bắc đến Nam Nguồn nước to lớn đã tạo ra tiềm năng tài nguyên thuỷ điện với tổng công suất đạt khoảng 30 triệu KW

Với các nguồn tài nguyên phong phú nói trên cộng với những ưu thế lớn

về khí hậu, sinh học và hệ sinh thái, vị trí địa lý, nước ta hoàn toàn có đủ các điều kiện để hình thành và phát triển một nền kinh tế đa dạng, tạo thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH đất nước

Tuy nhiên, vấn đề khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người phục vụ mục tiêu phát triển KT - XH cho từng thời kỳ, nhất là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, cho từng vùng và cho cả nước luôn đặt ra những bài toán KT - XH và bảo vệ môi trường phức tạp

Tình hình suy thoái tài nguyên được thể hiện trên các lĩnh vực sau:

- Tài nguyên đất đang bị suy thoái và ô nhiễm do việc khai thác, sử dụng lãng phí và không đúng kỹ thuật Điển hình như việc sử dụng không hợp lý phân bón hoá học, thuốc trừ sâu cùng với việc xả nước thải công nghiệp chưa qua xử

lý vào môi trường đất Môi trường đất bị ô nhiễm đã dẫn đến hậu quả là phá hoại tầng sinh vật sống, ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng, độ an toàn của thực phẩm

- Nạn đốt rừng, khai thác rừng bừa bãi, săn bắt quá mức đã dẫn đến hậu quả là nguồn tài nguyên rừng đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng, suy giảm đáng kể tính đa dạng sinh học, gây nguy cơ làm tuyệt chủng một số loài động vật quý hiếm

- Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật, các bãi san hô, rừng ngập mặn đã và đang bị suy giảm; môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm trước hết

do các hoạt động vận chuyển, khai thác dầu mỏ và các hoạt động trên biển

- Các nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật

và các hệ sinh thái đang được sử dụng không hợp lý nên đang có xu hướng nghèo đi và cạn kiệt dần

1.3 Môi trường và vấn đề suy thoái môi trường

Trang 24

Theo nghĩa rộng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài, có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện Theo đó, bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường

Đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu cụ thể, khái niệm môi trường có các nội dung tương ứng:

Đối với các cơ thể sống, môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên

ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và phát triển của cơ thể

Đối với con người, môi trường là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học,

sinh học, xã hội bao quanh, có ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của từng

cá nhân cũng như toàn thể cộng đồng

Luật Bảo vệ môi trường ở nước ta (thông qua ngày 10/1/1994) đã quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,

sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường, 1993)

Thành phần môi trường bao gồm các yếu tố: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác (Điều 2, Luật Bảo

vệ môi trường, 1993)

Riêng đối với môi trường sống của con người, người ta còn phân chia thành: Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hoá học

(thường được gọi chung là môi trường vật lý), sinh học, tồn tại khách quan ngoài

ý muốn của con người, hoặc ít chịu sự chi phối của con người

Môi truờng xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa các cá thể con người

Cộng đồng con người hợp lại thành quốc gia, xã hội từ đó tạo nên các hình thái

tổ chức, các thể chế kinh tế – xã hội

Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do

con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người

Ba loại môi trường kể trên luôn tồn tại cùng nhau, xen lẫn vào nhau và tương tác chặt chẽ với nhau Vì thế, sự suy thoái và cạn kiệt nguồn tài nguyên

Trang 25

thiên nhiên sẽ dẫn đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường tự nhiên, gây tác hại đến môi trường sống của con người

1.4 Tri thức địa phương các dân tộc thiểu số về khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường

Tri thức địa phương của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta rất đa dạng và phong phú Nó được biểu hiện ở nhiều góc độ khác nhau trong cuộc sống của cộng đồng tộc người, bao gồm những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, kinh nghiệm trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, những kinh nghiệm trong chăm sóc sức khoẻ và y học dân gian, kinh nghiệm trong đoán định thời tiết, cách tính thời gian,… Như vậy, có thể nói tri thức địa phương của đồng bào các dân tộc thiểu số là những hiểu biết, thích nghi với những điều kiện sống của mỗi cộng đồng, mỗi tộc người trong quá trình phát triển với những đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, xã hội riêng của mình

Như vậy, nói đến tri thức dân gian là nói tới những kinh nghiệm của người dân địa phương hay của tộc người bản địa Những kinh nghiệm này có được là

do tích luỹ nhiều đời mà người dân hoặc tộc người từ nơi khác mới đến không

có, hay chưa có được Có lẽ đây chính là những hiểu biết có hệ thống về sự vật,

về môi trường tự nhiên (hệ sinh thái) và xã hội (hệ xã hội) của các cộng đồng dân cư trên các quy mô lãnh thổ khác nhau Nó được hình thành, phát triển và tồn tại lâu dài trong quá trình lịch sử của cộng đồng dân cư bản địa (hay của cộng đồng tộc người) với sự tham gia của mọi thành viên trong cộng đồng (già, trẻ, gái, trai, đàn ông, đàn bà, hoặc cụ thể hơn là những già làng, trưởng bản, trưởng thôn, những ông lang, những bà đỡ, nông dân, ngư dân, thợ săn, ) Nó cũng được bảo tồn trong các truyện kể dân gian, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, lời

ca, tiếng hát, trong lời giáo huấn, bài cúng lễ, luật tục, hương ước, quy ước, phong tục tập quán và trong nhiều nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo Loại tri thức này được tạo dựng trên một dòng đời mà con người thừa nhận quyền lợi của giới tự nhiên và học hỏi qua những thử thách, sai lầm với sự quan sát và thực nghiệm không ngừng

Như ví dụ nghiên cứu điển hình trên đã minh chứng, sự tác động lẫn nhau giữa tri thức dân gian và môi trường có một vai trò phức hợp và biện chứng Thành công mà một nhóm tộc người được hưởng là do kết quả của quá trình sở hữu các giá trị nhất định của tri thức dân gian bản địa, có thể đã tạo ra những

Trang 26

thay đổi trong môi trường và sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đến sự bền vững của nhóm tộc người đó Các tri thức dân gian một thời đã thích nghi trong những điều kiện môi trường cụ thể, có thể sẽ trở thành không thích nghi được trong những điều kiện đã biến đổi Điều này là hoàn toàn đúng với nền văn hoá của người Việt và nền văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Theo khái niệm đã trình bày ở trên, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng tri thức dân gian có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như:

