So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.So sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam.
Trang 1I Phần mở đầu
1.Lí do chọn đề tài
Vào những kháng chiến, Đất nước ta chịu nhiều đau thương do chiến tranh gây ra, bởi những nhà thực dân xâm lược như Mỹ, Anh, Pháp Nhưng đặc biệt khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ khoảng 100 năm thì dường như đã thống trị hoàn toàn nền giáo dục Việt Nam Chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy, hệ thống giáo dục, các loại văn bằng của nước ta thời đó đều do người Pháp mang sang và áp đặt Giáo dục Pháp được coi như là đã đặt nền móng khoa học cơ bản, hiện đại đối với nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt là môn toán Mặt khác tính lý thuyết, thiếu thực tiễn của giáo dục Pháp vẫn còn tồn tại trong nền giáo dục ngày nay Trong tiểu luận này tôi sẽ đi so sánh về lĩnh vực nền giáo dục đại học của 2 nước Pháp và Việt Nam
2 Vai trò của nền giáo dục đại học
Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới và khám phá mới;
Nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống,phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn
Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng
Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục; và • - Nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này racho cả cộng đồng
II Nội dung
1 Định nghĩa giáo dục đại học
Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học đượcquan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Như vậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp
Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu.Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức
Trang 2mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng
Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Rất nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục Do vậy, các
cơ sở giáo dục đại học thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa học của sinh viên
Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên
và linh hoạt
2 so sánh Giáo dục đại học của pháp và viet nam
a Tổng quan về sự phát triển của GDĐH
- Trường ĐH đầu tiên kieur hiện đại
Châu Âu được thành lập ở Paris vào
đầu thế kỉ XII Giáo dục đại học Pháp là
một hệ thóng phong phú và phức tạp
khiến cho một học sinh Pháp cũng phải
lúng túng khi chuẩn bị hướng lên ĐH
- Sau cách mạng Pháp năm 1789, nhiều
trường ĐH được thành lập để đáp ứn
nhu cầu của xã hội công việc Một số
trường vẫn tồn tại đến ngày nay như
ĐH Bách Khoa và trường Trung tâm
- Đến năm 1968, hệ thống do Napoleon
lập nên điều hành tổ chức của giáo dục
đại học Pháp Ông tập trung tất cả các
cơ sở đào tạo đại học và cùng gọi 1 cái
tên là Đại học tổng hợp
- Sau sự kiện cải cách giáo dục năm
1968, GDĐH (trừ các trường ĐH chuên
ngành kiểu Grande École) đã được đổi
mới tổ chức một cách sâu sắc: tạo nên
sự liên kết giữa giảng dạy và nghiên
cứu, các trường ĐH trở nên đa ngành và
tự trị, mở rộng cửa cho tất cả mọi người
ở bên ngoài Tự trị đã trở thành một
nguyên tắc cơ bản ở các trường ĐH, có
nghĩa la các trường chịu trách nhiệm
hoàn toàn về khóa đạo tạo của mìnhvà
các tiêu chí tuyển sinh
- Năm 1984, một bản luật định hướng
Vào năm 1076 dưới thời nhà Lý một trường ĐH đầu tiên được thành lập với tên gọi là trường ĐH Hoàng Gia ( Văn miều Quốc Tử Giám)
