1.1. Lịch sử phát triển Trong lịch sử phát triển của loài người, giao thông vận tải đường thủy sớm được phát triển. Ngay từ ngày đầu, con người đã biết sử dụng thuyền để duy chuyển trên sông, hồ để đánh bắt cá. Giai đoạn sau, khi hoạt động sản xuất nông nghiệp của loài người phát triển, con người sử dụng thuyền để vận chuyển hàng hóa, sinh hoạt… Hoạt động của thuyền buồn trên sông nối liền các vùng con người sinh sông, làng mạc, chợ búa… với nhau. Cũng từ gian đoạn này, hoạt động đường thủy văn sông có sự kết hợn với hoạt động đường biển ven bờ. Sự kết hợp này giúp nối liền các lưu vực sông với nhau lại thành một hệ thống. Những chiếc thuyền buồn trong giai đoạn này, đã giúp con người vận chuyển các hàng hóa nặng và cồng kềnh đi khắp các lưu vực sông ngòi trên lục địa, và các tuyến đường biển ven bờ. Cũng chính vì thế chế độ phong kiến trong giai đoạn này, rất chú trọng đầu tư các đội thuyền chiến rất hùng mạnh. Đến thế kỉ XV – XVI, các lãnh chúa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã tiếng hành những cuộc thám hiểm hàng hải, để vượt qua các biển và các đại dương của thế giới. Và cuộc thám hiểm vĩ đại nhất thuộc về người Tây Ban Nha, lần đầu tiên trong lịch sử, đội thuyền buồn gồm 5 chiếc của Magenlăng từ Tây Ban Nha vượt Đại Tây Dương, qua eo Magenlăng ở Nam Mĩ, rồi vượt Thái Bình Dương tới Philippine, qua Ấn Độ Dương và trở lại Tây Ban Nha. Có thể nói đây là chuyến hải hành vòng quanh thế giới đầu tiên trong lịch sử loài người. Và cũng chính từ đây, khơi nguồn cho việc thông thương buôn bán bằng tàu viễn dương trên phạm vi toàn thế giới. Bước sang thời kì đại công nghiệp, khi khoa học công nghệ phát triển, các tàu thuyền buồn viễn dương được thay thế bằng các tàu thủy chạy bằng máy cỡ lớn. Cùng với đó, con người với những máy móc hiện đại đã tiến hành đào các kênh đào quan trong đối với việc thông thương hàng hải thế giới ( kênh đào Xuyê, kênh đào Panama…). Từ đây tuyến đường hàng hải quốc tế, nối liền các quốc gia có biển trên thế giới được hình thành. Vào thời gian này, các tàu viễn dương có kích thước nhỏ ( vài nghìn tấn ), hàng hóa được đóng vào thùng gỗ rồi xếp lên tàu, tốc độ duy chuyển của tầu chậm, thời gian duy chuyển dài. Nên các tàu viễn dương thường gặp tai nạn trên biển do bão tố, đá ngầm, cướp biển… Giao thông vận tải biển thời kì này mang nhiều tính rủi ro và phí vận chuyển khá cao. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai (1995), Nhật Bản đã đóng các tàu vận tải khổng lồ có khả năng vận chuyển 25 vạn tấn hàng hóa, các tàu container trọng tải 10 vạn tấn, tàu chở dầu 2030 vạn tấn. Hàng hóa được đóng vào container, tầu có tốc độ duy chuyển nhanh, tránh được bão tố, đá ngầm, cũng như an ninh hàng hải ngày càng tốt làm cho chi phí vận chuyển rẻ, tính an toàn rất cao. Tiếp bước Nhật Bản, Mỹ, các nước châu Âu, Liên Xô… cũng đóng và đưa vào sử dụng các tàu có khả năng vận chuyển