1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam

226 374 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Khánh Tường
Người hướng dẫn PGS.TS. Nghiêm Sỹ Thương, TS. Nguyễn Văn Nghiến
Trường học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục
Thể loại Luận án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng PGS.TS Nghiêm Sỹ Thương, TS Nguyễn Văn Nghiến giảng viên Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án, sự khuyến khích, động viên của thầy đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án

Tiếp theo, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo của Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách Khoa Hà Nội và các thầy cô giáo của Đại học Kinh tế quốc dân, những người đã giảng dạy, phản biện chuyên đề, luận án, giúp tôi

có định hướng rõ ràng hơn trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của các thầy cô, cán bộ Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đối với tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án

Xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn !

Nghiên cứu sinh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, tài liệu, kết quả được nêu trong đề tài là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng, không trùng lắp hay sao chép bất cứ công trình khoa học nào đã công bố Các kết luận khoa học trong luận án là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tôi

Nghiên cứu sinh

NGUYỄN KHÁNH TƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC 5

1.1 HỆ THỐNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TƯ THỤC VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG 6

1.1.1 Sự hình thành và phát triển hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục 6

1.1.2 Vị trí và đặc điểm của đại học, cao đẳng tư thục trong hệ thống giáo dục của một quốc gia 13

1.1.3 Các nhân tố tác động đến hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục 20

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC 24

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hệ thống trường đại học cao đẳng 24 1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục 25

1.2.3 Nội dung cơ bản quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 27

1.2.4 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục 32

1.2.5 Các mô hình quản lý nhà nước về giáo dục đại học cao đẳng 36

1.3 XU HƯỚNG VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỰC 38

1.3.1 Xu hướng phát triển khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục trên thế giới 38

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục ở một số nước 43

1.3.3 Bài học kinh nghiệm trong vai trò quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục tại Việt Nam 58

1.4 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 61

1.5 TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 64

Chương 2: CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

Trang 4

KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC Ở VIỆT NAM 65

2.1 THỰC TRẠNG KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC TẠI VIỆT NAM 65

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 65

2.1.2 Thực trạng của khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 77

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC TẠI VIỆT NAM 92

2.2.1 Về công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 92

2.2.2 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho các trường đại học cao đẳng tư thục 96

2.2.3 Cơ chế chính sách đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục tại Việt Nam 108

2.2.4 Về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm định chất lượng của nhà nước về hoạt động của khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 115

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC 120

2.3.1 Những thành tựu và kết quả đạt được 120

2.3.2 Những vấn đề tồn tại cần tháo gỡ 121

2.4 TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 123

Chương 3: HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC Ở VIỆT NAM 125

3.1 VAI TR QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐẠI HỌC-CAO ĐẲNG TƯ THỤC TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN 2030 125

3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện vai trò quản lý của nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 125

3.1.2 Các nguyên tắc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hệ thống đại học cao đẳng tư thục 134

3.1.3 Đổi mới nhận thức về vai trò và địa vị pháp lý của trường đại học-cao đẳng tư thục 136

3.1.4 Đổi mới nhận thức về vai trò của thị trường định hướng XHCN đối với khu vực đại học cao đẳng tư thục 138

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC TẠI VIỆT NAM 139 3.2.1 Hoàn thiện hệ thống thể chế quy phạm pháp luật phục vụ quản lý nhà

Trang 5

nước đối với các trường đại học cao đẳng tư thục 139

3.2.2 Đổi mới mô hình quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 148

3.2.3 Phân định chức năng quản lý nhà nước với chức năng quản lý nhà trường, chức năng cung cấp dịch vụ giáo dục 154

3.2.4 Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác đào tạo, công tác giảng viên và công tác tài chính 157

3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá hoạt động của khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục 167

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN THÀNH CÔNG CÁC GIẢI PHÁP 174

3.3.1 Kiến nghị đối với Quốc hội và Chính phủ 174

3.3.2 Kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 179

3.3.3 Kiến nghị đối với các trường đại học cao đẳng tư thục 180

3.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 181

KẾT LUẬN 182

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 184 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐH-CĐDL Đại học cao đẳng dân lập

ĐH-CĐNCL Đại học cao đẳng ngoài công lập

GATS Hiệp định chung về thương mại

trong lĩnh vực dịch vụ

General Agreement

on Trade in Services GDĐH-CĐ Giáo dục đại học cao đẳng

GDĐHCĐTT Giáo dục đại học cao đẳng tư thục

HDI Chỉ số phát triển con người Human Development

Index HĐQT Hội đồng quản trị

HTĐHCĐTT Hệ thống đại học cao đẳng tư thục

HTGDĐH-CĐ Hệ thống giáo dục đại học cao đẳng

ICT Công nghệ thông tin và truyền

thông

Information Technology and Communications

Monetary Fund KĐCLGD Kiểm định chất lượng giáo dục

Organization XHH GD Xã hội hóa giáo dục

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Xây dựng chiến lược quy hoạch hệ thống các trường ĐH-CĐ 27

Bảng 1.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 28

Bảng 1.3 Cơ chế chính sách đối với khu vực GDĐHCĐTT 30

Bảng 1.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với khu vực GDĐHCĐTT 31

Bảng 1.5 Mô hình quản lý trường 45

Bảng 1.6 Các chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá và xếp hạng đại học do các nhóm truyền thông thực hiện 49

Bảng 1.7 Phân loại cách tuyển sinh đại học trên thế giới 57

Bảng 2.1 Số liệu thống kê giáo dục đại học cao đẳng 67

Bảng 2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về GDĐH-CĐ trước và sau đổi mới 69

Bảng 2.3 Một số nội dung quản lý của trường ĐH-CĐTT có thẩm quyền quyết định 70

Bảng 2.4 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học-cao đẳng tư thục 71

Bảng 2.5 Số lượng các trường ĐH-CĐ từ năm 1981 đến 2011 77

Bảng 2.6 Cơ cấu loại hình trường ngoài công lập Việt Nam (2008) 79

Bảng 2.7 Giảng viên các trường đại học, cao đẳng 82

Bảng 2.8 Trình độ giảng viên của một số trường đại học, cao đẳng ngoài công lập năm học 2011 - 2012 83

Bảng 2.9 Thống kê ngành nghề đào tạo từ 1998 đến 2008 84

Bảng 2.10 Thống kê nhóm ngành nghề đào tạo năm 2011-2012 85

Bảng 2.11 Diện tích thuê, mượn của một số trường đại học dân lập và tư thục 87

Bảng 2.12 Kinh phí đầu tư cho giáo dục và đào tạo của Việt Nam so với một số nước 88

Bảng 2.13 Bảng tổng hợp số lượng trường đại học, cao đẳng năm 2012 94

Bảng 2.14 Mạng lưới đại học, cao đẳng NCL theo vùng, lãnh thổ năm 2012 94

Bảng 2.15 Công tác quy hoạch hệ thống ĐH-CĐ 96

Trang 8

Bảng 2.16 Kết quả khảo sát về tổ chức bộ máy đối với đại học-cao đẳng tư

thục 100

Bảng 2.17 Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học cao đẳng 102

Bảng 2.18 Khảo sát công tác tuyển sinh ĐH-CĐ 104

Bảng 2.19 Chi ngân sách nhà nước cho GD ĐT và giáo dục đại học 107

Bảng 2.20 Tỷ lệ sinh viên trường công lập và trường ngoài công lập 109

Bảng 2.21 Tỷ lệ dân số, diện tích, GDP, số sinh viên, trường đại học, cao đẳng và cán bộ giảng viên mỗi vùng so với cả nước năm 2005 110

Bảng 2.22 Vai trò của nhà nước trong kiểm tra giám sát 116

Bảng 2.23 Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học 119

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu phát triển giáo dục đại học cao đẳng Việt Nam đến năm 2020 132

Bảng 3.2 Thống kê mô tả một số chỉ tiêu cần dự báo 133

Bảng 3.3 Kết quả dự báo số lượng sinh viên ngoài công lập đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 134

Bảng 3.4 Đổi mới về quản lý nhà nước trong giáo ĐH-CĐ 137

Bảng 3.5 Đổi mới hệ thống đại học, cao đẳng tư thục 142

Bảng 3.6 Tầm nhìn về quản lý giáo dục đại học 153

Bảng 3.7 Đổi mới về tổ chức quản lý giáo dục ĐH-CĐTT 156

Bảng 3.8 Kết quả dự báo số lượng giảng viên ngoài công lập đến năm 2020 162

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam 6

Hình 1.2 Hệ thống giáo dục Đại học – Cao đẳng của Việt Nam 14

Hình 1.3 Ảnh hưởng của những thay đổi trong nhu cầu về các dịch vụ giáo dục 19

Hình 1.4 Quản lý nhà nước với hệ thống các trường tư thục 32

Hình 2.1 Số lượng sinh viên đại học cao đẳng qua các năm 68

Hình 2.2 Số trường ĐH-CĐ giai đoạn 1981-2011 78

Hình 2.3 Cơ cấu các trường ĐH-CĐ năm 2008 79

Hình 2.4 Tổng số giảng viên giai đoạn 2000-2011 82

Hình 2.5 Thống kê nhóm ngành nghề đào tạo 85

Hình 2.6 Cơ cấu tổ chức trường ĐH tư thục tại Việt Nam 90

Hình 2.7 Cơ cấu các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập 95

Hình 2.8 Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2000-2007 97

Hình 2.9 Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2008-2011 98

Hình 2.10 Số lượng và phân loại sinh viên cao đẳng theo loại hình 2001-2011 109

Hình 2.11 Số lượng và phân loại sinh viên đại học theo loại hình 2001-2011 109

Hình 2.12 Số lượng và phân loại giảng viên theo giới tính 2000-2007 111

Hình 2.13 Số lượng và phân loại giảng viên theo giới tính 2008-2011 111

Hình 2.14 Quy trình quản lý và kiểm định chất lượng 118

Hình 3.1 Xu hướng vận động của một số chỉ tiêu cần dự báo 133

Hình 3.2 Sơ đồ mô hình quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT 149

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết, mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Đối với bất kỳ nền kinh tế thị trường nào, khu vực tư nhân đóng vai trò không thể thiếu và ngày càng quan trọng vì nó cho phép phát huy hết mọi nguồn lực trong

xã hội, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của xã hội và do đó tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững trong bối cảnh nguồn lực là hữu hạn

Sự tham gia của khu vực tư nhân diễn ra không chỉ trong phạm vi các hoạt động sản xuất kinh doanh đơn thuần mà còn lan truyền sang các hoạt động khác như

an ninh, văn hóa-nghệ thuật và giáo dục Ở các quốc gia trên thế giới, trong hệ thống giáo dục và đào tạo từ lâu đã ra đời, tồn tại và phát triển một hệ thống các trường đại học cao đẳng tư thục, khu vực này đã đóng góp to lớn vào quá trình phát triển của cả hệ thống đại học cao đẳng và trở thành một trong các nguồn cung cấp nhân lực có trình độ cao cho nền kinh tế

Ở Việt Nam hệ thống các trường đại học cao đẳng ngoài công lập được hình thành và phát triển từ những năm 1990 và đã có những đóng góp rất quan trọng cho

sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà Thực hiện chủ trương xã hội hóa sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục và đào tạo đã sớm triển khai đa dạng hóa các loại hình trường như bán công, dân lập, tư thục ở các cấp học và trình

độ đào tạo (gọi chung là cơ sở GD-ĐT ngoài công lập) nhằm đáp ứng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo điều kiện và cơ hội học tập và học tập suốt đời cho mọi người dân Các cơ sở GD-ĐT ngoài công lập cùng song song hoạt động với các cơ sở GD-

