Bình thường trên da có nhiều tạp khuẩn, phần lớn là tụ cầu và liên cầu, nhiều nhất là ở những vùng lắm lông và hay ra mồ hôi, các nếp kẽ, lỗ chân lông, nơi đây cũng là cửa ngõ để vi kh
Trang 1BỆNH VIÊM DA MỦ
Ts.Bs Lê Ngọc Diệp
Bộ Môn Da liễu ĐH Y Dược Tp.HCM
Trang 2 Bình thường trên da có nhiều tạp khuẩn,
phần lớn là tụ cầu và liên cầu, nhiều nhất là
ở những vùng lắm lông và hay ra mồ hôi,
các nếp kẽ, lỗ chân lông, nơi đây cũng là
cửa ngõ để vi khuẩn xâm nhập vào da
Trong những điều kiện thuận lợi như cơ thể suy yếu, vệ sinh kém, ngứa gãi, sây xát da
…tạp khuẩn trên da tăng sinh, tăng độc tố gây nên bệnh ngoài da gọi chung là viêm da
mủ.
Đại cương
Trang 3 Người ta thường phân thành viêm da mủ do
tụ cầu và viêm da mủ do liên cầu, nhưng ít khi hai loại cầu khuẩn đó hoạt động riêng rẽ
mà phần nhiều cùng phối hợp gây bệnh
Điều trị viêm da mủ không những chỉ điều trị chứng nhiễm khuẩn tại chỗ ngoài da, mà còn phải chú ý nâng cao sức đề kháng, thay đổi phản ứng của cơ thể, nhất là đối với
viêm da mủ mãn tính, tái phát dai dẳng
Đại cương
Trang 4 Tụ cầu thường gây tổn thương viêm nang
lông, biểu hiện bằng những mụn mủ ăn khớp với lỗ chân lông, rải rác hoặc thành cụm ở bất
cứ vùng da nào trừ lòng bàn tay, bàn chân.
Có những thể bệnh chính sau:
1 Viêm nang lông nông(superficial folliculitis)
2 Viêm nang lông sâu (deep folliculitis)
3 Đinh nhọt (furuncle)
4 Nhọt ổ gà (hidradenitis)
Viêm da mủ do tụ cầu
Trang 5 Là tình trạng viêm nông ở đầu lỗ chân lông
Ban đầu lỗ chân lông hơi sưng đỏ, đau, sau
thành mụn mủ nhỏ, quanh chân lông có quầng viêm Vài ngày sau mụn mủ khô, để lại một
vẩy tiết nâu xẫm tròn Sau cùng vẩy bong
không để lại sẹo.
Vị trí thường gặp ở đầu, trán, gáy, cằm,
lưng. Ở mi mắt gọi là chắp Ở da đầu trẻ em thường để lại sẹo nhỏ, trụi tóc lấm tấm.
Điều trị: chấm cồn Iốt 1-3%, dung dịch xanh
methylen Bôi mỡ mupirocin, fucidic acid.
Viêm nang lông nông
Trang 6 Do tụ cầu vàng có độc tố cao.
Ban đầu chỉ là mụn mủ quanh lỗ chân lông,
nhưng nhiễm khuẩn ngày càng sâu làm cho tổ chứcquanh nang lông nhiễm cộm Viêm lan
rộng và sâu hơn thành nhiều mụn mủ rải rác hoặc cụm lại thành đám đỏ, cứng cộm gồ gề nặn ra mủ.
Viêm nang lông sâu ở vùng cằm, mép, gáy, ria tóc,đầu, gọi là sycosis, tiến triển dai dẳng hay tái phát.
Viêm nang lông sâu
Trang 7 Điều trị:
Tại chỗ bằng dung dịch sát trùng ( cồn Iốt 3%, xanh methylen), thuốc mỡ mupirocin, acid fucidic
1- Nếu nặng cho uống kháng sinh toàn thân
Trang 8 Cũng là trạng thái viêm nang lông Vì độc tố cầu khuẩn cao nên viêm toàn bộ nang lông, lan ra cả tổ chức xung quanh, làm hoại tử cả một vùng biểu hiện thành "ngòi" gồm tế bào, xác bạch cầu.
Vị trí hay gặp ở gáy, lưng, mông, các chi.
Trang 9 Nếu nhọt to có thể kèm theo sốt, nổi hạch đau ở vùng tương xứng.