hàng chục vạn tấn hàng hóa. Giao thông vận tải biển ngày càng phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, giao thông vận tải biển đã và đang chiếm ưu thế trong hệ thống các ngành giao thông vận tải và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các quốc gia ven biển, với các cảng biển đã trở nên có lợi thế về mặt kinh tế hơn hẳn so với các quốc gia nội địa. Các hải cảng lớn trên thế giới dần dần trở thành các trung tâm công nghiệp – thương mại – dịch vụ khổng lồ, và cũng là nơi có mức độ tập trung kinh tế cao vào loại bậc nhất thế giới. Hệ thống các cảng biển trên thế giới Cảng biển có hai chức năng chính: Phục vụ tàu biển Phục vụ hàng hóa Đối với địa lí vận tải biển,mạng lưới các cảng biển có ý nghĩa căn bản.Trên thế giới có khoảng 6.0007.000 cảng đang hoạt động,nhưng chỉ có chưa đến 100 cảng có ý nghĩa toàn cầu.Trong đó những khu vực cảng họa động tấp nập chủ yếu tập trung ở châu Âu,châu Mĩ và một số cảng của châu Á. Mười cảng có lượng hàng hóa thông qua lớn nhất thế giới năm 2009 Đơn vị: Triệu TEU STT Cảng biển Quốc gia Lượng hàng hóa thông qua 1 Thượng Hải Trung Quốc 27,6 2 Ninh Ba và Chu Sơn Trung Quốc 25,9 3 Xingabo Xingapo 25,2 4 Rốtxtecđam Hà Lan 25,0 5 Thiên Tân Trung Quốc 22,9 6 Quảng Châu Trung Quốc 22,1 7 Thanh Đào Trung Quốc 21,0 8 Đảo Tần Hoàng Trung Quốc 21,0 9 Hồng Kông Trung Quốc 19,7 10 Busan Hàn Quốc 18,1 Nguồn:Port of Rotterdam Trong thời gian gần đây, cảng Thượng Hải đã vương lên trở thành cảng biển lớn nhất thế giới nhờ sự phát triển mạnh mẽ của nên kinh tế Trung Quốc. Cảng container là đặc trưng kinh tế cảng của nền kinh tế phát triển. Hiện nay các cảng container đang dần dần được hiện đại hóa và ngày càng đáp ứng hiệu quả nhu cầu vận chuyển hàng hóa viễn dương trên thế giới. Trong thời gian gần đây, các cảng biển container ở châu Á đang dần dần chiếm vị trí áp đảo về lượng hàng hóa lưu thông qua cảng.
Trang 1ĐỊA LÝ NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI BIỂN
I.1. Lịch sử phát triển
Trong lịch sử phát triển của loài người, giao thông vận tải đường thủy sớm được phát triển Ngay từ ngày đầu, con người đã biết sử dụng thuyền để duy chuyển trên sông, hồ để đánh bắt cá.
Giai đoạn sau, khi hoạt động sản xuất nông nghiệp của loài người phát triển, con người sử dụng thuyền để vận chuyển hàng hóa, sinh hoạt… Hoạt động của thuyền buồn trên sông nối liền các vùng con người sinh sông, làng mạc, chợ búa… với nhau Cũng từ gian đoạn này, hoạt động đường thủy văn sông có sự kết hợn với hoạt động đường biển ven bờ Sự kết hợp này giúp nối liền các lưu vực sông với nhau lại thành một hệ thống Những chiếc thuyền buồn trong giai đoạn này, đã giúp con người vận chuyển các hàng hóa nặng và cồng kềnh đi khắp các lưu vực sông ngòi trên lục địa, và các tuyến đường biển ven bờ Cũng chính vì thế chế độ phong kiến trong giai đoạn này, rất chú trọng đầu tư các đội thuyền chiến rất hùng mạnh.