ĐT công lập và có nghĩa vụ, quyền lợi bình đẳng như nhau

Tuy nhiên ngoài những thành tựu có thể thấy khu vực này còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn toàn đáp ứng được những kỳ vọng của xã hội Hệ thống Giáo dục đào tạo đại học cao đẳng ngoài công lập trong đó có khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục nói (GDĐHCĐTT) chưa bắt kịp được sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế Nhiều trường có quy mô nhỏ, lĩnh vực đào tạo hẹp (chủ yếu là các ngành đào tạo về quản trị kinh doanh, tin học, ngoại ngữ), nhiều trường còn hoạt động một cách tạm bợ với cơ sở vật chất - kỹ thuật nghèo nàn, đội ngũ giáo viên cơ hữu mỏng dẫn đến chất lượng đào tạo chưa đạt chuẩn Một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến hệ quả

trên chính là công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống này

Mặc dù được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các bộ ngành có liên quan Nhưng nhiều nhà quản lý và các chuyên gia đều nhận thấy công tác quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT vẫn còn nhiều bất cập khiến cho hoạt động của

Trang 11

khu vực này chưa tương xứng với mong muốn của Chính phủ, cộng đồng và của

người dân Xuất phát từ thực tiễn này, đề tài “Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam” đã được hình thành với mục tiêu:

phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT ở Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để đạt được mục tiêu này, nội dung nghiên cứu chính của đề tài bao gồm:

- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản đối với hệ thống giáo dục đại học cao đẳng tư trong một quốc gia Nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm

- Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT ở Việt Nam, các nhân tố mức độ ảnh hưởng của chúng đến hoạt động của khu vực này trong bối cảnh hội nhập quốc tế

- Kiến nghị một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT để khu vực này có thể hoạt động xứng đáng với kỳ vọng của

xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Với những nội dung nghiên cứu trên, đề tài “Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam” là một công trình nghiên cứu

cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo

dục của Đảng và Nhà nước

Thông qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước và đề xuất được giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đóng góp một phần cho các nhà hoạch định chiến lược, các nhà hoạch định chính sách giáo dục đại học trong việc xây dựng quy hoạch phát triển khu vực GDĐHCĐTT ở nước ta, ban hành các chính sách và văn bản pháp lý có liên quan cho sự hoạt động nhịp nhàng của khu vực này, trên cơ sở đó giám sát hiệu quả hoạt động của toàn khu vực

Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một đóng góp hữu ích cho các trường trong khu vực GDĐHCĐTT để xây dựng và hoàn thiện quy chế hoạt động cho trường đại học, cao đẳng tư thục Xây dựng mô hình phù hợp cho các trường đại học, cao đẳng tư thục phù hợp với từng ngành nghề đào tạo

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục hiện nay ở Việt Nam Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước ở lĩnh vực này, nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu để tìm ra nguyên nhân trên cơ sở đó có những giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học

Trang 12

cao đẳng tư thục

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế học, luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng ngoài công lập nói chung và tư thục nói riêng về công tác quản lý nhà nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam

4 Phương pháp luận nghiên cứu

Để thực hiện được các nhiệm vụ đề ra, phương pháp luận nghiên cứu có thể được mô hình hóa như sau:

 Trong quá trình nghiên cứu, luận án còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích thống kê suy diễn, phương pháp tổng hợp quy nạp, phương pháp đối chiếu so sánh, các phương pháp kiểm định của thống kê học, hỗ trợ xử lý số liệu thông qua phần mềm EVIEWS 6.0 để tìm ra được các quan

Thu thập thông tin về thực trạng quản lý nhà nước đối với HTĐHCĐTT ở VN

Phân tích, đánh giátrên cơ sở đối chiếu

lý luận và thực tiễn

Nhận dạng điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của quản lý nhà nước đối với HTĐHCĐTT tại Việt Nam

Đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN đối với HTĐHCĐTT ở

Việt Nam

Trang 13

hệ tương tác ảnh hưởng của các nhân tố đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực đào tạo đối với khu vực đại học cao đẳng ngoài công lập (tư thục)

 Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát các nhà quản lý trong và ngoài ngành giáo dục như: Bộ GD ĐT, các trường đại học cao đẳng công lập, dân lập, tư thục, UBND các tỉnh thành phố, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp có sử dụng lao động trong phạm vi cả nước Sau đó sử dụng những công thức trong thống kê

mô tả với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS để tính toán một số chỉ tiêu nhằm tìm ra những điểm chung của các nhà quản lý trong công tác quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án đã có những đóng góp nhất định về ý nghĩa khoa học và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT Để từ đó giúp cho các nhà quản lý giáo dục, các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo nhằm đưa ra những quyết sách quản lý tốt hơn trong thời gian tới

 Ý nghĩa khoa học của u n án:

Thứ nhất: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ, bổ sung thêm vào

hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Thứ hai: Sử dụng các phương pháp thống kê với sự hỗ trợ của phần mền

SPSS để tính toán kết quả khảo sát, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Thứ ba: Xây dựng hàm hồi quy bằng phương pháp OLS với sự hỗ trợ của

phần mềm EVIEWS 6.0 để tính toán một chỉ tiêu chủ yếu, kết hợp với kết quả khảo sát làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp

 Ý nghĩa thực tiễn của u n án:

Thứ nhất: Đánh giá thực trạng tình hình hoạt động của khu vực giáo dục tư

Trang 14

thục Chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản

lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Thứ hai: Xây dựng mô hình quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại

học cao đẳng tư thục mang đặc thù của Việt Nam, có tham khảo mô hình của một số quốc gia phát triển trên thế giới

Thứ ba: Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục đại

học, cao đẳng tư thục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Có những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống này ở nước ta trong thời gian tới

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC

Trang 15

1.1 HỆ THỐNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TƯ THỤC VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

1.1.1 Sự hình thành và phát triển hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục

1.1.1.1 Khái niệm Trường Đại học tư thục

Bất kỳ quốc gia nào cũng cần có nguồn nhân lực được đào tạo để thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu mọi mặt ngày càng cao của người dân Hệ thống giáo dục quốc gia được hình thành nhằm đào tạo, huấn luyện và cung cấp cho xã hội các chuyên gia, nhà quản lý và thợ lành nghề cho các ngành và các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Xét theo bậc đào tạo, hệ thống giáo dục quốc gia bao gồm từ giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, trung học đến giáo dục đại học - cao đẳng và dạy nghề Nhìn chung một cách chính thống, hệ thống giáo dục ban đầu được hình thành và vận hành bởi các chính phủ Tuy nhiên, mầm mống ban đầu của hệ thống giáo dục này

là giáo dục tư nhân tự phát, trong các gia đình, các cộng đồng nhỏ Điều này xuất

phát từ yêu cầu sống còn của cuộc đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển của con người

Hình 1.1 Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam

Cùng với sự ra đời của nhà nước và sự phát triển của kinh tế xã hội, nhu cầu nhân lực ngày càng cao cả về mặt số lượng và chất lượng, giáo dục tư nhân tự phát không còn thích hợp và nhà nước cần phải nhận lãnh trách nhiệm hình thành và vận hành hệ thống giáo dục quốc gia để đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên do nguồn lực của các chính phủ là hữu hạn và nhu cầu nhân lực lại rất lớn nên sự tham gia chính thức của khu vực tư nhân là một tất yếu khách quan, kết quả là hệ thống giáo dục

NHÂN LỰC ĐƯỢC ĐÀO TẠO

Giáo dục trung học cơ sở và phổ thông

Giáo dục tiểu học

Giáo dục mầm non

NGƯỜI HỌC

Trang 16

quốc gia ngày nay được quản lý bởi chính phủ nhưng bao gồm cả khu vực nhà nước

và cả khu vực tư nhân

Trên thế giới hiện nay, căn cứ vào tiêu chí quyền sở hữu, sự góp vốn và vai trò của các sáng lập viên, người ta chia các trường đại học trên thế giới thành ba loại: trường đại học công lập, trường đại học tư thục và trường đại học do các tổ chức tôn giáo thành lập và quản lý Tại các quốc gia khác nhau, tùy thuộc điều kiện kinh tế,

xã hội và lịch sử của mỗi nước, tầm quan trọng của mỗi loại trường này trong hệ thống đào tạo quốc gia là rất khác nhau Tại nhiều quốc gia Châu Âu như Áo, Đức, Pháp, Thụy Sỹ hay Anh Quốc, các trường đại học tổng hợp hầu hết là công lập, song được hưởng một chế độ tự trị, tự quản rất cao Ngược lại, ở Hàn Quốc, Nhật Bản hay Hoa Kỳ, các trường đại học tư thục chiếm vai trò và tỷ trọng lớn hơn, nhiều trường đại học tư thục trong các quốc gia này có chất lượng hàng đầu thế giới Ở Hoa Kỳ, Châu Mỹ La tinh, và Philipines có những trường đại học được thành lập và quản lý bởi các tổ chức tôn giáo Ở các quốc gia khác, trong đó có cả các quốc gia đang phát triển, từ gần ba thập kỷ nay người ta đã cho phép thành lập các trường đại học tư thục

Ở nước ta, trường đại học tư thục là cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc gia, do cá nhân hoặc một nhóm cá nhân là công dân Việt Nam xin phép thành lập và tự đầu tư Trường đại học tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại các ngân hàng hoặc kho bạc nhà nước để giao dịch Trường đại học tư thục bình đẳng với trường đại học công lập, bán công, dân lập về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, của giảng viên và người học trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, tổ chức quá trình đào tạo, bao gồm tuyển sinh, dạy và học, thi, kiểm tra công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ Theo quan điểm của Đảng và nhà nước được quy định trong văn bản quy

phạm pháp luật có nêu “Trường đại học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn huy động từ ngoài nguồn ngân sách Nhà nước” [49, tr.1]

Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, trường tư thục là trường do cá nhân, nhóm cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội đầu tư xây dựng và nuôi dưỡng nó để hoạt động, nếu làm tường minh, tài sản của một trường tư thục thường thuộc nhiều dạng

sở hữu như: sở hữu tư nhân, sở hữu của cả cộng đồng nhà trường, sở hữu nhà nước (nếu có), ví dụ như là sở hữu tài sản do nhà nước đầu tư qua các chương trình xây dựng phòng thí nghiệm chuyên đề…

Ở các nước, các trường đại học tư thục lại chia thành hai loại, trường đại học

tư thục vì lợi nhuận - được tổ chức và hoạt động không khác các công ty đối vốn và

Trang 17

các trường đại học tư thục phi lợi nhuận, không được tổ chức như các công ty cổ

phần Tại các quốc gia có hệ thống đào tạo đại học tiên tiến như Hoa Kỳ, các trường đại học tư thục tuy được tổ chức và có tên gọi như các công ty, song là các công ty hay tổ chức bất vụ lợi, không vì mục đích lợi nhuận, không được chia lãi, vì thế trong điều lệ các trường tư thục loại đó không có khái niệm cổ đông, không chia cổ tức cho người góp vốn như tại các công ty cổ phần Sở dĩ có điều đó bởi pháp luật các quốc gia này chia công ty thành hai loại, có những công ty vì lợi nhuận (doanh nghiệp) và những công ty bất vụ lợi, hoạt động không vì lợi nhuận Cách thức tổ chức và chế độ thuế áp dụng cho hai loại công ty này rất khác nhau

Như vậy, từ các quan điểm và thông tin trên, một cách chung nhất có thể hiểu:

“Trường đại học tư thục là cơ sở đào tạo do các tổ chức hay cá nhân đứng ra thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất với nguồn kinh phí được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, hoạt động trong khuôn khổ luật pháp, nhằm đào tạo nhân lực cho

nhu cầu của xã hội với mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận”

1.1.1.2 Các đặc điểm nổi bật của trường tư thục

Khái niệm về trường tư thục thường được sử dụng một cách lỏng lẻo, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các nhà giáo dục cũng như người dân đôi khi sử dụng khái niệm này một cách không đồng nhất Tuy nhiên, nhìn chung, chúng ta có thể phân biệt khái niệm trường tư và trường công theo các tiêu chí sau đây: (1) Quyền sở hữu (Vốn bằng tiền và bằng hiện vật ban đầu khi thành lập trường); (2) Nguồn kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước (Có hay không có sự hỗ trợ về vốn của nhà nước); (3) Vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận; và (4) Địa vị pháp lý (theo văn bản pháp lý nào) và tư cách pháp nhân Phần sau đây sẽ làm rõ hơn các tiêu chí này