- Trong nông lâm nghiệp có tri thức sản xuất lương thực thực phẩm, tri thức chế biến, cất trữ lương thực, hạt giống, tri thức tưới tiêu, sử dụng phân bón

và thuốc trừ sâu từ cây cỏ, tri thức luân canh nương rẫy, tri thức thu hái, sử dụng và quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên (khai thác, chế biến lâm sản, quản

lí nguồn nước, sông suối, kinh nghiệm săn bắt thú rừng, kinh nghiệm bảo vệ rừng đầu nguồn, kinh nghiệm thu hái, sử dụng sản phẩm trong rừng như rau,

nấm rừng, hoa quả, củ rừng và nhiều lâm sản khác) và tri thức chăn nuôi (chọn

giống gia súc gia cầm, quản lí bãi chăn thả theo mùa và các loại thức ăn cho gia súc gia cầm, )

- Trong y dược học có tri thức bảo vệ sức khoẻ cho con người và vật nuôi

(kinh nghiệm phòng, chữa bệnh cho cá nhân, cộng đồng và vật nuôi; kinh nghiệm chọn lựa, chế biến và bảo quản đồ ăn thức uống; thu hái và quản lí cây dược liệu trong thiên nhiên, )

- Trong giáo dục và đào tạo có hệ thống truyền thụ tri thức nuôi dạy con

trẻ qua các thế hệ, dòng họ, gia đình, cộng đồng

- Trong tổ chức và quản lí cộng đồng có các hình thức tổ chức cộng đồng,

các phong tục tập quán, các luật tục, hương ước, khoán ước (quy ước tự quản của làng) nhằm đảm bảo các hoạt động sản xuất cũng như xây dựng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội tốt đẹp tại các làng bản ở Việt Nam

- Trong dự báo các hiện tượng thiên nhiên có tri thức về thời tiết, về đất

đai, gió bão, hỏa hoạn, dịch bệnh, lụt lội và về mùa gieo hạt, cấy trồng hợp lí,

Như thế, có thể hiểu rằng tri thức dân gian bao hàm rất nhiều khía cạnh của đời sống sinh hoạt, sản xuất và tổ chức, quản lí cộng đồng của cư dân bản địa Phần lớn các tri thức dân gian luôn luôn thích ứng với môi trường rất đa dạng của vùng cao nước ta và gắn chặt với nền văn hoá dân gian của từng tộc người Các tri thức này đã ít nhiều góp phần bảo tồn mạnh mẽ các giá trị văn

Trang 27

hoá, đồng thời vẫn tham gia tích cực vào quá trình phát triển bền vững các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Trang 28

PHẦN II KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU VỀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG CAO PHÍA BẮC TRONG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

2.1 Khái quát về tài nguyên thiên nhiên, môi trường vµ c¸c d©n téc thiÓu sè ë vùng cao phía Bắc và địa bàn điều tra, nghiên cứu

2.1.1 Khái quát về tài nguyên thiên nhiên, môi trường và các dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc

Miền núi phía bắc là nơi cách đây chưa lâu còn thưa người và có điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ưu đãi, do đó ở đây ngoài một số cư dân bản địa còn phần lớn là dân di cư đến Sự hội nhập của các luồng di cư đã làm xáo trộn bức tranh phân bố cư dân và tạo ra sự phân bố hiện nay của các dân tộc

Về dân số, theo số liệu thống kê ngày 1 tháng 3 năm 1960, miền núi phía bắc gồm Khu tự trị Thái - Mèo và các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hải Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang và Thái Nguyên, có số dân

là 2.098.376 người, thuộc 36 tộc người khác nhau Năm 1979, tổng số dân ở MNPB đã lên tới 5.403.338 người và năm 1989 - 6.768.436 người

Như vậy, sau 10 năm (1989 - 1979), dân số các dân tộc miền núi phía bắc tăng thêm 1.365.053 người (125%) Tuy nhiên mức độ tăng dân số ở các dân tộc không đồng đều, thậm chí có dân tộc có dân số “giảm” như Hoa, Phù Lá, La Ha, Mảng Có thể có nhiều nguyên nhân như biến động tự nhiên, cơ học, các quá trình tộc người và các tác nhân khác Chẳng hạn, sự giảm dân số dân tộc Hoa là

do một số đáng kể người Hoa đã trở về Trung Quốc vào khoảng cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20; sự tăng mạnh dân số người Kinh, ngoài phần tăng tự nhiên, chủ yếu là do tăng cơ học Đáng chú ý hơn là sự biến động bất bình thường dân số các dân tộc Phù Lá, La Hủ và Mảng Rất có thể nguyên nhân là do các quá trình tộc người hoặc sự nhầm lẫn trong quá trình kê khai của đồng bào, quá trình điều tra, xử lí số liệu hay tên gọi của các tộc người còn chưa thật sự trùng khớp giữa khoa học với thực tiễn hết sức đa dạng và luôn luôn biến đổi

Về số lượng dân tộc, theo Bảng danh mục các thành phần dân tộc ở Việt

Nam năm 1979, trong tổng số 54 dân tộc của cả nước, miền núi phía bắc đã có mặt tới 31 dân tộc, chiếm 57,4% số dân tộc của cả nước Trong số 31 dân tộc kể

Trang 29

trên, có tới 27 dân tộc có dân số chiếm trên 50% dân số dân tộc trong cả nước

Nguồn lợi rừng ở miền núi phía bắc vốn khá phong phú Theo thống kê của ngành lâm nghiệp năm 1983, đất có rừng che phủ ở miền núi phía bắc là 1.509.300 ha, tỉ lệ che phủ đạt 17% Tuy nhiên, hoạt động khai thác rừng cùng với các tác động khác đã làm suy giảm nhanh chóng nguồn lợi rừng nơi đây

