Thưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dụcThưc trạng và các giải pháp giáo dục
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 3
1 Khái niệm chung 3
2 Vai trò của giáo dục 4
4 nhiệm vụ của giáo dục………4
3 Mục tiêu của giáo dục 3
CHƯƠNG II 5
1 Tổng quan về giáo dục 5
1.1 Phân loại 5
1.2 Các chính sách của nhà nước đối với giáo dục 5
2 Những thành tựu của giáo dục trong những năm gần đây 6
3 Những vấn đề còn tồn tại của giáo dục hiện nay 8
4 Những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên 10
CHƯƠNG III 12
1 Xu hướng phát triển giáo dụccủa một số nước trên thế giới 12
2 Biện pháp 14
3 Ý kiến đề suất 16
KẾT LUẬN 17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội hiện nay ngày càng phát triển, phát triển con người là vấn đề trọng tâm của
mỗi quốc gia Giáo dục quyết định cho bản tính của con người trong tương lai “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” là khẩu hiệu thường thấy ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới Nước Việt Nam ta cũng không ngoại lệ Chúng ta đang nỗ lực để xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục nhằm đào tạo các chủ nhân tương lai của đất nước
Chính vì vậy những năm gần đây giáo dục được xác định là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước Qua tìm hiểu về thực trạng của phổ cập giáo dục trong những năm gần đây, còn nhiều bất cập trong nền giáo dục Chính vì thế, em quyết định làm vể đề tài thưc trạng và các giải pháp giáo dục để hiểu thêm nền giáo dục Việt Nam
Để hoàn thành đề taì này, em đã nhận được sự giúp đỡ và các ý kiến đóng góp nhận xét từ thầy Do còn nhiều thiếu sót về kinh nghiệm làm đề tài nên trong quá trình làm không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy để lần sau được hoàn thiện hơn
CHƯƠNG I
Trang 3KHÁI QUÁT CHUNG NỀN GIÁO DỤC
VIỆT NAM
1 Khái niệm chung:
Giáo dục là hoạt động đặc trưng của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách của con người theo những yêu cầu của xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định, thuật ngữ giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Trong nghĩa rộng, bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sư phạm khác diễn ra ở trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường cũng như trong gia đình và ngoài xã hội Đó là quá trình hình thành nhân cách con người, được
tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan
hệ giữa người giáo dục và được giáo dục nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức, phát triển trí tuệ, thể lực và tình cảm lao động, thẩm mĩ, chuẩn bị cho con người tham gia tích cực vào đời sống
Theo nghĩa hẹp đó là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo đức, tư tưởng hành vi…nhằm hình thành lên những nhân cách này đến những nhân cách khác tác động của giáo dục đến người được giáo dục vơi nhau
2 Vai trò của giáo dục
Đảng và Nhà Nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao
và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cả những sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn minh của các quốc gia xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực đồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Để đạt dược điều đó, giáo dục - đào tạo có vai trò quyết định Giáo dục - đào tạo là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Loài người đang bước sang thế kỉ XXI, thế kỉ mà trí tuệ đóng vai trò quyết
Trang 4định Vì vậy hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhân lực tối đa cho phát triển, nâng cao chất lượng của giáo dục quốc dân
3 Nhiệm vụ của giáo dục
- Nâng cấp đội ngũ giáo
- Đổi mới cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo:
- Đổi mới giáo trình, giáo án:
- Tăng cường kỷ cương thi cử:
4 Mục tiêu
Mục tiêu giáo dục là những kết quả giáo dục mà Nhà trường và những nhà giáo dục mong muốn tất cả các học sinh của mình sẽ đạt được sau khi hoàn thành chương trình học tại trường Những kết quả giáo dục này tạo ra một mục đích chung cho:
Những nhà quản lý trường trong việc xây dựng và lựa chọn cơ chế quản lý
và môi trường trường học phục vụ một cách tốt nhất cho những mục tiêu đã đặt ra Những chuyên gia giáo dục trong việc chọn lọc và xây dựng Nội dung
chương trình và Phương pháp Dạy – học
Những giáo viên và nhân viên của trường trong việc thực hiện từng công việc
cụ thể trong Chương trình giáo dục