- Năm 1253 Viện Quốc học đã được thành lập tại Quốc Tử Giám Về nội dung, nền giáo dục phong kiến chỉ cung cấp những kiến thức về chình trị, đạo đức, văn chương mà thiếu những kiến thức về khoa học tự nhiên kỹ thuật sản xuất Nền GD phong kiến đã tồn tại trong một thời gian khá dài ở nước ta Thời kỳ này chủ yếu đào tạo về mặt tư tưởng, với phương thức dạy học nhồi nhét, khuôn sáo Nội dung là lý thuyết suông, xa rời thực tế, chỉ có văn chương phù phiếm mà thiếu hẳn phần khoa học
kỹ thuật
- Trong những năm đầu thời Pháp thuộc, nền giáo dục nước ta còn ốm yếu với hệ thống thi cử cũ kĩ theo kiểu hủ Nho Sinh viên vẫn học những bài học
cổ đại, đạo đức và cách làm kiểu Trung Quốc ngày xưa Sau năm 1917, hệ thống giáo dục đã hoàn toàn thay đổi kiểu Pháp, sach giảng dạy từ trình độ cao đẳng tiểu học trở lên được xuất bản
từ Pháp Nền GD Pháp thời đó là một nền GD với trình độ cao, khoa học cơ
Trang 3GDĐH đã đẩy mạnh sự đổi mới này Từ
đó, toàn bộ công việc đào tạodo các
trường ĐH đề suất được tập hợp lại
dưới sự quản lý của tổng vụ GDĐHphụ
thuộc nhiều bộ khác nhau
- Đặc trưng cho hệ thống GDĐH: một
là khu vực giáo dục công lập chiếm ưu
thế, bởi vì ở Pháp có một số trường tư,
nhưng đại đa số các trường ĐH la
trường công, nhà nước cấp kinh phí cho
GDĐH và độc quyền trong việc trao
văn bằng và học vị; hai là giáo dục là
miễn phí hoặc gần như miễn phí trong
đại đa số các cơ sở đào tạo là trường
công; ba là có các trường ĐH chuyên
ngành loại " Granded Écoles" cấp văn
bằng hoặc danh hiệu được nhà nước
công nhận, việc tuyển sinh được mở
rộng bằng các kỳ thi tuyển
bản vững vàng, đặc biệt là Toán học Dưới ảnh hưởng của nền GD Pháp, mặc
dù đó là nền GD thực dân giúp ích chủ yếu cho bọn thống trị nhưng nó chứa đựng một nội dung dân chủ tư sản Trong thời gian này một vài trường cao đẳng được thành lập như các ngành thuốc, sư phạm, nông nghiệp và kỹ thuật cụ thể là trường Cao đẳng Sư phạm (1917), Cao đẳng Luật và Hành chính (1918) Cao đẳng nghệ thuật và kiến trúc (1924)
- Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), hệ thống giáo dục theo nội dung và chương trình của Pháp Các trường ĐH và cao đẳng chuyên nghiệp
do Pháp nắm vững, chỉ giao chính phủ Bảo Đại cai quản trường sư phạm và văn khoa Sinh viên học bằng tiếng Pháp Giảng viên là người Việt Nam hoặc là người Pháp Năm 1950, một số trường ĐH dồn lại thành viên đại học
Hà Nội, có chi nhánh tại Sài Gòn
- Cuộc cải cách giáo dục lần 1 năm
1950, mục đích của cải cách GDĐH là rút ngắn chương trình và tăng thời lượng học tập, phục vụ tăng thời gian học tập, phục vụ kháng chiến
- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 năm
1956, đã mở đường cho sự phát triển các trường ĐH Vào năm học
1974-1975 đã có đến 30 cơ sở đào tạo ĐH ở miền Bắc, tất cả các mô hình đều theo
mô hình ĐH ở Liên Xô Ở miền Nam trước năm 1970 chương trình ĐH chủ yếu theo của Pháp, Nhưng sau năm 19y0 Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ cho miền Nam nên GD chuyển thao hướng Mỹ
- Cuộc cải cách GD lần thứ 3 ( 1980) với lí do là cần thống nhất ba nền GD của 3 miền Bắc, Trung, Nam và vùng tạm chiến VN Cộng Hòa và nâng cao chất lượng và số lượng để đáp ứng với
Trang 4yêu cầu xã hội Về GD cao đẳng và ĐH được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 1 học kiến thức đại cương Thời kỳ này chương trình và giáo trình và giáo trình chủ yếu bị ảnh hưởng của Liên Xô cũ
- Sau khi Liên Xô tan rã các tài liệu từ
