Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn QuốcThực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn Quốc
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THU HUYỀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TỪ THỰC TIỄN HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THU HUYỀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TỪ THỰC TIỄN HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2018
Tác giả
Lê Thị Thu Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 9
1.1 Các khái niệm cơ bản 9 1.2 Nội dung thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 18 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 22
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 27
2.1 Thực trạng hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc 27 2.2 Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam
và Hàn Quốc 40 2.3 Đánh giá chung về thực trạng 53
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 59
3.1 Định hướng hợp tác quốc tế về giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc 59 3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc 67
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
CTĐT Chương trình đào tạo GDĐH Giáo dục đại học HNQT Hội nhập quốc tế
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về thực trạng xây dựng và ban hành các văn bản liên quan đến chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa
Việt Nam và Hàn Quốc (ĐVT: %) 92
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về hoạt động phân công, tổ chức 94
thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học 94
giữa Việt Nam và Hàn Quốc 94
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về thực hiện công tác duy trì 94
và điều chỉnh chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học 94
giữa Việt Nam và Hàn Quốc 94
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về công tác kiểm tra, đánh giá thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam 95
và Hàn Quốc 95
BIỂU Biểu 2.1 Phân bổ số lượng các trường đại học, học viện theo vùng năm 2017 90
Biểu 2.2 Phân bổ các trường đại học, học viện theo khối ngành năm 2017 91
Biểu 2.3 Trình độ giảng viên các trường đại học, học viện năm 2017 91
Biểu 2.4 Phân tầng hệ thống giáo dục Hàn Quốc 92
Biểu 2.5 Số lượng du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc từ 2015 đến 2018 92
Biểu 2.6 Kết quả khảo sát về công tác lập kế hoạch thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc 93
Biểu 2.7 Kết quả khảo sát về công tác tuyên truyền, phố biến chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc 93
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình HNQT đang diễn ra mạnh mẽ, CTĐT liên kết quốc
tế ở các trường đại học ngày càng “nở rộ” Trong đó, nhiều CTĐT được thực hiện rất nghiêm túc nhưng cũng có những CTĐT chỉ vì lợi nhuận mà quên đi chất lượng đào tạo Do vậy, bên cạnh việc khuyến khích các trường đại học trong nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, ngành Giáo dục và Đào tạo cần kiểm soát những chương trình liên kết đào tạo này Hiện có hơn 480 CTĐT liên kết với những CSGDĐH nước ngoài đã và đang thực hiện tại các CSGDĐH ở Việt Nam Những chương đào tạo liên kết này đã tạo điều kiện cho các CSGDĐH trong nước tiếp cận công nghệ giáo dục tiên tiến ở các nước trên thế giới [7, tr.115] Thông qua quá trình hợp tác, các trường có thể học hỏi để xây dựng chương trình giảng dạy đạt chuẩn quốc tế; đồng thời tạo ra nhiều cơ hội học tập cho người học Để triển khai hiệu quả chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục thông qua các hiệp định , thỏa thuận với nước ngoài về hợp tác giáo dục , công nhận văn bằng, tín chỉ với các nước trong khu vực và một số quốc gia trên thế giới; thí điểm một số mô hình giáo dục của một số nước có nền giáo dục tiên tiến; liên kết đào tạo với nước ngoài, Chính phủ đã đề xuất và được Quốc hội thông qua việc bổ sung dịch
vụ tư vấn du học vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện Ban hành Nghị định 86/2018/NĐ-CP ngày 06/6/2018 quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục thay thế Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày 26/9/2012 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định 124/2014/NĐ-CP ngày 29/12/2014 của Chính phủ sửa đổi khoản 6 Điều 31 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP [11]
Trang 8Một số địa phương và CSGDĐH đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác giữa trường đại học, cao đẳng với các trường đại học, cao đẳng của Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước trong khu vực ASEAN, tăng cường trao đổi giảng viên, chuyên gia, sinh viên quốc tế; phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc đào tạo nghề cho học sinh Việt Nam (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Ninh…, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đaaij học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại 7học Ngoại Thương, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Thái Nguyên…) [7]
Nhiều chương trình giáo dục, đào tạo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập trong nước đã được cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài, kể cả các nước phát triển thừa nhận và liên thông Học sinh, sinh viên và đội ngũ nhà giáo có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với sách báo và tài liệu nước ngoài hoặc giao lưu trực tiếp với người nước ngoài để tìm hiểu, học hỏi tiếp thu văn hóa tri thức nhân loại, đồng thời chuyển tải văn hóa Việt Nam đến các dân tộc và quốc gia trên thế giới
Bên cạnh những thành tựu to lớn trong thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục trong đó có hợp tác quốc tế về giáo dục và Đại học đã đạt được, vẫn còn những bất cập trong việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế
về giáo dục với nước ngoài như quyền chủ động của CSGDĐH Việt Nam trong việc tìm kiếm đối tác, thủ tục hành chính trong việc xin phép đào tạo liên kết với nước ngoài còn nhiều rườm rà, gây phiền hà cho cả đối tác Việt Nam và nước ngoài
Với lý do trên, với tư cách là học viên ngành chính sách công và đang công tác tại một CSGDĐH có liên kết đào tạo với đối tác Hàn Quốc, em chọn
đề tài: “Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực
Trang 9tiễn hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc”, làm đề tài bài luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành chính sách công tại Học viện khoa học xã hội Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách phát triển giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ khi mới giành được độc lập trong lời kêu gọi cả Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày thành lập nước (02/09/1945) đã chỉ rõ cho chúng ta phải diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm Từ đó đến nay, trong công cuộc phát triển đất nước giáo dục luôn được coi trọng như là một quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước những năm gần đây, với những thay đổi và sự phát triển của khoa học trên thế giới, ngay sau Đại hội Đảng lần thứ 11 (năm 2011), và nhất là từ khi có Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và HNQT, giáo dục đã được quan tâm đúng mức Nhiều chính sách phát triển giáo dục đã được ban hành Trong bối cảnh quốc tế thay đổi và HNQT ngày càng sâu rộng, trong chính sách phát triển giáo dục, chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt hơn là hợp tác quốc tế về GDĐH đã được đề cập đến với ý nghĩa hết sức quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận với các nước tiên tiến trên thế giới thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH đã và đang đạt được những thành tựu tốt đẹp về lĩnh vực này đã có những công trình nghiêm cứu dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện bằng các đề tài khoa học; bài báo; bài đăng trên tạp chí…có thể khái quát một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Tác giả Trần Văn Nhung, “chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục
và đào tạo ở Việt Nam trong thế kỷ 20”, Sách chuyên khảo của Bộ giáo dục
Trang 10và đào tạo (2005) Trong cuốn sách trên, tác giả đã điểm lại quá trình hợp tác quốc tế trong giáo dục ở Việt Nam trong khoảng thời gian 50 năm; đề cập những quan điểm và nội dung cơ bản của chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục của Việt Nam; tình hình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo trong những năm đã qua Tác giả đánh giá những thành tựu trong sự hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo; đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo Trong cuốn sách đó, tác giả cũng đã nêu những định hướng trong hoạch định chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay
Tác giả Nguyễn Chí Cường trong bài báo: “Những thành tựu trong hợp tác quốc tế về giáo dục sau đổi mới và những vấn đề đặt ra trong chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục trong bối cảnh HNQT hiện nay”,Tạp chí giáo dục
(2015) đã đề cập những kết quả trong việc thực hiện chính sách hợp tác trong giáo dục với nước ngoài trong những năm gần đây Tác giả cũng nêu rõ những vướng mắc trong thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục hiện nay và cần phải có sự đổi mới trong tư duy để thực hiện đưa giáo dục Việt Nam đến với HNQT ngày càng mạnh mẽ hơn nữa
Tác giả Nguyễn Khắc Bình trong bài báo: “Đổi mới đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sĩ ở Việt Nam trong bối cảnh HNQT”, hội thảo quốc tế về giáo
dục (2015) đã đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách giáo dục ở Việt Nam đều có yếu tố hợp tác quốc tế tác giả đã đề cập đến những bất lợi trong việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong đào tạo sau Đại học ở Việt Nam và nêu lên những định hướng trong việc xây dựng chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ 21
Trang 11Tác giả Đậu Sỹ Thái (1999), Nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường Tác giả mô tả hiện trạng và sự phát triển của Viện Khoa học Việt Nam (Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia) và mối quan hệ biện chứng giữa hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học công nghệ ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, qua đó nêu bật tầm quan trọng của công tác đào tạo nhân lực Khoa học và công nghê ở đây thông qua hợp tác quốc tế
Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, hy vọng những nghiên cứu sau này về đề tài sẽ góp phần phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam tiếp cận với các nước tiên tiến trên thế giới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH, đánh giá thực trạng hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc
3.2 Nhiệm vụ nghiêm cứu
- Xác lập cơ sở lý luận thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế
về GDĐH với Hàn Quốc;
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác
quốc tế về GDĐH với Hàn Quốc trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 124.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc dưới góc độ khoa học về Chính sách công và chủ thể thực hiện chính sách là cơ quan quản lý nhà nước trong hợp tác quốc tế về GDĐH là Cục hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Về không gian: nghiên cứu về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế
về GDĐH với Hàn Quốc
Về thời gian: Đề tài phân tích các dữ liệu từ năm 2014 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH.Luận văn được xây dựng theo phương pháp luận biện chứng duy vật tức là xem xét các chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH liên quan tại một thời điểm lịch sử cụ thể của nó, cũng như các mối liên hệ và phát triển theo logic biện chứng của các chính sách về hợp tác quốc tế về GDĐH Các chính sách này cũng thay đổi và phát triển trong sự tương tác trong hệ thống cũng như theo sự vận động nội tại.Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp với nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận liên ngành, đa ngành liên quan đến chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: được sử dụng để thu thập,
phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm chủ trương của Đảng, hệ thống các văn bản quản lý của Nhà nước về hợp tác quốc tế về GDĐH; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của Việt Nam và các tổ chức về hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Đề tài thu thập các dữ liệu sơ
cấp thông qua khảo sát bằng bảng hỏi, hướng tới các đối tượng là cán bộ quản
lý giáo dục, các cán bộ tại vụ hợp tác quốc tế về giáo dục, các nhà khoa học, các nhà chính sách và sinh viên… bằng cách phòng vấn trực tiếp và gửi email Mẫu khảo sát tại Phụ lục của luận văn Đề tài phát tra 100 phiếu khảo sát, thu về 92 phiếu trong đó có 02 phiếu không hợp lệ và đề tài luận văn phân tích, tổng hợp dữ liệu từ 90 phiếu hợp lệ
Phương pháp phân tích và tổng hợp: trong nghiên cứu của luận văn
được sử dụng để phân tích thực trạng và đánh giá kết quả thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc Đồng thời, phương pháp này được áp dụng trong tổng hợp các quan điểm của các tác giả, các tổ chức về chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH từ đó đưa ra những quan điểm của riêng tác giả
Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp hành các chuỗi số liệu
phản ánh thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam - Hàn Quốc, các dữ liệu này phục vụ cho việc phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Phương pháp phân tích và đánh giá chính sách: trong nghiên cứu của
luận văn được sử dụng để phân tích và đánh giá việc thực hiện chính sách hợp
Trang 14tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc Đây là một trong những phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu khoa học nói chung và về chuyên ngành chính sách công nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn sẽ làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về
chính sách và thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo
ở nước ta trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài
liệu nghiên cứu, tham khải và vận dụng các lý luận chính sách công, thực hiện chính sách công trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về giáo dục cho các cơ quan hoạch định chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục và các nhà quản lý ở
các cơ sở đào tạo tham khảo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
giáp dục đại học
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáp
dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách
hợp tác quốc tế về giáp dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ
VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
1.1.1.1 Chính sách công
Theo tác giả Lê Chi Mai của Học viện Hành chính quốc gia có một số đúc kết quan trọng về nội hàm của chính sách công Đó là:
+ Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công
+ Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực hiện các dự định đó
+ Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định [31, tr.21-22]
Kế thừa những tư duy, ý tưởng và đúc kết cac kết quả, thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ Phú Hải của Học viện Khoa học xã hội đã đưa ra một khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [23,tr.67-70]
Từ những phân tích trên, có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước
Trang 16Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là
chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra
trong đời sống KT - XH theo những mục tiêu xác định
Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau
chính sách hợp tác quốc tế về giáo dụcđại học trong luận văn này thuộc phạm vi chính sách công được hiểu với các đặc trưng cơ bản trên
1.1.1.2 Giáo dục đại học
Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta [53] chính là nhờ có một hạ tầng GDĐH đẳng cấp quốc tế GDĐH còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội
Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về GDĐH, nhưng trong nghiên cứu của luận văn có thể hiểu GDĐH là hình thức
tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội
Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế - xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại
Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu tố bất cập, chất lượng GDĐH còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng
Trang 17“giáo dục là quốc sách hàng đầu” Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính là những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của GDĐH Chính vì vậy, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDĐH là một hướng đi cần thiết để giải quyết những bất cập trên, qua đó thúc đẩy hệ thống GDĐH của nước ta phát triển
1.1.1.3 Hợp tác quốc tế
hợp tác quốc tế là “một hệ thống những mối quan hệ quốc gia vốn được hình thành, xác định và dựa trên cơ sở chính trị dối ngoại của từng quốc gia, nhưng lại mang trong mình những quy luật hoạt động và phát triển riêng có của
chúng”
Hợp tác bao gồm hợp tác song phương (một nước với một nước khác); Hợp tác đa phương (một nước với nhiều nước khác trong một hiệp định ký kết); Hợp tác của một nước với một tổ chức quốc tế như các tổ chức của Liện hiệp quốc, (UN), UNESCO… Cụm từ “hợp tác với nước ngoài” trong luận
văn này bao gồm cả hợp tác với các nước và hợp tác với các tổ chức quốc tế
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung”, còn quốc tế là “các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau” [49]
Như vậy, có thể hiểu hợp tác quốc tế là hành vi các chủ thể quan hệ quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau Đặc điểm cơ bản của hợp tác quốc tế là có 2 chủ thể tham gia trở lên và có sự tham gia của yếu tố quốc tế
Trang 18hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin khoa học để có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động của nhà trường
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động hợp tác quốc tế về GDĐH với vai trò là một bộ phận của hợp tác quốc tế về giáo dụcvà hoạt động này sẽ do cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH quản lý (Đề tài không tập trung nghiên cứu các trường hợp cụ thể về hợp tác quốc tế
về đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, học viện cụ thể.Hoạt động hợp tác này còn diễn ra trong các trường đại học với nhau như
là hoạt động chủ thể thuộc một trường đại học hợp tác với chủ thể thuộc quốc gia khác nhằm mục đích đáp ứng nguyện vọng của nhau)
1.1.1.4 Chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn trong hệ thống kinh tế - xã hội của phần lớn các nước trên thế giới Số lượng người học, người dạy rất đông (ở nước ta số người học ở mọi loại hình giáo dục chiếm hơn ¼ dân số) Nếu tính những người liên quan đến giáo dục như gia đình, cộng đồng thì giáo dục thực sự liên quan đến mọi người trong xã hội Các chính sách giáo dục tác động lớnđến toàn bộ xã hội Vì vậy những quyết định về chính sách giáo dục phải được chuẩn bị cẩn thận, dựa trên việc nắm vững những đặc điểm của chính sách trong giáo dục
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia
ký kết các hiệp định của WTO và GATS đồng nghĩa với việc chấp nhận một thị trường giáo dục mở cho đầu tư nước ngoài là một bước thay đổi quan trọng về nhận thức và tư duy của các nhà làm chính sách trong việc từng bước chấp nhận những khuôn khổ quản lý mới cho khu vực dịch vụ công nói
Trang 19chungvà cho GDĐH nói riêng Trong bối cảnh đó các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề là tiếp tục duy trì chính sách quản lý theo kiểu truyền thống hay
là áp dụng chính sách quản lý mới (kiểu doanh nghiệp), tức là có sự thay đổi về bản chất - chuyển từ cơ chế hành chính sang cơ chế doanh nghiệp để thị trường
có thêm cơ hội điều tiết nhằm tăng năng xuất, chất lượng và hiệu quả
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra bốn mô hình quản lý trường đại học dựa trên tính chất “chặt chẽ” hay “lỏng lẻo” trong việc xác định chính sách và giám sát thực hiện Kiểu quản lý truyền thống là kiểu mà cả hai khâu xác định chính sách và giám sát thực hiện đều lỏng lẻo Kiểu quản lý hành chính thì xác định chính sách lỏng lẻo nhưng giám sát thực hiện thì chặt chẽ Kiểu quản
lý nghiệp chủ thì xác định chính sách chặt chẽ nhưng giám sát thì lỏng lẻo Kiểu quản lý công ty là kiểu mà cả hai khâu xác định chính sách và giám sát thực hiện đều chặt chẽ Nếu làm tốt các chính sách sẽ thucs đẩy quá trình hợp tác quốc tế về GDĐH và hoạt động này sẽ có nhưng vai trò không nhỏ trong phát triển GDĐH như:
Thứ nhất, hoạt động hợp tác quốc tế có vai trò quan trọng trong việc
định hướng sự phát triển của GDĐH theo hướng hiện đại, tiếp cận nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Thông qua hoạt động, các chương trình hợp tác quốc tế với các nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, các trường đại học trong nước có thể rút ra các kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống
và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục trong nước và thế giới Ngoài ra, hoạt động này tạo điều kiện cho các trường đại học phát triển bền vững, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho việc phát triển đất nước
