Sáng kiến sử dụng phiếu học tập phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học Sinh học 8. Kiến thức giải phẩu, sinh lí người và vệ sinh (Sinh học 8) giúp cho HS hiểu về cấu tạo và sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể bản thân mình, từ đó có những biện pháp rèn luyện, bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng cuộc sống lành mạnh. Kiến thức giải phẩu, sinh lí và vệ sinh cũng là cơ sở cho việc giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ môi trường, đó là những mặt giáo dục đang được quan tâm. Do đó, việc đổi mới nội dung và PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 8 ở trường THCS là một việc làm cần thiết.
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Kiến thức giải phẩu, sinh lí người và vệ sinh (Sinh học 8) giúp cho HS hiểu về cấu tạo và sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể bản thân mình, từ đó có những biện pháp rèn luyện, bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng cuộc sống lành mạnh Kiến thức giải phẩu, sinh lí và vệ sinh cũng là cơ sở cho việc giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ môi trường, đó là những mặt giáo dục đang được quan tâm Do đó, việc đổi mới nội dung và PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 8 ở trường THCS là một việc làm cần thiết Trong chương trình sinh học lớp 8 có nhiều tiết học nội dung kiến thức tương đối dài, khó và có nhiều dạng kiến thức Do vậy làm thế nào để trong một tiết học
GV phải đảm bảo việc tổ chức, hướng dẫn cho HS tự lực lĩnh hội hết nội dung kiến thức của một bài học, một cách tích cực, sôi nổi, hào hứng, bộc lộ mọi năng lực của bản thân và được khẳng định mình trong các hoạt động của nhóm, hoạt động tập thể, làm thế nào để rèn luyện cho HS có được phương pháp, kỹ năng, ý chí tự học, không thụ động, không trông chờ, ỷ lại Qua thực tế giảng dạy, mong muốn góp phần phát huy các biện pháp tổ chức cho học sinh học tập tích cực, chủ động, tôi mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phiếu học tập để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học sinh học 8”
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích sử dụng vào từng nội dung bài học, từng hoàn cảnh cụ thể, để:
Trang 2+ Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
+ Góp phần rèn luyện các kỹ năng (quan sát, phân tích, so sánh, suy luận,…) cho HS thông qua việc các em hoàn thành các yêu cầu của GV đưa ra trong phiếu học tập
+ Hướng HS vận dụng kiến thức kỹ năng vào đời sống thực tế
+ Lồng ghép giáo dục sức khỏe giới tính, sinh sản gắn liền với cuộc sống hằng ngày của học sinh để kích thích tính ham học hỏi tìm tòi, tạo hứng thú ở học sinh + Nhằm chia sẽ kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp cùng được phân công giảng dạy môn Sinh học khối 8
+ Góp phần nâng cao khả năng thiết kế và sử sụng phiếu học tập của giáo viên + Giáo viên nâng cao khả năng tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tự học, khám phá, phát hiện kiến thức mới
3/ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài đã được ứng dụng thử nghiệm đối với học sinh lớp 8 mà tôi đang giảng dạy tại đơn vị trường THCS ………… - ngôi trường nằm ở vùng ven thành phố Nhân cơ hội này, tôi muốn cùng với các GV dạy môn Sinh học khối 8 trao đổi thêm những kinh nghiệm đã học hỏi được trong thời gian qua, để từ đó có thể góp phần vào việc nâng cao chỉ tiêu chất lượng bộ môn Sinh học