Đến thế kỉ XV – XVI, các lãnh chúa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã tiếng hành những cuộc thám hiểm hàng hải, để vượt qua các biển và các đại dương của thế giới Và cuộc thám hiểm vĩ đại nhất thuộc về người Tây Ban Nha, lần đầu tiên trong lịch sử, đội thuyền buồn gồm 5 chiếc của Magenlăng từ Tây Ban Nha vượt Đại Tây Dương, qua eo Magenlăng ở Nam Mĩ, rồi vượt Thái Bình Dương tới Philippine, qua Ấn Độ Dương và trở lại Tây Ban Nha Có thể nói đây là chuyến hải hành vòng quanh thế giới đầu tiên trong lịch sử loài người Và cũng chính từ đây, khơi nguồn cho việc thông thương buôn bán bằng tàu viễn dương trên phạm vi toàn thế giới Bước sang thời kì đại công nghiệp, khi khoa học công nghệ phát triển, các tàu thuyền buồn viễn dương được thay thế bằng các tàu thủy chạy bằng máy cỡ lớn Cùng với đó, con người với những máy móc hiện đại đã tiến hành đào các kênh đào quan trong đối với việc thông thương hàng hải thế giới ( kênh đào Xuyê, kênh đào Panama…) Từ đây tuyến đường hàng hải quốc tế, nối liền các quốc gia có biển trên thế giới được hình thành Vào thời gian này, các tàu viễn dương có kích thước nhỏ ( vài nghìn tấn ), hàng hóa được đóng vào thùng gỗ rồi xếp lên tàu, tốc độ duy chuyển của tầu chậm, thời gian duy chuyển dài Nên các tàu viễn dương thường gặp tai nạn trên biển do bão tố, đá ngầm, cướp biển… Giao thông vận tải biển thời kì này mang nhiều tính rủi ro và phí vận chuyển khá cao.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai (1995), Nhật Bản đã đóng các tàu vận tải khổng lồ có khả năng vận chuyển 2-5 vạn tấn hàng hóa, các tàu container trọng tải
Trang 210 vạn tấn, tàu chở dầu 20-30 vạn tấn Hàng hóa được đóng vào container, tầu có tốc độ duy chuyển nhanh, tránh được bão tố, đá ngầm, cũng như an ninh hàng hải ngày càng tốt làm cho chi phí vận chuyển rẻ, tính an toàn rất cao Tiếp bước Nhật Bản, Mỹ, các nước châu Âu, Liên Xô… cũng đóng và đưa vào sử dụng các tàu có khả năng vận chuyển hàng chục vạn tấn hàng hóa Giao thông vận tải biển ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Ngày nay, giao thông vận tải biển đã và đang chiếm ưu thế trong hệ thống các ngành giao thông vận tải và ngày càng phát triển mạnh mẽ Các quốc gia ven biển, với các cảng biển đã trở nên có lợi thế về mặt kinh tế hơn hẳn so với các quốc gia nội địa Các hải cảng lớn trên thế giới dần dần trở thành các trung tâm công nghiệp – thương mại – dịch vụ khổng lồ, và cũng là nơi có mức độ tập trung kinh tế cao vào loại bậc nhất thế giới.
1.2 Vai trò của ngành giao thông vận tải biển
*Về mặt tự nhiên:
Giao thông vận tải biển góp phần vào việc khai thác tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới, mà cụ thế nhất là tài nguyên nước.
*Về mặt kinh tế xã hội
Giao thông vận tải có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của kinh
tế xã hội:
- Giao thông vận tải nói chung và giao thông vận tải biển nói riêng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, giúp thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển.
- Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển Vận tải đường biển phát triển góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế.
- Giao thông vận tải biển góp phần giao lưu và giao thoa các nền văn hóa trên thế giới.
- Ngày nay, giao thông vận tải biển có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình trao đổi hàng hóa quốc tế, khi nhu cầu giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng.
1.3 Đặc điểm của ngành giao thông vận tải biển
Giao thông vận tải biển là một bộ phận của ngành giao thông vận tải, nên giao thông vận tải biển mang những đặc điểm chung của ngành giao thông vận tải, cụ thể:
Trang 3- Ngành giao thông vận tải biển có nhiệm vụ vận chuyển vận chuyển nguyên, nhiên liệu, hàng hóa, hành khách theo yêu cầu của sản xuất và thị trường, phân phối lưu thông hàng hóa, đáp ứng nhu cầu duy chuyển của nhân dân…
- Giao thông vận tải biển không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng qua quá trình lưu thông, thay đổi vị trí của hàng hóa, nó có khả năng tăng thêm giá trị của hàng hóa Nếu cước phí vận tải được giảm xuống sẽ làm giảm giá thành của sản phẩm từ đó tăng lợi nhuận và sức cạnh tranh cho sản phẩm đó.