(1) Quyền sở hữu

Chúng ta đều biết rằng cốt lõi của kinh tế thị trường là quyền sở hữu Quyền được hưởng trực tiếp lợi tức từ vốn đầu tư sẽ thúc đẩy việc đầu tư vào các nhà máy hay cơ sở kinh doanh thương mại hoặc trường học, bệnh viện Quyền được hưởng thành quả lao động của bản thân sẽ thúc đẩy thị trường lao động và phân phối lợi nhuận Quyền chuyển nhượng tài sản là điều cần thiết cho việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Chỉ có thông qua sự chuyển nhượng này mọi loại quyền sở hữu mới

có thể đạt được giá trị sử dụng cao nhất của nó

Cơ sở pháp luật cho các loại hình khác nhau của quyền sở hữu bắt nguồn từ Hiến pháp Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới từ lâu đã thừa nhận quyền sở hữu tư nhân trên mọi phương diện của đời sống xã hội Ở nước ta trước năm 1992, Hiến pháp chỉ quy định hai thành phần cơ bản trong nền kinh tế quốc dân: (1) Kinh

tế quốc doanh đại diện cho quyền sở hữu toàn dân, và (2) Kinh tế tập thể Thời đó,

Trang 18

cùng tồn tại với thành phần kinh tế tập thể là các hoạt động hạn chế của thành phần kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Một bước ngoặt đã diễn ra trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, tháng 4/1992 Quốc hội nước ta đã thông qua Hiến pháp mới cho phép quyền sở hữu tư nhân, đồng thời tăng cường sự bảo hộ của nhà nước đối với sở hữu đó Hiến pháp đã xác lập ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước), sở hữu tập thể

- Thứ nhất: Sự công nhận chính thức của cơ quan luật pháp là tín hiệu cho các chủ cơ sở dạy nghề và đầu tư tư nhân biết rằng hoạt động kinh tế thông qua phương pháp dạy nghề được chính thức thừa nhận

- Thứ hai: Trên cơ sở của sự thừa nhận chính thức này, các cá nhân, tập thể muốn thành lập trường tư trong GDĐH-CĐ có thể dựa vào sự bảo vệ của luật pháp đối với các hoạt động giáo dục đào tạo

(2) Nguồn kinh phí hỗ trợ từ nhà nước

Thông thường các nước chỉ quy định hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Tuy nhiên, do sự cần thiết phải phục hồi và củng cố các quyền sở hữu tư nhân nên quyền sở hữu tư nhân đã được mở rộng có thể là một

hộ gia đình, một tổ chức xã hội, một tổ chức tôn giáo, một tổ chức đoàn thể Cũng

từ đó, tương ứng với hai hình thức sở hữu cơ bản này, trong giáo dục có hai khái niệm trường công và trường tư

Trường công được hỗ trợ hàng năm từ nguồn kinh phí của nhà nước, còn đối với trường tư việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách hầu như không có, nếu có chỉ thông qua các dự án, các chương trình theo đơn đặt hàng của nhà nước

Sự cần thiết của loại hình trường công, hay nói cách khác, sự cần thiết tài trợ của xã hội dưới danh nghĩa nhà nước đối với giáo dục đào tạo, xuất phát từ các đặc tính quan trọng sau đây của giáo dục trong nền kinh tế thị trường:

- Đặc tính phương tiện sản xuất có tính chất vô hình Trong giáo dục đào tạo

phương tiện sản xuất có tính vô hình, chứ không phải hàng hóa dùng thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng Điều này buộc người được giáo dục đào tạo phải có ý thức đầu tư

- Đặc tính của hàng hóa chung (hàng hóa công cộng) hay lợi ích tỏa ra Lợi

Trang 19

ích của giáo dục đào tạo không chỉ thu gọn vào thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người được giáo dục đào tạo, mà còn thỏa mãn lợi ích của toàn xã hội hay ít nhất một số người khác kể cả những người không muốn được giáo dục đào tạo (không chịu đi học)

- Đặc tính không thể tăng năng suất lao động của người làm thầy giáo như

tăng năng suất lao động sản xuất các loại hàng hóa thông thường khác

Tuy nhiên, sự cần thiết của loại hình trường tư, tức là sự tham gia của khu vực

tư nhân trong giáo dục đào tạo cũng là một tất yếu khách quan vì:

- Nhà nước không thể có đủ mọi nguồn lực để trực tiếp đảm đương việc cung cấp tất cả các hàng hóa công cộng (trong đó có giáo dục đào tạo), trong khi khu vực

tư nhân lại có sẵn những nguồn lực nhất định cần được khai thác

- Ngoài ra, mức độ hiệu quả của khu vực tư nhân trong nhiều trường hợp được coi là cao do các động lực cá nhân về lợi nhuận, danh tiếng cũng như lòng tự trọng, và cả ý thức tuân thủ pháp luật [37]

(3) Trường tư vì ợi nhu n và phi ợi nhu n

Trong nền kinh tế thị trường, trường tư là một thực thể trên thị trường, nó phải đầu tư vốn và tài sản để hoạt động giáo dục đào tạo nhằm mục đích sinh lợi Vì vậy điều kiện cơ bản đầu tiên của việc thành lập trường tư là người hay tập thể lập trường tư phải có tài sản Tài sản đưa vào để lập trường tư có thể là: (1) Vốn bằng tiền; (2) Tài sản bằng hiện vật dùng để đầu tư ban đầu khi lập trường Đương nhiên các tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đứng ra lập trường tư Như vậy với tư cách là một người kinh doanh, người lập trường tư phải đầu tư một

số tài sản, thuê mướn, sử dụng sức lao động để tiến hành hoạt động giáo dục đào tạo, đồng thời thực hiện việc thu học phí nhằm thu hồi vốn đã đầu tư, trang trải các chi phí đào tạo và có lãi

Tuy nhiên trên thực tế nhiều khi mục tiêu của đầu tư giáo dục không hẳn là sinh lợi Nhiều cá nhân, đặc biệt là các hiệp hội, thành lập trường tư không nhằm mục đích “kiếm lời” mà nhằm mục đích nhân đạo, với mong muốn đơn thuần là truyền thụ sự giáo dục cho mọi người Đối với các loại hình trường tư không kinh doanh này, thông thường người ta thêm thuật ngữ “phi lợi nhuận” (non-profit) hoặc

“không vụ lợi” (not-for-profit) Đương nhiên không vụ lợi không có nghĩa là không

có lợi nhuận Loại hình trường tư này hoạt động không lấy mục tiêu lợi nhuận làm trọng và số chênh lệch giữa toàn bộ nguồn thu trừ đi chi phí cần thiết của giáo dục đào tạo, được nhập vào “quỹ hội” (quỹ chung của trường) Toàn bộ quỹ này chỉ dùng để phát triển giáo dục đào tạo của trường mà thôi [37]

Một cách tiếp cận khác để phân biệt trường công và trường tư là dựa vào cách

tính thuế thu nhập Nếu một trường do một người hoặc một gia đình thành lập và

Trang 20

thu lợi, thì nó giống như một doanh nghiệp tư nhân, nếu một trường do một nhóm người thành lập và thu lợi thì đây chính là một công ty trách nhiệm hữu hạn Theo

chính sách Nhà nước thì loại trường theo đuổi mục tiêu lợi nhuận phải nộp thuế thu

nhập doanh nghiệp trước khi chia lãi cho nhà đầu tư Loại thứ hai là loại trường phi lợi nhuận, loại trường này "lợi nhuận" nếu có không phân phối cho người góp vốn,

mà được dùng để tái đầu tư mở rộng giáo dục đào tạo Và theo chính sách Nhà nước thì loại trường này không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

(4) Địa vị pháp ý của trường tư thục

ĐH-CĐTT ở bất cứ một quốc gia nào cũng là một chủ thể pháp luật độc lập Muốn tham gia vào các quan hệ xã hội, trường phải có một địa vị pháp lý nhất định để xác định ranh giới của nó trong mối quan hệ với các chủ thể pháp luật khác “Địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong hoạt động của mình”

Như vậy, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật chính là “áo khoác pháp lý” cho nó, giúp khách hàng, đối tác của chủ thể đó nhận dạng được mình sẽ, đang quan

hệ với loại chủ thể nào, quyền, nghĩa vụ của chủ thể đó ra sao để rồi họ quyết định

có tiếp tục có quan hệ với chủ thể đó hay không Việc thiết kế một “áo khoác pháp lý” cho tất cả các chủ thể pháp luật trong đó có ĐH-CĐTT khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật là hết sức cần thiết

“Áo khoác pháp lý” của trường đại học cho phép sinh viên, đối tượng quan trọng nhất của bất cứ một trường đại học nào biết được nơi mà họ sắp ghi danh có quy chế pháp lý thế như nào, đây là cơ sở đào tạo vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận; quyền lợi của họ được bảo vệ ra sao; để từ đó họ có thể lựa chọn cơ sở đào tạo thích hợp Tương tự như vậy, đối với bản thân những người chủ sở hữu của ĐH-CĐTT,

họ cũng cần biết nếu theo mô hình lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì trường đại học của họ có những lợi thế hoặc bất lợi gì Đối với các cơ quan quản lý hay đối tác của trường tư thục, việc biết đại học này khoác “áo khoác pháp lý” nào cũng rất cần thiết Nếu là mô hình phi lợi nhuận thì chính sách thuế của Nhà nước sẽ khác với

mô hình lợi nhuận ở chỗ nào? Nếu là mô hình lợi nhuận thì cơ chế kiểm soát tài chính, cơ chế kiểm toán có khác gì không so với mô hình phi lợi nhuận? Cơ chế vay vốn của các ngân hàng có khác hay không đối với hai mô hình này…

Địa vị pháp lý của các trường ĐH-CĐTT bao gồm tất cả những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của trường Đây là vấn đề rộng được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Các nghiên cứu cho thấy địa vị pháp lý của trường ĐH-CĐTT thể hiện ở hai mặt cơ bản sau:

- Trường ĐH-CĐTT có địa vị pháp lý như trường đại học công lập Trong

Trang 21

hệ thống giáo dục của một quốc gia ĐH-CĐTT là một thành viên có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước Trường có địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, nghĩa vụ và quyền lợi như các trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân Điều này khẳng đinh trường ĐH-CĐTT có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như các trường đại học công lập Những quy định đó thể hiện chính sách công bằng, bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước khuyến khích và bảo hộ những quyền và lợi ích hợp pháp của các trường tư thục, đề cao tính tự chủ nhưng phải tuân thủ pháp luật, nhằm tạo điều kiện cho trường ĐH-CĐTT phát triển, phát huy vai trò trong sự nghiệp xã hội hóa

- Trường ĐH-CĐTT có địa vị pháp lý của một công ty cổ phần Trường

ĐHTT do các cá nhân, tổ chức thành lập, đầu tư xây dựng cơ cở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước; hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện góp vốn, tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi, thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, thống kê, nghĩa vụ với ngân sách nhà nước

Từ đó cho thấy trường ĐH-CĐTT có địa vị pháp lý như là một doanh nghiệp, có

hình thức tổ chức và hoạt động giống công ty cổ phần

Vấn đề đặt ra ở đây là nếu xác định là một doanh nghiệp thì mục đích là

kinh doanh sinh lợi, theo Khoản 1, Điều 4 Luật doanh nghiệp: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu

tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Trong điều kiện kinh tế thị trường và chủ trương xã hội

hóa giáo dục chúng ta cần chấp nhận việc cho phép trường ĐH-CĐTT hoạt động theo mục đích sinh lợi Khi các tư nhân bỏ tiền vào đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, thì họ phải thu được hưởng lợi từ đầu tư đó Vấn đề là Nhà nước sẽ quản lý chặt chẽ về nội dung, chất lượng, chương trình đào tạo, những trường ĐH-CĐTT không đáp ứng được yêu cầu chất lượng và giá cả cạnh tranh (học phí) thì sẽ bị

xã hội đào thải theo quy luật thị trường

1.1.1.2 Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Có thể nói sự hình thành và phát triển của khu vực GDĐHCĐTT tại Việt Nam cũng như hầu thế các quốc gia khác trên thế giới là một thực tế tất yếu nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực trong xã hội, giảm bớt gánh nặng về ngân sách nhà nước cho GDĐT để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đối với nguồn nhân lực

và thỏa mãn nhu cầu được đào tạo của người học để tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động

Với số lượng sinh viên đại học và cao đẳng là rất lớn, hầu như không có quốc gia nào trên thế giới đủ ngân sách để bao cấp hoàn toàn cho giáo dục và đào tạo,

Trang 22

nên việc huy động các nguồn kinh phí ngoài nhà nước cho GDĐH-CĐ trở thành chủ trương phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, và công cuộc tư nhân hóa GDĐH-

đó tăng cường tính đáp ứng của toàn bộ hệ thống Nghiên cứu của ngân hàng thế giới cũng chỉ ra rằng các HTĐH-CĐ tư là nguồn bổ sung quan trọng cho HTĐH-

CĐ công, có thể đáp ứng những nhu cầu của sinh viên và người thuê nhân công một cách có hiệu quả và mềm dẻo

Như vậy cả HTĐH-CĐ ngoài công lập và công lập đều cung cấp học vấn đại học, nghề nghiệp cho người học và người sử dụng, nhưng mỗi khu vực thực hiện một số công việc có sự khác biệt nhất định và việc đáp ứng nhu cầu người học, người sử dụng cũng có sự khác biệt Sự xuất hiện và phát triển của khu vực tư thục trong hệ thống giáo dục nhằm bổ trợ những khiếm khuyết cho khu vực công lập Về mặt kinh tế xã hội, đóng góp của khu vực tư thục giúp xã hội đạt được bốn mục tiêu sau đây:

- Giảm bớt gánh nặng cho công quỹ, giải phóng nguồn lực để phát triển số lượng hay nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo

- Tăng cường hiệu quả trong các trường công lập bằng cách khuyến khích ý thức về phí tổn và sử dụng tốt hơn các nguồn lực

- Tăng cường trách nhiệm của các cơ sở đào tạo bằng các mối liên kết hệ thống giáo dục ĐH-CĐ với các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ…

- Tăng tính công bằng vì những người được hưởng giáo dục phải đóng góp vào những chi phí đó

1.1.2 Vị trí và đặc điểm của đại học, cao đẳng tư thục trong hệ thống giáo dục của một quốc gia

1.1.2.1 Vị trí của ĐH-CĐTT trong hệ thống giáo dục

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống giáo dục tư nhân tồn tại song song với hệ thống giáo dục công lập Nhưng do sự khác biệt về chế độ chính trị, chính sách của nhà nước, và mức quan tâm của cộng đồng xã hội nên vị trí của

Trang 23

hệ thống giáo dục tư thục trong tổng thể hệ thống giáo dục quốc gia sẽ có sự khác nhau nhất định Ở các quốc gia thuộc Trung Đông và một số quốc gia ở Châu Á, hệ thống đại học tư đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực đào tạo nghề Đối với Nhật và Hàn Quốc, sự phát triển gần đây của hệ thống giáo dục đại học chủ yếu nằm ở khu vực tư nhân Ba Lan cũng là một ví dụ điển hình ở Châu Âu về sự phát triển hệ thống đại học tư

để phù hợp với xu hướng chung ở các nước

1.1.2.2 Đặc điểm khu vực GDĐHCĐTT

Hệ thống đại học cao đẳng tư thục là một bộ phận của hệ thống giáo dục

ĐH-CĐ, nó là bậc học đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các trình

độ khác nhau Giáo dục không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và vì vậy, không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất Tuy nhiên, theo phân công lao động

xã hội, GĐĐH-CĐ là nơi duy nhất có đủ điều kiện và đủ khả năng cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng và trình độ chuyên môn cao cho nền kinh tế, làm gia tăng giá trị cho mỗi cá nhân thông qua việc trang bị cho họ tài khéo léo, sự hiểu biết để làm ra nhiều của cải vật chất hơn cho bản thân và cho xã hội, gắn liền với

Hệ thống giáo dục Đại học – Cao đẳng

TrườngĐH-CĐ Trực thuộc Bộ GDĐT

Trường ĐH-CĐ, Học viện ngành

Trường ĐH-CĐ cộng đồng

Trường ĐH-CĐ tư thục

Các trường ĐH-CĐ bán công

Đại học

quốc gia –

Đại học

vùng

Trang 24

sự bảo đảm quyền được sống và được làm việc với năng suất lao động cao hơn của mỗi người Có thể tổng kết một số đặc điểm chính của hệ thống giáo dục đại học - cao đẳng tư thục như sau

Chức năng của giáo dục đại học - cao đẳng GĐĐH-CĐ có ba chức năng quan

trọng Trước hết, nó bảo tồn các nền văn hóa và tri thức nhân loại, tái tạo hoặc phản biện ý thức hệ chi phối của quốc gia Thứ hai, lựa chọn những người ưu tú giới thiệu cho xã hội và cuối cùng là sáng tạo ra kho tàng tri thức mới GĐĐH-

CĐ không chỉ cải thiện những lựa chọn cá nhân sẵn có cho tất cả mọi người, mà còn tạo ra một lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, biết chắt lọc và áp dụng các tri thức thu được từ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống, góp phần làm tăng năng suất lao động và nâng cao mức sống cho toàn bộ các thành viên trong xã hội, góp phần xóa bỏ khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo thông qua việc trang bị cho người học những tri thức và kỹ năng cần thiết để làm việc

Giáo dục đại học - cao đẳng với tư cách là phương tiện GĐĐH-CĐ nói

chung và khu vực GDĐHCĐTT nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phồn thịnh của một nền kinh tế hiện đại, đó là nền “kinh tế tri thức”, nó ngày càng có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh vượng của nhân loại trong tương lai [17, tr.227-237]; là phương tiện phát triển riêng của mỗi cá nhân, phương tiện xây dựng nền văn hóa, chia sẻ truyền thống và cung cấp sức mạnh cho xã hội nói chung Là một phương tiện tích lũy tài sản và khả năng cạnh tranh của cá nhân

và xã hội

Lợi ích lan tỏa hay lợi ích tràn xã hội của giáo dục đại học-cao đẳng Một đặc

trưng riêng có của sản phẩm dịch vụ GDĐH-CĐ là lợi ích lan tỏa (hay còn gọi là lợi ích tràn xã hội) không chỉ bản thân cho người học mà cho cả cộng đồng, do vậy khu vực GDĐHCĐTT cũng không loại trừ hiệu ứng đó Bởi vì những sản phẩm dịch vụ GDĐH-CĐ với trình độ cao này có thể sẽ đem lại những thành tựu khoa học công nghệ vượt bậc, đưa năng suất lao động tăng cao một cách đột biến hoặc tạo ra những sản phẩm tiêu dùng có hàm lượng chất xám cao Ngoài ra, loại sản phẩm của dịch vụ này là những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hóa

có ngoại biên thuận Nó không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho cả

xã hội và lợi ích xã hội luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân Tổng lợi ích xã hội sẽ tăng lên nếu như loại sản phẩm này được sản xuất nhiều hơn Đối với các lợi ích của xã hội có được từ giáo dục đại học, ngoài cá nhân và gia đình, xã hội phải nhận được những lợi ích này Rất khó để xác định, định lượng và tính toán những lợi ích

đó Do đó có rất nhiều tranh luận và sự phỏng đoán về việc chúng có tồn tại không

và tại sao chúng tồn tại trong giáo dục đại học [1, tr 86]

Trang 25

Giáo dục đại học - cao đẳng với tư cách là một quan hệ sản xuất xã hội

GĐĐH-CĐ nói chung và khu vực GDĐHCĐTT nói riêng có nội dung của quan hệ sản xuất xã hội, bởi vì giá cả dịch vụ này trong KTTT không hoàn toàn phản ánh sự khan hiếm mà nó phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

- Trước hết, cung và cầu của nó thường phụ thuộc vào sự khác biệt về mức lương hay thu nhập (giữa người có và không có văn bằng đại học)

- Tiếp theo là khả năng thành công trong việc tìm kiếm công ăn việc làm trong khu vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, thương mại hoặc một loại dịch

vụ nào đó (tỷ lệ thất nghiệp của người có hoặc không có văn bằng đại học)

- Sau nữa là các chi phí trực tiếp liên quan đến giáo dục (chẳng hạn như học phí và lệ phí)

- Cuối cùng là chi phí cơ hội hay chi phí gián tiếp liên quan đến giáo dục (số tiền người sinh viên có thể thu được nếu không đi học)

Giáo dục đại học - cao đẳng với tư cách là một hàng hóa đặc biệt GĐĐH-CĐ

nói chung và khu vực GDĐHCĐTT nói riêng còn là một loại hàng hóa đặc biệt vì

có những đặc tính của hàng hóa (lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân, có tính bền vững đi theo suốt cuộc đời con người và người mua cuối cùng cũng là người tiêu thụ) Trong KTTT có thể xảy ra các tình huống sau: (1) Vì mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn, một số cơ sở đào tạo có thể cung cấp những người tốt nghiệp thiếu chất lượng; (2) KTTT có thể sẽ làm cho một bộ phận người trở lên nghèo hơn nên không có khả năng chi trả học phí, mặc đù có năng lực học tập Cho dù trường hợp nào đi nữa xảy ra, để vừa hạn chế các tổn phí giao dịch trong thị trường lao động

do chất lượng đào tạo thấp, vừa bảo đảm cơ hội học tập đại học ngang nhau cho mọi cá nhân trong xã hội, hệ thống giáo dục phải có sự can thiệp của nhà nước Nói khác đi, xét dưới ý niệm công bằng xã hội, sản phẩm giáo dục là một hàng hóa mà chính phủ phải can thiệp mạnh mẽ vào thị trường thông qua các biện pháp như: Tài trợ trực tiếp cho đào tạo, nghiên cứu khoa học; khuyến khích tư nhân (kể cả tư nhân nước ngoài) đầu tư phát triển GĐĐH-CĐ, nhất là đưới hình thức không vụ lợi và điều tiết chất lượng kể cả lĩnh vực công cũng như tư

Giáo dục đại học - cao đẳng với tư cách là một dịch vụ Trong nền KTTT,

GĐĐH-CĐ nói chung và GDĐH-CĐ tư thục nói riêng được thực hiện dưới hình thức cung cấp sức lao động của các giáo sư, giảng viên cho người học và người học mua lao động của người dạy bằng phí, học phí, hoặc đóng thuế để nhà nước trả công, trả lương cho họ Dưới góc độ phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hóa, loại lao động giảng dạy của các giáo sư, giảng viên không sản xuất ra tư bản Theo K.Marx, đó là loại lao động phi sản xuất và khi trao đổi, nó được mua-bán như một dịch vụ và hàng hoá thông thường Như vậy, sản phẩm GĐĐH-CĐ là một loại dịch

vụ và nó có đầy đủ tính chất kinh tế như các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khác

Trang 26

Thị trường dịch vụ GĐĐH-CĐ có một số ưu điểm chính sau:

- Một là, cơ chế thị trường làm cho dịch vụ GĐĐH-CĐ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội Sự ra đời của thị trường dịch vụ GĐĐH-CĐ từng bước giảm bớt sự tham gia trực tiếp của chính phủ trong hoạt động điều hành trường đại học; chuyển quyền ra quyết định từ bộ, trường và khoa sang sinh viên và gia đình; gắn kết các trường đại học với nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo, thành lập trường đại học trong các công ty lớn hay lập các công ty dịch vụ hoặc kinh doanh bên trong trường đại học, đồng thời các giáo sư, giảng viên đại học có thể làm việc bán thời gian ở các doanh nghiệp

- Hai là, cơ chế thị trường làm cho hệ thống giáo dục có khả năng thích nghi

và sáng tạo hơn Một phần tài chính đại học được chia sẻ từ cha mẹ sinh viên hoặc sinh viên những người được hưởng lợi cuối cùng của loại hình dịch vụ này

Tuy nhiên, bên cạnh đó, thị trường dịch vụ sản phẩm GĐĐH-CĐ cũng đầy rẫy những rủi ro và bất trắc Nó có thể làm xói mòn trách nhiệm xã hội, văn hóa và các mục tiêu của nó Vì nó chỉ đáp ứng các lợi ích và chi phí mà thực tế xuất hiện trong quan hệ cung - cầu của người mua và người bán nên trong ngắn hạn, với việc tập trung vào hướng nghiệp và nghiên cứu ứng dụng, nó có thể phá hỏng các mục tiêu và giá trị của giáo dục tự do và những tìm tòi lý thuyết cơ bản Cơ chế giá trong thị trường dịch vụ GĐĐH-CĐ có thể dễ bị bóp méo

Các loại hình dịch vụ giáo dục đại học - cao đẳng Mong đợi của chúng ta có

thực tế với các loại hình dịch vụ mà giáo dục đại học cần cung cấp không, tất nhiên

là đúng Một nền công nghiệp có thể sản xuất ra bất cứ loại hình dịch vụ hỗn hợp nào mà xã hội chúng ta muốn sản xuất Vấn đề kinh tế quan trọng có liên quan đến việc các cơ sở đào tạo này đáp ứng mong muốn và nhu cầu của xã hội về dịch vụ này như thế nào Phân tích kinh tế đưa ra câu hỏi là cơ cấu hiện tại của các trường đại học cho phép họ đáp ứng các yêu cầu xã hội như thế nào Nhìn chung, thông qua

hệ thống kinh tế, người sử dụng đăng ký nhu cầu hàng hóa dịch vụ của họ theo cách

mà họ sử dụng khả năng mua hàng của họ Những nhà cung cấp dịch vụ phản ứng lại các mức giá Đây không phải là cách mà sự kết hợp giữa các chương trình do các trường đại học và cao đẳng cung cấp được xác định

Các trường đại học và cao đẳng ít khi hoặc không sử dụng hệ thống giá hoặc các lực lượng thị trường trong việc xác định những chương trình mà họ sẽ cung cấp

Họ thường cố gắng cung cấp những gì họ cho rằng xã hội có nhu cầu – kinh doanh,

cơ khí, tin học, v.v…Tất nhiên, mong muốn của sinh viên và gia đình họ phải được xem xét; nếu không sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ nhập học Ngoài ra, những đề nghị của

cơ quan lập pháp cũng rất quan trọng Cơ quan này có thế cắt các khoản hỗ trợ để

mở rộng những chương trình mà đa số các thành viên không thông qua Trong các

Trang 27

trường tư, những nhà tài trợ chính có ảnh hưởng tới việc lựa chọn chương trình, tuy nhiên, lợi ích của sinh viên và gia đình có con theo học được coi là quan trọng nhất,

vì đó chính là nguồn thu chủ yếu của nhà trường [1, tr.98]

Hệ thống giá trị bỏ qua hoàn toàn hoặc không được tính đến trong việc xác định những ưu tiên của chương trình vì hầu hết các trường đại học và cao đẳng áp dụng mức giá (học phí) giống nhau đối với tất cả sinh viên, bất kể là chương trình

gì Những người quản lý và các khoa trong trường đại học và cao đẳng, nhà lập pháp, và bản thân sinh viên tin rằng đây chính là cách hợp lý để vận hành hệ thống Tuy nhiên một sự phản ánh nhỏ sẽ bộc lộ sự thiếu hiệu quả của nó

Sự khác biệt về giá dựa trên sự khác biệt trong nhu cầu ví dụ xét hai

chương trình đào tạo đại học, quản trị kinh doanh và nông nghiệp Giả sử ban đầu sinh viên có nhu cầu về chương trình nông nghiệp được thể hiện bằng Da1Da1 trong Hình 1.3 Chi phí cho một người một năm bao gồm tất cả các chi phí trừ các chi phí

vô hình đối với sinh viên cho một năm của chương trình Đường cầu cho chương trình nông nghiệp sẽ dốc xuống dưới về phía bên phải giống như hầu hết các đường cầu – giá của chương trình càng thấp, thì sinh viên sẽ có nhu cầu nhiều năm hơn Đường cung Sa1Sa1 của chương trình nông nghiệp sẽ dốc lên trên về bên phải Trường đại học thu được càng nhiều tiền một năm từ việc bán các chương trình, thì

họ càng thu hút được nhiều nguồn lực hơn và sử dụng để mở rộng chương trình Đường cầu Db1Db1, và đường cung Sb1Sb1, đối với chương trình quản trị kinh doanh

về mặt lý thuyết giống như đối với chương trình nông nghiệp Bây giờ tạm bỏ qua đường Db2 Db2 Giả sử rằng do một sự trùng lắp, thì đường cung và đường cầu ban đầu cho cả hai chương trình có các mức giá giống nhau; đó là Pa1 tương đương với

Pb1 Mức độ của chương trình lần lượt là sa1 và sb1.

Bây giờ, để nhu cầu sinh viên trong chương trình quản trị kinh doanh tăng ngang bằng với chương trình nông nghiệp, đường cầu quản trị kinh doanh di chuyển tới Db2Db2, và đường cầu nông nghiệp di chuyển tới Da2Da2 Những tác động của việc duy trì giá cân bằng cho hai chương trình là gì? Tại mức giá Pb1, các trường đại học không thể mở rộng chương trình quản trị kinh doanh và không có khả năng chi trả các chi phí để làm như vậy Việc thiếu cán bộ và cơ sở vật chất để giảng dạy quản trị kinh doanh sẽ xảy ra Các lớp học sẽ lớn hơn và phòng học sẽ chật chội hơn Chất lượng giáo dục sẽ bị giảm Trong chương trình nông nghiệp, tại mức giá

Pa1 quy mô lớp học sẽ giảm xuống và các cơ sở vật chất sẽ ít bị sử dụng tối đa hơn

Có sự dư thừa về cán bộ và thiết bị giảng dạy Việc thiếu hoặc thừa những loại hình này là phổ biến trong các trường đại học và cao đẳng hiện nay Chúng thể hiện sự thiếu hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ giáo dục do nhà trường không để hệ thống đánh giá phân chia các nguồn lực một cách có hiệu quả

Trang 28

Hình 1.3 Ảnh hưởng của những thay đổi trong nhu cầu về các dịch vụ giáo dục

(Da1 Da1 và Sa1 Sa1 là đường cầu và đường cung ban đầu theo năm giáo dục nông nghiệp, ngược lại trong chương trình quản trị kinh doanh chúng là Db1 Db1 và

Sb1 Sb1 Bây giờ, giả định rằng nhu cầu cho quản trị kinh doanh tăng từ Db2 Db2 và nhu cầu cho nông nghiệp giảm xuống Da2 Da2 Duy trì các chi phí hữu hình (học phí

và lệ phí) tại điểm Pb1 và Pa1 dẫn tới sự dư thừa của khả năng giáo dục nông nghiệp

và sự thiếu của khả năng giáo dục quản trị kinh doanh Nếu để học phí và lệ phí của chương trình quản trị kinh doanh tăng tới pb2 và của nông nghiệp giảm xuống pa2 sẽ làm tăng hiệu quả mà cả hai được sử dụng.) [1, tr.99]

Nếu các trường đại học sử dụng mức giá khác nhau cho các chương trình khác nhau, họ có thể tăng cả hiệu quả và trách nhiệm đối với khách hàng Hãy để học phí

và chi phí trong quản trị kinh doanh tăng lên mức pb2 Phần doanh thu tăng thêm đạt được để mở rộng đến sb2, có tính đến nhu cầu tăng lên Sự tăng giá cũng giúp giảm

áp lực vào cơ sở vật chất bằng cách giảm tỷ lệ nhập học từ sb3 xuống sb2 Bây giờ để học phí và lệ phí của môn nông nghiệp giảm xuống Pa3, các trường đại học được khuyến khích cắt giảm một số chương trình trở về điểm sa2, tại điểm này mới chỉ đủ chi trả các khoản kinh phí Ngoài ra, việc giảm giá trong nông nghiệp từ Pa1 xuống

Pa2 sẽ tăng tỷ lệ nhập học từ sa3 lên sa2. [1, Tr.100]

Để làm cho những phân tích kinh tế trước đây tổng quan hơn, giả định rằng trong trường đại học nhu cầu về một chương trình mới tăng lên, ví dụ nghiên cứu sinh thái học Chi phí cung cấp số năm của chương trình có thể được xác định và đường cung sau đó có thể gặp đường cầu Mức giá cân bằng sẽ phản ánh chi phí của chương trình đối với sinh viên Nó cũng tạo ra khả năng chương trình chính xác mà không xảy ra dư thừa hoặc thiếu hụt Qua đó cho thấy các loại hình dịch vụ giáo dục tương đối đa dạng và phong phú

Trang 29

1.1.3 Các nhân tố tác động đến hệ thống trường đại học cao đẳng tư thục

1.1.3.1 Nhân tố về môi trường kinh tế xã hội

Các cơ sở đào tạo dù công hay tư đều phải chịu tác động ở những mức độ khác nhau từ các yếu tố môi trường kinh tế xã hội như trạng thái và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp, nhu cầu và khả năng chi trả của người học, truyền thống hiếu học, và sự hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hóa Các cơ sở đào tạo đều cần tới các yếu tố đầu vào cơ bản đó là trường lớp, phòng học, xưởng thực tập, máy móc, thiết bị và tài liệu giáo trình… Đối với các

cơ sở đào tạo công lập, phần lớn các yếu tố này được Nhà nước cung cấp, còn các

cơ sở đào tạo tư thường phụ thuộc vào sự tự thân vận động và vào chính những nhà cung cấp các yếu tố này trong nền kinh tế

Một yếu tố quan trọng từ môi trường kinh tế đó là sự sẵn có, chất lượng và giá cả của lao động Nếu một nền kinh tế, nguồn lao động chung chưa được đào tạo dồi dào, trong khi đó nguồn lao động được đào tạo lại khan hiếm, điều này sẽ làm tăng nhu cầu đào tạo đối với hệ thống ĐH-CĐ nói chung, trong đó có các trường ĐH-CĐTT

Giá cả lao động cũng là một yếu tố cực kỳ quan trọng về mặt kinh tế đối với cơ

sở đào tạo tư thục Những khoản tiền lương tương đối cao đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý có thể sẽ gây khó khăn cho các cơ sở đào tạo tư thục vì nó đẩy mức học phí lên cao Trong khi đó nhiều loại cung ứng về GD-ĐT ở khu vực công lập sẽ được thực hiện với mức học phí thấp hơn (vì một phần được nhà nước trợ cấp) Những yếu tố đầu vào đối với một cơ sở đào tạo (như lao động, vật liệu và vốn) chịu ảnh hưởng một cách rõ ràng bởi những thay đổi về mức giá tổng quát trong nền kinh tế Nếu giá cả tăng mạnh sẽ gây sự hỗn loạn trong môi trường kinh tế ở cả đầu vào và đầu ra Lạm phát có thể làm sụp đổ các cơ sở đào tạo tư thục vì nó sẽ làm tăng giá cả các yếu tố đầu vào như chi phí về lao động, vật liệu và các vật dụng khác Các cơ sở đào tạo tư nhân không thể điều chỉnh kịp mức học phí với đà lạm phát, hơn nữa, thông thường học phí đã được thỏa thuận từ trước giữa cơ sở đào tạo

và người học cho nên lúc này học phí sẽ không trang trải được các chi phí về lao động, vật liệu… để duy trì đào tạo

Phân tích dưới góc độ kinh tế, các trường ĐH-CĐ ít khi hoặc không sử dụng

hệ thống giá (học phí, lệ phí) hoặc các lực lượng thị trường trong việc xác định những chương trình mà nhà trường sẽ cung cấp Các trường thường cố gắng cung cấp những gì mà họ cho rằng xã hội có nhu cầu như kinh doanh, xây dựng, cơ khí, tin học … đồng thời mong muốn của sinh viên và gia đình cũng phải được xem xét, nếu không sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ nhập học của sinh viên Trong các trường tư thục, những nhà tài trợ chính có ảnh hưởng tới việc lựa chọn chương trình Tuy nhiên lợi

Trang 30

ích của người học được coi là quan trọng nhất [1, tr.101]

Sự hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hóa là một trong những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển giáo dục đại học ở nước ta Do toàn cầu hóa có năng lực và quy mô chưa từng có, nhà nước và các doanh nghiệp có thể sử dụng những phương thức rộng rãi hơn, nhanh hơn và rẻ hơn trước đây khi tiếp xúc với bên ngoài Xu thế hội nhập sẽ thúc đẩy nguồn nhân lực, vốn, hàng hóa, khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin chảy vào Việt Nam ngày càng nhanh hơn, điều này dẫn đến môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước càng quyết liệt hơn Để có được và duy trì một vị trí có ưu thế tương đối trong sự biến đổi không ngừng này, không một nước nào không tích cực tìm kiếm một địa bàn có lợi cho mình, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia Dưới những ảnh hưởng đan xen cả bên trong và bên ngoài, giáo dục đại học với vai trò gánh vác trách nhiệm khai sáng, truyền bá tri thức và bồi dưỡng, giáo dục nhân tài tự nhiên cũng trở thành một lợi khí lớn trong toàn cầu hóa

1.1.3.2 Nhân tố về môi trường chính trị, pháp luật và chính sách phát triển giáo dục ĐH-CĐ tư thục

Môi trường chính trị và pháp luật bao gồm các luật lệ, các quy tắc và những hoạt động của các cơ quan nhà nước, tất cả chúng có ảnh hưởng tới các cơ sở đào tạo tư thục Nhận thức, thái độ và hành động của các nhà lãnh đạo chính trị và nhà nước, các nhà lập pháp sẽ thay đổi cùng với sự thăng trầm của những nhu cầu và niềm tin xã hội Nhiều nhà chính trị ủng hộ việc phát triển khu vực tư thục trong GDĐH-CĐ đã hoàn toàn chuyển hướng khi có nguy cơ các trường tư bị đóng cửa, khi nhân dân kêu ca phàn nàn về học phí cao, về chất lượng GD-ĐT thấp của khu vực tư thục

Nhà nước có ảnh hưởng thực sự tới mọi khía cạnh của cuộc sống và tới mọi cơ

sở đào tạo tư thục Nhà nước ở đây cùng lúc đóng 2 vai trò chính, một mặt thúc đẩy, mặt khác vừa hạn chế hoạt động của khu vực tư thục Chẳng hạn Nhà nước thúc đẩy GD-ĐT tư thục bằng cách khuyến khích việc mở rộng và phát triển GD-ĐT, bằng việc hỗ trợ, trợ cấp kinh phí cho các cơ sở đào tạo tư thục, bằng cách miễn thuế, bằng cách hỗ trợ giáo viên thuộc biên chế nhà nước, bằng cách hình thành các khoản cho vay với lãi suất ưu đãi Bằng cách hạn chế việc mở rộng quy mô ở khu vực công lập Một vai trò khác của nhà nước là hạn chế và điều chỉnh khu vực tư thục trong GD-ĐT Một cơ sở đào tạo tư thục đều bị bao vây bởi một mạng lưới các điều luật, các quy tắc và các quyết định của tòa án hay các cấp quản lý nhà nước về GD-ĐT nhằm bảo vệ quyền lợi cho người học, cho người lao động và cho toàn xã hội

Các chính sách hoạch định ra phạm vi thực hiện quyết định và đảm bảo rằng

Trang 31

quyết định sẽ phù hợp và đóng góp vào mục tiêu Các chính sách giúp cho việc giải quyết sớm các vấn đề không cần phải phân tích khi chúng xuất hiện trong các tình huống tương tự và giúp cho việc thống nhất các kế hoạch khác nhau Ví dụ cho các chính sách giáo viên ở các trường công lập được hợp đồng giảng dạy ở các trường

tư thục Chính sách này cho phép hiệu trưởng ở các trường đại học, cao đẳng tư thục đưa ra các kế hoạch mời giáo viên trường công tham gia giảng dạy mà không phải xin ý kiến của cấp cao nhất, tuy nhiên vẫn cần các tiêu chuẩn để kiểm tra (Chẳng hạn tỷ lệ mời giảng viên thỉnh giảng so với tổng số giáo viên cả cơ hữu và mời giảng, tiêu chuẩn bằng cấp )

Do các chính sách là những tài liệu chỉ dẫn cho việc ra quyết định cho nên chúng phải có một phạm vi co giãn nào đó, ngược lại chúng có thể sẽ trở thành những nguyên tắc Trong một số trường hợp phạm vi chính sách có thể co giãn khá rộng rãi, nhưng nó có thể lại rất chật hẹp Chính sách là một biện pháp khuyến khích tự do và sáng tạo, nhưng trong giới hạn, tất nhiên khả năng tự do có thể sẽ phụ thuộc vào chính sách và khả năng này lại phản ánh chức vụ của người quản lý

Lý luận và thực tiễn cho thấy chính sách đối với khu vực tư nhân trong GDĐH-CĐ có thể được hình thành từ bốn nguồn:

- Khởi thảo: Nguồn chính sách logic nhất chính là cấp quản lý cao nhất của

hệ thống giáo dục, khởi thảo ra chính sách với mục đích cấp bách là để hướng dẫn các cá nhân, các tổ chức xã hội và kinh tế, các trường tư thục trong hành động của

họ Về cơ bản chính sách loại này bắt nguồn từ mục tiêu của hệ thống giáo dục và

do cấp cao trong quản lý xác định

- Gợi mở: Trong thực tế, có lẽ hầu hết các chính sách lại bắt nguồn từ các

tình huống trong đó cán bộ cấp thấp đã vạch ra những trường hợp ngoại lệ cho cấp quản lý phía trên Khi những gợi ý đã được đưa lên trên và đã có các quyết định về chúng, sẽ hình thành một loạt luật lệ chung Những tiền lệ được hình thành và trở thành những hướng dẫn cho các hành động quản lý sau này Có thể minh họa chính sách bắt nguồn từ gợi mở phát triển đại học dân lập ở nước ta qua trường hợp Đại học Dân lập Thăng Long (nay là trường tư thục) Chính sách được xây dựng từ những gợi ý đôi khi không hoàn hảo và mang tính cục bộ Nếu người quản lý đưa ra các quyết định dựa vào một tập hợp các sự kiện đã biết mà không xét đến những ảnh hưởng có thể có của chúng tới những khía cạnh khác của hoạt động, hoặc nếu những điều lệ không định trước lại hình thành từ những quyết định này thì những chính sách tạo ra sẽ không dẫn dắt được suy nghĩ và hành động của cấp cơ sở như những người quản lý cấp cao hằng mong muốn

- Ngầm định: Các hoàn cảnh khác nhau lý giải việc hình thành chính sách

ngầm định Có thể có trường hợp các chính sách được công bố chẳng qua là để cho

có chứ không (hay chưa) được đưa vào thực hiện Có thể có một quốc gia công bố

Trang 32

một chính sách nào đó chỉ là để tạo ra một ấn tượng mong muốn chứ không có khả năng hoặc không sẵn sàng thi hành chúng Trong hầu hết mọi trường hợp, chính sách ngầm định được đưa ra khi chưa có đường lối và chiến lược rõ ràng Những người ra quyết định ở cấp thấp chọn những cách chỉ đạo riêng cho mình theo cách

mà họ hiểu được qua hành động của cấp trên họ

- Sức ép tác động từ bên ngoài: Các chính sách sinh ra do sức ép từ phía

ngoài hệ thống con (hay ngoài cơ sở đào tạo) tác động vào hệ thống con (hay ngoài

cơ sở đào tạo) ngày càng tăng Sự điều chỉnh trực tiếp, sự cạnh tranh của các trường công, trường tư và những điều kiện đòi hỏi phải có sự trợ giúp của Nhà nước chính

là một số hình thức gây sức ép từ bên ngoài Những tổ chức xã hội khác chẳng hạn như nhà thờ, đoàn thể và nhân đạo cũng có thể tạo ra hay ép buộc đối với chính sách của bản thân một trường tư nào đó

Việc định ra các chính sách phù hợp và đầy đủ đối với khu vực GDĐH-CĐTT nhằm thực hiện mục tiêu của cả hệ thống GD-ĐT là một việc khó khăn bởi nhiều lý do:

- Thứ nhất, các chính sách rất ít khi được xác định rõ ràng bằng văn bản và ít khi được giải thích chính xác Chẳng hạn: “Vốn của đại học tư thục gồm có vốn ban đầu và vốn có được trong quá trình hoạt động” Ở đây có thể đặt ra một loạt câu hỏi: Vốn ban đầu là gì? Vốn này là bao nhiêu? Nó được hình thành như thế nào? Theo quy định hiện nay vốn ban đầu để được phép thành lập trường đại học cao đẳng là

50 tỷ đồng đã phù hợp chưa?

- Thứ hai, chính sự phân chia quyền hạn mà các chính sách dự định thực hiện thông qua việc phi tập trung hóa ảnh hưởng của nó, sẽ dẫn tới sự tham gia rộng rãi vào sự hoạch định và sự giải thích chính sách với sự khác biệt nhất định nào đó giữa các cơ sở và giữa các cá nhân

- Thứ ba, ở bất cứ một cấp nào định ra chính sách, đôi khi họ chưa đủ kiến thức và thông tin hay chưa tính hết tác động của việc ban hành và thực thi chính sách đối với mọi khía cạnh của đời sống xã hội

- Thứ tư, không phải lúc nào cũng dễ dàng kiểm tra một chính sách, bởi vì việc xác định một chính sách thực tế (định lượng việc thực thi chính sách) có thể khó khăn và chính sách dự định thì không phải luôn luôn rõ ràng

1.1.3.3 Nhân tố về môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ

Sự ảnh hưởng của khoa học được thấy ở những kiến thức mới, của kỹ thuật công nghệ được thấy trong các sản phẩm mới, các máy móc mới, các công cụ mới, các vật liệu mới và các dịch vụ mới một phần lợi ích thu được từ khoa học, kỹ thuật, công nghệ là nó đem lại hiểu biết mới hơn, năng suất lớn hơn, thời gian nhàn rỗi nhiều hơn và sự đa dạng hơn của sản phẩm

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ làm tăng nhu cầu đào tạo,

Trang 33

bồi dưỡng và đào tạo lại, tức là tăng “khách hàng” đối với các trường (công và tư), nhưng đồng thời buộc các cơ sở đào tạo phải đổi mới nội dung chương trình đào tạo, đổi mới máy móc, thiết bị của việc đào tạo thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ đang thay đổi nhanh chóng Sự phát triển vượt bậc của KHCN trong giai đoạn hiện nay ít nhiều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành các cơ sở đào tạo tư thục Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng chương trình, ngành nghề đào tạo để có thể tiếp cận được với khoa học công nghệ hiện đại

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG

TƯ THỤC

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hệ thống trường đại học cao đẳng

1.2.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước

Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhất quản

lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật Quản lý xã hội là thực hiện các chức năng tổ chức nhằm tạo những điều kiện cần thiết để đạt những mục đích đề ra trong quá trình hoạt động chung của con người trong xã hội Vì vậy, từ khi xuất hiện nhà nước, quản lý xã hội được nhà nước đảm nhận Nhưng, quản lý xã hội không chỉ do nhà nước với tư cách là một tổ chức chính trị đặc biệt thực hiện, mà còn do tất cả các bộ phận khác cấu thành hệ thống chính trị thực hiện như: các

chính đảng, tổ chức xã hội Như vậy, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.[16, tr.6]

Quản lý nhà nước là các công việc được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc

do các tổ chức xã hội, các cơ quan thực hiện nếu được Nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước Quản lý nhà nước thực chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ

1.2.1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học, cao đẳng

Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ tác hoạt động GD-ĐT trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà nước Quản lý nhà nước

về GD-ĐT là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động GD-ĐT do các cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo

Trang 34

quy định của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp GD-ĐT, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu GD-ĐT của nhân dân, thực hiện mục tiêu GD-ĐT của nhà nước

Trong khái niệm quản lý nhà nước về GD-ĐT nổi lên 3 bộ phận chính, đó là chủ thể, khách thể và mục tiêu của giáo dục và đào tạo:

- Chủ thể quản lý nhà nước về GD-ĐT là các cơ quan có thầm quyền (cơ quan lập pháp, hành pháp) được quy định ở điều 87 của Luật Giáo dục

- Khách thể của quản lý nhà nước về GD-ĐT là hệ thống giáo dục quốc dân

và mọi hoạt động GD-ĐT trong phạm vi toàn xã bội

- Mục tiêu GD-ĐT về tổng thể đó là việc bảo đảm trật tự kỷ cương trong các hoạt động GD-ĐT, để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội, hoàn thiện và phát triển nhân cách của công dân; Tuy nhiên ở mỗi cấp học, bậc học đã được cụ thể hóa mục tiêu trong Luật giáo dục

và điều lệ các nhà trường

Như vậy, có thể nói: Quản lý nhà nước về GD-ĐT là sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của Bộ giáo dục từ trung ương đến cơ sở lên hệ thống GĐQD và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí - đào tạo - bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho công dân

[13, tr.5]

Cần lưu ý rằng, quản lý nhà nước là việc thực thi ba quyền : Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và hành vi của công dân Còn quản lý nhà nước về GD-ĐT thực chất là thực thi quyền hành pháp để tổ chức, điều hành và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục đào tạo trong phạm vi toàn xã hội Tuy nhiên, để quản lý có hiệu lực và hiệu quả, việc sử dụng quyền hành pháp phải kết hợp với quyền lập pháp và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các hoạt động của toàn bộ hệ thống

Từ những cơ sở lý luận trên có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với hệ thống các trường đại học cao đẳng là nhà nước thực thi quyền hành pháp để điểu chỉnh các hoạt động trong HTGDĐH-CĐ đồng thời thể hiện sự cam kết của nhà nước đối với sự phát triển của giáo dục đào tạo Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo, các bộ ngành và ủy ban nhân dân các địa phương được phân cấp chia sẻ thực hiện cam kết

đó, cần phân định rõ nhiệm vụ và trách nhiệm trong việc quản lý các trường để tạo

Trang 35

mục tiêu giáo dục mà Nhà nước quy định Từ các nhận thức trên, chúng ta thấy

quản lý nhà nước về GD-CĐ có đặc điểm:

Thứ nhất: Vừa theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt

động của quản lý giáo dục đào tạo, vừa theo nguyên tắc hành chính giáo dục đối với một cơ sở giáo dục trong đó có cơ sở giáo dục đại học tư thục Hành chính-giáo dục thực chất là triển khai chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước quy định (phân cấp, phân công hoặc uỷ quyền) Các cơ quan, tổ chức thay mặt Nhà nước triển khai sự nghiệp GD-ĐT và điều hành, điều chỉnh các hoạt động GD-ĐT Quản lý hành chính thực chất là việc xây dựng các văn bản pháp quy và chấp hành các văn bản, kết hợp với quản lý giáo dục là đưa việc xây dựng các văn bản vào các hoạt động chuyên môn của giáo dục làm cho mọi người hiểu được các quy định của văn bản để thực hiện cho đúng

Thứ hai: Do các trường ĐH-CĐTT được huy động nguồn kinh phí ngoài ngân

sách nhà nước nên công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống các trường này cũng

có những điểm khác biệt so với các trường công lập cả về mục tiêu, sứ mạng, tổ chức, cách thức huy động các nguồn lực…

Thứ ba: Về tổ chức bộ máy các trường tư thục cũng không giống như trường

công lập, các trường tư bầu Hội đồng quản trị, còn các trường công thì có hội đồng trường và hoạt động của hai hội đồng này cũng có những điểm khác nhau Mặt khác

do tính tự chủ cao nên tổ chức bộ máy của trường tư thường gọn nhẹ nhưng nhiều khi họ lại thiết lập bộ máy tổ chức chưa hợp lý

Thứ tư: Cách thức huy động vốn của trường tư thục thường đa dạng hơn,

nhưng chủ yếu vẫn là sự đóng góp của người học, các trường tư rất ít được nhận

từ sự tài trợ của nhà nước, việc huy động vốn từ cổ đông đóng góp thường chỉ góp ban đầu để thành lập trường Đặc biệt do chưa có cơ chế hoạt động rõ ràng như doanh nghiệp nên các trường chưa có quyền phát hành cổ phiếu và giao dịch trên thị trường chứng khoán

Xã hội ngày càng phát triển thì xu thế các loại hình trường công và tư ngày càng xích lại gần nhau hơn, ở nước ta do các trường ngoài công lập mới ra đời và phát triển từ cuối những năm 80, đặc biệt những trường đại học cao đẳng ngoài công lập ra đời bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước, do đó ít nhiều các trường ngoài công lập sẽ không có điều kiện thuận lợi để phát triển như những trường công lập, để nhanh chóng hội nhập và học hỏi kinh nghiệm, các trường ngoài công lập đặc biệt là các trường tư thục thường xuyên liên hệ, trao đổi học hỏi kinh nghiệm với các trường công lập và các trường ngoài công lập khác Học hỏi trao đổi trên các lĩnh vực đào tạo như hỗ trợ tuyển sinh, xây dựng mục tiêu chương trình cho các ngành học, liên kết đào tạo của tất cả các bậc học từ trung học lên cao đẳng và đại

Trang 36

học, trao đổi hỗ trợ giáo viên sinh viên, đặc biệt hệ thống các trường đại học cao đẳng tư thục hiện tại các trường đại học cao đẳng ngoài công lập đã thành lập hiệp hội nhằm tăng cường giúp đỡ quan hệ nhau trên mọi lĩnh vực, đồng thời qua đó có những tiếng nói chung kiến nghị với nhà nước cũng như với Bộ GD ĐT

Qua nghiên cứu đặc điểm của trường tư thục cho thấy quản lý nhà nước với khu vực này cần phải có những đặc thù riêng, từ đó ta có thể hiểu QLNN đối với

khu vực giáo dục tư thục: Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục tư thục là nhà nước thực thi quyền hành pháp để điểu chỉnh các hoạt động trong hệ thống đại học cao đẳng tư thục đồng thời thể hiện sự cam kết của nhà nước đối với sự phát triển của khu vực này Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo, ủy ban nhân dân các địa phương được phân cấp chia sẻ thực hiện cam kết đó, cần phân định nội dung QLNN với nội dung quản lý nhà trường để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội

1.2.3 Nội dung cơ bản quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Nội dung QLNN theo Luật giáo dục đại học bao trùm toàn bộ hệ thống GDĐH-CĐ, do đó đối với hệ thống các trường tư thục cần phải xây dựng cơ chế quản lý riêng đối với lĩnh vực này, đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính và cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực tư thục Nội dung QLNN đối với khu vực GDĐHCĐTT bao gồm những vấn đề:

1.2.3.1 Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển khu vực giáo dục đại học, cao đẳng trong đó có trường tư thục

Đây là kế hoạch tổng thể xây dựng mạng lưới các trường phù hợp với yêu cầu của xã hội, phù hợp với sự phát triển chung của cả hệ thống các trường đại học cao đẳng, phù hợp với chiến lược phát triển của toàn ngành và của toàn bộ nền kinh tế

Kế hoạch tổng thể này được đề xuất, được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định phê chuẩn, đó là thể hiện sự nhất trí cao của các cấp lãnh đạo, là sự thống nhất của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cho phép thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn nào đó

Bảng 1.1 Xây dựng chiến lược quy hoạch hệ thống các trường ĐH-CĐ

Mục khảo sát

Kiểu trả lời

Trung bình (M)

Độ ệch chuẩn (S.D.)

Tần suất trả ời (F) (%)

1 Nhà nước thông qua Bộ GD ĐT chịu

trách nhiệm chính trong việc xây dựng Đ 3,38 0,69 45 42 5 2

Trang 37

quy hoạch, kế hoạch phát triển chung cho

toàn hệ thống GDĐH-CĐ

2 Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch

phát triển HTĐH-CĐTT phải nằm trong

toàn hệ thống GDĐH-CĐ

Đ 3,33 0,72 44 42 8 2

Ghi chú: Kết quả khảo sát các nhà quản lý giáo dục tại Việt Nam; Kiểu trả lời Đ:

đồng ý; Tần suất trả lời (F) 4: rất đồng ý, 1: không đồng ý

Chiến lược phát triển giáo dục đại học cao đẳng là một căn cứ quan trọng để nhà nước chỉ đạo thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH, chiến lược phát triển nhân lực và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Mục tiêu của chiến lược nhằm thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục giữa các vùng khác nhau để đạt được mặt bằng chung, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương và các cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá mạnh, đi trước một bước, chiến lược cũng phân công rõ, cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương, các cơ sở giáo dục đào tạo Công tác xây dựng chiến lược quy hoạch phải được thực hiện chung cho toàn hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng Vừa phải đảm bảo phát triển hệ thống các trường tư thục một cách hài hòa Qua khảo sát các nhà quản lý trong và ngoài ngành giáo dục thì 92,5% (M: 3,38) số người được hỏi ý kiến đều đồng thuận với việc Bộ GD-ĐT chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng chiến lược tổng thể chung của toàn ngành, đồng thời có 86,6% các nhà quản lý cho rằng công tác xây dựng quy hoạch phát triển khu vực GDĐHCĐTT phải nằm trong toàn hệ thống GDĐH-CĐ Qua đó cho thấy công tác xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển khu vực GDĐHCĐTT là hết sức quan quan trọng nhằm đảm bảo cho khu vực này vận hành đồng bộ và có hiệu quả

1.2.3.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh toàn bộ hệ thống

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật áp dụng cho các trường ĐH-CĐTT được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế Đối với các trường tư thục do có những tính chất và đặc điểm riêng nên ngoài những văn bản áp dụng chung cho hệ thống các trường ĐH-CĐ thì cần xây dựng hệ thống pháp luật riêng cho các trường tư thục

Bảng 1.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

trả

Trung bình

Độ ệch

Tần suất trả ời (F) (%)

Trang 38

2 Bộ GD ĐT giữ vai trò chủ đạo trong

việc ban hành các văn bản quy phạm pháp

luật để điều chỉnh các trường ĐH-CĐTT

Đ 3,05 0,76 29 44 22 1

Ghi chú: Kết quả khảo sát các nhà quản lý giáo dục tại Việt Nam; Kiểu trả lời Đ:

đồng ý; Tần suất trả lời (F) 4: rất đồng ý, 1: không đồng ý

Các văn bản quy phạm pháp luật để điều hành và quản lý xã hội, quản lý Nhà nước bằng pháp luật là một nguyên tắc rất quan trọng của Hiến pháp Nhất là khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước thì việc hoàn thiện pháp luật về khu vực GDĐHCĐTT trở nên rất cần thiết Ý nghĩa quan trọng hàng đầu của hoạt động này

rà soát, hệ thống hóa để phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với lĩnh vực tư thục Mục tiêu trực tiếp của rà soát, hệ thống hóa là nhằm sửa đổi, bổ sung, thay thế, hoặc loại bỏ các quy định, các văn bản không còn phù hợp, xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật hoàn thiện, thống nhất, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, phục vụ cho hoạt động quản lý Nhà nước về lĩnh vực này Kết quả khảo sát các nhà quản lý giáo dục cho thấy có 92,39% (M: 3,35) tán thành với quan điểm là Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống các trường tư thục thông các hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh đối với khu vực này Tuy nhiên có tới 23 nhà quản lý chiếm tỷ lệ 24% chưa đồng thuận với chủ trương Bộ GD ĐT giữ vai trò chủ đạo trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, điều đó cho thấy việc ban hảnh các văn bản đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội

Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện thêm những vấn đề lý thuyết cũng như quy trình kỹ thuật của việc rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đối với khu vực GDĐHCĐTT sẽ có tác dụng rất lớn,

hỗ trợ cho hoạt động này trong tương lai

1.2.3.3 Hình thành các cơ chế chính sách đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Chính sách đối với khu vực GDĐHCĐTT trong cơ chế KTTT định hướng XHCN phải bảo đảm sản phẩm giáo dục vừa là một loại hàng hóa đặc biệt, vừa là một loại sản phẩm dịch vụ riêng có Vì vậy, một mặt chính sách phải làm cho nó đáp ứng nhiều hơn với nhu cầu của thị trường, đồng thời chính sách phải phát huy

Trang 39

được vai trò định hướng và hỗ trợ của Nhà nước đối với khu vực này Nhà nước sử dụng công cụ chính sách để tác động, can thiệp vào quá trình vận động của khu vực GDĐHCĐTT nhằm loại bỏ hoặc hạn chế, những ảnh hưởng xấu của cơ chế thị trường, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực này Đồng thời nó còn là cơ sở tạo ra sân chơi bình đẳng, rộng rãi cho các đối tác trong toàn xã hội tham gia phát triển hệ thống Thực tế của các nước phát triển chỉ ra rằng, hệ thống các trường tư thục chỉ có thể phát triển bền vững, lành mạnh

và đúng định hướng trên nền tảng của một hệ thống thể chế, pháp luật đầy đủ,

ổn định Với ý nghĩa đó, việc hoàn chỉnh, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, các quy phạm điều hành quản lý ở cấp vĩ mô cần được tiến hành thường xuyên để theo kịp với quá trình phát triển của KT-XH Hệ thống thể chế mới phải ngày càng tăng cường chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước, đồng thời nâng cao quyền chủ động cho các cơ sở đào tạo Nhà nước chỉ nên thực hiện vai trò, chức năng của người trọng tài điều khiển hơn là trực tiếp tham gia vào hoạt động của các trường

tư thục

Bảng 1.3 Cơ chế chính sách đối với khu vực GDĐHCĐTT

Mục khảo sát

Kiểu trả

ời

Trung bình (M)

Độ ệch chuẩn (S.D.)

Tần suất trả ời (F) (%)

1 Nhà nước thông qua Bộ GĐ ĐT chịu

trách nhiệm chính trong việc ra những

chính sách chung cho toàn khu vực

GDĐHCĐTT

Đ 3,02 0,82 29 43 19 4

2 Xây dựng cơ chế chính sách thông

thoáng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà

nước đối với các trường ĐH-CĐTT

M 3,12 0,71 28 60 8 4

Ghi chú: Kết quả khảo sát các nhà quản lý giáo dục tại Việt Nam; Kiểu trả lời Đ:

đồng ý; M: Mong muốn; Tần suất trả lời (F) 4: Tích cực nhất, 1: không tích cực nhất Khảo sát các nhà quản lý giáo dục cho thấy có 75,79% đồng ý với ý kiến cho rằng Nhà nước thông qua Bộ GD ĐT chịu trách nhiệm chính trong việc ra những chính sách để áp dụng chung cho toàn khu vực GDĐHCĐTT, đồng thời các nhà quản lý giáo dục cũng mong muốn cần phải xây dựng cơ chế chính sách thông thoáng nhằm tạo điều kiện cho khu vực GDĐHCĐTT phát triển

Cơ chế chính sách thông thoáng còn có vai trò tạo lập môi trường thuận lợi,

an toàn và bình đẳng, nó được biểu hiện thông qua các yếu tố như: hạ tầng cơ sở tốt, hệ thống pháp luật đầy đủ, ổn định, nền hành chính rõ ràng và bộ máy công

Trang 40

quyền trong sạch, lành mạnh Những yếu tố trên đều do nhà nước tạo dựng nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước đáp ứng mục tiêư phát triển của toàn hệ thống Môi trường thuận lợi còn thể hiện ở sự lành mạnh, bình đẳng trong cạnh tranh giữa các trường công lập với các trường tư thục Đồng thời với vai trò Nhà nước là chủ thể quản lý cao nhất, là người đại diện cho quyền lợi của cả cộng đồng quốc gia, chỉ có Nhà nước mới có đủ tư cách, sức mạnh, tiềm lực để thực hiện quyền bảo hộ Thông qua các cơ quan bảo vệ pháp luật và bộ máy hành chính, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh v ự c g i á o d ụ c như: quyền sở hữu, quyền tự do đào tạo theo pháp luật quy định, bảo vệ bản quyền, thương hiệu nhà trường

Do các trường tư thục mới hình thành và phát triển, vì vậy họ còn rất non trẻ, thiếu kinh nghiệm, thiếu cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên nên nhà nước cần phải có cơ chế chính sách

ưu đãi về đất đai, về thuế, về ưu đãi tín dụng, thậm trí cấp cả NSNN cho đào tạo theo nhiệm vụ giao… nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở tư thục có điều kiện tồn tại và phát triển

1.2.3.4 Thực thi công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục

Nội dung kiểm tra, giám sát gồm kiểm định chất lượng đào tạo, chương trình đào tạo; cơ sở vật chất, giám sát tuân thủ các tiêu chuẩn về các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và thực hiện các tuyên bố về sứ mạng và cam kết với sinh viên

Bảng 1.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với khu vực GDĐHCĐTT

Mục khảo sát

Kiểu trả

ời

Trung bình (M)

Độ ệch chuẩn (S.D.)

Tần suất trả ời (F) (%)

1 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát

thông qua việc áp dụng nhiều biện pháp Đ 3,39 0,61 43 41 7 0

2 Đánh giá chất lượng cần dựa vào hệ

thống tiêu chí thống nhất, mang tính pháp

lý, định lượng và phù hợp

M 3,38 0,57 40 51 4 0

Ghi chú: Kết quả khảo sát các nhà quản lý giáo dục tại Việt Nam; Kiểu trả lời Đ:

đồng ý; M: Mong muốn; Tần suất trả lời (F) 4: Tích cực nhất, 1: không tích cực nhất Hầu hết các nhà quản lý giáo dục chiếm 92,3% đều cho rằng cần phải tăng cường công tác kiểm tra thông qua việc áp dụng bằng nhiều biện pháp như tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm định chất lượng giáo dục… đối với khu vực GDĐHCĐTT tại Việt Nam, có như vậy mới điều chỉnh được hệ thống các trường tư thục hoạt động theo những kỳ vọng của nhà nước và của xã hội Ngoài ra nội dung quản lý nhà nước với trường đại học, cao đẳng tư thục cần thể hiện sự phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa Bộ giáo dục và đào tạo và ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố:

Ngày đăng: 10/05/2014, 01:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ansel M. Sharp; Charles A. Register; Paul W. Grimes (2005), Kinh tế học trong các vấn đề xã hội, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học trong các vấn đề xã hội
Tác giả: Ansel M. Sharp; Charles A. Register; Paul W. Grimes
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2005
2. C. Mác và F.Anghen (2001), Ăngghen toàn tập, tập 48, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăngghen toàn tập, tập 48
Tác giả: C. Mác và F.Anghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật
Năm: 2001
3. Chiavo-Campo, S. Sundaram, P. S. A. (2003), Phục vụ và duy trì, cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục vụ và duy trì, cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh
Tác giả: Chiavo-Campo, S. Sundaram, P. S. A
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
4. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1987
5. Đại học Quốc gia Hà Nội (2000), Giáo dục học đại học, Trường Cán bộ quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại học
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
6. Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo dục học đại học, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại học
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2003
7. Đặng Ứng Vận (2007), Phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường, NXB đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Đặng Ứng Vận
Nhà XB: NXB đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2007
8. Lê Văn Giạng (2001), Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục
Tác giả: Lê Văn Giạng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
9. Học viện Hành chính quốc gia (2000), Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, Tập 2 -Quản lý hành chính nhà nước, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, Tập 2 -Quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
10. Harold Koonta, C. O’Donnell, H. Weihrich (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harold Koonta, C. O’Donnell, H. Weihrich
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1992
11. Hội đồng Quốc gia Giáo dục (2006), Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam: “Đổi mới GDĐH và hội nhập quốc tế”, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới GDĐH và hội nhập quốc tế
Tác giả: Hội đồng Quốc gia Giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Nguyễn Tiến Đạt (2006), Kinh nghiệm và thành tựu phát triển GD&ĐT trên thế giới, Tập 1: GD ĐT ở các khu vực văn hóa châu Âu và châu Á, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm và thành tựu phát triển GD&ĐT trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Hội (2006), Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, Trường Đại học thái nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
Tác giả: Nguyễn Văn Hội
Năm: 2006
14. Nguyễn Quang Kính (chủ biên) (2005), Giáo dục Việt Nam 1945-2005, Trung tâm Thông tin và Tƣ vấn phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam 1945-2005
Tác giả: Nguyễn Quang Kính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
15. Nguyễn Thu Linh (Chủ biên) (2002), QLNN về Văn hoá-Giáo dục-Y tế, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: QLNN về Văn hoá-Giáo dục-Y tế
Tác giả: Nguyễn Thu Linh
Nhà XB: NXB
Năm: 2002
16. Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai
Tác giả: Nguyễn Khắc Thái Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2007
17. Phạm Minh Hạc chủ biên (2000), Tổng kết 10 năm (1990-2000) Xóa mù chữ và Phổ cập Giáo dục Tiểu học, NXB Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 10 năm (1990-2000) Xóa mù chữ và Phổ cập Giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phạm Minh Hạc chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
18. Phạm Viết Vƣợng (chủ biên) (2003), QLHCNN và quản lý ngành GD&ĐT, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: QLHCNN và quản lý ngành GD&ĐT
Tác giả: Phạm Viết Vƣợng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
19. Chính Phủ (1995) Báo cáo của chính phủ CHXHCN Việt Nam tại hội nghị điều phối viện trợ cho ngành giáo dục – Hà nội 1/ 1995. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của chính phủ CHXHCN Việt Nam tại hội nghị điều phối viện trợ cho ngành giáo dục – Hà nội 1/ 1995
20. Chính phủ (2010) Nghị định số 115/2010/NĐ-CP Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2010/NĐ-CP Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 1.1. Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam (Trang 15)
Hình 1.2 Hệ thống giáo dục Đại học – Cao đẳng của Việt Nam - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 1.2 Hệ thống giáo dục Đại học – Cao đẳng của Việt Nam (Trang 23)
Hình 1.3. Ảnh hưởng của những thay đổi trong nhu cầu về các dịch vụ giáo dục - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 1.3. Ảnh hưởng của những thay đổi trong nhu cầu về các dịch vụ giáo dục (Trang 28)
Hình 1.4 Quản lý nhà nước với hệ thống các trường tư thục - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 1.4 Quản lý nhà nước với hệ thống các trường tư thục (Trang 41)
Hình 2.1 Số lượng sinh viên đại học cao đẳng qua các năm - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.1 Số lượng sinh viên đại học cao đẳng qua các năm (Trang 77)
Hình 2.2. Số trường ĐH-CĐ giai đoạn 1981-2011 - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.2. Số trường ĐH-CĐ giai đoạn 1981-2011 (Trang 87)
Bảng 2.10 Thống kê nhóm ngành nghề đào tạo năm 2011-2012 - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Bảng 2.10 Thống kê nhóm ngành nghề đào tạo năm 2011-2012 (Trang 94)
Hình 2.6 Cơ cấu tổ chức trường ĐH tư thục tại Việt Nam - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.6 Cơ cấu tổ chức trường ĐH tư thục tại Việt Nam (Trang 99)
Hình 2.7 Cơ cấu các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.7 Cơ cấu các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (Trang 104)
Bảng 2.15 Công tác quy hoạch hệ thống ĐH-CĐ  Mục khảo sát - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Bảng 2.15 Công tác quy hoạch hệ thống ĐH-CĐ Mục khảo sát (Trang 105)
Hình 2.8 Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2000-2007 - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.8 Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2000-2007 (Trang 106)
Hình 2.9 Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2008-2011 - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.9 Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2008-2011 (Trang 107)
Hình 2.11 Số lượng và phân loại sinh viên đại học theo loại hình 2001-2011 - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.11 Số lượng và phân loại sinh viên đại học theo loại hình 2001-2011 (Trang 118)
Hình 2.14  Quy trình quản lý và kiểm định chất lượng - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 2.14 Quy trình quản lý và kiểm định chất lượng (Trang 127)
Hình 3.1 Xu hướng vận động của một số chỉ tiêu cần dự báo - Quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam
Hình 3.1 Xu hướng vận động của một số chỉ tiêu cần dự báo (Trang 142)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w