Nhọt ở vùng quanh miệng gọi là "đinh râu" rất nguy hiểm, có thể gây tắc xoang hoang, viêm màng não, nhiễm trùng huyết rất nguy hiểm
Đinh nhọt (furoncle)
Trang 10 Còn gọi là “nhọt cụm”, là một cụm tập trung nhiều nhọt gặp ở vùng gáy giữa hai bả vai, xương cùng Do tụ cầu vàng độc tính cao,
gây viêm lan sâu rộng đến chân bì và hạ bì làm hoại tử cả một vùng Thường gặp ở
người già, người suy yếu
Toàn thân bệnh nhân yếu mệt, sôt cao có
triệu chứng nhễm khuẩn nhiễm độc nặng
Tại chỗ bị sưng nề, đỏ tím có nhiều
mủ, nhiều ngòi, lỗ chỗ như tổ ong
Carbuncle
Trang 11 Bệnh có thể dẫn tới nhiễm khuẩn huyết, ở mông và xương cùng gây hoại tử hoặc loét
có khi chạm vào mạch máu to làm chảy
Trang 12 Đối với nhọt: không nên nặn chích sớm Khi
mới nổi sưng đỏ, cứng : chấm cồn I ốt 3-5%
hoặc bôi ichthyol tinh chất Khi nhọt đã vỡ mủ nặn hết ngòi ra, chấm thuốc màu hoặc bôi
mỡ kháng sinh, toàn thân cho uống hoặc tiêm một đợt kháng sinh nhóm cephalosporines
Đối với đinh râu: tuyệt đối tránh chích nặn,
bôi cồn iod 3% Kịp thời tiêm uống thuốc
kháng sinh liều cao, phối hợp kháng sinh bôi, kết hợp vitamins, thuốc giảm đau
Điều trị
Trang 13 Đối với nhọt cụm : điều trị sớm bằng kháng sinh liều cao, phối hợp kháng sinh bôi, vitamins,
thuốc nâng đỡ thể trạng Khi tổn thương đã mềm thay băng hàng ngày, không chích rộng để tháo
mủ vì dễ gây nhiễm khuẩn lan rộng.
Đối với nhọt tái phát: chú ý cải thiện điều kiện
sinh hoạt , làm việc, chế độ dinh dưỡng, tránh
rượu, bia, cà phê, thuốc lá, ăn ít đường dùng
thuốc kháng sinh toàn thân khi cần, thuốc an
thần, giảm đau Cần điều trị các bệnh kèm theo nếu có.
Điều trị
Trang 14 Do viêm nang lông, kèm theo viêm tuyến hôi tuyến
bã ở vùng nách thành túi mủ sâu ở chân bì và hạ bì.
Nổi thành cục, ban đầu cứng sau mềm dần , vỡ mủ , rải rác hoặc thành cụm.
Bệnh thường kèm theo các còi trứng cá.
Tiến triển dai dẳng, hay tái phát nhất là về mùa hè.
Điều trị:
Bôi thuốc màu ,mỡ kháng sinh, tiêm hoặc uống
kháng sinh Nếu cần giải quyết bằng phẫu thuật
như chích nặn các ổ viêm xơ hóa.
Viêm tuyến mồ hôi nhờn
(Hydradenitis)
Trang 15Chốc lây (impetigo contagiosa)
Trên thực tế trong bệnh chốc tụ cầu và liên cầu thường phối hợp với nhau Trẻ em hay
xung quanh có quầng viêm đỏ
Viêm da mủ do liên cầu
Trang 16 Nước ban đầu trong dần dần thành mủ đục, giai đoạn này rất ngắn Sau đó đóng vẩy tiết vàng
kiểu mật ong Dưới lớp vẩy là một lớp chợt đỏ,
nông, không cộm, vì tổn thương trong bệnh chốc rất nông.
Ở trẻ em chốc ở da đầu hình thành từng đám vẩy vàng xẫm, dính bết tóc, dưới lớp vẩy da đỏ, rỉ dịch
Chốc xuất hiện rải rác toàn thân, có thể kèm theo sốt biến chứng viêm cầu thận cấp, nề cẳng chân,
mi mắt do viêm cầu thận Chốc thường có kèm
thêm hạch ở vùng tương ứng.
Chốc lây (impetigo contagiosa)
Trang 17 Chốc có nhiều vẩy : đắp gạc chấm rửa các dung dịch sát khuẩn sau đó bôi thuốc màu.
Chốc có mụn mủ chưa vỡ: dùng kim đã sát trùng
chọc mủ ra, cho mủ thấm vào bông, không để mủ chảy lan ra vùng da lân cận Sau đó chấm các loại thuốc màu như dung dịch milian xanhmethylen
1%,dd eosin 2% hoặc mỡ kháng sinh Nếu có sốt,
nổi hạch nhiều: cho thêm kháng sinh uống.
Khi tắm gội, tránh kỳ cọ mạnh lên tổn thương.
Phòng bệnh:
Ở nhà trẻ cần phòng tránh lây lan không dùng
chung chăn khăn mặt với người có bệnh.
Điều trị
Trang 18 Thường gặp ở trẻ sơ sinh, trẻ còn bú.
Biểu hiện là những bóng nước chùng, tạo thành những vết trợt nông hình tròn hay đa cung
Tác nhân gây bệnh thường là tụ cầu
Điều trị giống chốc lây
Chốc bóng nước
Trang 19 Là một thể chốc, nhưng tổn thương lan sâu đến trung bì.
Thường gặp chốc loét ở bệnh nhân thiếu dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch, có bệnh đái tháo đường hoặc nghiện rượu.