Trang 20Thứ hai, hợp tác quốc tế giúp các trường đại học thiết lập được nhiều
hình thức hợp tác đa dạng, phong phú với các chương trình, dự án hợp tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, hợp tác song phương và đa phương
Thứ ba, việc hợp tác quốc tế mang lại nhiều lợi ích thiết thực đối với
sự phát triển của các trường đại học nói riêng và nền GDĐH của các quốc gia nói chung Đối với sinh viên và giảng viên, hợp tác quốc tế của các trường đại học mang lại cơ hội to lớn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nguồn tri thức quốc tế khổng lồ Đối với các trường đại học, hoạt động hợp tác quốc tế thúc đẩy các tổ chức này cải tiến cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo để
có thể thu hút được các đối tác cũng như tìm được vị thế trên thị trường quốc
tế Ngoài ra, khi hợp tác với nhau hệ thống GDĐH các nước còn có cơ hội giao lưu, học tập kinh nghiệm quản lý và trao đổi kiến thức chuyên môn trong giảng dạy đại học Nhờ quá trình này, các bên đều có cơ hội nâng cao năng lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên Một lợi ích thiết thực khác đó là hợp tác về GDĐH cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau
Ngoài ra, hợp tác quốc tế còn đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như vậy, có thể khẳng định hợp tác quốc tế về GDĐH là hoạt động tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của GDĐH hiện đại Nắm bắt và tận dụng hiệu quả hoạt động này, các trường đại học có thể có cơ hội tốt để cọ xát, học hỏi, cạnh tranh và có động lực ngày càng phát triển theo hướng tiến
bộ hơn
Trang 21Trên cơ sở các khái niệm về chính sách công, GDĐH và hợp tác quốc
tế, trong phạm vi của luận văn đưa ra khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH “là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Nhà nước với mục tiêu các giải pháp, công cụ cụ thể về hoạt động hợp tác quốc tế
về GDĐH nhằm thúc đẩy hệ thống GDĐH phát triển tiệm cận với hệ thống GDĐH trong khu vực và thế giới; đồng thời nâng cao chất lượng toàn diện hệ thống GDĐH trong nước theo mục tiêu và định hướng phát triển của đất nước”
Nội dung chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH
- Về hoạt động đào tạo
Nội dung về chính sách này tập trung thực hiện các hoạt động phát triển các CTĐT liên kết do các trường đại học có uy tín trên thế giới cấp bằng hoặc bằng kép; đổi mới các CTĐT hiện có của Việt Nam để đạt chuẩn AUN hoặc quốc tế; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ giảng viên và quản lý thông qua tổ chức các khóa tập huấn, chương trình trao đổi trong và ngoài nước; tăng cường năng lực, kỹ năng cho người học, đặc biệt là nâng cao năng lực ngoại ngữ thông qua các chương trình trao đổi, thực tập sinh, khóa học ngắn hạn,…; nâng cấp cơ sở vật chất, nguồn học liệu, tham gia các mạng lưới liên kết quốc
tế, tuyên truyền, quảng bá tuyển sinh sinh viên quốc tế, xây dựng Quỹ Học bổng quốc tế của các CSGDĐH
- Về hoạt động nghiên cứu khoa học
Chính sách hợp tác về nghiên cứu khoa học được xây dựng nhằm phát huy mạnh mẽ nội lực trong hợp tác quốc tế của CSGDĐH thông qua việc tạo môi trường thuận lợi để các thầy, cô giáo và nhà khoa học của các CSGDĐH
đã tốt nghiệp và được tập huấn tại nước ngoài phát triển hợp tác nghiên cứu; đồng thời khai thác các mối quan hệ quốc tế truyền thống và tiềm năng; mời
Trang 22các chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế tham gia nghiên cứu và trình bày tại các hội thảo quốc tế do các CSGDĐH Việt Nam tổ chức; kết nối và hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh có sự tham gia của chuyên gia nước ngoài để xây dựng các chương trình, dự án hợp tác quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh tìm kiếm và khai thác các nguồn quỹ nghiên cứu quốc tế, tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, giảng viên và tăng cường các công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín quốc tế
Chủ thể thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH
Chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là một chính sách công nên chủ thể thực hiện chính sách chính là Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, các cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương sẽ lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện chính sách và chính quyền các cấp sẽ triển khai thực hiện chính sách trong từng giai đoạn cụ thể với các đối tượng cụ thể
Đối với chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH, Nhà nước trao quyền quản lý cho Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý, triển khai các nội dung liên quan đến chính sách Các chủ thể này có vai trò quan trọng trong việc định hướng, triển khai chính sách, giúp chính sách được đưa vào thực hiện hợp tác quốc tế về GDĐH
1.1.2 Khái niệm thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
1.1.2.1 Thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách là quá trình thực thi các chương trình hoặc các chính sách; nó biểu thị việc chuyển các kế hoạch thành thực tế Thực hiện đơn giản có nghĩa là thực thi hoặc tiến hành Tuy nhiên, thực hiện ở đây được xem xét với tư cách là giai đoạn thứ tư của chu trình chính sách công năm giai đoạn Thực hiện có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo James Aderson: “Thực hiện là triển khai một quyết định chính sách cơ sở,
Trang 23thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thê hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của toà án Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực hiện Thông thường, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của các cơ quan thực hiện chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định - của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định, và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản” [55, tr.18]
Theo William Jenkins, một quyết định chính sách công đưa đến một giả thuyết liên kết các mục tiêu với mục đích hoặc những kết quả mong đợi: Giả thuyết giả định rằng, khi một sự lựa chọn chính sách công “p” được tạo ra, thì kết quả “o” sẽ xuất hiện Tuy nhiên, để kết quả “o” xuất hiện, chính sách công cần phải trải qua một quá trình thực thi “I” Chính vì vậy, Paul Berman đã thay thế giả thuyết của Pressman và Wildavsky bằng chuỗi ít nhất hai mối quan hệ: (1) Hiệu lực thực hiện: Nếu p, thì “I” (một lựa chọn chính sách công
“p” dẫn đến một chương trình thực thi cụ thể “I”); (2) Hiệu lực kỹ thuật: Nếu
“I”, thì “o” (chương trình được thực hiện dẫn đến kết quả “O”) William Jenkins cho rằng hiệu lực thực hiện và hiệu lực kỹ thuật không thể tách rời nhau, chúng gắn liền với nhau Mối quan hệ thứ nhất (nếu p, thì I) giải quyết những thứ còn thiếu giữa chính sách công và kết quả là một chương trình được thực hiện Tuy nhiên cùng cần thừa nhận, sự thực hiện chương trình phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau phức tạp giữa chính sách công và môi trường thực hiện nó [59]
Như vậy, theo các quan điểm nêu trên thì thực hiện chính sách công khôngđơn giản chỉ là sự tổ chức thực hiện các giải pháp, chính sách cụ thể mà