- Giao thông vận tải biển là ngành tiêu hao nhiều năng lượng, nhiên lượng Những nguyên nhiên liệu mà ngành giao thông vận tải tiêu dùng chủ yếu là những nguyên liệu đắt tiền như: xăng, dầu, dầu bôi trơn… Đặc biệt, hiện nay với các tàu chạy bằng các động cơ cỡ lớn thì việc tiêu hao năng lượng, nhiên liệu càng lớn hơn.
- Việc xây dựng các con tàu viễn dương, xây dựng các hải cảng… tiêu hao nhiều nguyên liệu như kim loại màu, kim loại đen, nhựa cao xu, sơn… Nên giao thông vận tải biển trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các ngành công nghiệp khác nhau.
Bên cạnh những đặc chung trên, ngành giao thông vận tải biển cũng mang nhiều đặc điểm riêng biệt, mà các bộ phận còn lại của ngành giao thông vận tải không thể có được như:
- So với các loại hình giao thông vận tải còn lại, giao thông vận tải đường biển có kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ít hơn, việc xây dựng cơ sở vật chất này cũng dễ dàng hơn.
- Giao thông vận tải đường biển có thể vận chuyển được những loại hàng hóa nặng, cồng kềnh mà vẫn giữ được mức độ an toàn cao.
- Mức độ an toàn của giao thông vạn tải biển là tương đối cao.
Nhưng :
- Giao thông vận tải biển phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên như: phụ thuộc vào hoạt động cảu các cơn bão, các dòng biển… Và đây cũng là lý do tàu biển thường hay gặp nạn trên biển.
- Mặc dù giá cước vận tải rẻ, nhưng thời gian vận chuyển bằng đường biển rất dài, nên hiện nay vận tải biển không thể cạnh tranh với các loại hình vận tải khác về yêu cầu vận chuyển nhanh.
- Bên cạnh đó, giao thông vận tải biển cũng mang đến nhiều mối lo về môi trường, đặc biệt là các sự cố tràn dầu và từ việc rửa tàu vận chuyển dầu Trong khi đó, giao thông vận tải biển có khoảng một nữa khối lượng hàng hóa vận chuyển là dầu mỏ, nên nguy cơ ô nhiễm môi trường là rất lớn.
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI BIỂN THẾ GIỚI
Sự phát triển của ngành giao thông vận tải biển trên thế giới được thể hiện thông qua 3 khía canh: Các tuyến đường vận vận tải biển quốc tế, đội tàu biển thế giới và hệ thống các cảng biển trên thế giới.
Trang 42.1 Các tuyến vận tải quốc tế
Các tuyến hàng hải quốc tế thường được chia làm 3 loại: Từ cảng đến cảng, tuyến con lắc và tuyến vòng quanh thế giới.
Các đại dương trên thế giới hiện nay có mức khai thác giao thông khác nhau, đại dương có nhiều tuyến đường biển quốc tế nhất là Đại Tây Dương.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các kênh đào nối liền các đại dương lớn trên thế giới, đã tạo điều kiện cho việc hình thành nhiều tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng
Một số tuyến hàng hải quan trọng của thế giới:
- Tuyến Bắc Đại Tây Dương nối liền châu Âu và Bắc Mỹ, Địa Trung Hải – châu Á qua kênh Xuyê, đường qua kênh Panama nối liền châu Âu và
bờ Đông Hoa Kì với bờ Tây Hoa Kì và châu Á.
- Đường biển Nam Phi nối liền châu Âu và châu Mỹ với châu Phi.
- Đường biển Nam Mỹ nối liền châu Âu và Bắc Mỹ với Nam Mỹ.
- Đường biển Bắc Thái Bình Dương nối liền Tây Hoa Kì với Nhật Bản và Trung Quốc.
- Đường biển Nam Thái Bình Dương từ Tây Hoa Kì đến Ôxtrâylia, Niudilân, Inđônêxia và Nam Á.