Các bậc cha mẹ để cùng chia sẻ với Nhà trường trong việc giáo dục con cái thông qua việc kết hợp cùng thực hiện mục tiêu chung
Chính bản thân các em học sinh - khi hiểu kết quả mà mình muốn hướng tới các em sẽ có mục tiêu, động lực để cố gắng, nỗ lực trong từng hoạt động của mình
CHƯƠNG II
Trang 5THỰC TRẠNG CỦA NỀN GIÁO DỤC
1 Tổng quan về nền giáo dục Việt Nam
1.1 Phân Loại :
Giáo dục phổ thông là việc trang bị những kiến thức, hiểu biết cơ bản, chủ yếu cho lứa tuổi vị thành niên trước khi bước vào tham gia quá trình giáo dục chuyên nghiệp, bao gồm những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội
và đạo đức
Giáo dục chuyên nghiệp ( còn gọi là lĩnh vực đào tạo ) là lĩnh vực trang bị kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và hình thành nghề nghiệp chuyên môn cho con người trong tương lai
Trong lĩnh vực đào tạo, người ta phân ra rất nhiều loại khác nhau tùy vào nội dung mức độ và hình thức đào tạo
Theo nội dung đào tạo, đào tạo được phân ra thành đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo tiếp tục ( hay bồi dưỡng )
Theo trình độ ( hay mức độ ) đào tạo, đào tạo dược phân ra thành đào tạo nghề, đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo đại học và sau đại học
Theo hình thức đào tạo có thể phân ra thành đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, đào tạo từ xa
1.2 Các chính sách của Nhà nước đối với giáo dục Việt Nam.
Nhà nước coi giáo dục là một bậc học cần thiết và bắt buộc phải có trong hệ
thống giáo dục Từ chỉ thị 53/CP của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12 tháng 8 năm
1966 đã xác định mục tiêu của giáo dục mần non “ giáo dục mần non tốt sẽ mở đầu cho nền giáo dục tốt
Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu,
sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015
Trang 6Ngày 24/3, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ
Căn cứ Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001 -2010
2 Những thành tựu của giáo dục trong những năm gần đây:
Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục đầy đủ các cấp học ở mọi vùng, miền với nhiều loại hình trường lớp với số lượng học sinh đến trường ở các cấp ngày một tăng Năm học 2004 - 2005, đã có hơn 22 triệu học sinh, sinh viên theo học trong hơn 37.000 cơ sở giáo dục - đào tạo
Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về quy mô đào tạo,
cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dần dần được đổi mới Nền giáo dục đại học Việt Nam một mặt đã đáp ứng xu hướng thế giới là tiến tới phổ cập giáo dục đại học, mặt khác vẫn giữ nền tảng giáo dục tinh hoa
Trong những năm qua, để thúc đẩy giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm 2000 lên 18% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miền núi
Bên cạnh đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn Trước hết
là ưu tiên đầu tư theo mục tiêu cho các địa bàn có nhiều khó khăn, phát hành công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùng khó khăn xây dựng trường học kiên cố, đạt chuẩn chất lượng và thực hiện xoá đói giảm nghèo, thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục Hệ thống các trường phổ thông nội trú và bán trú được củng cố và mở rộng với 13 trường trung ương,
50 trường tỉnh, 266 trường huyện và 519 trường bán trú xã, cụm xã
Trang 7Năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học Từ năm học 2002-2003, tỷ lệ biết chữ của người lớn trong độ tuổi 15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung bình của người dân đạt mức 7,3 năm Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ người dân tộc thiểu
số mù chữ giảm mạnh
Ngành giáo dục và đào tạo đã đạt và vượt các chỉ tiêu cơ bản mà Chiến lược phát triển giáo dục đề ra cho năm 2005 trong năm học 2003-2004 Phổ cập giáo dục tiểu học đã đạt được thành tích đáng kể ở tất cả các vùng miền trong cả nước Việt Nam được đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các nước
có thu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh lệch về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi
Tất cả những con số nói trên cho thấy Việt Nam đã tạo được sự công bằng trong tiếp cận học tập cho tất cả trẻ em gái, trai của các dân tộc, ở các vùng, miền