II – TÍNH KHOA HỌC
1/ Thực trạng ban đầu của vấn đề
- SGK Sinh học 8 được biên soạn theo hướng hạn chế việc cung cấp tri thức có sẵn, mà yêu cầu HS phải hoạt động tích cực, tự lực dưới sự tổ chức hướng dẫn của
GV mới có thể phát hiện và lĩnh hội được Do đó dạy học bằng phương pháp truyền thống HS khó tiếp thu kiến thức hoặc tiếp thu một cách thụ động, gượng ép, một chiều, không hứng thú, không phát huy được tính tư duy, sáng tạo ở HS Nhưng hiện nay phần lớn giáo viên còn chưa sử dụng phiếu học tập để phát huy năng lực độc lập của HS trong quá trình dạy học
- Tuy nhiên khi sử dụng phiếu học tập trong dạy học một số GV còn lúng túng
về phương pháp sử dụng phiếu học tập, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh Vì gặp khó khăn trong sử dụng phiếu học tập nên giáo viên thường bỏ qua, quay lại dạy bằng thuyết trình nội dung bài học, gây trở ngại cho quá trình chiếm lĩnh kiến thức của học sinh
- Một số giáo viên chỉ sử dụng PHT trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức
Trang 3hoặc khâu kiểm tra đánh giá hoặc chỉ sử dụng vào việc tái hiện kiến thức chưa đạt được khả năng tự lực, độc lập làm việc của học sinh trong việc tìm kiến thức mới
- Việc thiết kế phiếu học tập của GV đôi lúc chưa khoa học, dẫn đến hiệu quả chưa cao GV chưa xác định được mục đích của các loại phiếu học tập nên gây khó khăn cho học sinh trong việc phát hiện và lĩnh hội kiến thức
- Về phía học sinh thì chưa quen với việc thực hiện học tập trên phiếu học tập, một số em khi giáo viên yêu cầu hoàn thành các phiếu học tập thì ngồi chơi
- Giáo viên chưa thật sự coi trọng công việc hướng dẫn HS tự học ở nhà và chuẩn bị trước bài mới ở nhà, đa số GV chỉ dặn dò bằng lời nói qua loa, phân công nhiệm vụ cho các nhóm còn chung chung, do đó đa số HS sẽ quên công việc mà GV
đã dặn dò làm ở nhà hoặc đùn đẩy cho trưởng nhóm
Từ những lí do nêu trên, trong nhiều tiết học vẫn còn những HS chưa có ý thức
tự học, chưa phát huy hết năng lực học tập của bản thân, vẫn còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào thầy cô, bạn bè, nê tỉ lệ HS khá giỏi chiếm tỉ lệ thấp hơn HS trung bình, yếu Cụ thể chất lượng bộ môn Sinh lớp 8 mà cá nhân tôi phụ trách năm học 2011-2012 lúc còn ít sử dụng PHT vào bài dạy kết quả như sau:
2/ Biện pháp và quá trình tổ chức tiến hành
Trang 42.1.1 Phiếu học tập là gì?
Phiếu học tập (PHT) hay còn gọi là phiếu hoạt động hoặc phiếu làm việc PHT
là những “tờ giấy rời”, in sẵn những công việc độc lập hoặc làm theo nhóm nhỏ được phát cho từng HS tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học hoặc
tự học ở nhà Mỗi PHT có thể giao cho HS một hoặc vài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm hướng tới kiến thức, kỹ năng hay rèn luyện thao tác tư duy cho HS
2.1.2 Quy trình thiết kế phiếu học tập
Gồm các bước sau:
Bước 1: Từ nội dung và mục tiêu bài học, xác định các hoạt động dạy học và
nội dung HS cần tiến hành cho từng hoạt động
Bước 2: Xây dựng PHT cho từng hoạt động
Bước 3: Xác định nội dung cụ thể của PHT
Xác định PHT được xây dựng với mục tiêu như thế nào, truyền tải kiến thức gì, rèn luyện kỹ năng gì? Hoặc dùng trong khâu nào của quá trình dạy học?