- Đường biển từ vùng vịnh Pecxich qua mũi Hảo Vọng ( Nam Phi ) đến châu
Âu và châu Mỹ dành riêng cho các chuyến tàu chở dầu khổng lồ không đi qua được kênh đào Xuyê.
2.2 Hệ thống các cảng biển trên thế giới
Cảng biển có hai chức năng chính:
Trang 5- Phục vụ tàu biển
- Phục vụ hàng hóa
Đối với địa lí vận tải biển,mạng lưới các cảng biển có ý nghĩa căn bản.Trên thế giới có khoảng 6.000-7.000 cảng đang hoạt động,nhưng chỉ có chưa đến 100 cảng
có ý nghĩa toàn cầu.Trong đó những khu vực cảng họa động tấp nập chủ yếu tập trung ở châu Âu,châu Mĩ và một số cảng của châu Á.
Mười cảng có lượng hàng hóa thông qua lớn nhất thế giới năm 2009
Đơn vị: Triệu TEU
hóa thông qua
Nguồn:Port of Rotterdam Trong thời gian gần đây, cảng Thượng Hải đã vương lên trở thành cảng biển lớn nhất thế giới nhờ sự phát triển mạnh mẽ của nên kinh tế Trung Quốc.
Cảng container là đặc trưng kinh tế cảng của nền kinh tế phát triển Hiện nay các cảng container đang dần dần được hiện đại hóa và ngày càng đáp ứng hiệu quả nhu cầu vận chuyển hàng hóa viễn dương trên thế giới Trong thời gian gần đây, các cảng biển container ở châu Á đang dần dần chiếm vị trí áp đảo về lượng hàng hóa lưu thông qua cảng.
Mười cảng container có lượng hàng hóa thông qua cảng lớn nhất trên
thế giới năm 2011
Đơn vị: Triệu TEU
Trang 6STT Cảng Container Quốc gia Lượng hàng
hóa thông qua cảng
8 Dubai Các tiểu vương quốc Arap thống
Nguồn:Port of Rotterdam
2.3 Hoạt động của đội tàu buôn thế giới
Hiện nay,khoảng 85.000 tàu biển có trọng tải trên 100 tấn đang hoạt động khắp nơi trên thế giới,trong đó khoảng 1/2 làm nhiệm vụ vận tải,1/2 làm nhiệm vụ dịch vụ.
Trên thế giới việc xây dựng và phát triển các tàu container đang được các nước chú trọng nhằm tăng năng lực hoạt động của các cảng biển, đồng thời giúp cho việc bốc dỡ hàng nhanh hơn,chuyên chở an toàn hơn và cũng dễ dàng tập kết và phân phối hàng
10 nước có đội tàu buôn lớn nhất năm 2007
Trang 77 Hàn Quốc 2.946
Nguồn: Microsoft Encarta World Atlas 2009 Hiện nay, các nước trên thế giới đang chú trọng phát triển các tàu container có công suất lớn nhằm tăng năng lực vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa dễ dàng, nhanh chóng, an toàn từ đó tăng năng lực hoạt động của các cảng biển.
III Thực trạng ngành giao thông vận tải biển Viêt Nam
3.1 Lịch sử phát triển của ngành giao thông vận tải biển Việt Nam
Từ xa xưa, sự giao lưu buôn bán quốc tế trên đường biển giữa Đại Việt và các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, và một số nước châu Âu đã được hành thành và phát triển Cho đến thế kỉ XV – XVI người Bồ Đào Nha đã vượt biển Trung Quốc và đã đến vùng Côn Lôn.
Đến những thập niên cuối của thế kỉ XIX, người Pháp đã xây dựng ở nước ta một hệ thông cảng dọc ven biển và vùng cửa sông như: Sài Gòn, Hải Phòng, Bến Thủy, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Hòn Gai, Cẩm Phả, Nha Trang, Phan Thiết đế phục
vụ cho phát triển kinh tế và xuất khẩu.