Vị trí thường ở chi dưới, nhất là ở chi có giãn
tĩnh mạch.
Bệnh bắt đầu như chốc, bằng một bóng nước hoặc mụn mủ Sau khi mụn mủ vỡ, đóng vẩy
dày màu vàng xẫm hoặc nâu đen , có vảy
thành nhiều lớp đùn cao lên.
Chốc loét (ecthyma)
Trang 20 Vẩy tróc đi để lại một vết loét đứng thành, nền tái, có mủ Da xung quanh vết loét tái tím, tiến triển dai dẳng, lâu lành.
Chốc loét nặng, tiến triển lâu ngày có thể thành loét sâu quảng Vết loét có ranh giới
rõ, thường là hình bầu dục, có khi có gờ, loét rộng và sâu nền bẩn, tổ chức da xung quanh xơ cứng, màu tái tím, tiến triển rất dai dẳng
Chốc loét (ecthyma)
Trang 21 Rửa vết loét bằng dung dịch thuốc tím pha loãng
Sau đó bôi mỡ kháng sinh
Toàn thân cho uống tiêm từng đợt
Trang 22 Thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ em mập mạp, hoặc ở người lớn béo mập, ra mồ hôi nhiều.
Vị trí : các nếp cổ, kẽ bẹn, kẽ mông, kẽ sau tai, có khi ở rốn, các ngấn da ( đối với trẻ
em thường gọi là hăm)
Các nếp kẽ trên thành đám đỏ, trợt, rỉ dịch, phía ngoài thường có viền tróc da mỏng Do
cọ sát vết trợt loét chảy nước, chảy mủ, rất đau
Viêm kẽ (intertrigo)
Trang 23 Nguyên nhân: ngoài liên cầu, cần chú ý đến
vai trò của nấm candida albicans (trên nền đỏ trợt, có mảng trắng như sữa, có viền tróc da vằn vèo ở ngoại vi)
Điều trị: rửa bằng nước thuốc tím pha loãng
Bôi thuốc màu, hồ nước Rắc bột talc boric
3% có tác dụng tốt
Phòng bệnh:
Mùa hè đối với trẻ em cần năng tắm rửa, thay
tã lót, rắc bột talc, phấn rôm vào các nếp kẽ
Điều trị
Trang 24 Viêm khóe miệng đường nứt ngang, thường gặp ở trẻ em, đơn độc hoặc kèm theo các tổn thương khác do liên cầu.
Hai kẽ mép bị nứt trợt, rớm dịch, đóng vảy vàng dẽ chảy máu, đau rát, làm trẻ khó bú
Có thể kèm theo hạch đau dưới hàm
Trang 25 Căn nguyên bệnh sinh:
Là một bệnh nhiễm khuẩn da và dưới da với chủng Streptococcus pyogenes tăng độc tố
Bệnh ở trẻ sơ sinh, người già hoặc các bệnh nhân có kèm các bệnh khác thì diễn tiến nặng.
Thời gian ủ bệnh 2- 5 ngày, sau đó sốt cao đột ngột, một đôi khi co giật ở trẻ em kèm với đau đầu, sốt
rét và nôn mửa.
Bệnh đặc trưng bởi 1 hồng ban phù nề, thâm
nhiễm, nóng và đau, diễn tiến ly tâm với bờ ở ngoại
vi nhô cao, lan rộng nhanh, thường kèm theo hạch phụ cận.
Viêm quầng (erysipelas)
Trang 26 Ở các vùng tổ chức lỏng lẻo có thể tạo phù
nề mạnh (mi mắt, b/p sinh dục) hoặc ban đỏ
có giới hạn rõ và có thể thấy mụn nước ở rìa hoặc có khi là mảng phù nề ,sưng nóng đỏ đau giới hạn rõ, ở giữa đám tổn thương là
bóng nước, có thể loét hoại tử
Không điều trị gì bệnh kéo dài từ 1 - 3 tuần rồi khỏi dần, đám đỏ da giảm dần, bề mặt
có thể xuất hiện tróc vẩy da nhất là ở các
vùng có mụn nước hay bóng nước trước đây
Viêm quầng (erysipelas)
Trang 27 Cần phải điều trị kháng sinh mạnh ngay từ đầu: thường dùng tiêm hoặc uống penicillin, erythromycin, cephalosporin và các loại
kháng sinh khác
Thời gian điều trị ít nhất là 10 ngày
Trong điều trị lưu ý nên phối hợp với điều trị triệu chứng giảm đau, an thần, vitamins
Điều trị
Trang 28 Là 1 quá trình viêm nung mủ đặc biệt liên
hệ đến mô dưới da
Biểu hiện là hồng ban và đau, hồng ban lan
ra, sưng phù, trở nên thâm nhiễm, ấn lỏm
Vùng trung tâm có thể trở thành cục và hoại tử
Sốt, lạnh run, khó chịu và viêm hạch có thể gặp
Điều trị bằng kháng sinh cephalosporin toàn thân uống Nếu có áp xe cần rạch và dẫn
lưu
Viêm mô tế bào