Bước 4: Chuyển nội dung kiến thức thành điều cho biết và điều cần tìm
Từ kết quả của việc phân tích nội dung bài dạy và xác định mục tiêu của bài phải xem xét để lĩnh hội được nội dung hay đạt được mục tiêu của bài, phải gợi mở cho biết những gì và tìm kiếm những gì
Bước 5: Diễn đạt nội dung trên thành PHT Phác thảo PHT cần xây dựng
Bước 6: Xây dựng đáp án và thời gian hoàn thành PHT
Căn cứ vào thời gian phân phối của chương trình, nội dung của phiếu mà quy định thời gian hoàn thành PHT một cách hợp lí
Để phát huy được tính tích cực của HS và đánh giá khách quan kết quả học tập của HS, sau khi sử dụng PHT phải xây dựng đáp án chuẩn
Trang 5Để đạt hiệu quả sử dụng PHT cao, đảm bảo thời gian thực hiện, phần dẫn yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, dẫn dắt HS đến các hoạt động cụ thể
b Phần hoạt động của học sinh:
Là phần chỉ những công việc, thao tác mà HS cần thực hiện có thể là một hoặc nhiều hoạt động
c Phần quy định thời gian thực hiện
Hoàn thành PHT phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Tùy vào khối lượng công việc mà thời gian có thể là 5 phút, 10 phút, dài hơn hoặc ngắn hơn Ngoài ra cũng cần căn cứ vào trình độ HS, thời gian tiết học
Tuy nhiên phần này không nhất thiết phải để trong PHT, nó có thể được GV thông báo bằng lời trong quá trình phát phiếu
d Phần nhận xét, bổ sung của giáo viên (nếu cần)
Thường tách biệt với các phần trên, được sử dụng để GV chỉnh sửa, bổ sung cho HS hay đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho HS
2.1.4 Điểm mới của đề tài
- Sử dụng các phiếu học tập (PHT) có ưu thế hơn câu hỏi, bài tập vấn đáp ở chỗ muốn xác định một nội dung kiến thức nào đó thoả mãn nhiều tiêu chí hoặc xác định nhiều nội dung từ các tiêu chí khác nhau, nếu diễn đạt bằng câu hỏi thì dài dòng Ta
có thể thay bằng một bảng có các tiêu chí thuộc các cột, các hàng khác nhau HS căn
cứ vào tiêu chí ở cột và hàng để tìm ý điền vào ô trống cho phù hợp Như vậy giá trị lớn nhất của PHT là với nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn bằng một bảng gồm có các hàng, cột ghi rõ các tiêu chí cụ thể
- PHT do GV tự thiết kế bao gồm có phần hình ảnh minh họa phù hợp, những nhiệm vụ học tập được trình bày một cách logic, khoa học trong đó GV đã tính toán
kĩ từng bước nhỏ, vừa sức với HS để các em có thể tự làm được, qua đó có thể tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới
- PHT là công cụ để GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS hướng dẫn cho học sinh tự khám phá, phát hiện kiến thức mới dưới hai hình thức:
+ Một là hình thức học tập cá nhân: PHT được phát cho từng cá nhân, mỗi học
sinh phải tự nghiên cứu SGK và các tài liệu tham khảo, suy nghĩ, để hoàn thành nhiệm vụ, hạn chế được thói quen ỷ lại, dựa dẫm của đa số HS yếu và trung bình Trong lúc HS tiến hành các hoạt động học tập bằng tay, các biến đổi sinh hóa được diễn ra một cách mạnh mẽ, sâu sắc trong não của các em, giúp các em hiểu sâu và nhớ lâu bài học
Trang 6+ Hai là hình thức thảo luận nhóm: chia lớp thành từng nhóm nhỏ, giáo viên
phát PHT có các câu hỏi, bài tập ở mức độ khó, đòi hỏi học sinh phải hợp tác, cùng nhau giải quyết vấn đề Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần hỗ trợ lẫn nhau, làm tăng hiệu quả học tập
Mặt khác, trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ trong PHT, qua quan sát, GV
có thể thu nhận được thông tin về năng lực, thái độ học tập của HS để có biện pháp uốn nắn kịp thời Đồng thời, qua các sản phẩm của quá trình làm việc bằng tay của
HS, GV có được nguồn thông tin phản hồi trung thực hơn, từ đó điều chỉnh được phương pháp dạy học của mình Như vậy, việc sử dụng PHT đóng một vai trò quan trọng trong dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của HS
2.2 Quá trình tổ chức tiến hành
Phiếu học tập là công cụ để giáo viên tiến hành tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, đồng thời là cơ sở để học sinh tiến hành các hoạt động một cách tích cực, chủ động Việc sử dụng phiếu học tập có thể thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình lên lớp
2.2.1 Quy trình chung về việc sử dụng phiếu học tập
Bước 1: Giao PHT cho HS
Bước 2: HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, hoàn thành PHT
Bước 3: GV tổ chức thảo luận để HS báo cáo kết quả
Bước 4: GV uốn nắn, chỉnh sửa, nhận xét, đánh giá, đưa ra đáp án
2.2.2 Sử dụng phiếu học tập trong các khâu của quá trình lên lớp
* Sử dụng phiếu học tập để hình thành kiến thức mới
- Mục đích của việc sử dụng loại PHT này là giúp HS lĩnh hội được kiến thức mới, vì vậy GV cần phát PHT sau khi ghi đề mục
- Để HS hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong PHT, cần có thời gian và định hướng để HS nghiên cứu, xử lí thông tin hoàn thành phiếu, sau đó để đại diện trình bày, lớp nhận xét, bổ sung
- Cuối cùng GV chốt lại kiến thức cần lĩnh hội
Ví dụ : Khi dạy mục II – Các hệ cơ quan, Bài 2 Cấu tạo cơ thể người, mục
trong SGK trang 9 yêu cầu – Hãy ghi tên các cơ quan có trong thành phần của
mỗi hệ cơ quan và chức năng chính của mỗi hệ cơ quan vào bảng 2 Thành phần,
chức năng các hệ cơ quan, mục này không có hình ảnh minh họa, như vậy HS
trung bình và yếu khó có thể thực hiện được, nếu GV dạy ứng dụng công nghệ thông tin chiếu cho HS quan sát từng hình của các hệ cơ quan, và hỏi - đáp thì chỉ có một vài học sinh tham gia phát biểu là được hoạt động vì thời gian có hạn còn hầu hết
Trang 7học sinh ngồi nghe câu trả lời của các bạn và đáp án của giáo viên mà không được rèn luyện và bộc lộ kỹ năng học tập, ảnh hưởng đến tính tích cực hoạt động của học
sinh Do đó để HS dễ lĩnh hội kiến thức mới đồng thời rèn luyện kỹ năng quan sát,
so sánh, khi dạy phần này GV có thể thiết kế và sử dụng phiếu học tập như sau:
Em hãy quan sát các hình dưới đây và hoàn thành bảng 2 Thành phần, chức
năng các hệ cơ quan (10 phút)
bảng 2 Thành phần, chức năng các hệ cơ quan
Hệ cơ quan Các cơ quan trong từng hệ cơ quan Chức năng của hệ cơ quan
Trang 8- PHT có in sẵn hình là cơ sở để học sinh tiến hành các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động kể cả những HS học trung bình, yếu đồng thời rèn luyện các
kỹ năng ở HS
Ví dụ: Để lĩnh hội kiến thức mới, đồng thời rèn luyện kỹ năng quan sát, so
sánh khi dạy mục II Phân biệt tuyến nột tiết với tuyến ngoại tiết, GV có thể xây
Ví dụ
Ví dụ: Khi dạy mục I Tuyến tụy, bài 57 Tuyến tụy và tuyến trên thận, GV có
thể xây dựng và sử dụng PHT như sau:
Hình 55.1 Tuyến ngoại tiết
Hình 55.2 Tuyến nội tiết
Tế bào tuyến
Mạch máu Ống dẫn
chất tiết
Cơ quan đích
Ngoài
Hình 55.1 Tuyến ngoại tiết
Hình 55.1 Tuyến ngoại tiết
Hình 55.2 Tuyến nội tiết
Hình 55.2 Tuyến nội tiết
Tế bào tuyến
Mạch máu Ống dẫn
chất tiết
Cơ quan đích
Ngoài
Trang 9Em hãy quan sát kĩ hình 57.1 Tuyến tụy với cấu trúc
đảo tụy, đọc thông tin mục I SGK, sau đó thảo luận
nhóm hoàn thành bảng sau (thời gian 5 phút)
Cấu tạo
tuyến tụy
Chức năng Nội tiết Ngoại tiết