Suốt trong thời kì chiến tranh, ngành giao thông đường biển chủ yếu phục vụ cho mục đích quân sự Sau khi thống nhất đất nước nắm 1975, ngành giao thông vận tải biển có nhiều bước phát triển mới Các cảng biển được cái tạo và xây dựng lại, trọng tải của tàu vận chuyển được nâng cao, từ đó tạo nên sự phát triển tương đối ổn định của ngành giao thông vận tải biển trong giai đoạn này.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập thế giới ngành giao thông vận tải đường biển ngày càng phát triển mạnh mẽ và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải Việt Nam.
3.2 Tiềm năng phát triển của ngành giao thông vận tải biển Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có vùng biển rộng, bờ biển dài và có chỉ số hàng hải (maritime index) là 0,01 (trung bình 100km đất liền có 01 km bờ biển), cao gấp
6 lần tỷ lệ này của thế giới Dọc bờ biển có nhiều eo vụng, vũng vịnh sâu, lại gần các trung tâm đô thị lớn, các trung tâm du lịch biển, đảo, các khu vực sản xuất hàng hóa có nhu cầu xuất nhập khẩu khẩu Ngoài ra, có gần 3.000 đảo ven bờ tạo thành hệ thống đảo “che chắn” hầu hết các vùng biển ven bờ và vùng ven biển của Việt Nam ở mức độ khác nhau Tuyến giao thông quốc tế cắt qua khu vực Biển Đông được ví như con đường giao thương nhộn nhịp nhất nhì trên thế giới
Vì vậy, xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển mang tính sống còn đối với vận tải biển của nước ta và là kết cấu hạ tầng quan trọng quyết định sự phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế biển thời gian tới
3.3 Thực trạng phát triển của ngành giao thông vận tải biển Việt Nam
Trang 8Năm 2014, thống kê cho thấy, tổng sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 370,3 triệu tấn, tăng 14%, trong đó hàng container đạt 10,24 triệu TEUs, tăng 20,1% so với năm 2013.
Theo Cục Hàng hải Việt Nam, sản lượng hàng thông qua Nhóm cảng biển số 1 tiếp tục tăng trưởng ổn định, đạt 120,3 triệu tấn, tăng 13% (chiếm 33% sản lượng hàng thông qua các cảng biển của cả nước) Nhóm cảng biển số 5 đạt 162 triệu tấn, tăng 14% (chiếm 44%) Sản lượng container khu vực Hải Phòng đạt 3,36 triệu TEUs, tăng 20,3%; khu vực TP Hồ Chí Minh đạt 4,98 triệu TEUs, tăng 14,8% Một trong những khu vực có lượng hàng tăng trưởng cao nhất là Hà Tĩnh, đạt 4,09 triệu tấn, tăng 33%.
a Các tuyến vận tải biển
Các tuyến hàng hải chính của nước ta bao gồm: các tuyến đường biển nội địa
và các tuyến đường biển quốc tế.
* Các tuyến đường biển nội địa
Việc hành thành các cảng biển trong nước chủ yếu dựa vào 3 cụm cảng biển quan trọng là: Hải Phong – Quảng Ninh; Đà Nẵng; Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa – Vũng Tàu Các tuyến hàng hải nội địa quan trọng có thế kể đến như:
- Hải Phòng – Cửa Lò ( 399km )
- Hải Phòng – Đà Nẵng ( 690km )
- Hải Phòng – TP Hồ Chí Minh ( 1500km )
- Đà Nẵng – Cửa Lò ( 450km )
- Đà Nẵng – Quy Nhơn ( 300km )
Việc phát triển các tuyến đườn biển nội địa ở các cảng biển lại hai cũng khá được chú trọng như: cảng Quy Nhơn – Phan Thiết ( 440km ), Phan Thiết – Nhà Bè ( 290km)
Ngoài ra, do nước ta có nhiều đảo và quần đảo nên việc phát triển các tuyến đường biển từ đất liền ra các đảo cũng rất được chú trọng, cụ thể như:
- Tại Quảng Ninh, có 6 tuyến vận tải từ bờ ra đảo.
- Tại Hải Phòng, cũng có 6 tuyến vận tải từ bờ ra các đảo.