Âu, Mỹ, Úc tràn vào các trường Đh qua các dự án, trao đổi học giả và Việt kiều
Do đó, nên GD Tây Âu và Mỹ đã ảnh hưởng vào nền GDĐH Việt Nam Ngôn ngữ thứ 2 được sử dụng ở các trường
ĐH là tiếng Anh Ảnh hưởng này không chỉ là giáo trình, hay phương pháp học tập, giảng dạy mà còn là chính sách học tập, giảng dạy mà còn là chính sách của chính phủ ví dụ các chiến lược đa ngành, đa dạng và toàn cầu hóa GD Mục tiêu của GDĐH Việt Nam2:
b Mục tiêu của GDĐH
Mục tiêu và nhiệm vụ của GDĐH Pháp
- Góp phần phát triển nghiên cứu, nâng
cao trình độ văn hóa khoa học và trình
độ nghề nghiệp của các cá nhân cũng
như cảu quốc gia
- Góp phần vào việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, thực hiện tốt chính sách
việc làm có tính đến nhu cầu hiện tại và
dự đoán các nhu cầu trong tương lai
- Góp phần vào sự tăng trưởng chung
của từng vùng và của cả quốc gia, đảm
bảo cho mọi người có khả năng tiếp cận
với các hình thức cao nhất của văn hóa,
khoa học và nghiên cứu
- Hạn chế sự bất bình đẳng về văn hóa,
thực hiện quyền bình đẳng nam nữ,
đồng thời đảm bảo cho mọi người có
khả năng sẵn sàng tiếp cận với các hình
thức cao nhất của văn hóa, khoa học và
nghiên cứu
Mục tiêu của GDĐH Việt Nam
- Đào taọ người học coa phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình
độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đào tạo trình độ ĐH giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có
kĩ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đạo tạo
Trang 5c Hệ thống giáo dục ĐH
- GDĐH tập hợp các chương trình đào
tạo sau khi tốt nghiệp trung học phổ
thông, bao gồm các chuyên ngành khác
nhau thuộc Bộ Giáo dục Nhình chung
GDĐH nước Pháp là một hệ thống giáo
dục đa dạng và phức tạp Để nêu lên
một cách khái quát nhất về hệ thống
GDĐH Pháp và để đơn giản người ta có
thể phân biệt hai loại quá trình đào tạo:
một là đào tạo nghề nghiệp ngắn hạn,
hai là đào tạo đại học dài hạn
* Đào tạo nghề nghiệp ngắn hạn
Đào tạo loại này thường kéo dài 2 năm,
đôi khi 3 năm để lấy bằng kỹ thuật viên
cao cấp; bằng này cho phép người tốt
nghiệp nhanh chóng bước vào cuộc đời
nghề nghiệp thực tế Đào tạo ngắn hạn
được chia thành 2 hướng tương ứng với
2 loại văn bằng, chứng chỉ sau:
- Bằng ĐH công nghệ: thời gian đào tạo
là 2 năm
- Bằng kĩ thuật viên cao cấp: thời gian
đào tạo 2 đến 3 năm tùy theo ngành đào
tạo Điều kiện tuyển sinh là bằng tú tài,
một số trường còn đòi hỏi học sinh có
học bạ tốt và bằng tú tài loại khá và giỏi
* Đào tạo ĐH dài hạn
-Đào tạo ĐH dài hạn được tổ chức theo
3 giai đoạn Mỗi giai đoạn tùy theo mục
tiêu có các môn học riêng để định
hướng cho sinh viên đạt được các kĩ
năng nghề nghiệp, khả năng nghiên cứu
cũng như giúp họ phát triển nhân cách,
tính trách nhiệm và khả năng làm việc
độc lập và làm việc tập thể
+ Giai đoạn 1 là học phần đào tạo cơ
bản và định hướng được mở ra cho
những người có bằng tú tài hay một văn
bằng được chấp nhận, Giai đoạn này
bao gồm 2 loại hình đào tạo: một là gắn
với nghề nghiệp để lấy các bằng đại học
GDĐH là giai đoạn đào tạo sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông GDĐH bao gồm:
* Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2 đến 3 năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp phổ thông hay bằng tốt nghiệp trung cấp; từ 1 năm rưỡi đến 2 năm học đối với những người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành
Đào tạo ở trình độ này phải dảm bảo cho sinh viên những kiến thức khoa học
cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kĩ năng cơ bản
và ăng lực thực hiện công tác chuyên môn
Học sinh muốn được học các trường cao đẳng phải qua kì tuyển sinh chọn hoặc xét điểm từ kì thi đại học Sau khi học hết chương trình đào tạo cao đẳng,
có đủ điều kiện dự thi và nếu đạt yêu cầu theo quy định của bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng trường cao đẳng hoặc trường đại học cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng
* Đào tạo trình độ ĐH được thực hiện
từ 4 đến 6 năm tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ 2 năm rưỡi đến 4 năm học đối với người tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ 1 năm rưỡi đến 2 năm đối với người tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành
Đào tạo giai đoạn này vời mục tiêu giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vần đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
Muốn được học đại học thì học sinh phổ thông phải thi đạu kì thi thuyển sinh
Trang 6công nghê (DUT), bằng kĩ thuật viên
cao cấp ( BST), bằng đại học khoa học
và kỹ thuật (DEUST); hai là bằng đại
học đại cương (DEUG) khi học lấy
bằng DEUG sinh viên được cung cấp
các kiến thức đại cương và cơ bản tạo
nên cơ sở bước đầu cho việc học tập
tiến lên giai đoạn sau
+ Giai đoạn 2 tập hợp các hoạt đọng
đào tạo ở các cấp khác nhau bao gồm
đào tạo chung và đào tạo chuyên ngành
Giúp sinh viên được đào tạo chuyên sâu
một nghề, cho phép họ hoàn thiện kiến
thức, hiểu biết chuyên sâu về văn hóa
và nghiên cứu khoa học Giai đoạn này
bao gồm 1 năm học để lấy bằng cử nhân
và tiếp sau 1 năm nữa để lấy bằng cao
học Hiện nay đào tạo giai đoạn 2 được
chia thành 2 hướng: thứ nhất đào tạo
đaiạ cương giai đoạn 2: hướng này dành
cho những sinh viên muốn lĩnh hội
những kiến thức cơ bản, chưa muốn đi
ngay vào con đường nghề nghiệp: thứ 2
đào tạo nghề nghiệp giai đoạn 2: nhánh
này có sự chọn lọc chặt chẽ và có danh
tiếng trong chuyên môn Các văn bằng
chủ yếu của nhánh này là:
_ Bằng cao học và khoa học kĩ thuật
_ Bằng cao học khoa học quản lý
_ Bằng cao học tin học ứng dụng và
quản lý
- Giai đoạn 3: tương ứng trình đọ cao
nhất của đại học, đó là chuyên môn hóa
sâu và đào tạo cho nghiên cứu Sinh
viên sau khi có bằng cao học, muốn tiếp
tục học nữa sẽ bước vào giai đoạn 3 Có
2 hướng trong giai đoạn 3 là:
_Bước vào nghiên cứu để lấy bằng thâm
cứu, sau đó lấy bằng tiến sĩ
_Bước vào đào tạo nghề nghiệp để lấy
bằng chuyên môn hóa Đào tạo theo
hướng này dành cho những sinh viên
muốn được đào tạo sau đại học trong
do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức chung Còn đối với những học sinh sinh viên đã có bằng trung cấp và cao đẳng thì cũng phải trãi qua kì thi tuyển sinhdo trường đại học được bộ chỉ định tổ chức Sinh viên học hết chương trình đại học, có đủ điều kiện thì được dự thi hoặc bảo vệ đồ án khóa luận tốt nghiệp
và nếu đạt yêu cầu theo quy định của
Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo thì được hiêu trường trường ĐH cấp bằng tốt nghiệp đại học Bằng tốt nghiệp đại học của ngành kỹ thuật được gọi là bằng kỹ sư, của ngành kiến trúc là bằng kiến trúc sư, của ngành y là bằng bác sĩ, bằng dược sĩ, bằng cử nhân; của các ngành khoa học cơ bản, sư phạm, luật, kinh tế là bằng cử nhân; đối với các ngành còn lại là bằng tốt nghiệp đại học
* Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học