Trang 24baogồm: (1) Ban hành các văn bản quy định chi tiết, quy định các biện pháp, cácthủ tục thực thi chính sách công (sau đây gọi là văn bản thực hiện chính sáchcông) và thi hành các văn bản đó; (2) Thiết lập các chương trình, dự án
để thực hiện chính sách công (sau đây gọi là chương trình, dự án thực thi chính sáchcông), và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đó
Từ những lập luận, phân tích ở trên, trong phạm vi nghiên cứu luận văb này có thể hiểu: Thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thựctiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự ánthực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mụctiêu chính sách công
1.1.2.2 Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực Tổ chức thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là một khâu hợp thành chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH, so với các khâu khác trong chu trình chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH, thực hiệnchính sách hợp tác quốc tế về GDĐH có vị trí đặc biệt quan trọng là bước hiện thực hóa đưa chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH vào thực tiễn cuộc sống
Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là tất yếu, khách quan
để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là để đạt được mục tiêu của chính sách
Trong phạm vi luận văn, thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là quá trình đưa chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH vào thực tiễn hợp tác song phương, đa phương về GDĐH thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH và
tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu của chính sách hợp tác
Trang 25quốc tế về GDĐH
1.2 Nội dung thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
1.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Kế hoạch thực hiện chính sách là một công cụ quan trọng để giúp các
cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách vào thực tiễn một cách chủ động Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH gồm các nội dung: phải có kế hoạch tổ chức điều hành; có kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực cho thực hiện chính sách; có kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH.Khi các kế hoạch triển khai được xây dựng cụ thể và chính xác thì quá trình thực hiện chính
sách hợp tác quốc tế về GDĐH sẽ thuận lợi và đạt kết quả cao
1.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Sau khi kế hoạch thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch đã đề ra Một trong những nội dung đầu tiên cần làm trong hoạt động này là phổ biến, tuyên truyền vận động mọi đối tượng hiểu rõ mục đích, nội dung và yêu cầu của chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng
Phổ biến, tuyên truyền chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách bao gồm cán bộ quản lý về giáo dục, về hợp tác quốc tế trong giáo dục, cán bộ quản lý trong các CSGDĐH, giảng viên, nhà nghiên cứu, sinh viên, du học sinh Hoạt động này vừa giúp cho các đối tượng thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ chủ trương, mục đích, nôi dung, yêu cầu,
Trang 26nhiệm vụ, quy mô và đối tượng hướng tới của chính sách đối với định hướng phát triển nhân lực và đào tạo nhân lực của đất nước để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp về phương pháp, hình thức, cách thức quán triệt phổ biến, tuyên truyền chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
1.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Để thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH có hiệu quả cần phải
có sự phân công, phối hợp chặt chẽ, khoa học và hợp lý giữa các cơ quan, bộ ngành, các cấp cũng như các tổ chức, cá nhân tham gia có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH Trong phân công nhiệm
vụ thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH cần chú ý đến khả năng, trình độ, năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cơ quan, cá nhân, tránh hạn chế trình trạng nhiệm vụ chồng chéo và phân công trách nhiệm không rõ ràng Phân công, phối hợp thực hiện chính sách hợp tác quốc
tế về GDĐH còn được thể hiện qua quá trình tổ chức điều hành và phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức, cơ quan, cá nhân trong và ngoài nước trong việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH.Do vậy, để tổ chức thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các chức, cơ quan, cá nhân
1.2.4 Duy trì chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Hoạt động duy trì chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là hoạt động bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy tác dụng cho môi trường thực tế
về GDĐH của một quốc gia Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách lại nảy sinh một số vướng mắc, có thể do nhà hoạch định chính sách chưa
Trang 27lường hết những tác động làm thay đổi môi trường trước hoặc sau khi ban hành chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH Việc duy trì chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm cho chính sách này
ổn định và bền vững
1.2.5 Điều chỉnh chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Điều chỉnh chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách Muốn điều chỉnh chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH cho phù hợp với yêu cầu, thực tiễn quản lý thì chỉ có các cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH và hợp tác quốc tế mới có đủ thẩm quyền Vì vậy, các cơ quan nhà nước, ban ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, đưa ra cơ chế chính sách để thực hiện chính sách có hiệu quả.Muốn điều chỉnh một chính sách hợp lý đòi hỏi cán bộ quản lý thực hiệnchính sách hợp tác quốc tế về GDĐH phải hiểu
và nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách, đồng thời phải
có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách để có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách
1.2.6 Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
giáo dục đại học
Để đốn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách hợp tác quốc
tế về GDĐH cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách Cần nắm chắc, chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện chính sách, các quy chế, nội quy trong thực hiện chính sách Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH cần thu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá
Trang 28trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức Từ
đó, phân tích xử lý thông tin một cách chính xác tránh những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách
1.2.7 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách hợp tác quốc
tế về giáo dục đại học
Các cơ quan quản lý phải căn cứ vào các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định để đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách một cách chính xác Việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác các ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách Từ