Nếu như trước đây ở miền núi phía bắc có “rừng vàng” có khả năng cung

cấp cho đồng bào các dân tộc một cách trực tiếp và thường xuyên nhiều loại lâm sản phục vụ đời sống, thì do phát rừng làm rẫy, khai thác rừng bừa bãi cùng với các nguyên nhân khác đã dẫn đến tình hình là ngày nay chỉ có thể nói về thế

mạnh đất rừng

Tập quán sử dụng nước ăn phổ biến ở miền núi phía bắc là về mùa mưa hứng nước từ mái nhà vào các chum, vại hoặc bể, hốc đá để dùng vào mùa khô Do khả năng trữ nước có hạn, để đảm bảo nước ăn về mùa khô, đồng bào nhiều nơi phải leo dốc tới 3 - 10 km để lấy nước rất vất vả Mặt khác, chất lượng nước chưa đảm bảo vệ sinh, lượng vi khuẩn Coliform vượt xa tiêu chuẩn Việt Nam qui định cho nước dùng để ăn

Gần đây, với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế, đồng bào ở các vùng cao núi đất đã tận dụng nguồn nước mưa, nước sông suối và bước đầu khai thác nước ngầm thông qua hệ thống giếng đào để phục vụ cuộc sống

Ở vùng cao núi đá, ngoài nguồn nước mưa, đồng bào đã tận dụng khả năng khai thác các nguồn nước chảy ra từ các mỏ nước (mó nước), khe núi dẫn

về bể gạch xây, hốc đá, bể đá xây

Vùng rừng núi Việt Nam vốn là những nơi có nguồn nước phong phú, nước sông suối chảy quanh năm, có thể khai thác phục vụ sinh hoạt hàng ngày của nhân dân cũng như làm thuỷ điện, nông nghiệp và phát triển giao thông vận tải Tuy nhiên, do diện tích rừng ngày càng thu hẹp, thậm chí có nhiều chỗ hoàn toàn không còn rừng nên lụt lội, lũ quét và hạn hán xảy ra thường xuyên hơn, đặc biệt là ở miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên Ngược lại, nhiều vùng bị thiếu nước trầm trọng như ở Hà Giang, Cao Bằng, Hoà Bình, Lai Châu, Quảng Trị, nhất là ở các vùng núi đá vôi Ở nhiều vùng, do mở rộng đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng, rừng bị thu hẹp, hiện tượng thiếu nước ngày càng trở nên trầm trọng Vào mùa khô, nhân dân phải đi 5 - 10 km để lấy nước Mỗi ngày mỗi người phụ nữ chỉ gùi được một hay hai chuyến nước cho cả gia đình và thường

Trang 30

là phải dùng những thứ nước không hợp vệ sinh Ở vùng cao Hà Giang, theo bà con, khó khăn trong cuộc sống thì nhiều (thiếu gạo, thiếu thịt, thiếu rau xanh ) nhưng khổ nhất vẫn là thiếu nước Trong suốt 4 tháng mùa khô ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang hầu như không có mưa, nhiều hộ gia đình phải đi bộ tới 12

km từ bản ra thị trấn để lấy nước Đi từ sáng sớm ra đến nơi tranh thủ tắm, giặt

và lấy can nước ăn về đến nhà là đến bữa trưa Hay như ở xã Xà Phìn (huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang), trong mùa khô, dân phải sang tận xã Lũng Táo (cách

16 km) để lấy nước ăn, dùng ngựa thồ về, mỗi chuyến được 2 can loại 20 lít Vì vậy, có gia đình hàng ngày phải cử một người khoẻ nhất đi lấy nước ăn Có cô giáo ở đây phải mua tới 20.000 đ/1 can (20 lít) nước để dùng Một số làng bản đã phải di chuyển đi nơi khác vì thiếu nước trong mùa khô Nhìn chung, tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt là phổ biến ở vùng cao, nhất là vùng cao núi đá ở phía Bắc

Ở Cao Bằng, tuy lượng mưa trung bình hàng năm thấp so với mức trung bình cả nước nhưng với bốn con sông chính mà đa số bắt nguồn từ Trung Quốc, hàng năm lượng nước mặt đến Cao Bằng là rất lớn Ngoài ra còn có hàng trăm khe suối với chiều dài hơn 840 km, hàng trăm hồ chứa, phai đập, mương dẫn lớn nhỏ, hàng nghìn mỏ nước ở các địa phương, tất cả tạo thành mạng lưới tưới tiêu

và cung cấp nước sinh hoạt cho các bản làng nông thôn Cao Bằng Theo điều tra, Cao Bằng hiện có trên 95% số xã có nguồn nước tự nhiên Tuy vậy, ở vùng Lục Khu có 8 xã (Thượng Thôn, Nội Thôn, Hồng Sỹ, Sỹ Hai, Mã Ba, Hạ Thôn, Quang Vinh, Lưu Ngọc) hoàn toàn không có nguồn nước; 14 xã khác (Hồng An (Bảo Lạc), Yên Sơn (Thông Nông), Triệu Nguyên, Thái Học, Vũ Nông (Nguyên Bình), Lũng Nậm, Cải Viên, Vân An, Tổng Cọt (Hà Quảng), Đức Xuân (Hoà An), Ngọc Chung (Trùng Khánh), Quốc Dân, Đoài Khôn (Quảng Hoà), Vân Trình (Thạch An) nguồn nước tự nhiên rất khan hiếm, chỉ có một vài mỏ nước hoặc khe lạch nhỏ nhưng thường bị cạn về mùa khô Các xã kể trên cần được quan tâm hơn trong việc đầu tư các công trình trữ nước, đặc biệt là nước mưa Quán triệt đặc điểm này, ở Lục Khu, chương trình 135, chương trình 133 đều chú ý đầu tư xây dựng các loại bể trữ nước cho hộ gia đình

Về ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm vi sinh chiếm tỷ lệ cao nhất (94%), tiếp đến là ô nhiễm cặn lơ lửng (35,2%), ô nhiễm chất hữu cơ (24,6%), ô nhiễm nitrat (15,6%), ô nhiễm nitrit (11%)

Trang 31

Về nước thải, tổng hợp kết quả phân tích theo tiêu chuẩn Việt Nam 5945 (1995) cho thấy: có 33,3% số mẫu đạt tiêu chuẩn A, 87,5% đạt tiêu chuẩn B và 100% đạt tiêu chuẩn C

Có thể nói, môi trường vĩ mô ở nông thôn Cao Bằng nói riêng và ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta nói chung là còn rất trong lành, nhưng ngược lại, môi trường cư trú của từng làng bản, từng hộ gia đình thì bị ô nhiễm; và ở một số nơi là bị ô nhiễm nặng Ở một số làng bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa thì môi trường sống đã và đang bị ô nhiễm nặng vì các nguồn: Chất thải trong sinh hoạt

và chăn nuôi, bón phân hoá học, sử dụng các hoá chất bảo vệ thực vật Chẳng hạn như ở vùng nông thôn Cao Bằng hiện vẫn còn nhiều thói quen mất vệ sinh trong sinh hoạt và canh tác nên hầu hết các dịch bệnh chính đều liên quan đến bệnh nhiễm trùng Các số liệu thống kê cho thấy, các bệnh có tỷ lệ người mắc và chết cao nhất ở Cao Bằng chủ yếu là các bệnh về đường tiêu hoá và hô hấp Qua

so sánh thấy tỷ lệ này cao hơn mức trung bình của cả nước nhiều lần, nhất là các loại bệnh: Viêm phế quản, tiêu chảy, loét dạ dày, tá tràng Các số liệu cho thấy các bệnh về răng có số người mắc cao nhất, sau đó đến các bệnh về đường tiêu hoá, tiếp theo là các bệnh đường hô hấp và các bệnh khác

Cơ sở hạ tầng y tế của Cao Bằng so với mức trung bình của cả nước là đạt loại khá, các chỉ tiêu về cơ sở khám chữa bệnh, số y bác sĩ, số giường bệnh đều đạt hoặc vượt mức trung bình của cả nước Tuy nhiên, do trình độ dân trí còn thấp nên nhiều dịch vụ y tế chưa phát huy hết tác dụng, nhiều thói quen sinh hoạt thiếu vệ sinh dẫn đến hình thành nhiều ổ dịch bệnh và nhiễm vi trùng gây bệnh ở các nguồn nước dân sinh Chính vì vậy, cùng với việc triển khai các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, ở đây cần phải đẩy mạnh việc tuyên truyền giải thích và hướng dẫn nông dân thực hiện nếp sống văn minh nhằm ngăn ngừa các loại bệnh tật liên quan đến môi trường là điều cần làm thường xuyên

Để từng bước giải quyết vấn đề nêu trên cần đầu tư hỗ trợ thoả đáng cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, đặc biệt là vốn sự nghiệp cho vệ sinh môi trường ở nông thôn nói chung, đối với nông thôn vùng miền núi và dân tộc nói riêng; có chính sách mạnh hơn nữa để đảm bảo thực hiện được chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường từ nay đến năm 2020, trong đó đặc biệt chú trọng đến các lĩnh vực: vốn vay tín dụng ưu đãi, phát triển

mô hình biogas và hố xí hợp vệ sinh trong hộ gia đình, điều chỉnh giá điện hợp

Trang 32

lý cho các công trình cấp nước sạch có quy mô lớn Ngoài ra, để giúp việc phân cấp cho các địa phương đạt hiệu quả, nhất là phân cấp cho huyện, xã về việc thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Nhà nước cần đầu

tư cho việc đào tạo cán bộ cơ sở, cho công tác truyền thông bằng tiếng dân tộc và các tài liệu tuyên truyền bằng tiếng dân tộc để dễ đến với người dân hơn

Môi trường sinh thái ở nước ta nói chung, ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số nói riêng hầu như chưa đảm bảo yêu cầu, đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người và đáng tiếc là vấn đề sinh thái môi trường, vệ sinh môi trường ở nước ta chưa được chú ý đúng mức, đặc biệt là ở vùng miền núi và dân tộc Ví dụ như, khu vực miền núi phía bắc gồm 11 tỉnh (Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình) có nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu; còn mang nặng tính

tự cung tự cấp, thu nhập bình quân thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, giao thông chưa phát triển, tập quán sản xuất lạc hậu, dân trí thấp Về môi trường sinh thái, nhìn chung là có độ ẩm cao, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lớn, từ 10 - 140C Những đặc điểm về khí hậu, thời tiết như vậy kết hợp với độ cao địa hình tự nhiên, của hệ núi đá, sông suối và hệ thực, động vật đã có tác động đặc biệt tới sức khoẻ và bệnh tật của dân cư Hệ động vật phong phú trong đó có nhiều loài côn trùng tham gia vào việc hình thành các ổ dịch thiên nhiên, ổ dịch người Theo kết quả một cuộc điều tra do Đại học Y Thái Nguyên tiến hành ở một số dân tộc điển hình thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc: Dân tộc Sán Dìu (tỉnh Thái Nguyên), dân tộc Hmông (tỉnh Hà Giang), dân tộc Thái (tỉnh Sơn La), dân tộc Tày (tỉnh Lạng Sơn), dân tộc Mường (tỉnh Hoà Bình), dân tộc Giáy (tỉnh Sơn La) cho thấy, môi trường sống vi mô ở vùng dân tộc và miền núi nước ta có một số điều đáng lo ngại Về các yếu tố hoá học gây ô nhiễm không khí ở nơi đây, đáng chú ý là chỉ số amôniac tăng trong các gia đình người Tày, Thái; còn các dân tộc khác không có Nguyên nhân do tập quán ở nhà sàn của hai dân tộc này, gầm sàn nuôi gia súc, gia cầm Amôniac là một loại khí kích thích có mùi khó chịu, nhất là vào ngày nắng, hoạt động của vi sinh vật tăng, phân giải nhiều, bốc hơi nhanh Nếu tập quán chăn nuôi gia súc ở gầm sàn còn tiếp tục tồn tại thì

sẽ là nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ, nhất là bệnh về đường hô hấp Về môi trường đất, kết quả phân tích các mẫu đất trong nhà, ngoài sân, lối đi và xung quanh khu vực hố xí đều bị ô nhiễm trứng giun đũa nặng nề, mức độ ô nhiễm từ

Trang 33

30% đến 87% Mô hình bệnh tật ở nơi đây có quan hệ mật thiết với môi trường

và vệ sinh bản làng cũng như chất lượng nước sinh hoạt Có thể nói rằng: môi trường miền núi với những đặc trưng riêng của mình đã qui định một số đặc điểm riêng của mô hình bệnh tật

Do môi trường sống ẩm thấp, không hợp vệ sinh nên tỷ lệ bị mắc các loại bệnh như còi xương, sán lá phổi, bướu cổ, tiêu chảy khá cao Một số kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng của trẻ 0-36 tháng tuổi ở Miền núi phía Bắc là 12,6%; các yếu tố nguy cơ được xắp xếp theo thứ tự:

Ăn sam sớm, gia đình đông con, tình trạng dinh dưỡng thấp kém, môi trường sống thiếu ánh sáng

Hậu quả cuối cùng của việc cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường đã tạo lực đẩy, hình thành luồng di cư (cả di cư có kế hoạch và tự do) Thực tế là, trong các năm vừa qua tồn tại luồng di cư lớn của các dân tộc thiểu số từ các tỉnh Miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên

2.1.2 Khái quát về tài nguyên thiên nhiên, môi trường và các dân tộc thiểu số địa bàn điều tra, nghiên cứu

TØnh Hµ Giang:

Tỉnh Hà Giang là tỉnh miền núi vùng cao phía Bắc, nằm ở toạ độ địa lý 22o10' đến 23o30' vĩ độ Bắc, 104020' đến 105034' kinh độ Ðông Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc, có chiều dài đường biên giới là 274 km; phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Ðông giáp tỉnh Cao Bằng; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, cách thủ đô Hà Nội 320km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 7.884,37km2, chiếm 2,39% diện tích tự nhiên cả nước Các đường giao thông quan trọng như quốc lộ 2, quốc lộ 34, quốc lộ 4C, quốc lộ 279 Hệ thống sông chính bao gồm 2 sông chính là sông Lô và sông Gâm

Tình hình thiên tai, hoả hoạn: Hàng năm thường xảy ra hạn hán từng vùng trong tỉnh nhất là huyện vùng cao núi đá Trong một số năm qua đã xảy ra tình trạng lở đất, lũ ống, lũ quét gây nhiều thiệt hại về người và của Chưa có hiện tượng động đất, nứt đất và ô nhiễm khoáng sản trên địa bàn tỉnh

Tỉnh Hà Giang có 788.437 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 134.184 ha, chiếm 17%; diện tích đất lâm nghiệp là 334.101

ha, chiếm 42,37%; diện tích đất chuyên dùng là 5.676 ha, chiếm 0,71%; diện tích đất ở là 4.412 ha, chiếm 0,55%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 310.064 ha, chiếm 39,32% Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh là 320.000

ha, mặt nước là 500 ha chưa được khai thác

Trang 34

Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, có môi trường sinh thái trong lành, có nhiều loài động vật quý hiếm như gấu ngựa, sơn dương, gà nôi, đại bàng , có các loại gỗ quý hiếm như ngọc am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, chò chỉ Các khu bảo tồn thiên nhiên có 5 khu: Tây Côn Lĩnh, Phong Quang huyện Vị Xuyên; Căng Bắc Mê huyện Bắc Mê; Bát Ðại Sơn huyện Quản Bạ; Du Già huyện Yên Minh Tài nguyên khoáng sản: Vàng Sa khoáng phân bố ở nhiều nơi từ, Angtimon có hàm lượng khá

Hà Giang có nhiều điểm danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử như thác Cô Tiên, chùa Sùng Khánh (huyện Vị Xuyên), Nhà Vương (huyện Ðồng Văn) và nhiều di tích lịch sử có giá trị khác Ngoài ra, tỉnh có 2 cửa khẩu quốc gia là

Thanh Thuỷ (huyện Vị Xuyên) và Phó B¶ng (huyện Ðồng Văn)

TØnh Lai Ch©u:

Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị định ngày 28 tháng 6 năm 1909 của Toàn quyền Đông Dương Lúc đó tỉnh Lai Châu gồm các châu Lai, châu Quỳnh Nhai, châu Điện Biên tách ra từ tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay thuộc tỉnh Điện Biên) Ngày 16 tháng 1 năm

1915 tỉnh Lai Châu bị thay thế bằng Đạo Quan binh 4 Lai Châu dưới sự cai trị quân sự Sau này tỉnh lỵ chuyển về thị xã Điện Biên Phủ, (nay là thành phố Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Điện Biên)

Từ 1 tháng 1 năm 2004, tỉnh Lai Châu tách thành hai tỉnh là tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên Tỉnh lỵ mới chuyển về thị xã Tam Đường (trước đó gọi

là thị trấn Phong Thổ) và gọi là thị xã Lai Châu (mới) Thị xã Lai Châu cũ đổi

tên là thị xã Mường Lay (thuộc tỉnh Điện Biên)

Phía Bắc tỉnh Lai Châu giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, phía Tây và phía Nam giáo tỉnh Điện Biên Tỉnh

có 261,2km đường biên giới Việt - Trung, có cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng và nhiều lối mở trên tuyến biên giới Việt - Trung trực tiếp giao lưu với vùng lục địa rộng lớn phía Tây Nam của Trung Quốc, được gắn với khu vực tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh bằng các tuyến quốc lộ 4D, 70, 32 và đường thuỷ sông Đà, có tiềm năng để phát triển dịch vụ - thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch Đồng thời cũng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia Là vùng đầu nguồn rộng lớn và phòng hộ đặc biệt xung yếu của sông Đà, địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia mà trực tiếp là các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà và vùng châu thổ sông Hồng

Trang 35

Tỉnh Lai Châu có các huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Tân Uyên, Than Uyên và thị xã Lai Châu

Lai Châu có địa hình núi cao, trên 60% diện tích có độ cao trên 1.000 m, trên 90% diện tích có độ dốc trên 25oc, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên…

Lai Châu có khí hậu mang tính chất gió mùa chí tuyến Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC-23ºC chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô Địa hình tỉnh Lai Châu được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam, có nhiều đỉnh núi cao, đỉnh Pu Sa Leng cao 3.096 m Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều cao nguyên, sông suối Sông

có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 9.065,123 km2, chủ yếu là các loại đất đỏ và vàng nhạt phát triển trên đá, cát, đá sét và đá vôi, có kết cấu khá chặt chẽ Đất nông nghiệp đã sử dụng khoảng 64.299,9 ha, chiếm 7,09% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó đất ruộng lúa, màu là 13.781,44 ha, đất nương rẫy 32.225,91 ha, đất trồng cây hàng năm khác 7.898,56 ha, đất trồng cây lâu năm (chủ yếu là chè) 3.066,88 ha, đất vườn tạp 1.093 ha, đất đồng cỏ chăn nuôi 5.978

ha, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 409 ha Đất lâm nghiệp đang có rừng 283.667

ha, độ che phủ đạt 31,3%, hầu hết là rừng phòng hộ, trong đó rừng tự nhiên là 274.651 ha, rừng trồng 9.015,94 ha Đất chuyên dùng có khoảng 4.489,61 ha, trong đó đất giao thông 2.982,52 ha, đất xây dựng 377,26 ha, đất ở 1.918,443 ha Đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng còn rất lớn khoảng 525.862 ha (chiếm 58% diện tích tự nhiên), trong đó đất bằng chưa sử dụng là 1.743,69 ha

và đất đồi núi chưa sử dụng là rất lớn, khoảng 524.118,87 ha

Lai Châu là một tỉnh miền núi cao, khí hậu đa dạng nên rất phong phú về tài nguyên động, thực vật, có điều kiện phát triển nền sản xuất hàng hoá với nhiều lâm sản quý Rừng Lai Châu có nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao như: lát, chò chỉ, nghiến, táu, pơ mu; các cây đặc sản như: cánh kiến đỏ, song, mây, tre và một số lâm sản khác Các vạt rừng nguyên sinh chỉ còn rất ít ở những vùng núi cao, xa và địa hình hiểm trở Độ che phủ của thảm cỏ thực vật năm

2003 còn khoảng 31,3%

Tỉnh Lai Châu có một số loại khoáng sản giá trị cao như vàng, kim loại màu, đất hiếm…, song chưa được đầu tư thăm dò, đánh giá đầy đủ Đất hiếm gồm các loại quặng barít, florit ở Nậm Xe (Phong Thô-Quê hương của D đó) với trữ lượng trên 20 triệu tấn đã được khai thác từ những năm 1980 nhưng mới ở quy mô rất nhỏ Các điểm quặng kim loại màu như đồng, chì, kẽm ở khu vực Sin

Trang 36

Cai, Bản Lang, Tam Đường với trữ lượng khoảng 6.000 - 8000 tấn Đá lợp có ở

ba điểm dọc theo bờ sông Đà, Sông Nậm Na song hiện tại mới chỉ có điểm mỏ ở Hát Xum - Sìn Hồ được đầu tư thăm dò và khai thác Vàng ở khu vực Chinh Sáng (Tam Đường), Ban Bo (Mường Tè), Noong Hẻo, Pu Sam Cáp (Sìn Hồ) Tỉnh còn có một số điểm suối khoáng nóng chất lượng nước khá tốt ở Vàng Bó, Than Uyên, Chợ Lai Châu

Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Lai Châu có 587.582 người Trong đó, lao động xã hội toàn tỉnh là 282.983 người, chiếm 48,1% dân số Trên địa bàn tỉnh có 23 dân tộc, đông nhất là dân tộc Thái có 206.001 người, chiếm 35,05%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Mông có 170.460 người, chiếm 29,01%; dân tộc Kinh có 99.094 người, chiếm 16,86%; dân tộc Dao có 39.575 người, chiếm 6,73%; dân tộc Khơ Mú có 14.894 người, chiếm 2,53%; dân tộc

Hà Nhì có 14.314 người, chiếm 2,43%; dân tộc Giáy có 9.018 người, chiếm 1,53%; dân tộc La Hủ có 6.824 người, chiếm 1,16%; dân tộc Lào có 6.613 người, chiếm 1,12%; các dân tộc khác chiếm 3,58%

TØnh Bắc Kạn:

Tỉnh Bắc Kạn là tỉnh miền núi, vùng cao, nằm ở toạ độ địa lý 220 44' đến

210 48' vĩ độ Bắc, 1060 15' đến 1050 26' kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội 170

km về phía Bắc Toàn tỉnh bao gồm 1 thị xã, 6 huyện là: Pắc Nặm, Ba Bể, Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn Bắc Kạn 294.000 người;

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.857,21 km2, chiếm 1,48% tổng diện tích

tự nhiên cả nước Các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 3 Hệ thống sông suối ở Bắc Kạn nhiều và phân bố đều khắp Ba con sông chính phát nguồn từ Bắc Kạn là sông Cầu chảy về Thái Nguyên; sông Lô, sông Gấm chảy Tuyên Quang; sông Kỳ Cùng chảy về phía Lạng Sơn; sông Bằng chảy sang Cao Bằng Ở Bắc Kạn còn có Hồ Ba Bể nổi tiếng rộng trên 450 hecta, đây là hồ tự nhiên lớn nhất nước ta

Vùng núi chiếm 100% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; điểm cao nhất gần 1.700 m và điểm thấp nhất cũng cao 40 m so với mực nước biển

Mưa, bão tập trung vào các tháng 8 đến tháng 10 hàng năm với lượng mưa thấp trung bình hàng năm khoảng 1.600 mm Khí hậu, thời tiết giữa các vùng trong tỉnh có sự khác biệt Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa cũng rất đặc thù Nhiệt độ trung bình tháng nóng từ 250C đến 280C, trong khi nhiệt độ trung bình tháng lạnh là 100C đến 110C Nhiệt độ cao nhất là 39,90C, thấp nhất là - 0,90C; tháng lạnh nhất là tháng 2

Ðến hết năm 2002, tỉnh Bắc Kạn đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 7 huyện, thị với số xã đạt tỷ lệ 100%; tỷ lệ người biết chữ chiếm 90% Số học sinh

Trang 37

phổ thông niên học 2001-2002 trên 75.173 em, số giáo viên phổ thông 3.417 người Số thày thuốc có 830 người, bình quân y, bác sĩ trên 1 vạn dân là: 18,97 người

Tỉnh Bắc Kạn có 485.721 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 30.509 ha, chiếm 6,3%; diện tích đất lâm nghiệp là 301.722

ha, chiếm 62,1%; diện tích đất chuyên dùng là 8.006 ha, chiếm 1,6%; diện tích đất ở là 2.142 ha, chiếm 0,4%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 143.360 ha, chiếm 29,6%

Trong đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm là 24.332 ha, chiếm 79,72%, trong đó riêng đất trồng lúa có 15.550 ha, chiếm 63,9% Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh 111.818 ha, bãi bồi có thể sử dụng là 2.334 ha

Tính đến hết năm 2002, tỉnh Bắc Kạn có 301.718 ha rừng, đạt tỷ lệ che phủ 62,12% Trong đó diện tích rừng tự nhiên 270.351 ha, rừng trồng 31.367 ha Các khu bảo tồn thiên nhiên, công viên quốc gia: Bắc Kạn có khu vườn Quốc gia

Ba Bể với tổng diện tích là 7.610 ha, đây là khu phát triển du lịch tốt của tỉnh

Bắc Kạn có một số loại khoáng sản là kim loại đang được khai thác, đó là: Quặng chì, quặng sunfua kẽm, quặng sắt, vàng và một số khoáng sản là vật liệu xây dựng như đá xây dựng các loại, cát, sỏi

Tỉnh Hoà Bình:

Hoà Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng, có nhiều tuyến đường bộ, đường thuỷ nối liền với các tỉnh Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, là cửa ngõ của vùng núi Tây Bắc, cách thủ đô Hà nội 76 km về phía Tây Nam Phía Bắc Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Tây, phía Nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp Hà Tây và Hà Nam, phía Tây giáp

ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp,

ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m

Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh được phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Lạng, sông

Bùi

Trang 38

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh xấp xỉ 4.662 km2, đất có rừng trên

173 ngàn ha, chiếm 37% diện tích, đất nông nghiệp trên 65 ngàn ha, chiếm 14% diện tích Đất chưa sử dụng trên 170 ngàn ha Với những tiềm năng đó, trong t-ương lai, Hoà Bình có thể phát triển mạnh mẽ nền sản xuất nông, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến nông lâm sản Hoà Bình có các loại khoáng sản phong phú với trữ lượng lớn và vừa, có thể khai thác để phát triển công nghiệp và xây dựng

như đá granit, đá vôi, than đá, sét, cao lanh, vàng, sắt, nước khoáng

Hoà Bình có nhiều loại khoáng sản, trong đó một số loại đã được khai thác như: amiăng, than, nước khoáng, đá vôi…Đáng lưu ý nhất là đá, nước khoáng, đất sét có trữ lượng lớn Đá gabrodiaba trữ lượng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lượng 8,1 triệu m3; đặc biệt đá vôi có trữ lượng rất lớn trên 700 triệu tấn, đang được sản xuất phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản… Ngoài ra, than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, tổng trữ lượng cấp C1 là 982.000 tấn Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lượng lớn, trong đó có một số

mỏ còn chưa được xác định rõ về trữ lượng Sét phân bố ở vùng thấp, có rải rác

trong tỉnh, trữ lượng ước tính 8 – 10 triệu m3

Tài nguyên quý của tỉnh Hoà Bình là nước khoáng, chủ yếu phân bố ở 2 huyện Kim Bôi, Lạc Sơn Ngoài ra, kho tài nguyên khoáng sản của tỉnh còn rất nhiều mỏ đa kim như: vàng, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimon, pyrit, phốtphorit…

Tỉnh Hòa Bình có 466.252,86 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 66.759 ha, chiếm 14,32%; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308 ha, chiếm 41,67%; diện tích đất chuyên dùng là 27.364 ha, chiếm 5,87%; diện tích đất ở là 5.807 ha, chiếm 1,25%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 172.015 ha, chiếm 36,89%

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 45.046 ha, chiếm 67,48%, trong đó diện tích trồng lúa là 25.356 hecta, chiếm 60,51% diện tích đất trồng cây hàng năm; diện tích đất trồng cây lâu năm là 4.052 ha, chiếm 6,06%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 900 ha

Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 135.010 ha; diện tích đất bằng chưa sử dụng là 3.126 ha; diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng là 6.385

ha

Tính đến năm 2002, diện tích đất có rừng của tỉnh Hòa Bình là 196.049

ha, trong đó: Rừng tự nhiên là 146.844 ha; rừng trồng là 49.205 ha

Trữ lượng gỗ khai thác khoảng 4,75 triệu m3 gỗ và 128,7 triệu cây nứa, luồng; động vật rừng có một số loài thú như: Gấu, lợn rừng, khỉ, cày, cáo, rùa

Trang 39

núi, nai rừng nhưng số lượng không lớn Các khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh gồm có 3 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích là 18.435 ha, trong đó có rừng là 15.565 ha, đất trống có khả năng nông, lâm nghiệp là 2.870 ha

Tài nguyên khoáng sản có 12 loại Khoáng sản là nguyên liệu vật liệu xây dựng và nguyên liệu làm sứ: Ðất sét, đá vôi, đá granít, đá cócđoa ; khoáng sản kim loại như: Quặng sắt mỏ nhỏ trữ lượng ít chưa xác định, sắt, quặng đa kim (đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimoan), vàng sa khoáng, khoáng sản phi kim loại như pirít, photphorít, cao lanh ; khoáng sản than đã được khai thác rải rác ở huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Lạc Sơn, có nhiều vỉa lộ thiên để khai thác với trữ lượng 1 triệu tấn

2.2 Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc trong khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Ở miền núi phía bắc, do gắn bó trực tiếp, lâu đời với môi trường nên song song với quá trình khai thác, cư dân các tộc người ở miền núi phía bắc đã sớm có

ý thức bảo vệ tài nguyên rừng với một số tập tục đặc trưng cho từng tộc người

Ví dụ ở một số vùng người Dao có tục lệ trồng cây quế mừng ngày sinh của cháu nhỏ để làm của hồi môn sau này

Tại Sa Pa, ở một số bản Hmông đã có qui định rõ: Tre, nứa, vầu của nhà

ai, họ nào thì gia đình ấy chặt, phát; ai phát nhầm sẽ phải chịu phạt Ở Si Ma Cai (Bắc Hà, Lào Cai) cũng có qui ước không chặt phát nương vào nơi có nhiều tre, vầu, gỗ Đáng chú ý là để đảm bảo cho những qui ước đó được thực hiện, mỗi làng cử ra một đến hai “xồng thần” (người đầu ước) để đôn đốc việc chung và xử

lí các vụ vi phạm Sau này, vào các năm 1958 - 1970, UBND xã, Ban quản trị hợp tác xã cùng với một số người già am hiểu trong cộng đồng đã bàn bạc để khôi phục và cải tiến các tập tục trên Qui ước mới đã được bổ sung thêm cho đầy đủ và phù hợp với thực tiễn mới Thay cho các “xồng thần” là một “Ban bảo

vệ rừng” của xã hay hợp tác xã, nên công tác bảo vệ rừng đã đạt được nhiều kết quả

Người Si La ở bản Seo Hai (xã Can Hồ, Mường Tè, Lai Châu), các thày

lang và nhân dân địa phương có tục lệ “mua cây thuốc” Khi đi lấy thuốc ở trong

rừng mọi người phải mang theo bạc trắng (1 hào bạc trắng tương đương với

5.000 đ) để “mua” Giả sử có các cây thuốc (1), (2), (3), người lấy thuốc phải đặt

tiền ở cây (1), khấn vái thần linh và không được lấy cây đó về làm thuốc, mà chỉ được lấy các cây khác Ngoài ra cũng không được nhổ hẳn cả cây, mà chỉ được

Trang 40

lấy một phần Như vậy, tục lệ này sẽ có tác dụng chống lại sự huỷ diệt loài cây thuốc trong rừng

Bà con người Khơ Mú ở bản Co Chai (xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, Sơn La) lại tự hình thành qui ước bảo vệ hai loại rừng: rừng cấm, tức là rừng đầu nguồn nước, nếu ai vi phạm sẽ bị xử phạt 1.000 đ/1 cây, 5000 đ - 8.000 đ/m3 gỗ

và nếu cao hơn là thu trắng xung công quĩ Những người có công phát hiện sẽ được hưởng từ 3 đến 5% số tiền phạt Loại thứ 2 là rừng ma, chỉ để làm nơi chôn cất người chết Nếu ai xâm phạm sẽ bị xử phạt 2 con gà trống, 2 chum rượu cần

và 1 lít rượu trắng Số vật chất trên nộp cho ông “chảu ma sa” (ông chủ ma) để cúng ma và sau đó mọi người trong bản đều được hưởng Các hình thức “phạt vạ” này đều có tác dụng tốt trong việc bảo vệ hai khu rừng cấm

Nguồn sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc ở vùng cao vẫn phải dựa vào rừng, đốt nương làm rẫy Theo Đỗ Đình Sâm (1994) thì trong tổng số 9 triệu người dân tộc thiểu số, có 2.879.685 người thuộc 482.512 hộ sống bằng phương thức canh tác nương rẫy Trong số đó, ở dân tộc Tày chiếm 7%, Nùng - 16%, Thái - 45% và ở các dân tộc cư trú vùng sâu, xa là 100% Trong khai thác nương rẫy, do kinh nghiệm sản xuất từ nhiều đời, đồng bào các tộc người đều thực hiện chế độ canh tác theo chu kỳ mở Thời gian bỏ hoá tuỳ theo tộc người và vùng có thể kéo dài từ 5 đến 20 năm Trong thời gian bỏ hoá như vậy, một lớp thực vật mỏng sẽ phủ lên, là nguồn dinh dưỡng đáng kể khi canh tác trở lại

Ở một số vùng địa hình đá vôi (Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng ), đồng bào các dân tộc Hmông, Dao, Lô Lô, Hà Nhì đã sáng tạo ra loại nương thổ canh hốc đá Đó là các hốc đá có kích thước to, nhỏ khác nhau có chứa đất, mỗi hốc có thể trồng một vài khóm ngô Có nơi, bà con phải gùi, gánh đất từ các lòng khe lên; một số nơi bà con còn tiến hành xếp đá theo kinh nghiệm để khi mưa đất

khỏi bị rửa trôi Điều đáng chú ý là những “túi đất” ở “lưng trời” như vậy có

diện tích đáng kể và cho năng suất ngô, lúa khá cao Chẳng hạn, ở xã Lũng Táo (Đồng Văn, Hà Giang), trong các năm từ 1968 - 1982, đồng bào các dân tộc Hmông, Lô Lô đã tạo ra gần 100 ha nương xếp đá, cho năng suất ngô 9 - 11 tạ/ha, ở những nương ngô cao sản, năng suất đạt 25 tạ/ha (năng suất ngô trung bình năm 1985 của cả tỉnh là 12,4 tạ/ha)

Để thích ứng với tính thất thường của khí hậu, thời tiết, đồng bào các dân tộc ở MNPB đã đúc kết được lịch gieo trồng tương đối chuẩn xác, khoa học và

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 17: Hình thức trao Đổi - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 17: Hình thức trao Đổi (Trang 119)
Biểu 24: Hình thức tổ chức họp - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 24: Hình thức tổ chức họp (Trang 120)
Biểu 23: Hình thức tổ chức họp - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 23: Hình thức tổ chức họp (Trang 130)
Biểu 17: Hình thức trao đổi - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 17: Hình thức trao đổi (Trang 139)
Biểu 23: Hình thức tổ chức họp - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 23: Hình thức tổ chức họp (Trang 140)
Biểu 13: Hình thức tổ chức lễ hội - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 13: Hình thức tổ chức lễ hội (Trang 144)
Hình thức Số lượng % - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Hình th ức Số lượng % (Trang 144)
Biểu 13: Hình thức tổ chức lễ hội - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 13: Hình thức tổ chức lễ hội (Trang 150)
Biểu 13: Hình thức tổ chức lễ hội - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 13: Hình thức tổ chức lễ hội (Trang 160)
Biểu 11: Hình thức tham gia xây dựng nội quy - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 11: Hình thức tham gia xây dựng nội quy (Trang 170)
Biểu 11: Hình thức tham gia xây dựng nội quy - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 11: Hình thức tham gia xây dựng nội quy (Trang 175)
Biểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi (Trang 177)
Biểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi (Trang 181)
Biểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi (Trang 186)
Biểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi - Điều tra tri thức địa phương của một số dân tộc ở vùng cao phía bắc trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
i ểu 21: Hình thức bàn bạc, trao đổi (Trang 191)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w