Mục tiêu đào tạo bằng thạc sĩ giúp học viên nắm vững lí thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực thực hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
Học viên hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ, có đủ điều kiện thì được bảo
vệ luận văn , nếu đạt yêu cầu theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo thì được hiêu trường trường ĐH cấp bằng thạc sĩ
* Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong vòng 4 năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ 2 đến 3 năm đối với người tốt nghiệp cao học Trong trường hợp đặc biệt thời gian đào tạo tiến sĩ có thể kéo dài theo quy định của
Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Mục tiêu đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý
Trang 7thời gian tương đối ngắn và có sự ứng
dụng trực tiếp ngay vào nghề nghiệp
Trên đay chỉ là vài nét cơn bản của
GDĐH Pháp GDĐH Pháp từ những
năm 70 đã phát triển thành một hệ
thống văn bằng và học vị thuộc loại đa
dạng nhất thế giới Có các quy định
riêng cho trường ĐH Tổng hợp, ĐH
chuyên ngành, ĐH công nghệ ngắn hạn,
ĐH nghệ thuật, nhạc viện, riêng cho các
ngành khoa học tự nhiên, khao học xã
hội và nhân văn, kỹ thuật công nghệ, y
khoa, dược khoa GDĐH Pháp đào tạo
theo hướng hàn lân và tinh hoa chọn
lọc
thuyết cao và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển
và giải quyết vấn đề mới khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học
và hoạt động chuyên môn Nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ, có đủ điều kiện thì được bảo vệ luận án , nếu đạt yêu cầu theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo thì được hiêu trường trường ĐH, viện trưởng viện nghiên cứu khoa học cấp bằng tiến sĩ
d Cơ quan quản lý
* Cấp Trung Ương do Bộ trưởng chịu
trách nhiệm về GDĐH quản lý
* Cấp địa phương do giám đốc sở giáo
dục quản lý Giám đốc sở giáo dục đại
diện cho Bộ trưởng và chịu trách nhiệm
về GDĐH Là người đứng đầu các
trường ĐH, các cơ sở công lập có chức
năng nghiên cứu khoa học, văn hóa và
đào tạo nghề
- Giám đốc sở giáo dục đảm bảo cho
mối liên hệ giữa các cơ sở GDĐH và
các cơ sở khác trong hệ thống giáo dục
- Giám đốc sở giáo dục có quyền chỉ
định hiệu trưởng trường ĐH
Về văn bằng: nhà nước là chủ thể độc
quyền trong việc cấp văn bằng ĐH Văn
bằng do các cơ sở giáo dục cấp là 1
trong các văn bằng đã được quy định
trong danh sách văn bằng quốc gia được
ban hành trên cơ sở ý kiến của hội đồng
quốc gia về GDĐH và nghiên cứu
* Cấp Trung Ương do Bộ trưởng bộ giáo dục và Đào tạo quản lý Bộ trưởng quy định chương trình khung cho từng ngành đào tọa đói với trình độ cao đẳng, trình độ đại học gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, tường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình Đối với trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Bộ trưởng Bộ giáo dục
và Đào tạo quy định về khối lượng kiến thức, kết cấu chương trình, luận văn và luận án
Về văn bằng: Bộ giáo dục và Đào tạo thống nhất quy định, quản lý các mẫu, việc in, thủ tục cấp phát, thu hồi hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ Các cơ sở giáo dục đại học được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoặc cơ sở GDĐH được Bộ trưởng
Bộ giáo dục và Đào taojuyr quyền cho phép tự in phôi văn bằng, chứng chỉ thì mẫu văn bằng phải được Bộ giáo dục và
Trang 8Đào tạo duyệt trước khi in.