đó, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đòi hỏi các cơ quan, tổ chức và các cán bộ, viên chức phải có trình độ, kiến thức và kỹ năng nhất định mới có thể đánh giá, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
Trong quá trình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước do vậy kết quả tổ chức thực hiện chính sách này sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu
tố chủ quan và yếu tố khách quan
1.3.1 Yếu tố khách quan
Một là, tính chất của vấn đề chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH Vấn
đề chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là vấn đềphức tạp và rộng liên quan đến nhiều cơ quan quản lý và có yếu tố quốc tế Tính phức tạp của vấn đề chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH ở chỗ không chỉ do số lượng các CSGDĐH tương đối nhiều, số lượng giảng viên, nhà nghiên cứu, sinh viên,
du học sinh lớn mà còn do đặc điểm, đặc thù, tính chất các ngành học trong hợp tác quốc tế về GDĐH rất đa dạng, phong phú và khác nhau thể hiện về lợi
Trang 29thế của từng quốc gia hợp tác về GDĐH Nhu cầu về nhân lực chất lượng cao trong các ngành, nghề, lĩnh vực khác nhau đòi hỏi nhu cầu về hợp tác đào tạo GDĐH khác nhau giữa các nước Mỗi quốc gia đều cần có một lực lượng lao động chất lượng cao Sự phát triển phù hợp của nguồn vốn con người và sự ăn khớp của các CTĐT để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa tiếp tục là một vấn đề đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục Ngân sách nghiên cứu và phát triển vẫn bị giới hạn và đầu tư cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học không đủ đạt đến mức có thể tạo ra những kết quả hữu dụng Nhiều CTĐT tiếp tục lỗi nhịp với thực tế của thị trường ngày nay Phương pháp giảng dạy dựa vào ghi nhớ sự kiện và không quan tâm gì đến các kỹ năng như tư duy phản biện và giải quyết vấn đề Rất thường thấy giữa những gì được học ở nhà trường và những thứ sinh viên cần có để thành công trong thế giới thực còn một khoảng cách khá xa Kiểm định chất lượng và quy trình giải trình trách nhiệm là những lĩnh vực khác cần được quan tâm
Hai là, môi trường thực hiệnchính sách hợp tác quốc tế về GDĐH ở
nước ta hiện nay Môi trường thực hiện chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội đặc biệt là chiến lược đối ngoại trong ngoại giao và giáo dục
Ba là, mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiệnchính sách hợp tác
quốc tế về GDĐH ở nước ta hiện nay Là sự thống nhất giữa chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH trong quá trình thực hiện chính sách thể hiện trong mối quan hệ giữa chủ thể thực hiện chính sách như cán bộ quản lý về GDĐH, về hợp tác quốc tế về GDĐH (Bao gồm các cán bộ quản lý tại các cơ quan quản
lý về GDĐH: Vụ GDĐH, Vụ hợp tác quốc tế… các cán bộ quản lý tại các CSGDĐH), các đối tượng khác như giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên, du học sinh, cán bộ tại Đại sứ quán…
Trang 30Bốn là, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH Tiềm lực của hợp tác quốc tế về GDĐH hiện nay nhìn chung có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện chính sách này thể hiện qua nhu cầu ngày càng cao của đất nước đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, đối với những ngành nghề, lĩnh vực như quản lý, lãnh đạo, kiểm định, đánh giá chất lượng…
mà nước ta đang còn hạn chế trong đào tạo ở bậc đại học
Năm là, đặc tính của đối tượng chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH
Do tính chất đặc trưng, sự khác biệt trong chương trình đào tạo, hoạt động quản lý của bậc đại học nên giảng viên, sinh viên, du học sinh đa phần là những người có năng lực trình độ cao, khá nhạy bén và dễ dàng tiếp nhận những chính sách mới và có ý thức kỷ luật cao Đây là mặt thuận lợi trong việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, quá trình mở cửa hội nhập ở mọi mặt kinh tế - xã hội của nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi hơn trong hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng
1.3.2 Yếu tố chủ quan
Một là, các yếu tố thuộc về cơ quan, tổ chức quản lý hoạt động hợp tác
quốc tế trong GDĐH Do cán bộ quản lý chủ động chi phối đến quá trình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH nên nó có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện Việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH luôn đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các bước, các khâu trong quy trình thực hiện chính sách
Hai là, năng lực thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH của
đội ngũ cán bộ, viên chức có trách nhiệm thực hiện chính sách nàyởnước ta hiện nay Muốn nâng cao năng lực thực hiện chính sách tốt trước hết đội ngũcán bộ quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, tại các
Trang 31CSGDĐH phải không ngừng học tập, rèn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ, về
kỹ năng và năng lực tin học, ngoại ngữ cũng như phẩm chất chính trị, tư
tưởng đạo đức
Ba là, điều kiện cơ sở vật chất cho quá trình thực hiện chính sách hợp
tác quốc tế về GDĐH Điều kiện cơ sở vật chất là một trong những yếu tố quan trọng cho quá trình thực hiện chính sách Trong thực tế, do chỉ thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền phổ biến chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với chủ
thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên
Bốn là, sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng thụ hưởng chính sách là đội
ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên ở nước ta và các đối tượng liên quan Do vậy, một chính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế được sự ủng hộ, đồng tình của đối tượng thụ hưởng chính sách là đội ngũ các nhà nghiên cứu
và sinh viên thì chính sách đó mới có hiệu quả
Trang 32Tiểu kết chương
Hoạt động hợp tác quốc tế trong GDĐH là một trong những nội dung quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực của đất nước, giúp nguồn nhân lực của nước ta tiếp kiện với những kiến thức, công nghệ tiên tiến của các nước trên thế giới Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, định hướng và chỉ đạo kịp thời công tác hợp tác quốc
tế về giáo dục đào tạo trong từng giai đoạn Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là đưa chính sách ấy vào thực tiễn cuộc sống để đạt được mục tiêu xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có năng lực chuyên môn giỏi, có đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với những lĩnh vực mà Việt Nam còn thiếu và chưa mạnh trong đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế - xã hội Chương 1 của luận văn đã khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH như các khái niệm về chính sách công, chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH cũng như thực hiện chính sách này Nội dung của chính sách thể hiện quan hai nội dung quan trong là hợp tác về đào tạo trình độ đại học và hợp tác
về nghiên cứu khoa học Các bước thực hiện hiện chính sách được trình bày theo quá trình gồm 07 bước, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ
VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC
2.1 Thực trạng hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc
2.1.1 Khái quát về giáo dục đại học Việt Nam và Hàn Quốc
2.1.1.1 Tổng quan về giáo dục đại học Việt Nam
Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng
về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục (2013-2018) của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có đánh giá kết quả đổi mới GDĐH và sau đại học
Theo đó, về quy mô, mạng lưới, cơ cấu ngành nghề: Đã xây dựng được mạng lưới các CSGDĐH gồm 236 trường đại học, học viện (không tính các trường thuộc khối quốc phòng - an ninh) trong đó bao gồm 171 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm [6]
Đối với nhóm trường sư phạm và đào tạo giáo viên, hiện nay có 58 trường đại học, 57 trường cao đẳng, 40 trường trung cấp có ngành đào tạo giáo viên (trong đó có 14 trường đại học sư phạm, 33 trường cao đẳng sư phạm và 02 trường trung cấp sư phạm) [6]
Theo bảng xếp hạng đại học xuất sắc nhất thế giới QS top 1000 thì Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (701-750); Đại học Quốc gia Hà Nội (801-1000) Còn theo bảng xếp hạng đại học ở Châu Á (top 350): Đại học Quốc gia Hà Nội (139); Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (142);
Trang 34Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (thuộc nhóm 291-300), Trường Đại học Cần Thơ (thuộc nhóm 301-350) và Đại học Huế (thuộc nhóm 351-400) [6]
Về phát triển ngành đào tạo: trên cơ sở khảo sát, dự báo nhu cầu đào tạo, các cơ sở đào tạo đã có sự điều chỉnh về cơ cấu ngành nghề; nhiều trường
đã tập trung vào mở mới và nâng cao chất lượng các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, sức khỏe và du lịch là những ngành đem lại nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp ở trong nước cũng như việc dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN, số ngành
mở mới ở trình độ đại học là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa
học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật, số liệu cụ thể tại (Phụ lục - Biểu 2.1)
Về mục tiêu, chương trình, phương pháp: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư hướng dẫn và chỉ đạo các trường đổi mới công tác xây dựng CTĐT, trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo
Hầu hết các CSGDĐH đã tích cực rà soát, điều chỉnh, đổi mới CTĐT theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống GDĐH, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động Đào tạo kết hợp với doanh nghiệp được xem là một yêu cầu đột phá của nhiều trường trong các hoạt động xây dựng chương trình giảng dạy, thực tập, kiến tập…
Các CSGDĐH đã tích cực, chủ động đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng ứng dụng và thực hành, chú trọng đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội; quan tâm hơn đến phát triển các kỹ năng mềm, hoạt động ngoại khóa giúp sinh viên
Trang 35phát triển năng khiếu và tính sáng tạo, chủ động hội nhập và chấp nhận cạnh tranh Nhiều cơ sở đào tạo phát triển CTĐT theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế: CDIO, POHE, chương trình tiên tiến, chương trình PFIEV, chương trình chất lượng cao và các chương trình liên kết quốc tế khác; bước đầu rà soát CTĐT tiếp cận chuẩn AUN-QA
Đồng thời báo cáo cũng chỉ rõ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai chương trình tiên tiến, chất lượng cao của một số nước phát triển, giảng dạy hoàn toàn hoặc một phần bằng ngoại ngữ (Tiếng Anh là chủ yếu) để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và HNQT Nhiều cơ sở đào tạo đã triển khai các CTĐT chất lượng cao, chương trình tiên tiến này
Theo (Phụ lục - Biểu 2.2) tính đến tháng 6/2018, có 117 CSGDĐH
được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng bởi các tổ chức kiểm định trong nước và 06 CSGDĐH được công nhận theo tiêu chuẩn đánh giá của Hội đồng Cấp cao về đánh giá nghiên cứu và GDĐH Pháp (HCERES) và Mạng lưới đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA) Ngoài ra, có 112 CTĐT đại học đã được đánh giá và công nhận, trong đó có 08 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước; 104 CTĐT được đánh giá ngoài và công nhận bởi các tổ chức kiểm định quốc tế, 16 chương trình đánh giá theo chuẩn của Uỷ ban Bằng Kỹ sư Pháp (CTI); 2 chương trình đánh giá theo chuẩn của Hội đồng Kiểm định kỹ thuật và công nghệ, Hoa Kỳ (ABET); 6 chương trình đánh giá theo chuẩn của Hội đồng Kiểm định các trường và CTĐT về kinh doanh, Hoa Kỳ (ACBSP) [6]
Về phát triển đội ngũ giảng viên, năm học 2016-2017, tổng số giảng viên trong các trường đại học là 72.792 người , tăng 4,6% so với năm học 2015-2016, trong đó giảng viên có trình độ tiến sĩ là 16.514 (tăng 21,4%) và
Trang 36thạc sĩ là 43.065 (tăng 6,6%) Số lượng giảng viên trong các trường cao đẳng
sư phạm hiện này là 3.388 người trong đó giảng viên có trình độ Tiến sĩ là
115 người; Thạc sĩ là 2.187 người [6], cụ thể tại (Phụ lục - Biểu 2.3)
Số lượng nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp đã được nghiệm thu năm 2016 là 274 nhiệm vụ Các nhiệm vụ này đã thu hút gần 3.000 cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tham gia, đào tạo được 312 thạc sĩ, hỗ trợ đào tạo
77 tiến sĩ, đã xuất bản 36 đầu sách tham khảo và chuyên khảo, công bố 594 bài báo khoa học trên các tạp chí trong nước và quốc tế được công bố, 115 sản phẩm ứng dụng là quy trình kỹ thuật, sản phẩm phục vụ sản xuất và đời sống, phát triển ngành và địa phương Tính đến năm học 2016-2017 đã có 491 nhóm giảng dạy - nghiên cứu được thành lập tại các cơ sở đào tạo, trong đó
cơ sở đào tạo có nhiều nhóm giảng dạy – nghiên cứu nhất là: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (127 nhóm), tiếp đến là các trường: Đại học Tây Nguyên (42 nhóm), Đại học Đà Nẵng (36 nhóm), Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên (30 nhóm), Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh (24 nhóm), Đại học Quốc gia Hà Nội (23 nhóm) [6]
Đến hết năm học 2016-2017, có 23 CSGDĐH công lập được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm tự chủ đổi mới cơ chế hoạt động theo quy định của Nghị quyết, trong đó Trường ĐH Trà Vinh là cơ sở đại học trực thuộc địa phương đầu tiên thực hiện thí điểm
Tuy nhiên, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ sở pháp lý về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ nên việc triển khai còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất; một số nội dung cam kết của Chính phủ (theo tinh thần của Nghị quyết 77) chưa được thực hiện (cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, hỗ trợ lãi suất vay) gây khó khăn cho nhiều CSGDĐH Tự chủ chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học và trách nhiệm giải trình xã hội
Trang 37Tính đến hết tháng 4/2017, trong toàn hệ thống GDĐH có 169 trường công lập chỉ có 58 cơ sở thành lập hội đồng trường, chiếm 34,3% tổng số CSGDĐH công lập
Tuy nhiên, ngay cả những cơ sở đã thành lập thì nhiều Hội đồng trường vẫn chưa có thực quyền của một tổ chức quản trị, đại diện cho quyền sở hữu nhà nước để quyết định những vấn đề lớn như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, phương hướng hoạt động… của nhà trường Trong tổng số