-
*Các tuyến đường biển quốc tế
Ngày nay, với xu hướng mở rộng quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, cùng với sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu, các tuyến đường biển quốc tế đã được hành thành và phát triển nhanh chóng Các tuyến đường biển quốc tế của nước ta chủ yếu được hình thành dựa vào luồng xuất nhập khẩu hàng hóa với các nước trên thế giới.
Bảng : Một số tuyến đường biển quốc tế của Viêt Nam
khẩu Luồng hàng nhập khẩu
Trang 91 Hải Phòng/Quảng Ninh <-> Nhật
2 Hải Phòng/Quảng Ninh <-> Hàn
5 TP Hồ Chí Minh <-> Cuba Dầu thô, gạo
6 TP Hồ Chí Minh <-> Bờ Biển Ngà Gạo
Trang 10Bản đồ ngành giao thông vận tải Việt Nam
Trang 11b Hệ thống cảng biển Việt Nam
Đến đầu năm 2014, nước ta có khoảng 234 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm ven biển, ven đảo có thể xây dựng cảng, kể cả cảng ở quy mô trung chuyển quốc tế.
Ngày 24/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2190/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến 2030 Theo đó, hệ thống cảng biển Việt Nam được phát triển theo vùng lãnh thổ, gồm 6 nhóm:
Nhóm 1: Nhóm cảng biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
Nhóm 2: Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh.
Nhóm 3: Nhóm cảng biển Trung Trung Bộ từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi Nhóm 4: Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận.
Nhóm 5: Nhóm cảng biển Đông Nam Bộ (bao gồm cả Côn Đảo và trên sông Soài Rạp thuộc Long An, Tiền Giang).
Nhóm 6: Nhóm cảng biển đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm cả Phú Quốc và các đảo Tây Nam).
Theo quy mô, chức năng và nhiệm vụ hệ thống cảng biển Việt Nam có các loại cảng:
(1) Cảng tổng hợp quốc gia: là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam bao gồm: Cảng trung chuyển quốc tế: Vân Phong (Khánh Hòa); Cảng cửa ngõ quốc tế: Hải Phòng (Lạch Huyện) và cảng Bà Rịa - Vũng Tàu (khu vực Thị Vải - Cái Mép); Cảng đầu mối khu vực: Hòn Gai (Quảng Ninh), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Dung Quất (Quảng Ngãi), Quy Nhơn (Bình Định), Nha Trang, Ba Ngòi (Khánh Hòa), Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh), Đồng Nai.
(2) Các cảng địa phương: có phạm vi hấp dẫn và chức năng phục vụ chủ yếu trong phạm vi địa phương (tỉnh, thành phố).
(3) Cảng chuyên dụng: phục vụ trực tiếp cho các cơ sở công nghiệp tập trung, hàng qua cảng có tính đặc thù chuyên biệt (dầu thô, sản phẩm dầu, than, quặng, xi măng, clinke, hành khách,…) và là một hạng mục trong tổng thể cơ sở công nghiệp
mà nó phục vụ.
Trong mỗi cảng có thể có nhiều khu bến, mỗi khu bến có thể có nhiều bến, mỗi bến có thể có nhiều cầu cảng với công năng và quy mô khác nhau, bổ trợ nhau về tổng thể Dự kiến đến năm 2030, hệ thống cảng biển Việt Nam sẽ thông qua: 500
600 triệu tấn/năm (năm 2015), 900 1.100 triệu tấn/năm (năm 2020) và 1.600 -2.100 triệu tấn/năm (năm 2030)
Ngành hàng hải đang quản lý và khai thác 330 cầu bến nằm trên tổng chiều dài 39.951m (25.933m chiều dài bến hàng tổng hợp, container và 13.958m chiều dài bến hàng chuyên dụng, gần gấp 2 lần so với 1999) của 160 bến cảng toàn quốc Sản lượng thông qua năm 2010 là 256 triệu tấn, trong đó có 6.510.000 TEUs container, hàng lỏng 51,608 triệu tấn, hàng quá cảnh 29,489 triệu tấn; 35 luồng vào các cảng quốc gia và 12 luồng vào các cảng chuyên dụng
c Đội tàu biển