e Giảng viên
- Đào tạo giáo viên ĐH được coi như
thuộc vào giai đoạn 3 của đào tạo ĐH
Giáo viên ĐH phải qua một kì thi tuyển
chọn vào các chức vị giảng dạy ở cấp
quốc gia Giáo viên có bằng tiến sĩ mơi
được phong giáo sư Trong một số
ngành học, việc lựa chọ giáo viên ĐH
phụ thuộc vào kì thi tuyển lấy chứng chỉ
dạy ĐH trong các ngành y, dược, luật
và khoa học kinh tế
- Theo luật Giáo dục Pháp thì giảng
viên, nghiên cứu viên, giảng viên kiêm
nhiệm nghiên cứu có toàn quyền tự do
bày tỏ chính kiến tring việc thực hiện
công tác giảng dạy và hoạt động nghiên
cứu của mình phù hợp với các quy định
của trường và của luật giáo dục
- Nhiệm vụ của giảng viên, nghiên cứu
viên, giảng viên kiêm nhiệm nghiên cứu
được quy định trong luật GD Pháp:
+ Giảng dạy, hướng dẫn, định hướng,
tư vấn và kiểm tra kiến thức
+ Nghiên cứu khoa học
+ Phổ biến kiến thức và liên hệ thực
tiễn với kinh tế , văn hóa, xã hội
+Hợp tác quốc tế
+ Quản lý và điều hành cơ sở GD
- Năm học 95-96 Pháp có 2,2 triệu sinh
viên với 69736 giảng viên trong đó GS
chiếm 25,3% và PGS chiếm 40,2%
- Theo luật giáo dục quy định người có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề , hướng dẫn luận án tiến sĩ
- Dụa theo chỉ tiêu của bộ mỗi trường
có cách tuyển nhân sự khác nhau Có trường giữu sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi trở lên đào tạo tiếp
để giảng dạy, có truowngf tuyển chọn nhân sự qua các kì thi tuyển Khi mới vào trường thì phải trải qua thời gian thử việc và làm trợ giảng Một trợ giảng phải qua kì thi công chức để xếp ngạnh giảng viên
Luật giáo dục nhà nước không có quy định về quyền và nhiệm vụ riêng cho giảng viwwn mà chỉ có 1 quy định chung về quyền và nghĩa vụ của nhà giáo như sau
- Quyền hạn của nhà giáo: được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo; được đào tạo để nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu tại các trường, cơ sở giáo dục nhưng phải thực hiện đày đủ nhiệm vụ nơi mình công tác, được bảo vệ nhân phẩm danh dự, được hưởng các ngày nghĩ theo quy định
- Nhà giáo có những nhiệm vụ: giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lí giáo dục, thự hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các
Trang 9quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn phẩm chất, uy tính, danh
dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo về các quyền và lợi ích chính đáng của người học; không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy,
- Nhìn chung trình độ giáo viên ĐH còn thấp, tỉ lệ nguwoif có bằng tiến sĩ trong trường ĐH là rất ít chỉ chiếm 13%, thạc
sĩ chiếm 30,5%, trình độ đại học và trình độ khác chiếm hơn 50% Trong đó
GS chỉ chiếm 0,9%, PGS chiếm 3,8%
f Chính sách đối với người học
- Sinh viên dự bị tại các trường ĐH
công lập lớn và các trường ĐH công lập
được miễn phí
- Bộ giáo dục quốc gia trợ cấp tài chính
cho những sinh viên có hoàn cảnh khó
khăn
- Sinh viên được vay tiền để hỗ trợ
trong thời gian học tập Những khoảng
vay này được miễn lãi và phải trả chậm
nhất là 10 năm sau khi kết thúc việc học
tập
- Ngoài học bổng của chính phủ dành
cho các sinh viên có thành tích học tập
tốt thì các cơ quan, xí nghiệp Pháp cũng
có thể xét cấp học bổng cho cá sinh viên
xuất sắc hoặc các cán bộ tham giam
chương trình hợp tác và đầu tư Các cơ
quan và tổ chức quốc tế cũng có các
chương trình học bổng riêng cho các
trường nhất là cho các giáo viên giảng
viên tiếng Pháp
- Các chiowng rình học bổng cho người
nước ngoài khá phong phú Riêng Việt