23 trường đại học đã được tự chủ theo Nghị quyết 77 vẫn còn 6 trường chưa
có hội đồng trường
Đã có 35 chương trình tiên tiến ở 23 cơ sở đào tạo; 16 chương trình kỹ
sư chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Cộng hoà Pháp ở 04 cơ sở đào tạo; 50 CTĐT theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp (POHE) và gần 200 chương trình chất lượng cao ở các cơ sở khác Ngoài ra, các trường đại học còn có hơn
500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế với các trường đại học ở các nước trên thế giới
500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế: Các CTĐT kỹ sư chất lượng
cao, CTĐT kỹ sư, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến được nhiều trường
đại học quan tâm phát triển Tới nay đã có 35 chương trình tiên tiến ở 23 cơ sở
đào tạo; 16 chương trình kỹ sư chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Cộng hoà Pháp ở 04 cơ sở đào tạo; 50 CTĐT theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp (POHE) và gần 200 chương trình chất lượng cao ở các cơ sở khác Ngoài ra, các trường đại học còn có hơn 500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế với
các trường đại học ở các nước trên thế giới [6]
945 nhóm nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát từ 142/271 trường đại học,
hiện nay trong hệ thống các trường đại học đã hình thành 945 nhóm nghiên cứu, một trường đại học có trung bình 7 nhóm nghiên cứu Theo Bộ Giáo dục
Trang 38và Đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước Việc triển khai đào tạo chất
lượng cao trình độ đại học không đồng đều, chủ yếu tập trung ở những trường đại học lớn trong khi các trường đại học do địa phương quản lý còn chậm
được triển khai [6]
2.1.1.2 Tổng quan về giáo dục đại học Hàn Quốc
Vào năm 1945, sau khi giành được độc lập, chính phủ Hàn Quốc đã quyết định tập trung vào giáo dục để có một nền tảng vững chắc cho tương lai Thời điểm đó chỉ có 7800 sinh viên theo học hệ đại học nhưng tới nay con
số đó đã lên tới 3,2 triệu sinh viên theo học hệ đại học và 326.000 sinh viên theo học hệ sau đại học
Theo số liệu thống kê năm 2010, Hiện tại hệ thống các trường đại học ở Hàn Quốc có 411 trường đại học, trong đó có 179 trường đại học, 145 trường cao đẳng, 40 trường cao học, 20 trường đại học đào tạo từ xa, 11 trường đại học công nghiệp, 10 trường đại học sư phạm và 6 trường đại học khác
Mục tiêu của bậc đào tạo đại học là nghiên cứu và giảng dạy các lí luận sâu sắc của học thuật cần thiết cho sự phát triển của quốc gia và xã hội nhân loại và các phương pháp ứng dụng chính xác và quảng đại, hướng đạo nuôi dưỡng nhân cách chủ đạo, số năm học bao gồm hệ 4 năm và hệ 6 năm Ngành
y, đông y, nha khoa là hệ 6 năm, cụ thể tại (Phụ lục - Biểu 2.4)
Các quá trình cấp học vị bao gồm trên 30 chuyên ngành như văn học, luật, tôn giáo học, chính trị học , kinh tế học, kinh doanh, hành chính, giáo dục, thư viện, khoa học tự nhiên , công nghệ, nha khoa, dược học, hộ lý, nông học, thú ý, thuỷ sản, mỹ thuật, âm nhạc Để tốt nghiệp đại học thông thường cần đạt được đơn vị học trình là 140 đơn vị học trình Bằng cấp học vị sẽ được trao cho những người theo học các quá trình theo quy định của từng trường
Trang 39Ở Hàn Quốc từ nhà nước cho đến các bậc phụ huynh đều rất quan tâm
và coi trọng việc học của con cái Từ khi đi học mẫu giáo bố mẹ đã xác định đại học là con đường duy nhất Tại trường học, trang thiết bị phòng học, cơ sở
hạ tầng hiện đại mọi thứ đều sẵn sàng để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của học sinh Chất lượng giáo viên cũng có trình độ cao được tuyển chọn một các kỹ lưỡng từ các trường sư phạm hàng đầu
Vị trị các trường Đại học của Hàn Quốc trên bảng đánh giá chất lượng Quốc tế khá ấn tượng Rất nhiều trường đại học Hàn Quốc đã gây dựng được chất lượng và uy tín của mình trên toàn cầu Trong đó có thể kể đến các trường Đại học Quốc gia Seoul xếp thứ 13 ở Châu Á và thứ 124 trên thế giới ( theo xếp hạng của THES) Ngoài ra Hàn Quốc còn có các trường lừng danh khác như: ĐH Chungnam, ĐH Dongguk, ĐH Pusan, ĐH Chunbuk Ngoài ra, còn nhiều trường liên kết cấp visa thẳng 100% tạo điều kiện cho sinh viên
ngoại quốc theo học, cụ thể tại (Phụ lục - Biểu 2.4)
Đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học hùng mạnh cùng với cơ sở vật chất hiện đại chính là 1 trong những lý do đưa nền giáo dục Hàn Quốc trở nên hùng mạnh như vậy Các cơ sở vật chất tại Hàn Quốc đáp ứng đầy đủ nhu cầu nghiên cứu cho sinh viên và nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập Tại Hàn Quốc có khoảng 236.000 nhà nghiên cứu toàn thời gian, con số này còn cao hơn cả các nước Châu Âu như Pháp (21.000 người) và Anh (175.000 người) Có nhiều trung tâm nghiên cứu có quy mô lớn và uy tín cao, trong đó tiêu biểu là Viện nghiên cứu tiên tiến KIAST – một trung tâm có tên tuổi trên thế giới Trên đây là những điểm nổi bật trong giáo dục của Hàn Quốc, chắc chắn những con số ấn tượng trên càng kiến bạn tự tin
về quyết định du học Hàn Quốc của mình
2.1.2 Thực trạng hợp tác giáo dục đại học
Trang 40Hợp tác về giáo dục là một trong những nội dung quan trọng để Việt Nam và Hàn Quốc tiến tới tầm “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” như hai nước đã từng đưa ra tuyên bố chung vào tháng 8-2001 Việt Nam - Hàn Quốc đã ký kết những hiệp định như Hiệp định Hợp tác Giáo dục tháng 03/2000 và Hiệp định Hợp tác Giáo dục và đào tạo ngày 31/05/2005 Đó là
cơ sở pháp lý nhằm tăng cường hơn nữa về hợp tác giáo dục đào tạo giữa hai nước Những năm qua, hợp tác giáo dục giữa hai nước thể hiện ở những nội dung như: trao đổi tài liệu thông tin; cử cán bộ giảng dạy, giáo sư Việt Nam sang nghiên cứu tại Hàn Quốc; hỗ trợ dạy nghề; cấp học bổng… Tổ chức hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) đã cử 1042 thực tập sinh, 28 chuyên gia, 02 giáo viên Taekwondo và 76 tình nguyện viên sang Việt Nam, thường xuyên mời giáo viên Việt Nam sang giảng dạy tại 04 trường đại học có khoa tiếng Việt Hàn Quốc đã nhận 25 nghìn lượt sinh viện và tu nghiệp sinh Việt Nam sang Hàn Quốc đào tạo và nâng cao trình độ [7]
Tại Hàn Quốc, Khoa tiếng Việt của trường Đại học Ngoại Ngữ Hàn Quốc có từ rất sớm, năm 1967 Đến năm 1991, khi hai bên xúc tiến mạnh
mẽ việc thiết lập mối bang giao cũng chính là thời điểm nhu cầu học tiếng Việt ở Hàn Quốc tăng nhanh Đáp lại, năm 1993, ngành Hàn Quốc học và tiếng Hàn cũng được đưa ra vào chương trình giảng dạy của các trường đại học Việt Nam Gần đây, xuất phát từ việc rất nhiều các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam, những phiên dịch và nhân viên thông thạo tiếng Việt ngày càng gia tăng Trước đây Hàn Quốc chỉ có khoa tiếng Việt tại Trường Đại Học Ngoại ngữ Hàn Quốc Đến nay, tại Seoul đã có thêm 2 trường Đại học mở khoa Việt Nam học và 2 trường Đại học khác tiến hành đào tạo tiếng Việt cho các sinh viên thuộc khoa Thương mại Châu Á Ở Việt Nam cũng đang nổi lên phong trào học tiếng Hàn rất mạnh mẽ [7] [12] [13]
(1) Tăng cường và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học