* Sử dụng phiếu học tập để củng cố, hoàn thiện kiến thức
Loại PHT này sử dụng sau khi HS đã học xong từng phần, từng bài, từng chương Hoàn thành được PHT này, HS sẽ nắm vững kiến thức đã học, đảm bảo tính
hệ thống, tính liên tục và tính logic của kiến thức trong chương trình
Ví dụ: Khi dạy bài 4 Mô Để củng cố bài học về đặc điểm cấu tạo và chức
năng của các loại mô, có thể sử dụng PHT sau:
Dựa vào kiến thức bài 4 Mô, em hãy so sánh 4 loại mô theo bảng sau (5 phút)
Mô biểu bì Mô liên kết Mô cơ Mô thần kinh Đặc điểm cấu tạo
Chức năng
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài 21 Hoạt động hô hấp, GV có thể phát phiếu học
tập để củng cố bài như sau:
Dựa vào kiến thức đã học trong bài em hãy điền các nội dung phù hợp vào bảng dưới đây (5 phút):
Các giai đoạn chủ yếu
Vai trò
Thở
Trao đổi khí ở phổi
Trao đổi khí ở tế bào
Ví dụ 3: Sau khi dạy xong chương V Tiêu hóa để hệ thống hóa lại kiến thức
của chương, GV có thể xây dựng và sử dụng PHT như sau:
Em hãy đánh dấu (+) vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Túi mật Ống dẫn mật
Ống tụy
Tế bào tiết dịch tụy
Tá tràng
Đảo tụy
Tế bào α
Tế bào β Mạch máu
hình 57-1 Tuyến tụy với cấu
trúc đảo tụy
Trang 10Khoang miệng
Thực quản
Dạ dày
Ruột non
Ruột già
Tiêu hoá
Gluxit Lipit Prôtêin
Hấp thụ
Đường Axit béo
và Glixêrin Axit amin
* Sử dụng phiếu học tập để kiểm tra đánh giá
Mục đích của việc sử dụng PHT lúc này là để kiểm tra mức độ lĩnh hội kiến thức của HS Vì vậy PHT dùng trong khâu này là tương tự như đề kiểm tra, được phát đến từng HS, GV không cần gợi ý hay định hướng cho HS để việc kiểm tra đánh giá được khách quan
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài 8 Cấu tạo và tính chất của xương, GV có thể ra
đề kiểm tra 15 phút như ở bảng sau:
PHT: Dùng kiến thức đã học ở bài 8 Cấu tạo và tính chất của xương, em hãy hoàn thành cột chức năng sau cho hợp lí với cột cấu tạo
Đầu xương
- Sụn bọc đầu xương
- Mô xương xốp gồm các nan xương
Ví dụ 2: Sau khi dạy xong bài 31 Trao đổi chất, bài 32 Chuyển hóa, GV có
thể ra đề kiểm tra 15 phút như ở bảng sau:
PHT: Dùng kiến thức đã học ở bài 31, 32, em hãy điền các nội dung phù hợp vào bảng sau:
Trao đổi chất Ở cấp cơ thể
Trang 11* Sử dụng phiếu học tập để hướng dẫn tự học
Có nhiều phương tiện hỗ trợ cho việc tự học của HS Tuy nhiên, trong số đó, PHT là loại phương tiện thông dụng nhất
Quy trình hướng dẫn HS tự học bằng PHT có các bước sau:
Bước 1: GV giao PHT cho HS, gợi ý cho HS cách tìm thông tin, cách giải
quyết yêu cầu của phiếu, tương ứng với giai đoạn hướng dẫn của thầy
Bước 2: Ứng với giai đoạn tự nghiên cứu của trò, HS tự tìm tòi, quan sát,
phân tích, tổng hợp, phát hiện vấn đề, theo yêu cầu của PHT
Bước 3: GV tổ chức cho HS hoạt động nhóm, các em tự trao đổi, thảo luận
với nhau Sau đó tự trình bày, tự thể hiện kiến thức của mình trước tập thể, các nhóm khác nhận xét, bổ sung thêm
Bước 4: trong khi HS thảo luận thầy giữ vai trò là người trọng tài, nhận xét,
thẩm định kết quả của HS HS tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa chữa, điều chỉnh, chuẩn hóa kiến thức
Ví dụ: Sau khi học xong bài 29 Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân, để chủ
động thời gian trong tiết sau cho HS thảo luận, GV có thể phát PHT để HS về nhà hoàn thành PHT trước khi dạy bài 30 Vệ sinh tiêu hóa
PHT: Nghiên cứu mục I, liệt kê các thông tin cho phù hợp với các cột và hàng trong bảng sau:
Nhóm Tác nhân Cơ quan hay hoạt động
C hế đ ộ ăn u ốn g
Ví dụ: Sau khi học xong bài 39 Bài tiết nước tiểu, GV có thể phát PHT để HS về
nhà hoàn thành PHT trước khi dạy bài 40 Vệ sinh hệ bài tiết nước tiểu
PHT: Nghiên cứu mục I, và dựa vào hiểu biết của bản thân, em hãy liệt kê các thông tin cho phù hợp với các cột và hàng trong bảng sau:
Trang 12Tổn thương hệ bài tiết nước tiểu Hậu quả
……… ……… ………
……… ……… ………
……… ……… ………
Ví dụ: Sau khi học xong bài 51, GV có thể phát PHT để HS về nhà hoàn thành PHT
trước khi dạy bài 52 Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện
PHT: Nghiên cứu mục I, II, III và dựa vào hiểu biết của bản thân, em hãy hoàn thành bảng so sánh tính chất của phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện theo mẫu sau:
2.4.3 Căn cứ vào nguồn thông tin sử dụng để hoàn thành phiếu học tập
- PHT khai thác kênh chữ: Thường dùng trong các khâu của tiến trình dạy
học Khi dạy bài mới, nôi dung của phiếu dạng này đi kèm với kênh “đọc thông tin” hay “nghiên cứu mục, bài”
Ví dụ: Phần II Các nguyên tắc truyền máu, mục 1 Các nhóm máu ở người,
bài 15 Đông máu và các nguyên tắc truyền máu, GV có thể thiết kế và sử dụng PHT như sau: Đọc thông tin SGK điền vào bảng sau:
Nhóm máu Kháng nguyên trên hồng cầu Kháng thể trong huyết tương
O
A
B
AB
Ví dụ: Đọc thông tin mục I – Vai trò của các hoocmôn tuyến tụy , bài 57, tóm
tắt quá trình điều hòa lượng đường trong máu bằng cách tìm ý điền vào chỗ trống hoàn thiện sơ đồ sau:
Trang 13- PHT khai thác kênh hình: Đây được xem là dạng phiếu phát huy cao độ
tính tích cực của HS, có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học giúp
HS phát triển kỹ năng quan sát, phân tích Nguồn thông tin để hoàn thành PHT là kênh hình trong SGK, tranh ảnh, phim tư liệu,…
Ví dụ: Khi dạy mục 3 Mô cơ, phần II Các loại mô, bài 4 Mô, có thể sử dụng
PHT sau: Quan sát hình mô cơ vân, mô cơ trơn, mô cơ tim điền vào bảng sau
Số nhân
Vị trí nhân
Có vân ngang
Ví dụ: bài 3 Tế bào, mục I Cấu tạo tế bào, khi dạy phần này GV phải cho
HS so sánh giữa tế bào thực vật với tế bào động vật (do bài 5 Quan sát tế bào và mô
yêu cầu của phần báo cáo thu hoạch, câu 3 Phân biệt tế bào động vật và tế bào thực vật) GV có thể bổ sung tranh tế bào thực vật để xây dựng và sử dụng phiếu học
(+) Khi đường huyết ……… Khi đường huyết ………
…………
Trang 14Đặc điểm Tế bào thực vật Tế bào động vật
1 Giống nhau
2 Khác nhau - Vách tế bào - Lục lạp - Không bào - Trung thể .… ………
…… ………
…… ………
…… ………
… ………
…… ………
…… ………
…… ………
- Từ bảng so sánh GV gợi ý để HS rút ra nhận xét:
+ Những điểm giống nhau giữa tế bào động vật và tế bào thực vật chứng minh động vật và thực vật có mối quan hệ nguồn gốc trong quá trình phát sinh và phát triển sinh giới
+ Những điểm khác nhau giữa tế bào động vật và tế bào thực vật chứng minh rằng tuy có quan hệ về nguồn gốc nhưng động vật và thực vật tiến hóa theo hai hướng khác nhau
Ví dụ: Khi dạy mục I Cấu tạo tim, bài 17, có thể sử dụng phiếu học tập sau:
PHT: Dựa vào kiến thức đã biết, hình 16.1, và quan sát hình 17-1 điền vào bảng sau
Các ngăn tim co Nơi máu được
bơm tới Tâm nhĩ trái co
Tâm nhĩ phải co Tâm thất trái co Tâm thất phải co
1 Tâm thất phải
2 Động mạch phổi
3 Mao mạch phổi
4 Tĩnh mạch phổi
5 Tâm nhĩ trái
6 Tâm thất trái
7 Động mạch phổi
8 Mao mạch phần trên
9 Mao mạch phần dưới
10 Tĩnh mạch chủ trên
11 Tĩnh mạch chủ dưới
12 Tâm nhĩ phải
Hình 16-1 Sơ đồ cấu tạo hệ tuần hoàn máu
Thành (Vách tế bào)
Màng sinh chất
Ti thể
Chất tế bào Nhân
Lưới nội chất
Lục lạp Trung thể
Lyzosom
bào
Bộ máy gôngi