Nam hằng năm Pháp cấp trung bình 300
- Trợ cấp và miễ giảm học phí cho người học là đối tượng được huownhr chính sách xã hội, người dân tộc thiểu
số ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, mồ côi không noi nương tựa, nguời tàn tật khuyết tật
- Nhà nước có chính sách tín dụng ưu
đã về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền để nguwoif học thuộc gia đình có thu nhập thấp có điều kiện học tập
- Sinh viên sư phạ và người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm không phải đóng học phí
- Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng, trợ cấp cho người học theo quy định của pháp luật
- Nhà nước có chính sách cấp học bổng khuyến khích học tập cho sinh viên đạt kết quả loại khá trở lên Cấp học bổng chính sách cho sinh viên hệ cử nhân, học sinh rường dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dạy nghề dành cho thương bệnh binh, người tàn tật, khuyết tật
Trang 10học bổng trực tiếp cho các bộ, ngành có
dự án hợp tác của Việt Nam
g Những thành tựu và chiến lược phát triển GDĐH
- Pháp đạt được cá số tier lệ và chỉ số
tương đối cao thuộc về giáo dục và liên
quan đến GD Tỉ lệ người biết chữ
(2002) người lớn trên 15 tuooirchieems
99% Riêng về tỉ lệ ĐH chiếm 54%
-Tỉ lệ đàu tư cho GD(1999-2001) theo
GDP 5,7%; Ngân sách 11,4 % Trong
đó cao đẳng và ĐH chiếm 17,6 % ngân
sách Trung bình nhà nước tài trợ 7000
Euro/năm/1sinhvien
- trong những năm gần đay Pháp bước
vào hệ thống GD mới L-M-D (licence-
Master-Doctor), Pháp đã có những bước
đi tích cực trong việc ứng dụng các
chuẩn mực chung của Châu Âu Hệ
thống L-M-D được thiết kế nhằm mục
tiêu
+ Tạo điều kiện trao đổi sinh viên và
chuẩn hóa bằng cấp
+ Hỗ trợ các trường ĐH tổ chức và rà
soát các chương trình học
+ Dễ dàng thích nghi với nhiều chương
trình và phương thức chuyển tiếp
+ Thu hút sinh viên từ các châu lục
khác đến hộc tập tại Châu Âu
- Chiến lược tập hợp các cơ sở GDĐH
trên toàn lãnh thổ, với mục đích đảm
bảo được sự giáo dục toàn diện, có sự
tường đồng về chất lượng đào tạo trong
khu vực hoặc liên khu vực cũng như tạo
điều kiện thuận lợi cho việc học tập và
áp dụng nghề nghiệp của sinh viên
Đồng thwoif cso tính đến những ưu tiên
của quốc gia và khu vực trong tổng thể
chính sách việc làm và phát triển kinh
tế
- Tỉ lệ biết chữ ở Việt Nam tương đối cao khoảng 92% dân số
- Ngân sách dành cho GD chiếm 10-15% ngân sách nhà nước Trung bình nhà nước tại trợ cho mỗi sinh viên 6.000.000 đ/năm
- Nước ta xem GD là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Thoe luật GD
2005 thì chính sách phát triển GD của nước ta là:
+ Cấu trúc lại hệ thống GD quốc dân, phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở
GD và hệ thống văn bằng Cũng cố trường công, khuyến khích mở trường bán công và dân lập; cho phép mở trường tư ở các cấp mầm non, chuyên nghiệp và ĐH Đa dạng hóa các loại hình GD như: tập trung và không tập trung, chính quy và không chính quy, học từ xa
+ Xác định lại mục tiêu giáo dục đào
tạ, thiết ké lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp GD và đào tạo
cụ thể của từng cấp học, ngành học đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa
+ Tăng cường hệ thống luật pháp trong
GD Tăng dần tỉ trọng ngân sách GD Huy động các nguồn đầu tư cho nhân dân, viện trợ quốc tế, vay vốn nước ngoài để phát triển giáo dục
+ Cải thiện đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý GD
+ Đổi mới quản lý GD + Đẩy mạnh xã hội hóa GD + Tăng cường hệ thống quốc tế về GD
và đào tạo