và đặc biệt quan tâm tới những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Không chỉ quan tâm tới việc phổ cập tiểu học mà Nhà nước còn có sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục mầm non, bậc học tiền đề cho giáo dục tiểu học Bậc học này hiện đã được khôi phục sau một thời gian dài gặp khó khăn ở nhiều địa
phương Hiện nay, cả nước chỉ còn 4 xã mới tách chưa có lớp học mầm non Những thay đổi trong chính sách đãi ngộ đối với giáo viên đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của bậc học này trong mấy năm gần đây
Các trường lớp của Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn về hạ tầng cơ sở đảm bảo cho việc dạy và học có chất lượng tương đương với các nước khác trong khu vực Hiện tại, cả nước đã có gần 500 trường mầm non, gần 3.200 trường tiểu học, trên 400 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học đạt trường chuẩn quốc gia
Việc đầu tư cho đội ngũ giáo viên nói chung được chú trọng đặc biệt Mạng lưới trường sư phạm rộng khắp cả nước với 10 trường đại học sư phạm, 11 trường đại học đa ngành được nâng cấp từ cao đẳng sư phạm (trong đó chủ yếu là đào tạo
sư phạm), trên 80 trường cao đẳng tham gia đào tạo giáo viên
Trang 8Trong vòng 5 năm qua, mạng lưới đào tạo này đã cung cấp thêm gần 250.000 giáo viên từ mầm non tới phổ thông trung học Hiện có gần 1 triệu giáo viên, giảng viên, trong đó có 700 giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng sư phạm trong lĩnh vực dạy trẻ khuyết tật và gần 9.000 giáo viên mầm non, tiểu học được tập huấn đào tạo về giáo dục hòa nhập
3 Những vấn đề còn tồn tại của giáo dục Việt Nam
Nền giáo dục chúng ta có thể xem như đang mắc bệnh mà không chữa trị, đua nhau nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, năm nào thi cử cũng gian lận, đề thi sai, trẻ con thì bị bỏ mặc lang thang trên đường phố, ma túy trong học đường, ý thức công dân rất kém Càng nói càng thấy nguy cơ, nhưng không thấy xã hội thật sự quản ngại vì bao nhiêu năm rồi chưa thấy biện pháp giải quyết, chỉ nghe được những hứa hẹn cải cách Giáo dục Việt Nam muốn phát triển phải giải phẫu đúng bệnh Bệnh chẩn đoán đúng nhưng không chịu giải phẫu làm sao chữa trị? Thực tế, các cơ quan chức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáo dục nước nhà Trong các cuộc hội thảo, hầu như mỗi vấn
đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái đúng cái sai nhưng điều lạ lùng là nó không được đúc kết để đưa vào thực hiện thực tế Tình trạng “nói” nhưng không “làm” là căn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội chứ không phải của riêng ngành giáo dục Việt Nam
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển,
có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
Trang 9Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy
“nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc,
tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối
Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới,
là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp
Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm
Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành
cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một
số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
4 Nguyên nhân
Về phía người dạy Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm
Trang 10người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế Đời sống của ngưới Thầy còn nhiều khó khăn : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống bằng lương , các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều Đây là vấn đề cần phải xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo
Về phía người học Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển, tính chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho qua
“học theo hội chứng bằng cấp” , do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ Chỉ số chất lượng đào tạo so với các nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước
Về chương trình đào tạo Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới,̀ thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn Giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp
Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa phù hợp: Hiện nay đang từng bước thực hiện thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, có định hướng giáo dục toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy kiến thức, nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho học